Để Có Được Quyền Năng Siêu Nhiên Của Đức Chúa Trời

Để Có Được Quyền Năng Siêu Nhiên Của Đức Chúa Trời

Khám Phá Bí Quyết Của Sự Cầu Nguyện Thành Công

Có câu chuyện kia kể về một người đến du lịch ở một thành phố nọ vào một buổi sáng lạnh lẽo. Khi đến khách sạn của mình, ông ta để ý thấy các thư ký, các vị khách, mọi người… đều đi chân không. Tại cửa hàng cà phê trong khách sạn, ông ta để ý một anh chàng ăn bận lịch sự ngồi ở bàn bên cạnh, bèn hỏi “Vì sao anh không đi giày? Chắc anh không biết về giày dép, phải không?

Anh ta trả lời, “Ồ, dĩ nhiên là tôi biết về các thứ giày dép chứ.”

Người khách hỏi, “Thế thì tại sao anh không đi giày?”

Anh ta trả lời, “À, đó chính là vấn đề đấy, tại sao tôi lại không đi giày nhỉ?”

Sau bữa điểm tâm, người khách du lịch bước ra khỏi khách sạn và đi vào giữa trời tuyết. Một lần nữa, ông lại thấy mọi người đi chân không. Vì tò mò, ông lại hỏi một người khách qua đường, “Vì sao ở đây không ai mang giày dép cả? Bộ các anh không biết rằng giày dép bảo vệ bàn chân khỏi giá rét hay sao?”

Người khách qua đường trả lời, “Chúng tôi cũng có biết đến giày dép chứ. Ông có thấy tòa nhà kia không, đó là xưởng sản xuất giày dép đó. Chúng tôi rất tự hào về nhà máy, đó là nơi chúng tôi tụ tập hàng tuần để nghe một người khách có trách nhiệm cho chúng tôi biết giá trị của giày dép tuyệt diệu như thế nào.”

Vị khách này cứ hỏi tiếp, “Thế thì tại sao các anh không đi giày?”

Người khách qua đường trả lời, “À, đó chính là vấn đề đấy, vì sao chúng tôi lại không mang giày nhỉ?”

Khi nói đến vấn đề cầu nguyện, nhiều Cơ Đốc nhân cũng giống như người dân tại thành phố đó. Họ biết về sự cầu nguyện, họ tin nơi quyền năng của sự cầu nguyện, họ thường xuyên nghe những bài giảng về sự cầu nguyện, nhưng điều đó không phải là phần quan trong trong đời sống họ.

Trong việc học tập Lời Chúa cũng như trong các cuộc lưu hành khắp thế giới của mình, tôi đi đến một sự xác quyết hoàn toàn rằng hễ nơi nào người ta thật sự cầu nguyện theo như các nguyên tắc của Kinh Thánh, thì Đức Chúa Trời hành động trong đời sống họ và qua họ Ngài đã hành động trong đời sống những người khác một cách đặc biệt. Hãy chỉ cho tôi một Hội Thánh hoặc một tổ chức Cơ Đốc nhấn mạnh đến sự cầu nguyện, tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một chức vụ với những người được dức dấy về Chúa Jêsus và đang làm chứng đạo cho Ngài. Trái lại, bạn hãy chỉ cho tôi một Hội thánh hoặc một mục tiêu Cơ Đốc ít chú trong đến sự cầu nguyện, tôi sẽ cho bạn thấy rằng những Cơ Đốc nhân ấy sống theo đời này và ít có lòng quan tâm đến linh hồn của những người nam và người nữ chưa được cứu. Đời sống họ có thể được mô tả đúng nhất theo từng trãi của Hội thánh Êphêsô (Khải Huyền 2:1-28) và Hội thánh Laođixê ( Khải Huyền 3:1-22)

Khi chúng ta xem xét bí quyết của sự cầu nguyện thành công, hãy để tôi trả lời sáu câu hỏi hết sức quan trong.

Cầu Nguyện Là Gì?

Nói cách đơn giản, cầu nguyện là tương giao với Đức Chúa Trời. Với tư cách là con của Chúa, bạn được mọi gọi để đến trước ngôi Ngài một cách dạn dĩ, “Ấy vậy, vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trãi qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời ” Sứ đồ Phao Lô viết, “…Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót, và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờcó cần dùng. ” (Heb 4:14-16)

Vì cớ Đức Chúa Trời là ai, Ngài là Vua của các vua, là Chúa của các chúa, là Đấng dựng nên trờiđất, nên chúng ta phải đến trong sự hiện diện của Ngài với lòng tôn kính. Nhưng Ngài cũng là Cha thiên thượng yêu thương của chúng ta, là Đấng quan tâm chăm sóc chúng ta và vui mừng khi có mối thông công với chúng ta. Vì thế, chúng ta có thể đến với Ngài với Ngài với một tấm lòng kỉnh kiềng, vui mừng, vì biết rằng Ngài yêu chúng ta hơn bất cứ người nào khác đã từng yêu chúng ta hoặc sẽ yêu thương chúng ta.

Có người nói rằng, “Cầu nguyện là sáng tạo và cũng là ống dẫn của lòng yêu Chúa. Tinh thần yêu Chúa là tinh thần cầu nguyện. Cầu nguyện và lòng tận hiến được hiệp nhất như là linh hồn và thân thể được hiệp nhất, như sự sống và trái tim được hiệp nhất. Không có sự cầu nguyện thật nếu không có lòng yêu Chúa, không có lòng yêu Chúa nào mà không kèm theo sự cầu nguyện.” Sự cầu nguyện thật sự là sự bày tỏ lòng tận tâm của chúng ta đối cùng Cha thiên thượng của mình, mời Ngài trò chuyện cùng chúng ta đang khi chúng ta thưa chuyện với Ngài.

Ai Là Người Có Thể Cầu Nguyện?

Bất cứ ai cũng có thể cầu nguyện, nhưng chỉ những ai bước đi trong đức tin và trong sự vâng lời Chúa Cứu Thế thì mới có thể mong đợi lời cầu nguyện của mình được Chúa nhận. Chúa Jêsus phán, “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6) Mối liên hệ với Đức Chúa Trời bắt đầu khi chúng ta tiếp nhận Chúa Jêsus vào đời sống mình với tư cách là Chủ và là Cứu Chúa của mình.

Cầu nguyện với một tấm lòng trong sạch cũng là một yếu tố quan trong để lời cầu nguyện được nhận. Tác giả Thi Thiên nói rằng, “Nếu lòng tôi có chú về điều ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi (Thi Thiên 66:18). Chúng ta không thể mong đợi Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của mình nếu còn có tội lỗi nào chưa xưng nhận trong đời sống.

Một trong những cản trở thường xuyên với sự cầu nguyện là tinh thần không tha thứ. Chúa Jêsus phán, “Khi các ngươi cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi. ” (Mac 11:25). Không có lời cầu nguyện nào được Đức Chúa Trời nhậm ngoại trừ lời cầu nguyện xưng tội với một tấm lòng đã tha thứ và không còn cay đắng: Các bạn và tôi phải đến cùng Chúa với một tấm lòng tha thứ nếu chúng ta muốn nhận được tài sản kế thừa của Cơ Đốc nhân về quyền năng trong sự cầu nguyện.

Ngoài ra, chúng ta phải có một tấm lòng tin cậy nếu chúng ta mong đợi Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của mình. Chúa Jêsus phán, “Trong khi cầu nguyện, nếu các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả. ” (Mat Mt 21:22) và “Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy. ” (Mat 9:29). Tuy nhiên, rất ít người trong chúng ta nhận những lời ấy một cách nghiêm túc, và rất ít người dám xưng nhận điều Chúa đã hứa cách quá rộng lượng ấy thuộc về chúng ta.

Vì Sao Chúng Ta Phải Cầu Nguyện?

Đức Chúa Trời truyền dạy chúng ta phải cầu nguyện. Nhiều mạng lệnh trong Tân ước truyền lệnh chúng ta phải cầu nguyện.  Đây là một vài mạng lệnh: “Hãy thức canh và cầu nguyện (Luca 21:36; Mác 14:38) Hãy cầu nguyện với sự cảm tạ (Phi 4:6; Colose 4:2) Cầu nguyện trong Thánh Linh (ICo 14:15) Cầu nguyện không thôi (Luca 18:1)

Chúng ta cầu nguyện để có mối tương giao với Chúa. Cầu nguyện không phải chỉ là “cánh cửa cứu nguy” để chúng ta thoát ra khỏi trong lúc khó khăn của mình, để tự làm vừa lòng mình, hoặc để đạt được những mục tiêu vị kỷ của mình. Cầu nguyện chính là “đường dây nóng” của sự truyền thông và của mối tương quan giữa chúng ta với Chúa, đồng thời chúng ta nhận được sự nuôi dưỡng thuộc linh và sức mạnh để sống một đời sống đắc thắng, và chúng ta duy trì được sự dạn dĩ cần thiết của lời làm chứng sống động cho Chúa Cứu Thế.

Thật vậy, lời cầu nguyện đặt nền tảng trên Kinh Thánh làm thay đổi nhiều sự việc. Sự cầu nguyện ấy làm thay đổi những con người cầu nguyện đến nỗi Chúa được tự do bày ttỏ ý muốn của Ngài cho họ. Sự cầu nguyện cũng lay động quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời để thay đổi hướng đi của thiên nhiên, của con người, và của các quốc gia. Từ trước đến nay những lời cầu nguyện đầy đức tin của những người đầy dẫy Đức Thánh Linh vẫn chứng minh điều đó xuyên suốt Kinh Thánh và lịch sử nhân loại.

Chúng Ta Phải Cầu Nguyện Với Ai?

Chúng ta cầu nguyện với Đức Chúa Cha trong danh Chúa Cứu Thế Jêsus qua chức vụ của Đức Thánh Linh. Khi chúng ta cầu nguyện với Đức Chúa Cha, những lời cầu xin của chúng ta được nhậm nhờ Chúa Cứu Thế Jêsus và được giải thích cho Đức Chúa Cha nhờ  Đức Thánh Linh.

Nhưng vì cớ Đức Chúa Trời là một Đấngđược bày tỏ qua ba thân vị, và bởi vì không có sự ganh tị giữa ba thân vị của Ba ngôi, nên lời cầu nguyện với Chúa Jêsus hoặc với Đức Thánh Linh cũng đều được chấp nhận cả.

Trong khi chúng ta cầu nguyện, cả Chúa Jêsus lẫn Đức Thánh Linh đều đang cầu thay cho chúng ta. Phao Lô ký thuật trong RoRm 8:34 rằng, “Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. ” Trước đó, cũng trong cùng một đoạn, Phao Lô đã viết rằng, “Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối của chúng ta. ..vì Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý muốn Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy. ” (Câu 26,27)

Chúng Ta Phải Cầu Nguyện Khi Nào?

Lời Chúa truyền cho chúng ta hãy “Cầu nguyện không thôi ” (Ro 5:17)

Charles Spurgeon đã nói rằng, “Cầu nguyện là kéo sợi dây ở bên dưới, và làm chiếc chuông lớn rung lên bên tai Đức Chúa Trời. Một số người không lay động nỗi tiếng chuông, bởi vì họ cầu nguyện quá uể oải; những người khác chỉ giật sợi dây có một lần. Nhưng người thông công được với thiên đàng là người nắm chặt sợi dây và kéo liên tục bằng tất cả sức lực của mình.”

Chúng ta có thể ở trong sự cầu nguyện thường xuyên, suốt cả ngày, bày ttỏ tấm lòng yêu mến chuyên chú vào Chúa trong lúc làm các công việc hàng ngày.

Tôi khám phá ra rằng bắt đầu bằng một buổi sáng cầu nguyện là điều thật có ý nghĩa. Khi bước ra khỏi giường, tôi quì gối sấp mình thờ phượng Ngài bằng cách nói rằng, “Lạy Chúa, con cúi đầu trước mặt Ngài và xưng nhận Ngài là Chủ của con.”

Suốt cả ngày, tôi tập trung tâm trí vào Chúa, thường xuyên trò chuyện với Ngài, ca tụng Ngài và cảm tạ Ngài vì sự nhân từ, lòng yêu thương và ân điển Ngài đối cùng tôi. Tôi cầu xin sự khôn ngoan trước vô số những quyết định tôi phải lập mỗi ngày. Tôi cầu nguyện vì sự cứu rỗi của các bạn hữu và những người không quen, sự chữa lành cho những người bệnh, và nhu cầu thuộc linh cũng như thuộc thể của Chiến Dịch Chinh Phục Sinh Viên Cho ĐấngChrist và cho các chức vụ hầu việc khác. Thậm chí tôi cũng cầu nguyện sao cho cách ăn mặc cùng lời lẽ của tôi, hành động của tôi sẽ mang vinh hiển lại cho Chúa. Tôi xin Ngài hãy dùng tâm trí tôi để suy nghĩ, yêu thương bằng tấm lòng của tôi, và nói bởi môi miệng của tôi. Vì Ngài đã đến để tìm và cứu kẻ bị hư mất, tôi xin Ngài hãy tìm và cứu những kẻ bị hư mất qua tôi.

Vào buổi chiều tôi cầu xin rằng, “Lạy Chúa, có điều chi trong con làm buồn lòng Ngài, có điều nào con cần phải xưng ra?” Nếu Thánh Linh bày tỏ tội lỗi hoặc bất cứ sự yếu nhược nào, tôi lập tức xưng các điều ấy ra và kể rằng bởi đức tin sự chiến thắng của Chúa đã dành cho tôi. Sau đó, tôi muốn dành thì giờ để đọc và suy gẫm lời Chúa, hầu cho những ý tưởng vô thức của tôi đều thuộc về Chúa Cứu Thế Jêsus trong suốt cả đêm.

Không nhất thiết chúng ta phải luôn luôn quì gối hoặc vào phòng yên tĩnh để cầu nguyện. Chúa muốn chúng ta luôn luôn liên lạc với Ngài ở bất cứ nơi đâu. Chúng ta có thể cầu nguyện lúc đang ở trong xe, khi đang rửa chén bát, hoặc đang đi trên đường phố. Càng thường xuyên chia xẻ những suy nghĩ và những ước ao của mình với Chúa, mối tương giao của chúng ta và sự gần gũi của chúng ta với Ngài càng có ý nghĩa.

Chúng Ta Nên Cầu Nguyện Những Điều Gì?

Mặc dầu sự cầu nguyện không thể bị rút gọn thành một hình thức, song những yếu tố căn bản nhất định nên được kể vào trong mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời, gồm có: Sự suy tôn, Lời xưng tội, Sự cảm tạ, Sự cầu xin.

Sự Suy Tôn

Suy tôn Chúa là thờ phượng và ca tụng Ngài, tôn kính và tôn cao Ngài trong tấm lòng và tâm trí chúng ta bằng môi miệng của mình. Lời Chúa dạy rằng Cha chúng ta mong muốn sự tương giao với các con cái của Ngài, trong đó sự suy tôn là phần trọng yếu (Giăng 4:24; Hê-bơ-rơ 12:28) Sự suy tôn bày tỏ lòng tin cậy hoàn toàn của chúng ta đặt nơi Chúa và phản ảnh sự quả quyết của chúng ta rằng Ngài nghe lời chúng ta. Sự suy tôn chứng tỏ lòng tôn kính, kính sợ, yêu thương và biết ơn của chúng ta.

Sự Xưng Tội

Khi chúng ta bắt đầu phương pháp cầu nguyện bằng sự suy tôn, Đức Thánh Linh có cơ hội để bày tỏ bất cứ tội lỗi nào cần được xưng ra trong đời sống chúng ta. Bởi việc nhìn xem Đức Chúa Trời trong sự trong sạch, sự thánh khiết, và trong sự yêu thương của Ngài, chúng ta đến chỗ nhận biết tình trạng tội lỗi và sự bất xứng của mình. Việc xưng tội và tiếp nhận sự tha thứ của Ngài đưa chúng ta trở lại với mối tương giao với Ngài và làm thông ống dẫn đủ để Chúa nghe và nhậm lời cầu nguyện của chúng ta. (I Giăng 1:7-9)

Sự Cảm Tạ

Không điều gì làm đẹp lòng Đức Chúa Trời hơn là việc chúng ta kiên trì bày tỏ đức tin của mình. Còn có cách tốt đẹp nào hơn là khi chúng ta nói, “cảm tạ Ngài”? Lời Chúa truyền “phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa, vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ đối với anh em là như vậy ” (I Tê 5:18). Thái độ cảm tạ giúp chúng ta nhận biết Chúa là Đấng kiểm soát mọi việc, không phải chỉ những phước hạnh, mà cả những nan đề cũng như những nghịch cảnh. Khi chúng ta đến cùng Chúa với tấm lòng cảm tạ Ngài, Ngài càng thực hiện công việc cách mạnh mẽ vì cớ lợi ích của chúng ta; trái lại thái độ oán trách, không tin, làm buồn lòng Chúa và cản trở những nỗ lực của Ngài nhằm ban phước và làm phong phú chúng ta để sử dụng chúng ta cho sự vinh hiển của Ngài.

Sự Cầu Xin

Sự chu cấp nhu cầu bao gồm sự cầu xin cho các nhu cầu của chính mình và cầu thay cho người khác.

Ví dụ như bạn thưa chuyện cùng Chúa, hãy cầu nguyện xin cho con người bên trong của bạn được làm mới lại, luôn nhạy bén với Thánh Linh và được Ngài ban quyền năng. Hãy cầu nguyện về những nan đề của mình, xin sự khôn ngoan và sự chỉ dẫn, cầu nguyện xin Chúa ban sức mạnh để chống lại sự cám dỗ, để được an ủi trong lúc đau buồn. Hãy cầu nguyện về mọi sự (Phi Pl 4:6)

Sau đó hãy cầu nguyện cho những người khác, như cho người phối ngẫu, con cái, cha mẹ và những người hàng xóm và bạn bè của bạn. Hãy cầu nguyện cho vị Mục sư của bạn và các nhà truyền giáo cũng như cho nhiều Cơ Đốc nhân khác, là những người được Chúa giao cho một trách nhiệm đặc biệt. Hãy cầu nguyện cho những bậc cầm quyền của bạn (ITi 1:1-2)

Hàng ngày hãy cầu nguyện đặc biệt cho công tác cứu rỗi linh hồn, cho cơ hội giới thiệu về Chúa cho người khác, và cho công tác của Đức Thánh Linh, cho việc hoàn thành Đại mạng lịnh truyền giáo 2:3-4). Hãy bắt đầu với trường đại học của bạn hoặc cộng đồng nơi bạn đang sống. Hãy cầu nguyện và tìm kiếm để có được một hoặc nhiều bạn hữu Cơ Đốc hơn và bạn sẽ cùng với họ thiết lập các mối thông công cầu nguyện (Mat 18:19)

Những yếu tố  về sự suy tôn, sự xưng tội, sự cảm tạ và sự cầu xin đã giúp cho nhiều Cơ Đốc nhân phát triển một đời sống cầu nguyện toàn diện hơn.




SỨC MẠNH CỦA THÂN VÀ HUYẾT

SỨC MẠNH CỦA THÂN VÀ HUYẾT

 Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến” (I Cô rinh tô 11:26).

Cách
đây ít lâu, một thành viên trong Hội thánh chúng tôi bị nghẽn tĩnh mạch
sâu khi đang ở trên chuyến bay đến Ysơraên. Khi cô bước xuống máy bay,
cô đã ngã quỵ. Mọi người nhanh chóng đưa cô đến bệnh viện.

Nhưng
trên đường đi, tim cô đã ngừng đập. Hình như máu ở chân đã đông lại và
không truyền đến tim nữa, đó là nguyên nhân tim cô ngừng đập. Bác sĩ đã
cố gắng hô hấp để tim cô đập trở lại, nhưng cô vẫn bất tĩnh.

Sau
vài ngày, khi tôi cùng một số người lãnh đạo Hội thánh đến bệnh viện,
mọi người cho tôi biết là tình trạng hiện tại của cô rất xấu. Cô đang
nằm ở phòng chăm sóc đặc biệt. Những người lãnh đạo trong Hội thánh và
tôi quyết định cùng dự Tiệc Thánh trong phòng chăm sóc đặc biệt công bố
rằng Chúa Giê Su đã gánh chịu tất cả mọi tật bệnh của cô, kể cả bệnh
nghẽn tĩnh mạch sâu, và huyết của Ngài đã chuộc lấy tất cả mọi rủa sả
của cô, bao gồm bệnh tật và sự chết.

Hôm
sau, cô tỉnh lại! cô được phục hồi một cách lạ lùng đến nỗi sau một
tuần theo dõi, bác sĩ đã cho cô về và chẳng bao lâu sau cô đã tháp tùng
cùng mọi người trong nhóm tiếp theo đến Ysơarên du lịch.

Một
trường hợp khác, mẹ của một trưởng lão trong Hội thánh chúng tôi phải
trải qua nhiều cuộc phẩu thuật và tình trạng của bà xấu đi đến nỗi bác
sĩ bảo gia đình cần chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất. Gia đình
bắt đầu dự Tiệc Thánh ngay trong phòng chăm sóc đặc biệt. Thậm chí họ
đã bỏ vào miệng của bà một miếng bánh và ít nước nho. Ba ngày sau, một
phép lạ đã xảy ra, mẹ của họ tỉnh lại, khỏe hơn và được cho về nhà không
lâu sau đó!.

Bạn
thấy đó, mỗi lần bạn ăn bánh và uống chén Tiệc Thánh, bạn công bố sự
chết của Chúa cho bạn. Bạn nhận thức rằng thân thể của Chúa đã vỡ ra để
thân thể của bạn được toàn vẹn. Bạn đã ý thức rằng thân thể khỏe mạnh
của Ngài đã gánh chịu mọi bệnh tật và đau đớn thay bạn, để thân thể của
bạn được khỏe mạnh. Vì thế khi bạn ăn bánh và uống chén, bạn nói rằng
bởi những lằn đòn của Ngài bạn đã được chữa lành. Và khi bạn uống chén,
bạn đang uống sự sống của Chúa Giê Su, sự sống ở trong huyết Ngài.

Bạn
thân mến, sự sống của Chúa Giê Su là không còn sự đau đớn, không còn
bệnh tật và không còn sự nghèo thiếu. Sự sống đó thu hút ân sũng và các
phước hạnh của Đức Chúa Trời. Và vì trong bạn có sự sống đó, sự sống đó
tạo ra những điều tốt đẹp trong đời sống bạn!



How to spoil your wife in Christ




How to Get Healed NOW in the Courts of Heaven! | Robert Henderson on Sid Roth’s It’s Supernatural!




John G. Lake – con người của sự chữa lành

John G. Lake – con người của sự chữa lành

Ro-berts Liar-don

Tôi nói với họ (các bác sĩ): ‘Thưa các ngài, tôi muốn để các ngài nhìn thấy một điều nữa. Hãy về bệnh viện của mình và chở đến đây một người bị bệnh viêm tuỷ. Hãy lấy những dụng cụ của mình và gắn chúng vào chân. Hãy chừa chỗ cho tôi có thể đặt tay lên chân anh ta. Các ông có thể gắn dụng cụ vào cả hai bên.’

 

Khi những dụng cụ đo đạc đã sẵn sàng, tôi đặt tay lên đầu gối người này và cầu nguyện bằng một cách giống như cách Mẹ Et-ter cầu nguyện [mẹ Et-ter là một tướng lĩnh của Đức Chúa Trời đi trước – BBT]: không phải là lời cầu nguyện lạnh nhạt bình thường, nhưng là tiếng kêu thống thiết của con tim lên Đức Chúa Trời. Tôi nói: ‘Chúa ơi, hãy diệt chết căn bệnh của ma quỉ bằng quyền năng Ngài. để cho Đức Thánh Linh vận hành trong anh ta, để cho cái này sống trong anh ta.”

Sau đó tôi hỏi: ‘Thưa các ngài, điều gì xảy ra vậy?’

Họ đáp: ‘mọi tế bào đều phản ứng’.”


Nếu có con người nào từng sống và hành động trong sự tỏ ra “Đức Chúa Trời ở trong con người”, thì con người đó chính là Giôn G. Leik (John G. Lake). Con người của mục đích, khải tượng, quyền năng và tính cách mạnh, ông chỉ có một mục đích trong đời – đem sự đầy trọn của Đức Chúa Trời đến mỗi con người.


Ông thường nói rằng bí quyết của quyền năng thiên thượng không phải ở tại việc làm, mà là ở hiện trạng. Ông tin rằng mọi cơ-đốc nhân đầy dẫy Đức Thánh Linh cần phải được thưởng thức (tận hưởng) một công vụ hệt như của Chúa Jê-sus khi Ngài sống trên đất, và hiện thực của sự đó có thể đạt được chỉ khi nào nhìn thấy được bản thân như cách Đức Chúa Trời nhìn.

Bóng đen của cái chết


Giôn Grêm Leik đã sống cả cuộc đời mình và hoàn thành công vụ của mình với sự hiểu biết thuộc linh đó.


Ông sinh ra 18 tháng ba năm 1870 tại Ôn-ta-riô, Canada. Là một trong mười sáu đứa con, ông từ bé đã cùng gia đình chuyển đến Solt-Sant-Mari, bang Mi-chi-gan, Mỹ.


Lần đầu tiên Leik được nghe giảng Tin lành tại buổi nhóm truyền giảng của Đạo quân Cứu rỗi (một tổ chức truyền giảng – BBT), khi ông mười sáu tuổi, và không lâu sau đó ông đã dâng đời sống mình cho Chúa. Mặc dù ông sống cuộc sống đạo đức lành mạnh, tim ông không thấy bình an, cho đến khi ông xin Chúa cứu ông. Sau này ông viết về cuộc gặp với Đức Chúa Trời của mình:


“Tôi đã dâng mình cho Ngài, ánh sáng từ trời tuôn tràn vào lòng tôi, và tôi đứng dậy thành một đứa con của Đức Chúa Trời, và tôi biết điều đó.”


Bố mẹ của Leik là những con người mạnh mẽ, năng động với sức khoẻ tuyệt vời. Nhưng tà linh của bệnh tật và cái chết bao trùm lên toàn bộ phần còn lại của gia đình. Tám thành viên trong gia đình – bốn anh em trai và bốn chị em gái – đã chết vì bệnh. “32 năm trong gia đình thường xuyên có người ốm,” – ông viết, – “Trong suốt thời gian đó bóng đen của bệnh tật luôn ám ảnh trên nhà chúng tôi… thời niên thiếu của tôi đầy ký ức về những bệnh tật, bác sĩ, người trông, bệnh viện, hòm áo quan, nghĩa trang và nấm mộ, về một gia đình đau đớn…”

Khoa học không đúng – Thái độ đúng đắn


Ngay từ khi còn trẻ Leik đã rất quan tâm đến khoa học và vật lý. Ông cũng thích hoá học, và thích làm thí nghiệm với các dụng cụ khoa học. Ông thậm chí đã kết thúc khoá học về ngành y, nhưng về sau bỏ những ham mê y học của mình.


Leik rất kỹ lưỡng trong các sự tìm kiếm cả trong khoa học và những vấn đề thuộc linh. Ông không ngừng nghiên cứu Kinh Thánh không chỉ để mà hiểu nó, mà còn để chứng minh sự chính xác của nó trong cuộc sống hàng ngày. Kết quả là Leik hành động, nói và thở trong luồng của sự sống phục sinh của Đức Chúa Trời.


Năm 1890, khi Leik 20 tuổi, một nông dân cơ-đốc nhân kể cho ông nghe về sự nên thánh. Sự tỏ ra này đã xuyên thấu tim ông, và ông coi đó như một công việc đã hoàn tất của Đức Chúa Trời trong đời mình. Về sự tỏ ra mới này Leik viết: “Tôi sẽ không bao giờ ngừng tôn vinh Chúa đã tỏ cho tôi chiều sâu… quyền năng của huyết Jê-sus. Sự xức dầu Thánh Linh tuyệt vời đã giáng xuống đời tôi.”


Sau đó một năm, 1891, Leik chuyển đến Chi-ca-go và nhập học tại trường hầu việc giám lý. Tháng mười năm đó ông được bổ nhiệm vào Hội Thánh tại Pes-ti-go, bang Vis-con-xin nhưng ông từ chối đề nghị làm mục sư này. Ông cũng rời trường và chuyển đến Har-vey, bang Il-li-nois, là nơi ông lập tờ báo “Har-vey ci-ti-zen”. Khi sống tại đó ông đã gặp người vợ tương lai của mình là Giên-ny Sti-ven.

Món quà “Giên-ny”


Giên-ny hợp với Giôn Leik thật lý tưởng. Chị rất biết vui đùa, suy nghĩ chín chắn, đức tin mạnh mẽ và sự nhạy bén thuộc linh sâu sắc. Một trong những sự phục vụ quan trọng của Giên-ny cho chồng mình là sự cầu nguyện và cầu thay. Leik đánh giá rất cao những lời khuyên và sự động viên của vợ.


Nhưng sau đó hai năm bệnh tật lại lẻn được vào gia đình Leik. Các bác sĩ chẩn đoán Giên-ny bị lao và đau tim. Vì cớ rối loạn nhịp tim mà có khi chị ngã bất tỉnh. Để giữ nhịp tim, chị phải dùng những thuốc mạnh, và cuối cùng chúng khiến chị gần thành người tàn phế.


Cuối cùng, theo lời khuyên của các bác sĩ, Leik đưa gia đình mình trở về lại Solt-Sant-Mari, bang Mi-chi-gan, và anh bắt đầu làm nghề buôn bất động sản. Nhưng trạng thái của Giên-ny ngày một xấu đi, và năm 1898 các bác sĩ nói rằng không còn làm gì được hơn cho chị nữa.

Nào hãy cùng quyết chí!


Leik đã đối đầu với khủng hoảng cuộc đời mình. Quyền năng Đức Chúa Trời ở đâu? Cả gia đình anh khổ sở vì bệnh tật, Những người anh em trai là người tàn phế vì chảy máu nội tạng trong 22 năm. Chị của anh 33 năm ung thư vú. Người chị khác đang chết vì bệnh máu. Và bây giờ người thân cận nhất của anh, Giên-ny, cũng gần kề cái chết.


Nhưng bản thân Leik trước kia đã từng nếm trải quyền năng chữa bệnh của Đức Chúa Trời. Thời trẻ anh bị bệnh thấp khớp. Khi cái đau ở chân đến mức quá độ, anh đi đến Nhà Chữa bệnh của Giôn A-lech-xan-đrơ Đau-vi (một tướng lĩnh của Đức Chúa Trời đi trước khác – BBT) ở Chi-ca-go. Tại đó ông già đã đặt tay lên anh, và quyền năng Chúa giáng trên anh, và đôi chân anh tức khắc khoẻ mạnh.


Sau sự lành bệnh của mình Leik chở người em trai tàn phế đến Nhà của Đau-vi, và cậu ta cũng được lành. Khi người ta đặt tay lên, bệnh máu biến mất, và cậu bật dậy khỏi giường bệnh của mình.


Sau đó anh chở người chị đang chết dần vì bệnh ung thư vú đến Chi-ca-go. Khi đến đó người chị còn một chút nghi ngờ, nhưng sau khi được nghe thấy Lời Chúa được rao giảng với quyền năng mạnh mẽ như vậy thì đức tin của chị ta lớn lên – và chị đã được chữa lành. Cơn đau hết ngay, và khối u lớn xẹp mất đi trong vài ngày, còn những khối u nhỏ thì biến mất ngay, và Đức Chúa Trời đã phục hồi lại chỗ ngực dị dạng của chị.

Cái chết? “Sẽ không có điều đó!”


Người chị khác của anh vẫn còn bệnh nặng dù đã nhiều lần cầu nguyện. Anh cũng đang chuẩn bị chở cô đến Nhà Chữa bệnh, nhưng trước khi anh kịp làm điều đó thì mẹ anh gọi điện đến, và báo rằng chị anh đang chết, và nếu anh còn muốn nhìn thấy cô ta thì phải đến gấp. Khi Leik đến, cô ta đã bất tỉnh, mạch không còn thấy, và căn phòng đầy những người khóc lóc. Đầy xúc động bởi tất cả những cái đó, Leik nhìn vào đứa bé con của chị ta đang còn nằm trong nôi, và thầm nghĩ: “Chị ta không được chết! Sẽ không có điều đó!” Sau này ông viết về sự rung cảm sâu sắc này:


“Không có một lời nào có thể diễn đạt cho người khác tiếng gào thét trong tim tôi và nỗi căm thù cái chết và bệnh tật mà Đức Chúa Trời đã đặt vào trong lòng tôi. Cảm tưởng như chính cơn giận của Đức Chúa Trời xâm chiếm tâm hồn tôi!”


Leik đi lại trong căn phòng, và lòng anh hướng tới người nào có thể giúp được anh bằng đức tin mình. Anh chỉ biết có một người với đức tin như vậy – Đau-vi. Vì thế nên anh gửi đi bức điện tín với nội dung sau:


“Chị tôi gần chết, nhưng linh hồn tôi không để cho chị ta đi. Tôi tin rằng nếu ông cầu nguyện, Đức Chúa Trời sẽ chữa lành chị tôi.”


Đau-vi đáp lời: “Hãy bám vào Chúa. Tôi cầu nguyện. Chị ta sẽ sống.”


Đọc được những lời đó, Leik dấy lên một cuộc tấn công thuộc linh quyết liệt chống lại quyền năng cái chết, mạnh mẽ ngăn cấm nó nhân danh Jê-sus. Chưa đến một tiếng sau chị anh tỉnh lại, năm ngày sau chị đã ngồi cùng bàn dự lễ Giáng sinh với gia đình.


Nhưng tất cả những chuyện đó là trước kia, còn bây giờ người vợ yêu quí của anh đang đau ốm, và tình trạng của cô ngày một xấu đi.

Ma quỉ bị phát hiện


28 tháng Tư năm 1898, cảm tưởng như đồng hồ đang điểm những giờ cuối cùng của Giên-ny, một người hầu việc Chúa quen biết đã khuyên Leik chịu thuận theo ý muốn của Đức Chúa Trời và tiếp nhận cái chết của Giên-ny. Những lời của ông ta nói nghe cũng có lý, nhưng Leik cương quyết chống cự lại. Dù vậy, hiện hữu của cái chết dường như không thể tránh khỏi.


Trong tâm trạng tuyệt vọng hoàn toàn Leik ném quyển Thánh Kinh của mình vào thành lò sưởi, và nó rơi xuống sàn, mở ra đúng chương 10 sách Công vụ các sứ đồ. Khi anh tiến đến gần để nhặt nó lên, cái nhìn của anh rơi vào câu 38: “Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jê-sus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị MA QUỉ ức hiếp, vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.”


Những lời đầy năng lực này đã xuyên thấu trí óc anh: “bị MA QUỉ ức hiếp!” Có nghĩa là căn bệnh của Giên-ny và bất cứ một căn bệnh nào khác không phải đến từ Đức Chúa Trời! Và nếu bây giờ Leik – con cái Đức Chúa Trời trong Jê-sus Christ, thì khi đó Đức Chúa Trời cũng ở cùng anh, như Ngài đã ở cùng Chúa Jê-sus. Bây giờ anh thật sự tin chắc rằng đó chính là ma quỉ tìm cách cướp đi người mẹ của những đứa con anh. Chính ma quỉ đang huỷ hoại đời sống anh.

9:30 sáng


Lúc đó Leik mở sách Tin lành theo Lu-ca 13:16 và đọc: “Con gái của áp-ra-ham này, quỉ Sa-tan đã cầm buộc mười tám năm, há chẳng nên mở trói cho nó sao…?” Bây giờ anh lại được hiểu sáng tỏ thêm một điều, ngoài việc sa-tăng – nguyên cớ của bệnh tật và cái chết, hơn nữa là Jê-sus – qua Leik – có thể đem sự chữa lành và giải cứu cho những người bị đau khổ. Dùng anh, Chúa Jê-sus có thể chiến thắng những đau đớn của cái chết. anh hoàn toàn không nghi ngờ việc Chúa Jê-sus đã chết để cho vợ anh được lành bệnh, cũng hệt như Ngài đã chết cho tội lỗi của cô. Và anh quyết định rằng tuyệt đối không ai có thể cướp đi của Giên-ny món quà đó.


Hoàn toàn tin chắc rằng chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể đem lại kết quả, Leik quyết định để Đức Chúa Trời được nói lời nói cuối cùng, chứ không để cho ma quỉ. Anh đi vào phòng ngủ và tuyên bố trước tất cả thế giới thấy được và không thấy được, rằng vợ anh sẽ được lành bệnh chính xác lúc 9:30 sáng.


Sau đó anh liên lạc với Đau-vi để thông báo cho ông về việc Đức Chúa Trời sẽ làm vào đúng thời điểm đó. Khi đồng hồ điểm 9:30, Leik quì gối nơi giường bệnh người vợ yêu quí của mình và kêu gào lên Đức Chúa Trời Hằng sống. Khi anh làm điều đó, quyền năng Chúa giáng xuống Giên-ny và chạy suốt thân thể chị từ đầu xuống chân. Bại liệt biến mất, nhịp tim trở lại bình thường, bệnh ho kết thúc, hơi thở phục hồi và nhiệt độ trở lại bình thường – ngay lập tức!


Đầu tiên Leik nghe thấy một tiếng kêu khẽ từ miệng Giên-ny. Sau đó chị la lên: “Ngợi khen Chúa, tôi lành bệnh rồi!” Điều đó thậm chí còn làm anh phát hoảng, vì một sức mạnh như vậy trong giọng nói của chị anh đã không được nghe từ vài năm nay. Sau đó Giên-ny hất tung đống chăn và đứng dậy – hoàn toàn lành bệnh! Sự ngợi khen mà họ với Giôn dâng lên Chúa thật không thể nào tả nổi.


Rất nhanh sau đó sự kiện Giên-ny lành bệnh được cả đất nước biết đến và khiến cho nhiều người trải quãng đường xa xôi để đến thăm ngôi nhà của Leik. Báo chí thì lại hâm nóng thêm sự tò mò, và vợ chồng Leik được nổi tiếng. Người ta đến nhà họ mỗi ngày để nhìn xem phép lạ của Đức Chúa Trời và để được cầu nguyện cho mình. Nhiều người khác gửi những nhu cầu cầu nguyện đến…

Sử dụng quyền năng thuộc linh


Vào năm 1901 Leik chuyển đến Si-ôn, bang Il-li-nois để học về sự chữa lành thiên thượng ở chỗ A-lech-xan-đrơ Đau-vi. Anh truyền giảng vào các buổi tối, học tập khi nào có thể, và làm việc quản lý điều hành trên công trường xây dựng của Đau-vi suốt cả thời gian ban ngày.


Đến năm 1904, Leik chuyển đến Chi-ca-go. Anh mua một chỗ thành viên của hiệp hội thương gia Chi-ca-go. Một năm sau trong tài khoản ngân hàng của anh đã có hơn 130.000 đô-la, và anh trở thành chủ nhân của bất động sản trị giá 90.000 đô-la. Nhìn thấy tài năng của anh, các nhà kinh doanh đề nghị Leik thành lập một liên hiệp (trest) của ba công ty bảo hiểm lớn nhất đất nước với thu nhập đảm bảo là 50.000 đô-la hàng năm. Bây giờ anh trở thành cố vấn của một nhà kinh doanh cao cấp, và cũng kiếm hàng trăm đô-la tiền dịch vụ.


Theo thước đo thời đó Giôn Leik đã làm được cả một sản nghiệp lớn (đô-la thời đó có giá trị ít nhất gấp 10 lần đô-la bây giờ – BBT). Nhưng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trong lòng anh vẫn tiếp tục lớn lên. Đến một lúc nào đó anh đã điều hoà được giữa thành công vĩ đại của mình trong thế gian và sự tăng trưởng trong Đức Chúa Trời. Anh đã học được cách bước đi theo Đức Thánh Linh, và anh mô tả như sau:


“Đối với tôi việc tách ra khỏi nhịp độ cuộc sống đã trở nên dễ dàng hơn, trong khi đôi tay và tâm trí phải bận công việc hàng ngày, tâm linh tôi vẫn giữ mối thông công với Đức Chúa Trời.”


Có một số người nghĩ rằng nếu bạn được kêu gọi để hầu việc Chúa, thì bạn cần phải ngay lập tức bỏ công việc mình trong thế gian. Nhưng theo như tấm gương của Leik, thì điều đó không phải bao giờ cũng vậy. Học cách giữ mối thông công với Đức Chúa Trời qua tâm linh mình, Leik dần dần tiến tới thời điểm lý tưởng bắt đầu công vụ. Anh không chạy trước Đức Chúa Trời, và không để cho gia đình mình phải đau khổ. Sau này, khi thời điểm đã đến, anh có thể bán đi mọi thứ, vì đã học được đức tin lớn trong những năm bước đi với Đức Chúa Trời trong lĩnh vực kinh doanh.


Leik hiểu ra rất sớm trong công vụ của mình, rằng hiện trạng đi trước việc làm. Anh học được cách đi theo thời gian thiên thượng.

Tiếng lạ và thời điểm thiên thượng


Khi Leik còn sống ở Si-ôn, anh đến dự nhóm tại nhà của người bạn mình Fred F. Bos-vort. Tom Hez-mal-halch giảng lúc đó, và cuối buổi nhóm anh ta nói với Leik: “Khi tôi giảng, Chúa Jê-sus nói với tôi rằng chúng ta và anh sẽ cùng truyền giảng với nhau.” Leik cười câu nói đó của anh ta, nhưng không lâu sau đó anh đã dâng mình cho ý muốn trọn vẹn của Đức Chúa Trời.


Không lâu sau đó, năm 1906, Leik bắt đầu cầu nguyện để được báp-tem Đức Thánh Linh. Anh tìm kiếm Đức Chúa Trời chín tháng, nhưng sau đó thôi, cho rằng “nó không phải là dành cho mình”. Sau đó có một lần anh đi với Tom, bây giờ đã là người bạn thân nhất, để cầu nguyện cho một phụ nữ bị bệnh. Ngồi cạnh giường bà, Leik bắt đầu run bần bật vì cớ sự cảm động Đức Chúa Trời khác thường.


Nhưng Hez-mal-halch không nhận thấy điều đó, và đề nghị Leik đặt tay lên nữ bệnh nhân. Khi anh làm điều này, một tia chớp của Đức Chúa Trời đánh quị Tom xuống đất. “Ngợi khen Chúa, Giôn! – anh ta đứng dậy và nói – Jê-sus đã làm báp-tem Đức Thánh Linh cho anh!”


Sau này Leik mô tả:


“Khi hiện tượng đó qua đi, thì vinh hiển của nó vẫn còn lại trong linh hồn tôi. Tôi phát hiện ra rằng trong cuộc sống mình bắt đầu xuất hiện các ân tứ Đức Thánh Linh khác nhau. Tôi nói tiếng lạ với sức mạnh của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời bắt đầu tuôn chảy qua tôi với một quyền năng mới. Những sự chữa lành bắt đầu xảy ra mạnh mẽ hơn.”


Leik thường nói tiếng lạ và tin rằng mức độ ít đầy dẫy hơn thế thì không thể gọi là báp-tem Đức Thánh Linh được. Anh nói:


“Nói tiếng lạ đối với tôi là phần việc của công vụ của tôi, là mối liên lạc đặc thù với Đức Chúa Trời đã mở ra cho lòng tôi những chân lý mà tôi mang đến cho các bạn ngày này qua ngày khác.”

Châu Phi kêu gọi


Sau khi báp-tem Đức Thánh Linh lòng mong muốn phục vụ trọn thời gian của Leik càng lớn thêm. “Sếp” của anh đồng ý cho anh nghỉ phép ba tháng để đi truyền giảng Tin lành. Nhưng ông ta cũng báo trước cho anh rằng “sau ba tháng số tiền 50000 đô-la có thể sẽ trở thành quá lớn đối với anh, và chưa chắc gì anh sẽ chịu hy sinh chúng vì những mơ mộng tôn giáo.” Leik cảm ơn người sếp mình về những gì ông ta làm cho mình, và thôi việc. Sau đó, khi ba tháng đã qua, anh mạnh dạn tuyên bố: “Tôi đã vĩnh viễn kết thúc với mọi việc trong đời ngoài việc công bố và truyền bá Tin lành Chúa Jê-sus Christ.” Anh không quay trở lại nơi làm việc cũ nữa.


Năm 1907, Đức Thánh Linh nói với Leik: “Hãy đến In-đia-na-po-lis. Hãy chuẩn bị cho đợt truyền giảng mùa đông và thuê một gian phòng lớn, Mùa xuân con sẽ đến Châu Phi.” Khi anh quay về nhà để kể cho Giên-ny, thì chị đã biết về kế hoạch này, vì Chúa cũng đã nói với chị.


Leik có mối quan tâm lớn đến Châu Phi từ khi còn bé được đọc về những chuyến đi của Sten-li và Li-ving-ston. Thời niên thiếu anh có những giấc mơ về Châu Phi nhiều hơn là Châu Mỹ.


Leik chuyển cả gia đình mình đến In-đia-na-po-lis, và liên kết với người bạn cũ Tom Hez-mal-halch. Họ ở lại đó sáu tháng và hai người thành một đội truyền giảng hùng mạnh, đưa hàng trăm người đến với báp-tem Đức Thánh Linh.


Sau đó vào một sáng Leik cảm thấy mình phải kiêng ăn cầu nguyện. Anh tìm kiếm Đức Chúa Trời trong sáu ngày, và khi đó anh được Chúa nói rằng từ nay anh sẽ đuổi quỉ. Sau đó là ân tứ phân biệt và xua đuổi các tà linh, và rất nhanh Leik đã học được cách hành động trong lĩnh vực này với độ chính xác cao.

Bước đi trên mặt nước


Vào tháng Giêng 1908 Leik bắt đầu cầu nguyện về những tài chính cần thiết cho chuyến đi. Tom cũng hiệp với anh, và họ dự định là chuyến đi sẽ tốn hai nghìn đô-la. Trong khi cầu nguyện Tom nhận được Lời Chúa sau bốn ngày sẽ có đủ tiền, và bốn ngày sau anh ta quay trở về từ bưu điện với bốn tấm séc 500 đô-la được người khác gửi đến.


Đúng như lời Chúa nói, tháng Tư năm 1908 nhóm các anh xuất phát đi Châu Phi. Đoàn gồm Leik, Giên-ny, bẩy đứa con của họ, Tom và ba người đồng sự nữa. Một trong số họ đã sống ở Châu Phi 3 năm, biết nói tiếng zu-lu và có thể làm người phiên dịch được. Họ dã mua vé, nhưng họ không có tiền để chi phí cho chuyến đi. Bây giờ nhà triệu phú trước kia của Đức Chúa Trời phải học cách hoàn toàn trông cậyvào Ngài. Trong túi anh chỉ còn có một đô-la rưỡi.


Leik đã tỏ thái độ vâng phục, và Đức Chúa Trời đã dùng phép lạ để chu cấp cho cả đoàn. Luật nhà nước Nam Phi đòi hỏi mỗi gia đình người nước ngoài muốn nhập cảnh phải có mang theo người ít nhất 125 đô-la, nếu không thì họ không được phép xuống khỏi tàu. Khi họ đến cảng, Leik không có số tiền đó. Giên-ny nhìn chồng và hỏi: “Anh định làm gì bây giờ?”


Leik đáp: “Anh sẽ đứng vào hàng cùng với những người khách khác. Từ trước đến giờ chúng ta đã vâng phục Đức Chúa Trời, và bây giờ mọi sự phụ thuộc vào Ngài.”


Khi anh đứng trong hàng, chuẩn bị giải thích vấn đề của mình, thì một hành khác tiến đến gần, vỗ vai anh và gọi sang một bên. Ông ta hỏi Leik mấy câu và sau đó chìa ra cho anh hai tờ giấy bạc tổng trị giá 200 đô-la. “Tôi cảm thấy được thúc giục đưa cho anh cái này để giúp cho công việc của anh,” – người lạ mặt nói – “Nếu anh đã nghe thấy Đức Chúa Trời nói, hãy mạnh dạn và năng động mà thực hiện bước đi của đức tin. Ngài sẽ có ở đó, để đón gặp anh mọi lần.

Ngôi nhà ở xa nhà


Khi gần đến Io-gan-nes-burg-gan-nes-burg, gia đình Leik bắt đầu cầu nguyện khẩn khoản về nhà ở. Là những giáo sĩ đức tin, họ không hề có sự trợ giúp nào của các ban điều hành Hội Thánh, không có hội chúng nào chờ đợi họ đến. Họ chỉ có đức tin vào Đức Chúa Trời.


Khi xuống khỏi tàu thuỷ tại Io-gan-nes-burg-gan-nes-burg vào tháng Năm 1908, họ nhìn thấy một người phụ nữ bé nhỏ người Mỹ chạy dọc cầu tầu và nhìn ngó vào mặt mỗi người. Bà ta chạy đến gần Tom và hỏi: “các anh là đoàn giáo sĩ?” – “Vâng!” – Tom đáp. “Các anh có mấy người?” – “Bốn”. Bà ta lắc đầu và nói: “Các anh không phải là gia đình, còn có ai nữa không?”


Tom bèn chỉ bà đến với Leik. Bà ta rất sung sướng nhận ra đây đúng là gia đình với bẩy đứa con mà Đức Chúa Trời đã hướng dẫn bà đón gặp để bà sắp xếp chỗ ở cho họ. Ngay trong ngày đó gia đình Leik được vào ở trong ngôi nhà đầy đủ đồ đạc tại Io-gan-nes-burg-gan-nes-burg. Đức Chúa Trời đã ban cho họ như họ cầu xin. Người phụ nữ kia – bà Gu-đi-naf trở thành người bạn trung thành của họ trong suốt thời gian hầu việc Chúa.

Xoáy lốc thuộc linh


Vài ngày sau khi đến một cơ hội phục vụ đầu tiên được mở ra cho Leik. Một mục sư Nam Phi phải đi xa vài tuần và đề nghị Leik thay chỗ ông trên bục giảng. Leik ngay lập tức nhận lời.


Trong bài giảng chủ nhật đầu tiên của anh có hơn 500 người dân zu-lu (dân bản xứ – một bộ lạc lớn – ND) tham dự. Kết quả là một sự phấn hững mạnh mẽ, và sau vài tuần rất nhiều người tại Io-gan-nes-burg-gan-nes-burg và những vùng ngoại thành đã được cứu, được lành bệnh và được báp-tem Đức Thánh Linh.


Thành công đã khiến Leik phải sửng sốt. Sau này ông viết: “Ngay từ đầu đã có cảm tưởng như đó là một xoáy lốc thuộc linh.”

Các buổi thời phượng kéo dài đến 4 giờ sáng.


Một trong những phần của những buổi thờ phượng đầy phép lạ này là sự thể hiện đáp lời cầu nguyện một cách đầy quyền năng. Lời cầu nguyện đức tin có thể được dâng lên cho một người sống tại vùng khác trong Châu Phi, với hiệu quả ngay lập tức. Lời đồn về những việc đó càng được phổ biến, và hàng trăm người đổ xô đến Io-gan-nes-burg để nhận được trả lời cho lời cầu nguyện mình. Sau các buổi nhóm người địa phương di theo sau các nhà truyền giảng đến tận nhà họ, và tiếp tục hỏi họ để hiểu biết hơn về Đức Chúa Trời. Rất nhiều lần, khi hừng đông đã ló dạng nơi chân trời Phi Châu, nhóm người đó vẫn còn tiếp tục bàn luận về quyền năng Đức Chúa Trời. Sau đó suốt cả ngày người ta có thể gặp những con người đó với Kinh Thánh trong tay đang làm chứng về quyền năng Đức Chúa Trời đã thể hiện ra chiều hôm trước.


Tại đó cũng có nhiều sự chữa lành kỳ diệu. Những người bị thương, bị bệnh và ốm đau đứng xếp hàng dọc tường, và sau khi được cầu nguyện đi ra khỏi toà nhà với những tiếng la lớn: “Đức Chúa Trời đã chữa lành tôi!” Đám đông trong toàn nhà, được chứng kiến những phép lạ của Đức Chúa Trời, nồng nhiệt đáp ứng bằng những tiếng hò la.

Phân đội Giôn và Giên-ny


Khi những người dân phi châu không vào được buổi nhóm của Leik, họ đi đến nhà những giáo sĩ. Có lúc đám đông lớn đến nỗi Giên-ny không kịp nấu ăn cho gia đình nữa. Chị đón gặp họ trước cửa, để họ được người khác cầu nguyện cho, sau đó dẫn họ ra qua cửa sau, để dọn chỗ cho những người mới đến.


Giên-ny cũng là người cộng sự với Giôn trong sự hầu việc (phục vụ). Giôn tin rằng người vợ mình có ơn “phân biệt các thần linh với mức độ lớn hơn” cả anh. Chị thường xuyên nhận được lời tri thức (một ân tứ Đức Thánh Linh, một cách siêu nhiên tỏ cho con người biết những điều cần biết về người mình đang phục vụ – ND) về những người không có khả năng nhận được sự chữa lành vì cớ những mắc mớ cá nhân với tội lỗi trong đời sống họ.


Gia đình Leik tổ chức các buổi cầu nguyện chữa bệnh rất đơn giản. Khi người ta đến với Leik, anh đặt tay lên họ. Những người được lành về nàh mình ngay. Nhưng ai chưa được lành hoặc mới chỉ lành một phần đi vào phòng khác. Sau khi Leik đã cầu nguyện xong cho những người khác, anh đưa Giên-ny vào phòng, và chị nhờ Đức Thánh Linh tỏ ra cho những người đó về những trở ngại cản trở họ nhận sự lành bệnh. Lắng nghe những lời về bí mật của lòng mình, nhiều người đã xưng tội và xin Chúa tha thứ. Sau đó Giôn và Giên-ny cầu nguyện lại, và Đức Chúa Trời chữa lành cho những kẻ đã ăn năn. Còn những kẻ không chịu ăn năn, mặc dù đã tiếp nhận những chân lý được Giên-ny giảng cho mình, thì quay về nhà trong căn bệnh cũ.

Ông ta là ai?


Leik là một con người của hành động. Một lần, sau lời kêu gọi đầy nhiệt huyết từ bục giảng, cả hội chúng chạy lên. Nhưng trong nhóm đó có một người ngã lăn xuống trước bục quằn quại lên cơn. Ngay lúc đó Leik nhẩy xuống khỏi bục giảng, tiến đến và ra lệnh đuổi quỉ nhân danh Jê-sus. Khi con người đó đã nhận được sự giải cứu, Leik bình thản quay trở lại bục giảng.


Thần của Chúa vận hành trên Leik một cách mạnh mẽ trong suốt những năm đó. Khi ông bắt tay những người đến dự buổi thờ phượng, nhiều khi họ ngã xuống sàn bởi quyền năng Đức Chúa Trời. Đôi khi người ta ngã nàm sải dài trên sàn khi họ đến gần ông quá sáu bước chân.


Leik luôn bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với mọi người, và ông không bao giờ quay lưng lại với những lời kêu gọi cứu giúp. Không bao giờ ông từ chối lời gọi của người bệnh, và thậm chí còn được biết là ông cầu nguyện cho cả những thú vật bệnh sắp chết khi người ta nài nỉ ông. Có những lúc khi ông cần được nghỉ ngơi, nhưng người ta vẫn tìm ra ông và đưa người bệnh tới. Leik cầu nguyện cho họ cả ngày lẫn đêm, không từ chối ai.


Đội những người hầu việc luôn luôn có nhu cầu to lớn về đồ ăn và tài chính. Theo quan niệm thời đó Leik không bao giờ kêu gọi tiền dâng hiến. Nhưng ông thường xuyên bắt gặp những giỏ đựng đồ ăn hay là một khoản tiền nhỏ trên bậc cửa nhà mình.


Có thể điều khó khăn nhất đối với Giên-ny tại Châu Phi, đó là thích ứng với những thói quen của chồng mình. Trách nhiệm của anh là phải mang về đồ ăn cần thiết cho cả đại gia đình. Nhưng nếu dọc đường ông gặp người đàn bà goá với những đứa con đói khát, thì ông lại đưa hết cho họ những gì mình có. Giên-ny cũng không bao giờ biết trước là Giôn có đưa ai về nhà cùng ăn trưa hay không, cho nên chị luôn luôn phải tiết kiệm thức ăn dành cho trường hợp khi chị phải nấu cho cả đám đông người. Cảm tưởng là đồ ăn không có lúc nào là đủ cả.

Đội phục vụ gắn bó


Sau những ngày đầu tiên trong Hội Thánh của mục sư nọ, Leik chuyển sang thuê các gian phòng lớn. Sau đó, khi chúng trở nên quá chật, những buổi thờ phượng diễn ra ngay ngoài trời. Bây giờ Leik và Hez-mal-halch đã trở thành một “Đội những nhà truyền giảng”. Mỗi người trong số họ đứng lên nói năm hay sáu lần trong một buổi nhóm, và không ai có thể nói được bài giảng nào đang kết thúc và bài nào đang bắt đầu. Mọi sự đều ở trong sự hài hoà của Đức Thánh Linh.


Leik lập ra “Đền tạm Sứ đồ” tại Io-gan-nes-burg và không đầy một năm mở 100 Hội Thánh. Những Hội Thánh này nằm ở các vùng khác nhau của Châu Phi, và sự điều hành chúng đòi hỏi những chuyến đi xa nhà thường xuyên.

Tạm biệt Giên-ny


22 tháng 12 năm 1908 một tin tức khủng khiếp nhất, không thể tưởng tượng nổi, giáng xuống Leik. Người vợ yêu quí Giên-ny của ông đã chết khi ông đang phục vụ tại sa mạc Ca-la-ha-ri. Khi ông quay về đến nhà, chị đã lên trời được 12 tiếng rồi.


Đa số lời chứng về cái chết của Giên-ny đều qui cho việc thiếu ăn và kiệt sức của chị. Khi Giôn đang đi xa, những đám đông tụ tập lại chờ ông quay về, họ nằm trên bãi cỏ trước cửa nhà. Vì thế nên Giên-ny nấu ăn cho họ, dùng hết cả những dự trữ đồ ăn bé nhỏ còn lại của mình. Và chị cũng cố tạo đieuè kiện dễ chịu nhất cho họ cho đến khi Leik về. Và cũng vì thế chị đã bỏ qua sức khoẻ của mình.


Còn Leik thì quá bận việc phục vụ người khác đến nối không để ý thấy những gì xảy ra với vợ mình.


Trong sự hầu việc một chuyện thường xuyên bị bỏ qua không để ý đến, là bao giờ cũng sẽ còn những nhu cầu cần được đáp ứng. Một sự hầu việc không thể đáp ứng hết cho mọi nhu cầu bắt gặp, dù cho sự hầu việc đó được xức dầu và mạnh mẽ đến đâu đi nữa. Vì vậy trong sự hầu việc cơ-đốc còn cần cả suy nghĩ lành mạnh nữa. Thân thể tự nhiên và gia đình cần phải được quan tâm chăm sóc, và gia đình bản thân phải là hạt nhân của mỗi sự hầu việc Chúa.


Thật dễ hiểu là Leik bị chấn động như thế nào khi ông quay về bắt gặp vợ mình đã chết. Đây là một thời gian tăm tối đối với ông, và nỗi đau đớn dày vò còn lại suốt nhiều năm.


Một năm sau, 1909 Leik quay trở về Mỹ, để kêu gọi tiền dâng hiến cho sự phục vụ Phi châu của mình và để tìm thêm những người làm việc mới. Và Đức Chúa Trời lại chu cấp tài chính một cách siêu nhiên chỉ trong một buổi thu tiền dâng hiến. Ông thu được 3000 đô-la và có thể quay trở lại với những cộng sự mình.

Bệnh dịch hạch


Khi đoàn quay lại vào đất Phi Châu năm 1910, trên vùng đất này nạn dịch hạch đang hoành hành. Một phần tư dân chúng đã chết trong vòng dưới một tháng. Dịch lệ độc hại khủng khiếp đến nỗi chính phủ đề nghị trả lương 1000 đô-la cho mỗi một người tình nguyện đi làm việc với những người bệnh. Leik và những người cộng sự thì đi giúp không lấy tiền. Ông cùng với một cộng sự đi vào những ngôi nhà, đưa những người chết ra và chôn cất họ. Nhưng chẳng có dấu hiệu nào của dịch bệnh động chạm được đến họ.


Vào thời điểm khi dịch hạch này lên đến đỉnh điểm, một bác sĩ cho gọi Leik và hỏi ông: “Làm sao ông có thể giữ mình được? Chắc chắn là ông phải có một bí quyết nào đó!”


Và Leik đáp lại: “Anh ơi, đó là luật của Thánh Linh Sự Sống trong Đức Chúa Jê-sus Christ. Tôi tin rằng, khi mà hồn tôi vẫn còn ở trong liên lạc với Đức Chúa Trời hằng sống, để cho Thánh Linh Ngài tuôn chảy vào linh hồn và thân thể tôi, thì không có một vi khuẩn nào có thể bám nổi vào tôi, vì Thánh Linh Đức Chúa Trời sẽ giết chết nó.”


Sau đó Leik đề nghị ông bác sĩ làm một thí nghiệm. Ông đề nghị bác sĩ lấy nước dịch trong phổi của những nạn nhân căn bệnh chết người này và đem đặt chúng soi dưới kính hiển vi. Bác sĩ làm theo và nhìn thấy một đống vi khuẩn đang sống. Sau đó Leik khiến những người nhóm tại đó phát khiếp, khi đề nghị bác sĩ bôi chất dịch mang cái chết trong mình đó lên bàn tay ông, và ông tuyên bố rằng chúng sẽ chết.


Bac sĩ làm theo và nhận thấy là mọi vi khuẩn đều đã chết hết trong lòng bàn tay Leik. Những nhân chứng của cuộc thí nghiệm này đứng đó trong sự bàng hoàng, còn Leik tiếp tục dâng lên Chúa lời ngợi khen và nói: “Các ông có thể bôi chúng đầy tay tôi, và tôi sẽ để tay trước kính hiển vi, các ông sẽ thấy vi khuẩn chết ngay lập tức.”


Cũng chính quyền năng đó tuôn chảy qua đôi tay của Leik đến thân thể những người đau khổ vì bệnh tật để đem sự chữa lành cho những đám đông người. “Tia chớp” của Đức Chúa Trời huỷ diệt mọi bệnh tật và đau ốm


Khi nữ hoàng Hà-lan đề nghị Leik cầu nguyện cho bà ta, để bà có thể mang được đứa con cho đến đúng kỳ sinh, ông gửi cho nữ hoàng một bức thư, báo rằng lời cầu nguyện của bà đã nhận được sự trả lời. Chưa đầy một năm sau nữ hoàng Hà-lan Giu-lia-na, trước đó từng sảo thai 6 lần, đã sinh đứa con đầu tiên của mình.

Chức vụ Đức Thánh Linh


Tháng Mười hai 1910 Tom Hez-mal-halch rời khỏi Leik. Đối với Leik đó là một thời kỳ rất khó khăn. Cách đây không lâu ông vừa mất người vợ yêu quí, và bây giờ ông mất người bạn thân và người đồng sự tốt nhất. Nhưng ông được tiếp thêm sức lực bởi biết rằng mình đang thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời. Và ông cũng được sự yên ủi lớn lao từ phía những người Mỹ cùng chí hướng. Những lá thư động viên đến từ nhiều người, họ khẳng định với ông sẽ ủng hộ công vụ của ông.


1910-1912 Leik phục vụ trong sự chữa bệnh bằng cầu nguyện cho những người bệnh. Có những phép lạ vĩ đại đã xảy ra mà cho đến giờ ở Châu Phi người ta còn nhớ. Ông lập hai Hội Thánh lớn: Sứ mạng đức tin sứ đồ/Đền tạm Sứ đồ (không liên qua đến Hội Thánh đức tin sứ đồ) và Hội Thánh cơ-đốc Si-ôn.


Leik và hội chúng của ông phát hành một bản tin được gửi đến cho hàng ngàn người. Trước khi gửi đi những số báo các thành viên Hội Thánh đặt tay lên chúng và cầu nguyện, để những văn phẩm đó được xức dầu Đức Thánh Linh đầy dẫy. Họ tin rằng quyền năng Chúa sẽ xức dầu những tờ giấy đó giống như điều đã xẩy ra với những mảnh khăn của sứ đồ Phao-lô. Kết quả là từ khắp các nơi trên thế giới hàng nghìn bức thư được gửi đến, kể rằng Đức Thánh Linh giáng xuống những người nhận khi họ mở phong bì ra như thế nào. Một người phụ nữ viết rằng, khi cầm bản tin vào tay, chị ta “bắt đầu run lên” mạnh đến nỗi khó khăn lắm mới ngồi được xuống ghế. Sau đó chị nhận được báp-tem Đức Thánh Linh và bắt đầu nói tiếng lạ. Leik giải thích đơn giản hiện tượng này: “Sự phục vụ cơ-đốc là sự phục vụ Đức Thánh Linh.”


Leik biết cách dẫn cả hội chúng đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ông dạy và nâng đỡ mọi người theo kinh nghiệm thuộc linh phong phú của mình, và kết quả là họ cũng lớn mạnh lên trong sự siêu nhiên. Vào năm 1912 hội chúng được đề nghị cầu nguyện cho chị họ một người đang nằm trong bệnh viện tâm thần tại xứ U-ên cách đó bẩy nghìn dặm. Khi linh của sự cầu nguyện bao trùm trên mọi người, bỗng nhiên một sự nhận biết Đức Chúa Trời lớn lao giáng trên Leik. Cảm giác là từ những người cầu thay phát ra những tia lửa. Sau đó, bỗng nhiên ông thấy mình được chuyển động trong Thánh Linh với tốc độ của ánh sáng. Ông đến một nơi mà trước kia chưa từng đến, và hiểu ra rằng mình đang ở tại U-ên. Sau đó ông vào phòng người chị họ của người kia, đang bị buộc vào giường và lắc lư đầu từ hướng này sang hướng khác. Ông đặt tay lên chị ta và đuổi con quỉ ra khỏi chị. Sau đó, đột nhiên ông lại tỉnh ra tại Io-gan-nes-burg thấy mình đang quì gối trên bục. Sau ba tuần tin về sự giải cứu hoàn toàn người phụ nữ kia. Các bác sĩ “bỗng nhiên” thấy chị ta hoàn toàn bình thường và cho ra khỏi viện.

Người khách lãng du đầy xức dầu


Đến khi Giôn Leik rời khỏi Châu Phi và quay lại Mỹ, nhờ những cố gắng của sự phục vụ của ông đã đào tạo được 1250 nhà truyền giảng, mở ra 625 Hội Thánh và được 100.000 người cải đạo. Số lượng chính xác các phép lạ xảy ra tại các buổi nhóm của ông không thể đếm được. Số liệu thống kê này chỉ là trong có 5 năm phục vụ!


Leik quay lại Mỹ vào năm 1912. Năm đầu tiên gia đình luôn di chuyển và bây giờ cần được nghỉ ngơi. Sau đó vào năm 1913 Giôn gặp gỡ với Flo-rens Svit-ser từ Mi-lu-ô-ki, bang Vis-con-sin, và cưới cô ta. Vào những năm sau họ có 5 đứa con. Flo-rens là một nữ đánh máy tốc ký tuyệt vời và chịu trách nhiệm ghi lại và gìn giữ nhiều bài giảng của Giôn Leik.


Mùa hè năm 1914 Leik gặp một nhà tài chính của công ty đường sắt và là một người bạn cũ của mình Gim Hill. Họ trở nên những người bạn thân khi Leik còn làm việc ở Chi-ca-go. Hill sướng quá khi gặp Leik, và đề nghị cho gia đình ông vé tầu không mất tiền trong các tuyến đường mà công ty xe lửa của họ chạy.

Phòng chữa lành tại Spok-kein


Leik dùng dịp tiện và đi lại khắp đất nước. Đầu tiên ông đến Spok-kein, bang Oa-sinh-ton, và ông dừng lại và tổ chức những căn phòng chữa lành trong một toà nhà công sở cũ. Người ta cho rằng trong những căn phòng đó đã xảy ra khoảng 100.000 sự chữa lành.


Những tờ báo của Spok-kein thường xuyên in những lời làm chứng của những người được lành bệnh. Thực tế là những kết quả đó quá khó tin đến nỗi một uỷ ban về những tổ chức đang hoạt động quyết định nghiên cứu tính xác thực của những sự lành bệnh. Các đại diện của họ liên lạc với những chủ nhân các phòng chữa lành để tổ chức kiểm tra.


Để đáp ứng đòi hỏi của uỷ ban, Leik gọi những người mà lời làm chứng của họ đã được lên báo. Tất cả mười tám người đến đều làm chứng về quyền năng Đức Chúa Trời trước uỷ ban. Sau đó Leik báo tên của những người đã được lành ở khắp thành phố, để uỷ ban cũng có thể hỏi họ. Và sau đó ông đề nghị tổ chức buổi nhóm vào chủ nhật sau, để 100 người sẽ lên làm chứng về sự họ được lành bệnh. Ông đề nghị uỷ ban lập ban thanh tra gồm các bác sĩ, luật sư, quan toà và thầy giáo, để họ cũng có thể nói lên quan điểm của mình.


Nhưng đến thứ sáu Leik nhận được từ uỷ ban bức thư báo rằng những kết quả nghiên cứu đã đủ đúng, và không cần đến buổi nhóm đặc biệt vào chủ nhật nữa. Người ta cũng khen ngợi ông về công việc ông đang làm trong thành phố. Hai thành viên trong uỷ ban còn đích thân đến nhà ông và nói với ông: “Ngài kể còn chưa đến một nửa tất cả những gì đã xảy ra.”


Trong số những người đã được hỏi có một phụ nữ trước kia không có những cơ quan phụ nữ, nhưng bây giờ do được chữa lành đã có thể sanh đẻ được. Bà ta khoe với những người điều tra đứa nhỏ tuyệt vời của mình.


Người phụ nữ khác kể về xương bánh chè bị vỡ được lành một cách kỳ diệu. Sau lời cầu nguyện chỗ xương chuyển liền lại vị trí của nó trong vòng dưới 1 giờ mà không hề thấy đau đớn gì. Một phụ nữ khác bị ung thư không thể chữa nổi đã hoàn toàn lành bệnh sau khi cầu nguyện. Người khác trong nháy mắt được khỏi bệnh viêm khớp, và xương cốt lấy lại hình dạng bình thường. Người này còn được lành khỏi sa dạ dầy, và màng nhĩ mà từ khi bà ta sinh ra đã không có lại mọc ra một cách kỳ diệu đúng chỗ nó.


Nhưng trường hợp kỳ diệu nhất xảy ra tại Nhà chữa lành Spok-kein có lẽ là việc cậu bé, sinh ra với cái đầu ngoẹo như chiếc thuyền lật ngược. Các bác sĩ tuyên bố là chưa thể làm gì được cho đến mười hai tuổi, và dù thế nào đi nữa thì phẫu thuật cũng sẽ rất nguy hiểm. Nhưng sau khi cầu nguyện những xương của cậu bé mềm ra, khung xương đầu to ra và những cơ bắp được phục hồi lại hình dạng bình thường. Bệnh bại liệt của cậu ta cũng biến mất, và cậu bắt đầu nói được như những đứa trẻ bình thường.


Leik giải thích như thế nào về những điều kỳ điệu này? Ông thường đem chuyện bà Et-ter là người có ảnh hưởng thuộc linh rất lớn đến ông ra làm ví dụ: “Khi chúng ta nhìn thấy những chớp sáng loè lửa thiên thượng trong đời con người, như thấy trong người chị em Et-ter vào lúc ai đó được chữa lành, thì đó là vì tri giác của bà và Đấng Christ lúc đó là một. Bà hoà tan trong Đức Chúa Trời. Tôi đã thấy một người phụ nữ đang chết được chữa lành trong vòng 30 giây khi người chị em Et-ter đuổi quỉ khỏi người cô ta. Ngọn lửa của Đức Chúa Trời, lửa Thánh Linh của Ngài, mười giây nối liền với Đấng Christ Toàn Năng ở nơi ngai Đức Chúa Trời – đó là bí quyết của mọi sự.”

“Đấu tranh cho Ngũ tuần”


Theo thống kê của chính phủ từ về giai đoạn 1915 đến 1920, thành phố Spok-kein bang Oa-sinh-ton là “thành phố khoe mạnh nhất trên toàn thế giới” nhờ sự phục vụ của Giôn Leik. Thị trương Spok-kein đã tổ chức những buổi lễ hội công khai để cảm ơn những đóng góp của ông.


Vốn là một nhà kinh doanh tuyệt vời, Leik theo dõi chính xác việc ghi chép các tài liệu. Chúng cho biết rằng trong những căn phòng chữa bệnh tại Spok-kein có đến hai trăm người được lành bệnh hàng ngày, và đa số trong số họ không phải là thành viên các Hội Thánh.


Leik cũng lập tại Spok-kein Hội Thánh Sứ đồ, mà nhờ sự phục vụ và chữa lành của mình đã lôi cuốn được hàng nghìn người từ khắp thế giới đến. Ông tổ chức sáu buổi nhóm phục vụ trong một tuần, hai lần vào ngày chủ nhật, và đi thăm các nhà vào thời gian trong tuần.


Tháng năm 1920 Leik rời khỏi Spok-kein và đến Port-lend, bang O-re-gon, tại đó ông đi các nơi như một sứ đồ và có thời gian làm mục sư. Ông lập một Hội Thánh Sứ đồ nữa và cũng bắt đầu phục vụ chữa lành như tại Spok-kein.


Tại Port-lend Leik nhận được khải thị, có thiên sứ hiện ra với ông. Thiên sứ mở Kinh Thánh ra sách Công vụ các sứ đồ, chỉ vào sự đổ Thánh Linh ra vào ngày lễ Ngũ tuần. Thiên sứ cũng chỉ cho Leik chú ý đến những hiện tượng và sự tỏ ra thuộc linh khác trong sách đó và nói: “Này là Ngũ tuần mà Đức Chúa Trời ban qua trái tim Jê-sus. Hãy đấu tranh vì nó. Chiến đấu vì nó. Hãy dậy người ta cầu nguyện về điều đó. Bởi vì điều này và chỉ có điều này đem giải đáp đến cho những đòi hỏi của trái tim con người và quyền năng để chiến thắng những thế lực của bóng tối.”


Từ đó trở đi Leik đấu trang cho Lời Chúa được ứng nghiệm với một sức mạnh gấp bội. Trong 11 năm tiếp theo ông đi khắp nước Mỹ, dâng mình trọn vẹn cho công việc.

Nam châm của Đức Chúa Trời


Trong thời kỳ cao nhất của sự phục vụ của Leik thế gian quanh ông được lôi cuốn bởi sự hiểu biết Đức Chúa Trời của ông, và người ta thường xuyên đổ đến chỗ ông. Cách hiểu của ông về sự công bình cho ông điều khiển được mọi hoàn cảnh. Ông không thể nào chịu được những bài hát cơ-đốc mà trong đó người ta được gọi là “những con sâu”. Khi ông nghe thấy chúng, ông cau mặt và mím môi, gọi chúng là những tác phẩm “tồi tệ”. Ông cho đó là sự hạ nhục đối với huyết Jê-sus. Con gái của Leik viết rằng, bố có nhận thức rất mạnh mẽ về việc thế nào là được làm vua và thầy tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời và cần phải tỏ ra phẩm giá và vinh dự của danh hiệu đó.”


Leik là người bảo vệ nhiệt tình những sự siêu nhiên. Ông từng giảng rằng sẽ có một ngày người ta sẽ chạy từ khắp nơi đến “Trường học Đức Thánh Linh”, là nơi họ sẽ học được cách cộng tác và hiệp với quyền năng Đức Chúa Trời.


Ông có một khả năng tuyệt diệu động viên đức tin và sự tỏ ra trong lòng những người nghe. Những người hầu việc Chúa đã được học ở ông rất nhanh chóng tìm được cho mình những sự phục vụ đức tin mà cũng kết quả bởi những sự chữa lành kỳ diệu.


Leik khẳng định: “Nếu như cơ-đốc nhân không có Đức Thánh Linh để mà sống với đúng ý nghĩa cao đẹp chân chính, thì anh ta chẳng có gì để mà phục vụ. Những người khác có thể có trí tuệ, nhưng cơ-đốc nhân phải có Đức Thánh Linh. Trong vấn đề này không thể có sự không hiểu.”


Để đạt được những mục đích siêu nhiên Leik kêu gọi mỗi một tín đồ đến với quyền năng Ngũ tuần. Liên hệ về vấn đề này có lần ông đã có lời tiên tri như sau: “Khi tâm linh tôi nhìn vào tương lai và đến với trái tim con người và ý muốn của Đức Chúa Trời, tôi thấy từ trời xuất phát ra một sự bày tỏ Thánh Linh mới trong quyền năng và sự bày tỏ mới này sẽ trong tình yêu, dịu dàng, mềm mại và năng lực Thánh Linh vượt quá mọi điều trái tim các bạn và tôi đã từng nhìn thấy. Chính những tia chớp của Đức Chúa Trời sẽ chớp sáng qua những linh hồn con người. Con cái Đức Chúa Trời sẽ gặp con cái của bóng tối và sẽ chiến thắng.”

Gia sản kỳ diệu


Vào năm 1924 Leik được cả nước Mỹ biết đến như một nhà truyền giảng Tin lành chữa lành. Ông đã lập 40 Hội Thánh tại Hiệp chủng quốc Hoa kỳ và Ca-na-da, tại những nơi đó xảy ra nhiều sự chữa lành đến nỗi trong các hội chúng người ta bắt đầu gọi ông là “Doctor (bác sĩ) Leik”.


Vào tháng 12 trong chức vụ của ông còn xảy ra một điều kỳ diệu nữa. Gor-don Lind-say, người sau này sáng lập trung tâm Đấng Christ cho các dân tộc tại Dal-las, Texas, đã ăn năn tin nhận Chúa khi nghe Leik giảng tại Port-lend. Lind-say sau đó đến dự buổi giảng gần như hàng ngày tuần sau, và coi Leik như người thầy mình. Khi sau này Lind-say bị trúng chất độc từ xác chết, ông đã được hoàn toàn chữa lành khi đến được nhà của Leik.


Vào năm 1931, trong tuổi 61, Leik quay về Spok-kein. Ông đã yếu, mệt mỏi và gần như loà mắt. Vì vạy nên ông quyết định “nói chuyện” với Chúa. Ông nhắc lại với Ngài rằng thật xấu hổ như thế nào nếu như ông sẽ bị mù hẳn sau khi hơn 100.000 người đã nhận được sự chữa lành nhờ sự phục vụ của ông tính chỉ trên đất Mỹ. Đến cuối buổi nói chuyện thị lực của ông hoàn toàn phục hồi lại và vẫn giữ như thế đến cuối những ngày của ông.

Đồng cai trị trên thiên đàng


Ngày lễ Lao động vào năm 1935 là một chủ nhật nóng bức. Gia đình Leik đến dự pic-nic với một trường học chủ nhật, và Giôn trở về nhà rất mệt mỏi. Ông đi nghỉ. Flo-rens đề nghị ông ở nhà, khi bà đi dự buổi nhóm Hội Thánh vào buổi chiều, và khi bà quay trở về, thì thấy Giôn bị một cú đau tim. Ông rất yếu, hai tuần gần như bất tỉnh. Sau đó đến 16 tháng 9 năm 1935 Giôn G. Leik đã quay về với Chúa. Ông được 65 tuổi.


Trong buổi thờ phượng tưởng nhớ Leik có rất nhiều lời nói tốt đẹp ngợi khen, nhưng có lẽ chúng được diễn đạt hay hơn cả trong trích đoạn sau từ một lời phát biểu của một người tin nhận Chúa qua Leik ở Spok-kein:


“Doctor Leik đến Spok-kein. Ông tìm ra chúng tôi trong tội lỗi. Ông tìm ra chúng tôi trong bệnh tật. Ông tìm ra chúng tôi tâm linh khốn cùng. Ông tìm ra chúng tôi trong tuyệt vọng, nhưng ông mở ra cho chúng tôi một Đấng Christ như thế này, mà thậm chí chúng tôi cũng chưa hề mơ được gặp phía trên trời kia. Chúng tôi nghĩ rằng chỉ có trên đó mới có chiến thắng, nhưng Doctor Leik đã chỉ cho chúng tôi là chiến thắng đã có ở đây rồi.”


Để kết thúc chương này, tôi muốn kêu gọi các bạn bước đi trong sự tỏ ra về sự công bình trong Đấng Christ. Sự công bình – đó là phong cách sống, mà đem lại chiến thắng trong mỗi hoàn cảnh. Nếu chúng ta nhận thức được ý nghĩa địa vị của chúng ta trong Chúa Jê-sus Christ, như Leik đã có, thì mọi dân tộc chắc đều đã ngợi khen Đức Chúa Trời. Và mọi thế lực tà linh chắc đã đổ sụp dưới uy tín đó.


Giôn G. Leik chỉ cho chúng ta là phong cách sống như vậy là có thể, và nó mang lại sự vui thỏa cho những ai noi theo. Vì vậy, đừng ngừng sống trong những gì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta trong Chúa Jê-sus Christ. Hãy để cho Đức Thánh Linh tỏ ra cho các bạn địa vị thiên thượng của mình, và sau đó hãy giữ địa vị đó và biến đổi các dân tộc cho Đức Chúa Trời.

(trích một chương từ sách “các tướng lĩnh của Đức Chúa Trời” của Ro-berts Liar-don)




Đức Tin Chữa Lành – KENETH HAGIN

Đức Tin Chữa Lành
Người làm chứng: KENETH HAGIN

Chính niềm tin rằng tôi đã nhận được điều tôi cầu xin trong khi tôi cầu nguyện, (cho dù thậm chí tôi còn chưa nhìn thấy sự hiện hữu của nó) là chìa khoá để tôi nhận được sự chữa lành khỏi căn bệnh máu đã vào giai đoạn cuối và những khuyết tật của tim hơn sáu mươi lăm năm về trước. Tôi cuối cùng đã tin điều Đức Chúa Trời đã nói trong Lời Ngài hơn những điều mà các cảm giác thân thể nói với tôi. Và điều đó đã dựng tôi dậy khỏi giường bệnh chờ chết. Trong tháng này tôi muốn để ý đến đức tin để nhận được bất cứ điều gì, dù nó có là sự chữa lành hay mọi điều nào khác mà Đức Chúa Trời đã hứa trong Lời Ngài.

Chúng ta hãy bắt đầu từ chỗ mà Chúa Jê-sus đã nói về đức tin trong Mác đoạn 11. Những lời Ngài nói ở đây làm sáng tỏ hơn cả đề tài đức tin nếu so với các sách Phúc Âm khác. “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai sẽ biểu hòn núi này rằng: phải cất mình lên và quăng xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho. Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” Mác 11:22-24

Trước khi tôi được lành bệnh – và đến tháng Tám năm nay sẽ được 66 năm – tôi đã nằm trên giường bệnh được 16 tháng. Tôi có quả tim bị hai khuyết tật nặng, thân thể tôi hầu như bại liệt, và tôi còn bị bệnh nan y về máu nữa. Bệnh đó nặng đến nỗi máu tôi có mầu da cam chứ không là mầu đỏ! Một bác sĩ nói với tôi, “chúng tôi không có cố gắng gì về chuyện đó, vì thật sự là chúng tôi chẳng thể làm gì được. Hãy xuống bên lề đường và chuẩn bị sẵn sàng để ra đi.” Tốt thôi, tôi hiểu ý ông ta muốn nói gì, và tôi đã sẵn sàng để ra đi từ thời điểm tôi đã được cứu rỗi. Nhưng tôi không quan tâm đến việc lên thiên đàng lúc đó. Khát vọng sống còn rất mạnh mẽ trong trái tim mười sáu tuổi. Vậy nên tôi bắt đầu đọc Kinh-Thánh. Và cũng chính những câu Kinh-Thánh này trong Mác 11:23 và 24 là những câu đã dựng tôi dậy khỏi giường bệnh chờ chết.

Tôi còn nhớ đó là vào ngày thứ tám của tháng Tám năm 1934, tôi vẫn còn yếu đuối bất lực đến nỗi má-ma phải tắm cho tôi. Tôi chỉ cân nặng có 89 bảng (khoảng 40 kg). Bà tắm và mặc quần áo cho tôi hôm đó và dựng tôi dựa lên chồng gối. Tôi đang mở Thánh-Kinh chỗ Mác đoạn 11, và tôi đang nghiên cứu những câu này, và một phần của câu 24: “… mọi điều các ngươi xin … (trong bản tiếng Anh – bất kỳ điều chi các ngươi cầu mong – ND)” Tôi cũng đang nói chuyện với Chúa, và Đức Thánh Linh ở trong tôi đang dậy dỗ tôi.

Vào lúc này một thân thể khoẻ mạnh là điều mong ước lớn nhất của đời tôi. Tôi có ý nói là tôi cảm thấy giống như là tôi mong muốn nó hơn cả mong muốn lên thiên đàng sau khi tôi chết lúc đó! Tôi nói, “Chúa Jê-sus yêu kính, Ngài đã nói khi Ngài còn ở trên đất này, “mọi điều các ngươi xin [cầu mong] trong lúc cầu nguyện hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” Bây giờ con cầu mong một thân thể khoẻ mạnh. Con chưa bao giờ có một thân thể khoẻ mạnh. Con chưa bao giờ khoẻ mạnh trong đời mình. Con chưa bao giờ được chạy nhẩy và chơi đùa như những đứa trẻ khác. Con chẳng có được một tuổi thơ bình thường.

“Ngài đã nói, ‘trong lúc cầu nguyện …’ và con đã cầu nguyện. Và Ngài nói ‘… hãy tin …’ và con đã tin. Nếu bây giờ Ngài đứng đây bên cạnh giường con mà nói, “Con ơi, nan đề của con là ở chỗ con không tin”, thì Chúa Jê-sus yêu quí ơi, con phải nói rằng Ngài nói thế là không đúng. Con tin thật.” – Tôi đã nói những lời đó với giọng thân ái, chứ không phải cao ngạo. Khi tôi đã nói vậy, Ngài bèn phán với tôi. Bạn biết không, Đức Chúa Trời phán với chúng ta qua Lời Ngài (Thánh-Kinh – ND), và tôi đang nói chuyện với Ngài về Lời Ngài và đang tâm sự với Ngài nhờ Lời Ngài và xung quanh Lời Ngài. Nhưng Ngài cũng phán với chúng ta trong lòng chúng ta – tâm linh chúng ta – qua Đức Thánh Linh.

Chúa Jê-sus đã nói về Đức Thánh Linh: “Ta lại sẽ cầu xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng An-ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần Lẽ thật mà thế gian không thể nhận lãnh được …. Ngài sẽ ở cùng với các ngươi và ở trong các ngươi” (Giăng 14:16,17). Và sau đó một chút, trong Phúc Âm theo Giăng, có chép: “Lúc nào Thần Lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật, vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điềumình đã nghe, và tỏ bầy cho các ngươi những sự sẽ đến. ấy chíng Ngài sẽ làm sáng danh Ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về Ta mà rao bảo cho các ngươi.” (Giăng 16:13,14)

Và khi tôi đang nói với Chúa, thì trong sâu thẳm của lòng mình, tôi nghe thấy hết sức rõ ràng và đơn giản những lời sau “Con đã tin, tốt thôi, theo chừng mức con đã biết” (có nghĩa là biết ý muốn của Đức Chúa Trời qua Lời Chúa đến đâu thì đức tin chỉ đến đấy – ND). Chúng không kêu thành tiếng. Cũng không ai khác nếu có mặt trong phòng lúc đó có thể nghe được chúng. Đức Thánh Linh không tranh luận với tôi về tất cả những điều tôi tin, vì bạn cần tin để được tái sanh. “Vì bởi cớ tin trong lòng mà được xưng công bình” (Rô-ma 10:10). Ngài nói: ” Con đã tin, tốt thôi, theo chừng mức con đã biết. Nhưng mệnh đề sau cùng này đi đôi với những câu Thánh-Kinh kia.” Và sau đó Ngài trích dẫn nó: “… tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” (Mác 11:24)

Tôi biết rằng đó là Đức Chúa Trời đang phán với tôi. Và khi Ngài đã nói điều đó tận bên trong lòng tôi, thì như một tia chớp tôi đã nhìn thấy nó. Tôi đã hiểu được nó bên trong con người tâm linh của tôi. Tôi nói, “Con thấy rồi! Con thấy rồi!” Tôi không chỉ nhìn thấy mình phải làm điều gì, mà tôi còn thấy chỗ mình đã bỏ sót. Nó thật là rõ ràng, thật là đơn giản.

Việc người ta bị bệnh gì là không quan trọng, miễn là anh ta biết lắng nghe tâm linh của mình, anh ta có thể được lành bệnh mà không cần đến bất kỳ một sự đặt tay hay xức dầu của ai khác. Đó là điểm sáng suốt thứ nhất, và cũng là một trong những điểm lớn nhất mà tôi học được về chủ đề đức tin. Tôi đã nhận được nó ở đâu? Ngay trong Phúc Âm theo Mác 11:23 và 24 mà tôi đang đọc, nhưng tôi đã nắm bắt nó được vào trong tâm linh mình khi Đức Thánh Linh dậy dỗ tôi.

Hãy để ý rằng Đức Thánh Linh nói với tôi, “Con đã tin, tốt thôi, theo mức con biết (biết đến đâu).” Tôi nhận thức ra được rằng tôi không thể tin được điều gì vượt quá sự nhận biết của tôi. Nói một cách khác, đức tin bắt nguồn từ chỗ ý muốn của Đức Chúa Trời được biết rõ. Bạn có thấy đây là nơi mà nhiều con người vấp ngã không? Họ đã cố gắng tin vào một điều nào đó vì cớ những người khác đã tin điều đó. Không, bạn cần phải biết rõ Lời Chúa và hành động dựa trên Lời Chúa cho chính bản thân mình vì bạn tin vào nó, chứ không phải vì có ai đó đã tin vào nó. Bạn thấy không, chúng ta thường cố gắng hành động vượt quá những điều mình đã nhận biết, nhưng đức tin dựa trên những sự kiện – những sự thật của Lời Chúa. Sự vô tín thì dựa trên các lý thuyết.

Hãy tin rằng “Ngài đã lấy những tật nguyền của chúng ta và gánh bịnh hoạn chúng ta” (Mathiơ 8:17) Hoặc là làm theo điều nói trong Mác 11:24 “… mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” Nếu sự chữa lành bệnh là điều bạn cầu xin, thì hãy thay từ “sự lành bệnh” vào chỗ từ “điều đó” trong câu trên. “Trong khi cầu nguyện, hãy tin đã nhận được sự lành bệnh và các ngươi sẽ được lành bệnh.”. “Vâng, nhưng tôi vẫn còn chưa lành bệnh!” có thể có ai đó sẽ nói vậy.

Nhưng bạn không cần phải tin rằng bạn nhận được một điều gì trong khi bạn đã có nó! Bạn chỉ cần biết là bạn đã có nó. “Khi các ngươi cầu xin sự lành bệnh, hãy tin mình đã nhận được sự lành bệnh, tất các ngươi sẽ được lành bệnh.” Khi nào bạn tin là mình đã nhận được sự lành bệnh? Trước khi bạn có được sự lành bệnh. Và khi nào thì bạn được sự lành bệnh? Sau khi bạn tin mình đã được lành bệnh. Hãy suy nghĩ về điều đó! Nếu bạn nghĩ về điều này và suy ngẫm về nó đủ lâu, nó sẽ trở nên rõ ràng trong tâm linh bạn.

Khi tôi nằm đó trên giường bệnh, tôi thấy mình đã bỏ sót một điểm, đó là tìm cách dùng hy vọng thay thế cho đức tin. Tôi cứ tin tưởng rằng tôi đang trên đường nhận được sự lành bệnh, và tôi phải kiểm tra thân thể mình xem tôi đã được lành bệnh hay chưa. Và nếu tôi có thể nói rằng tôi đã thấy mình lành bệnh, thì khi đó tôi mới tin rằng tôi đã được lành.

Này, bạn không thể cầu nguyện mà không nhận được phước lành hoặc không cảm thấy thoải mái hơn. Tôi vẫn cầu nguyện, và tôi vẫn được phước và nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã nghe thấy tiếng tôi. “Ôi, con tin Ngài đã nghe thấy tiếng con lần này! Con được nó rồi!” Tôi vẫn nói vậy. Nhưng sau khi tôi cầu nguyện, tôi lại chẳng tìm thấy một dấu hiệu thay đổi nào trong thân thể của mình cả. Tôi lại khóc lóc và nói, “Con tưởng Ngài đã nghe tiếng con lần này rồi, Chúa ơi, vậy mà Ngài vẫn chưa.” Và tôi lại bắt đầu mọi sự lại từ đầu. Tôi đã làm như vậy có lẽ đến cả ngàn lần.

Đức tin của tôi lúc đó không dựa trên điều mà Đức Chúa Trời đã nói, mà dựa trên việc tôi cảm thấy mình thế nào. Bạn thấy không, điều mà thực ra tôi tin lúc đó là, “Đến một lúc nào đó tôi sẽ được lành bệnh. Bây giờ tôi vẫn chưa có sự đó, nhưng tôi sẽ được nó.” Nhưng cuối cùng tôi đã nhìn thấy câu Mác 11:24 có nghĩa thật là gì. Tôi kêu lớn lên, “Ta thấy rồi! Điều mà ta phải làm đó là khởi sự tin là mình đã được lành bệnh ngay cả khi mình còn nằm trên giường và còn chưa nhúc nhắc gì được! Tôi cần phải tin tôi đã được lành bệnh ngay cả khi tôi còn chưa di chuyển được một ly. Tôi cần phải tin mình đã được lành bệnh ngay cả khi toàn thân vẫn còn bại liệt. Tôi cần phải tin mình đã nhận được sự lành lặn cho trái tim biến dạng ngay cả khi tim tôi vẫn còn đập không bình thường. Tôi cần phải tin tôi được khỏi bệnh máu chết người vô phương cứu chữa ngay cả khi tôi không thể nhìn thấy điều gì xẩy ra với máu của tôi. Và Đức Chúa Trời nói rằng nếu tôi sẽ tin điều đó, thì tất tôi sẽ có được nó.”

Tôi còn nhìn thấy điều khác nữa. Phần việc của tôi không phải là làm sao có được sự chữa lành. Phần việc của tôi chỉ là tin rằng mình đã nhận được. Phần việc của Đức Chúa Trời là làm sao cho tôi có được điều đó. Tôi phải để cho Ngài lo phần của Ngài, và tôi phải lo phần của tôi. Có qua nhiều người cố lo cả phần việc của họ, cả phần của Đức Chúa Trời, và cả phần của ái đó khác nữa, và họ được cả một đống lộn xộn.

Tôi biết rằng sẽ không mất quá nhiều thời gian nữa cho đến lúc tôi sẽ thấy được những biểu hiện sau khi tôi đã tin mình đã được lành bệnh. Còn chuyện đến khi nào tôi mới thấy được những biểu hiện đó không hề khiến tôi quan tâm. Bạn biết không, khi bạn thực sự tin vào Đức Chúa Trời thì thời gian hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả! Tôi nói lớn, “Nếu tôi sẽ còn phải nằm trên cái giường này 50 năm nữa, thì tôi cũng vẫn sẽ cứ tin rằng tôi đã nhận được sự lành bệnh từ thời điểm này rồi.”

Nhưng khi bạn thật sự tin, những dấu hiệu biểu hiện của đức tin bạn sẽ không phải đợi lâu mới xuất hiện. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, tôi đã đứng dậy khỏi giường bệnh trên đôi chân của mình. Moi triệu chứng bệnh tật đã tan biến hết! Và tôi đã được lành lặn kể từ đó cho đến giờ, ngợi khen Chúa, và còn nhẩy nhót khi rao truyền với mọi người tin tức tốt lành rằng chính họ cũng có thể được lành bệnh! Tin tức này có tốt lành không? Tốt quá đi chứ! Bất kỳ ai cũng có thể được lành bệnh!

Tôi tin là có sự xức dầu đặc biệt và những ân tứ Đức Thánh Linh. Rất nhiều lần những ân tứ đó đã hành động thông qua tôi, nhưng không có nhiều người được chữa lành theo cách đó. Song Lời Chúa sẽ hành động hữu hiệu cho tất cả mọi người! Nó luôn luôn hữu hiệu! Tôi biết vậy vì tôi không bị một ngày đau ốm nào trong gần sáu chục năm nay. Đây tôi không có ý nói là tôi không bao giờ bị tấn công cả. Tôi có ý nói rằng tôi cũng bị những triệu chứng bệnh tật tấn công, nhưng trước khi một ngày kết thúc, tôi đã lại làm chủ được tình huống, hoặc đã kịp hoàn toàn khoẻ mạnh.

Đúng là bạn vẫn có thể chống lại các qui luật tự nhiên và phải trả giá cho việc đó. Sau đó bạn phải ăn năn vì cớ sự ngu dại của mình. Tôi có biết một anh bạn hát rất hay khi có sự xức dầu. Một lần, anh bị nóng và người đầy mồ hôi mà ra ngoài trời lạnh và cổ họng anh bị có chuyện như nhiều người nghĩ. Anh hỏi người ta là phải làm gì về chuyện đó bây giờ, và họ nói với anh, “hãy đi ra ngoài đường và hò la hết sức mình có trong vòng một tiếng đồng hồ.” Anh ta đã làm như vậy, và sau đó anh ta chỉ còn nói thầm chứ đừng nói đến chuyện hát nữa. Lẽ ra anh ta phải có đủ ý thức để gìn giữ giọng của mình.

Như vậy, tôi đang nói về chuyện tôi đang nằm đó trên giường bệnh, “Ta đã thấy mình phải làm gì khi mình còn nằm trên giường bệnh này. Ta cần phải tin.” Tin điều gì? Và đây lại là một điểm mà chúng ta hay bỏ qua. Chúng ta cần phải tin điều Đức Chúa Trời đã nói trong Lời của Ngài.

Lần đau đầu cuối cùng của tôi là vào tháng Tám năm 1933. Khi tôi còn làm mục sư, một mục sư láng giềng thường bị bệnh đau một nửa đầu dường như cứ cách tuần. Ông ta phải nằm trên giường hai hay là ba ngày với cửa sổ phải che rèm, vì ánh nắng khiến ông ta đau ghê gớm. Tôi rất thương ông ta.

Tôi đã từng làm mục sư trong vòng 12 năm, và tôi biết là bạn có thể có những thành viên mà bất cứ ai cũng có thể cho bạn một cơn đau đầu. Nhưng tôi đã học được cách quẳng gánh lo của tôi lên cho Chúa. Kinh-Thánh bảo chúng ta quăng những gánh nặng lo lắng lên cho Ngài (1 Phi-e-rơ 5:7). Nhưng ông mục sư láng giềng, cầu Chúa chúc phước cho ông, chưa bao giờ học được làm điều đó. “Tại sao ông không giúp cho ông ta được lành bệnh?” có thể ai đó sẽ hỏi. Tôi không khiến cho ông ta lắng nghe Kinh-Thánh được. Qua thường xuyên chúng ta dùng một điều gì đó để thay thế cho điều Kinh-Thánh nói. Nói cách khác, chúng ta tin điều gì đó khác với những gì Lời Chúa nói.

Hãy nhớ lại đoạn Thánh-Kinh của chúng ta: “… điều gì các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi… (Mác 11:24). Trong trường hợp của ông mục sư này, “điều gì” đó ở đây là sự chữa lành. Và bạn cần tin là bạn đã tiếp nhận sự chữa lành vào thời điểm nào? Trước khi bạn được lành.

Ông mục sư đó bị khốn khổ vì đau một nửa đầu và những nan đề khác trong thân thể và cuối cùng đã chết ở tuổi còn trẻ. Tôi đã nói với ông ta chính những điều tôi đang nói với các bạn, nhưng ông ta cứ nói, “tôi không thể tin được một điều gì mà tôi không thể cảm thấy hoặc nhìn thấy được”.
Tôi hỏi ông ta: “Anh có tin rằng mình có trí não không?”
“Có chứ, sao hỏi thế?”
“Anh có bao giờ nhìn thấy nó không? Có bao giờ anh cảm thấy nó không?”
“Ô, đấy là chuyện hoàn toàn khác!”

Có lạ lùng không? Thậm chí đến cả những người thế gian còn hàng ngày tin vào những điều họ không cảm thấy hoặc nhìn thấy được. Vài năm trước cả thế giới bắt đầu lo lắng về các vụ nổ hạt nhân phun những chất phóng xạ lên bầu khí quyển. Bạn không thể nhìn thấy hoặc cảm thấy được những tia phóng xạ đó, nhưng chúng sẽ giết chết bạn. Họ đều đã tin vào điều mà họ không nhìn thấy, đúng không? Người ta đã gửi nhiều kiến nghị để ngừng các vụ nổ vì họ đã tin vào những điều mắt không thấy. Vậy mà khi Đức Chúa Trời lên tiếng và yêu cầu người ta tin vào một điều gì đó không thấy được, thì họ lại nói: “Thế thì nhiều quá! Chúng tôi không tin những điều kiểu như vậy.” Mặc dù họ vẫn làm việc đó thường xuyên.

“Đấy là chuyện hoàn toàn khác,” ông mục sư kia đã nói vậy. Nhưng thật ra chẳng có gì khác ở đây cả. Bạn thấy không, đức tin của ông ta không dựa trên cơ sở Lời Đức Chúa Trời. Ông ta là một người tốt. Ông yêu mến Đức Chúa Trời với cả tấm lòng mình. Không hề có nghi ngờ gì về chuyện đó. Nhưng nếu bạn không có sự biểu hiện đặc biệt nào đó của Thánh Linh (ý nói về ân tứ Đức Thánh Linh – BBT) để phục vụ cho ông ta, thì đơn giản là bạn vẫn phải giảng Lời Chúa cho ông cũng như cho mọi người khác. Ông ta không tin vào điều đó, nên tôi rất buồn mà phải nói là ông đã chết. Chúng ta phải gắng luyện cho mình đến mức trong bất kỳ tình huống nào chúng ta cũng phải tự hỏi mình: “Đức Chúa Trời phán ra sao về chuyện này? Lời Chúa nói như thế nào?”

Tôi đã nói từ hơn 65 năm nay và tôi vẫn tiếp tục nói điều này. Dù cho bạn muốn cầu xin bất cứ điều gì – tức là về bất cứ điều gì mà bạn muốn cố gắng tin Đức Chúa Trời – thì hãy tìm những câu Kinh-Thánh nói về vấn đề của bạn. Hãy tìm thấy những đoạn Kinh-Thánh mà hứa với bạn về những điều đó, hoặc nói với bạn rằng chúng là của bạn. Khi đó bạn sẽ có một nền tảng vững chắc cho đức tin của mình.

Cũng vì thế mà khi đó Chúa đã phán với tôi, “”Con đã tin, tốt thôi, theo chừng mức con đã biết…” Điều đó có nghĩa là tôi còn biết chưa đủ. Vậy thì làm thế nào để tôi biết cho đủ? Bằng cách nghe những gì Lời Chúa có nói. Trong thời gian tôi còn trên giường bệnh vào tuổi thiếu niên, Đức Thánh Linh đã chỉ cho tôi là, xét theo đoạn Mác 11:23, thì tôi phải tin là tôi đã nhận được sự chữa lành trong khi tôi cầu nguyện, chứ không phải là đợi đến sau khi tôi đã được thấy những biểu hiện của sự lành bệnh mới tin. Một khi mà tôi đã tin mình đã nhận sự lành bệnh, thì những biểu hiện sẽ đến. Bạn cũng sẽ nhận được sự chữa lành của bạn hoặc là tiền bạc của bạn hay là bất cứ điều nào khác nữa mà bạn cần sau khi bạn tin mình là đã nhận được.

Tôi đã tận mắt thấy nguyên tắc này hành động hơn hai mươi năm về trước khi chúng tôi bắt đầu mở Trường học Chữa bệnh thuộc công vụ Kenneth Hagin tại Broken Arrow, Oklahoma. Ngay trong tuần đầu tiên, một người đàn ông hai mươi bẩy tuổi, thậm chí còn chưa là cơ-đốc nhân đã đến dự. Bà mẹ của anh ta, một tín đồ giáo phái Trưởng lão, đã tiếp nhận báp-têm Đức Thánh Linh và trở thành một người theo trào lưu ân tứ. Người thanh niên đã tốt nghiệp đại học, nhưng quyết định quay trở lại học luật để trở thành luật sư. Một chi thể của anh ta bị sưng phình lên nhanh chóng, nên anh ta đến hỏi bác sĩ, và họ gửi anh ta đến một bệnh viện ung thư. Sau khi khám, những bác sĩ ở đó nói với anh ta là anh bị ung thư ác tính. Người ta muốn cắt bỏ ngay tay của anh và sau đó dùng hoá học trị liệu.

Anh nói, “Tôi sẽ không làm điều đó.” Họ đáp, “Thế thì anh sẽ chết trong vòng ba mươi ngày nữa”. Mẹ của anh cũng khá giàu có, nên anh bèn đến một bệnh viện ung thư nổi tiếng thế giới. Anh không nói gì với họ về điều những bác sĩ bệnh viện đầu tiên đã nói. Họ cũng làm một cuộc xét nghiệm giống như vậy và cũng muốn ngay lập tức cắt bỏ tay của anh và bắt đầu chữa trị bằng hóa học. Họ chỉ hứa khả năng sống sót là 50%. Anh nói, “Tôi sẽ không làm điều đó.” Họ đáp, “Thế thì anh sẽ chết trong vòng ba mươi ngày nữa”.

Anh lại đến một bệnh viện khác nữa ở thành phố khác. Họ cũng nói với anh những điều y hệt, và anh cũng trả lời với họ giống như thế. Anh bèn gọi điện cho mẹ. Bà nói với anh là chúng tôi mới mở Trường học Chữa bệnh tại Broken Arrow và yêu cầu anh đến dự cũng với bà. Thế là anh ta đến.

Lúc đó anh ta vẫn chưa là cơ-đốc nhân, và sự chữa lành thiên thượng thật là điều mới mẻ đối với anh ta. Tôi đã giảng dậy chính những điều này về đức tin, và sau khi dậy dỗ, chúng tôi đặt tay lên người ta để được lành bệnh. Bà mẹ của anh cũng muốn anh lên phía trước để được đặt tay cầu nguyện, nhưng anh ta nói, “Không, con không lên đâu. Chuyện được ai đó đặt tay lên hay không đối với con chẳng có công dụng gì. Con đã hiểu điều ông ta dậy. Con chỉ cần tin thôi. Con tin con nhận. Con đã tin rằng con đã nhận được sự chữa lành. Con không hiểu hết mọi điều diễn ra ở đây, nhưng con đã hiểu điều này. Con đã nhận thức được điều đó, con đã nhận được sự chữa lành!”

Anh ta về và lại đến với các bác sĩ. Họ xét nghiệm anh ta và bảo anh quay lại sau đó vài tháng để kiểm tra. Một năm sau anh mới quay lại. Các bác sĩ nói: “Chúng tôi không hiểu nổi. Đôi khi khối u có thể thuyên giảm đi. Nhưng khối u này hoàn toàn biến mất. Không cần phải quay lại đây nữa đâu. Đơn giản là hãy quên nó đi.”

Anh gọi điện cho bà mẹ để báo cáo tin tức tốt lành. Cho đến thời điểm đó thì anh cũng đã dâng đời sống mình cho Chúa. Bà mẹ của anh nói, “Hãy nhớ này, Jê-sus đã làm điều đó cho con. Jê-sus là Đấng Chữa bệnh cho con đó.”. “Vâng”, anh đáp, “và con còn nói cho mẹ biết một điều khác nữa. Ngài cũng là Cứu Chúa của con!”

Bà ta mới sung sướng làm sao khi nghe thấy điều đó! Nhiều năm sau, anh ta vẫn sống, vẫn còn đủ tứ chi của mình, và tài trợ cho công vụ của chúng tôi. Bà mẹ có lần còn viết thư kể với chúng tôi là có lần anh gọi điện đường dài về cho mẹ và truyền giảng về đức tin cho bà suốt gần một tiếng đồng hồ. Bà phải cố gắng lắng mới khiến anh bỏ điện thoại xuống!

Cảm tạ Chúa vì Lời của Ngài! Chúa Jê-sus đã nói: “Ta nói cùng các ngươi, mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” (Mác 11:24) Nếu bạn cần sự chữa bênh ngày hôm nay, hãy tin rằng bạn tiếp nhận nó, từ gót chân cho đến đỉnh đầu. Hãy tin rằng bạn tiếp nhận sự lành bệnh, hoặc là tiền bạc, hoặc bất cứ điều gì khác nữa mà Chúa có nói trong Lời Ngài là chúng thuộc về bạn, trong khi bạn cầu xin để được nó. Hãy tin Lời Chúa hơn là những cảm giác của mình. Sau đó hãy lớn tiếng tuyên bố rằng bạn đã có điều bạn cầu xin. Khi đó bạn sẽ có nó!
(dịch từ tiếng Anh, báo Word Of Faith số tháng 5 năm 2000. Người dịch: L.H.Oanh)




Tôi  Tin  Phép Lạ – Katherine Kulman

 Tôi  Tin  Phép Lạ – Katherine Kulman

Hàng trăm người đã từng được chữa lành, chỉ cần ngồi yên trong phòng nhóm mà chẳng có dấu hiệu gì báo trước, hoặc một điều gì đó tương tự. Không có gì cả. Thậm chí nhiều khi còn chưa đến bài giảng. Đôi lúc thậm chí khi còn chưa hát một bài hát nào.an

Hàng trăm người đã từng được chữa lành, chỉ cần ngồi yên trong phòng nhóm mà chẳng có dấu hiệu gì báo trước, hoặc một điều gì đó tương tự. Không có gì cả. Thậm chí nhiều khi còn chưa đến bài giảng. Đôi lúc thậm chí khi còn chưa hát một bài hát nào. Không hề có những sự phô bày ầm ĩ, không có những tiếng kêu lớn tiếng lên Đức Chúa Trời, cứ như là Ngài nặng tai. Không có tiếng la hét, không có những tiếng kêu thán phục, trong yên lặng trước sự hiện diện của Ngài. Hàng trăm lần sự hiệu hữu của Đức Thánh Linh rõ rệt đến nỗi dường như có thể nghe được tiếng hàng ngàn con tim đập như hoà làm một.

Và trong sự yên lặng hoàn toàn đó một giọng nói cất lên: “Tôôôi – tiiiin – vàoooo – phép lạạạạ…!” Đột nhiên hàng tràng pháo tay đinh tai phát ra, và hàng ngàn người nhìn thấy một thân hình dỏng cao, thanh mảnh, xuất hiện trong bộ váy trắng xoè rộng. Nó trượt nhanh tới giữa sân khấu, và một buổi thờ phượng kỳ diệu (phép lạ) nữa của Ket-rin Kul-man lại bắt đầu.

Trong công vụ quốc tế của mình Miss Kul-man đã đặt nền tảng cho sự vận hành của Đức Thánh Linh trong đời hàng ngàn ngàn con người trên khắp thế giới. Công vụ đặt biệt của bà đã hướng chú ý của thân thể Đấng Christ từ những thể hiện bên ngoài của các ân tứ siêu nhiên của Đức Thánh Linh trở lại về Đấng Ban ân tứ, tức là Đức Thánh Linh.

Mặc dù bà gọi mình là “một con người bình thường”, Ket-rin thực ra rất đặc biệt. Nhiều người đã cố thử bắt chước giọng nói và cách diễn xuất của bà, nhưng vô ích. Những người khác thử biến sự xức dầu của bà thành kỹ nghệ và các phương thức, nhưng cũng không làm nổi.

Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì cớ Ket-rin Kul-man. Bà là tấm gương một con người biết dũng cảm trả giá, để bước đi trong sự phục vụ Đức Chúa Trời. Tôi cảm tạ Chúa vì những bài học tôi học được từ đời sống bà. Và trong phần này tôi muốn chia sẻ với các bạn một vài bài học trong số đó.

Những lọn tóc vàng

Thành phố Con-cor-dia bang Mis-su-ri được các kiều dân Đức xây dựng nên vào những năm 30 của thế kỷ 19. Theo những ghi chép của trường học, Ket-rin Gioan-na Kul-man sinh ra ngày 9 tháng 5 năm 1907 trong trang trại của gia đình. Thời đó thậm chí giấy chứng sinh còn chưa đòi hỏi phải có.

Người bạn gái cùng trường còn nhớ Ket-rin như sau “… những lọn tóc dài lượn sóng và lông mày màu vàng. Không thể nói rằng Ket-rin xinh đẹp. Cô ta không phải là có dáng dấp kiều diễm, hay là có nữ tính đầy lôi cuốn. Cô cao, xương xương, và hình dáng giống một cậu bé hơn. Cô đi những bước dài khiến chúng tôi vất vả lắm mới theo kịp.”

Từ khi còn là cô bé, Ket-rin đã khác thường bởi “tính độc lập, tự tin, muốn làm mọi sự theo ý muốn mình”. Ket-rin nhận được từ người bố tất cả tình yêu thương và sự quan tâm cần có. Bà yêu quí người bố mình đến nỗi 30 năm sau cái chết của ông, nước mắt vẫn tràn lên mắt bà khi nhắc đến ông.

“Bố ơi, Chúa Jê-sus vừa bước vào lòng con!”

Ket-rin 14 tuổi khi cô được tái sanh. Nhiều lần trong đời bà kể lại câu chuyện về sự mình đáp lại lời kêu gọi cảm tưởng như đến từ chính Đức Thánh Linh, chứ không phải từ một con người nào. Bà đi ra từ một môi trường “tôn giáo” thì đúng hơn, vì Hội Thánh mà bà đến dự chưa bao giờ kêu gọi người ta lên ăn năn tin nhận Chúa để nhận được sự cứu rỗi.

Sau này, bà thuật lại như sau:

“Tôi đứng cạnh mẹ, và đồng hồ của nhà thờ chỉ 12 giờ kém năm. Tôi không nhớ tên của người hầu việc Chúa đó, thậm chí cả những lời giảng của ông ta nữa, nhưng có điều gì đó đã xẩy ra với tôi. Điều này bây giờ đối với tôi vẫn là hiện thực rõ ràng cũng như vào lúc đó – đó là điều thực hữu nhất từng xảy ra với tôi.

Đứng tại đó, tôi bắt đầu run lên đến nỗi không còn cầm nổi tập bài hát trong tay nữa. Tôi đặt nó xuống ghế, và khóc nấc lên. Tôi cảm thấy gánh nặng (sự cáo trách) và hiểu rằng tôi là một tội nhân. Tôi thấy mình là một cá nhân tồi tệ nhất trên thế giới. Thế mà lúc đó tôi mới có 14 tuổi.

… Tôi hiểu ra rằng tôi chỉ cần làm có một việc: tôi luồn khỏi chỗ mình đứng, tới hàng ghế thứ nhất, ngồi xuống ghế băng và khóc. Ôi, tôi khóc mới dữ làm sao!

Tôi trở thành một người hạnh phúc nhất thế giới. Gánh nặng đã được cất khỏi tôi. Tôi đã trải qua điều mà sau này sẽ không bao giờ dừng tôi lại nữa. Tôi đã được tái sanh, và Đức Thánh Linh đã làm chính điều mà Chúa Jê-sus đã nói về Ngài trong Giăng 16:8″

Bố của Ket-rin đang ở trong bếp, khi cô chạy về nhà từ Hội Thánh để chia sẻ với ông tin mừng mới của mình. Cô bé nhẩy bổ đến với ông và nói: “Bố ơi… Chúa Jê-sus vừa bước vào lòng con!”

Không hề có một chút cảm xúc nào, ông đáp: “Bố vui lắm”.

Ket-rin nhớ lại, rằng không biết bố mình có hiểu mình thực sự hay không. Bà nói rằng bà không biết chắc chắn là bố mình đã được tái sanh hay chưa. Bà chỉ nhớ ông rất không thích những thầy giảng đạo, vì ông nghĩ rằng họ chỉ “giảng đạo vì tiền”. Ông chỉ đến Hội Thánh vào các ngày lễ, hay trong những dịp Ket-rin đọc thơ. Bà không nhớ là ông có cầu nguyện hay đọc Kinh-Thánh hay không nữa.

Họ ôm nhau lần đầu tiên

Đối với Ket-rin di Hội Thánh cũng quan trọng như đi làm vậy. Cô từng đi Hội Thánh dòng Giám-lý (Methodist) với mẹ mình, cũng chính tại đó cô được tái sanh vào năm 1921. Nhưng từ năm 1922 cả gia đình cô được tính là thuộc một Hội Thánh dòng Báp-tít. Mặc dù bà xuất thân từ một môi trường giáo phái nhất định, nhưng sự hầu việc Chúa sau này của bà là không giáo phái, và bà cảm thấy rất thoải mái trong tất cả các Hội Thánh từ Ngũ tuần đến Công giáo. Những cản trở khác biệt về giáo phái không bao giờ ràng buộc được công vụ của Ket-rin Kul-man. Bà từ chối không là thành viên của bất cứ một giáo phái nào và không liên hiệp công vụ của mình với bất cứ một tổ chức nào. Bà chỉ ràng buộc mình với Đức Chúa Trời.

Khi Ket-rin còn nhỏ, mẹ của cô dạy trong trường học chủ nhật cho những thanh niên Hội Thánh Giám-lý. Người hàng xóm nói rằng: “Missis Kul-man là một giáo viên dạy Kinh-Thánh tuyệt vời, và có lẽ là Ket-rin với chị và anh trai mình chắc đã được giáo dục tốt ở nhà”.

Dù mẹ của Ket-rin là giáo viên tốt trong Hội Thánh, thực ra bà vẫn chưa được tái sanh cho đến tận năm 1935, trong một buổi truyền giảng của Ket-rin tại Den-ver.

Ket-rin mời mẹ đến dự một trong những buổi truyền giảng của mình. Sau buổi nhóm đầu tiên cô đi vào phòng cầu nguyện sau bục giảng để cầu nguyện cho những người đáp ứng lời kêu gọi tiếp nhận sự cứu rỗi. Sau đó bà mẹ cũng vào phòng đó, và nói rằng bà cũng muốn biết Chúa Jê-sus như Ket-rin biết Ngài.

“Ket-rin xúc động đến trào nước mắt, đưa tay ra và đặt tay lên gáy mẹ. Vào thời điểm, khi những ngon tay cô chạm đến mẹ, bà mẹ run lên và bật khóc. Đó cũng giống như sự run rẩy và tiếng khóc mà Ket-rin ghi nhớ khi đứng cùng mẹ tại nhà thờ Giám-lý xưa kia. Nhưng lần này còn có điều gì mới lạ hơn. Bà mẹ ngẩng đầu lên và bắt đầu nói chậm rãi, sau đó nhanh dần lên. Nhưng những lời đó không phải là tiếng Anh, mà là một thứ ngôn ngữ lạ rõ ràng, lanh lảnh.

Ket-rin phủ phục quỳ xuống cạnh mẹ mình, vười cười vừa khóc. Mở mắt mình ra, bà Em-ma kéo Ket-rin lại và ôm cô. Theo như Ket-rin nhớ, thì đây là lần đầu tiên mẹ ôm cô.”

Sau đó bà mẹ không ngủ trong ba ngày hai đêm liền. Bà đã trở nên một con người mới, và cho đến cuối đời mình ở Con-cor-đia Em-ma Kul-man vẫn giữ những mối thông công dịu dàng tuyệt vời với Đức Thánh Linh.

Người giảng Tin lành – Người đầy tớ

Những người mà Đức Chúa Trời sử dụng cách mạnh mẽ thường nổi bật bởi mong muốn tự bỏ đi tất cả để noi theo sự dẫn dắt của Ngài. Năm 1913 chị của Ket-rin là Mirtl lấy chồng E-ve-ret Par-rot là một nhà truyền giảng trẻ đẹp trai vừa mới kết thúc khoá đào tạo tại trường Kinh-Thánh Mu-đi (Moody). Họ bắt dầu sự truyền giảng lều trại. Khoảng mười năm sau, đến năm 1924 họ thuyết phục bố mẹ rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là để Ket-rin đi cùng với họ.

Nhưng gia đình Par-rot bắt đầu gặp những khó khăn về kinh tế. Vì những khó khăn đó lẽ ra Ket-rin có thể thương hại bản thân, nhưng cô cố gắng làm việc nhà của gia đình này nữa.

Trong thời kỳ đó Ket-rin học được không những chịu đựng những hoàn cảnh tồi tệ, mà còn không để chỗ cho sự thương hại bản thân mình. Đối với Ket-rin sự thương hại bản thân và tính ích kỷcũng chỉ là một.

“Hãy cẩn thận với những người, cho dù họ là thành viên trong gia đình bạn, hay là những người cộng sự, hãy cẩn thận với những người mà không biết nói: “Tôi xin lỗi”. Những người như vậy rất ích kỷ.

Vì thế nên tôi nhắc lại hàng nghìn lần rằng chỉ có một con người duy nhất mà Chúa Jê-sus không giúp được, người duy nhất mà không được tha tội, đó là người không nói: “Con xin tha tội cho con.” Con người ích kỷ như vậy thường thu hút bệnh tật về mình như nam châm vậy.”

Ket-rin hiểu rất sớm rằng thái độ chỉ chú ý đến bản thân, (thương hại bản thân, dễ dãi với bản thân, thậm chí căm thù bản thân) cùng với mọi tội lỗi khiến con người đoán xét hay là lên án mình. Nhưng chính điều đó cản trở Đức Thánh Linh hành động trong đời sống con người.

Ket-rin bao giờ cũng nói là mỗi người đều có thể nếm trải quyền năng Đức Thánh Linh trong đời mình, nếu chịu trả giá. “Trả giá” – không phải là chỉ một lần trải qua. Nó bắt đầu từ sự dâng mình thực sự, quyết định đi theo Chúa trong mỗi ngày cuộc sống mình.

Năm 1928 gia đình Par-rot chuyển đến bang Ai-đa-hô. Họ đã mua một cái lều, và họ có một nghệ sĩ dương cầm tên là Hê-len. Không lâu sau đó gia đình Par-rot tách ra, rời đi nơi khác. Ket-rin và Hê-len được một mục sư địa phương mời truyền giảng tại một bể bơi nhỏ, đã được chuyển thành giáo đường.

Sau đó họ chuyển đến Po-ka-tel-lo, tại đó Ket-rin được giảng trong một nhà hát ô-pê-ra cũ. Toà nhà rất bẩn, nên chính Ket-rin phải lo rửa sạch nó.

Nhiều lần trong những năm đầu tiên đó họ phải sống trong những điều kiện cực kỳ đáng thương. Có lần nơi họ thoả thuận được ở lại hết chỗ, khi đó họ phải dọn chuồng gà tây. Ket-rin thường nói là bà ngủ trên rơm cũng vui lòng – lòng mong muốn được truyền giảng trong bà lớn như vậy đấy. Sau này bà vừa cười vừa đùa rằng bà đóng cửa lại không cho ai ra cho đến khi không biết chắc rằng mọi người đã nhận được sự cứu rỗi.

Trong những nơi khác mà Ket-rin dừng lại nghỉ trọ, có thể không đến nỗi bẩn như chuồng gà, nhưng lại thiếu hơi ấm. Bà có khi cuộn mình dưới cả đống chăn để chỗ mình nằm được đủ ấm. Sau đó nằm đọc Lời Chúa, có khi hàng tiếng đồng hồ.

Trái tim bà đã được “bán cho Chúa”. Đó là bí quyết của chức vụ của bà. Trái tim bà luôn hướng tới Jê-sus. Bà quyết định sẽ trung tín với Ngài và không làm buồn lòng Đức Thánh Linh.

Trong những năm đầu tiên của chức vụ mình Ket-rin đã phát triển hai đức tính – trung thành với công việc và thành tín với Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. Trên cơ sở những tính cách đó Ket-rin mở mang và phát triển những hiểu biết thuộc linh của mình.

Sự thành tín của Ket-rin

Điều gì giữ được con người dâng mình cho sự kêu gọi của mình? Câu trả lời của Ket-rin là “sự thành tín”.

Từ thành tín trong thời chúng ta không có ý nghĩa gì đặc biệt lắm, vì nó rất ít khi được gặp… Trung tín – đó không phải là điều không thể đạt được… Nó như là tình yêu. Chỉ có thể hiểu được nó khi nó thể hiện ra… tình yêu – đó là hành động, cũng đúng như vậy đối với thành tín. Đó là sự chân thật. Đó là sự trung thành. Đó là sự dâng mình.

… Trái tim tôi không thay đổi. Tôi sẽ thành tín với anh, dù cho có phải trả giá nào. Thành tín – đó còn lớn hơn nhiều là có mối quan tâm tình cờ đến ai đó hay là đến điều gì đó. Đó là sự dâng mình cá nhân. Cuối cùng, nó có nghĩa là: “Tôi đây. Anh có thể tín đến tôi. Tôi sẽ không khiến anh thất vọng.”

Tôi muốn nó phải lớn!

Sau những đợt truyền giảng ở Ai-đa-hô, Ket-rin và Hê-len chuyển đến Co-lo-ra-đo. Sau sáu tháng ở Pueblo, họ đến Đen-ver. Nhà doanh nghiệp Hê-vít liên hiệp với họ tại Pueblo, thành giám đốc điều hành cho họ. Năm 1933 cuộc khủng hoảng (lớn nhất trong lịch sử Mỹ) đang lúc mạnh nhất. Các xí nghiệp phải đóng cửa, hàng triệu người mất việc làm, và các Hội Thánh phải tranh đấu cho sự tồn tại của mình.

Ket-rin là một nhà truyền giảng lưu động không có sự ủng hộ tài chính của một giáo phái nào, nhưng bà tin vào Đức Chúa Trời vĩ đại, mà có những tiềm năng vô tận. Bà tin rằng nếu bạn phục vụ Đức Chúa Trời với lượng tài chính eo hẹp, thì đó có nghĩa là bạn phục vụ không đúng Chúa Trời đó. Bà luôn sống bởi nguyên tắc đức tin và lòng trông cậy vào Chúa Trời.

Bà nói với Hê-vít đến Đen-ver và hành động cứ như là họ có cả triệu đô-la. Khi ông nhắc cho bà là họ thật ra chỉ có 5 đô-la, bà đáp:

“Ngài (Đức Chúa Trời) không bị hạn chế bởi những gì chúng ta có, hay chúng ta là ai. Ngài có thể sử dụng năm đô-la của chúng ta mà nhân lên cũng dẽ dàng như Ngài đã nhân năm cái bánh và hai con cá… Hãy đến Đen-ver. Hãy tìm toà nhà lớn nhất. Hãy kiếm cái đàn tốt nhất cho Hê-len. hãy đặt ghế đầy gian phòng. Hãy đặt quảng cáo lớn trên báo “Denver’s Post” và thông báo trên những kênh ra-điô. Đây là công việc của Đức Chúa Trời, và chúng ta sẽ làm nó theo cách của Đức Chúa Trời – thật lớn!”

Hê-vít nắm lấy lời bà, và nghe theo những chỉ dẫn. Toà nhà mà ông thuê là một kho lớn của một công ty. Các buổi giảng kéo dài năm tháng, và họ thuê thêm một kho nữa. Buổi chiều đầu tiên chỉ có 125 người dự, nhưng đến chiều thứ hai đã có hơn 400. Sau đó gian phòng chật hết chỗ mỗi buổi chiều. Sau năm tháng Ket-rin thông báo là đợt truyền giảng đã kết thúc, nhưng người ta không muốn nghe điều đó. Một người trong số họ đề nghị trả tiền mua một toà nhà cố định, và treo trên đó một biển quảng cáo bằng đèn nê-ông: “Lời cầu nguyện biến đổi hoàn cảnh”.

Người ta chạy đến với Lời Chúa. Nhưng sứ điệp chính của bà trong những năm đó là về sự cứu rỗi. Thỉnh thoảng có những mục sư được tái sanh khi bà kêu gọi tiếp nhận Jê-sus làm Chúa và Cứu Chúa cho mình. Chức vụ của Ket-rin lúc đó là chức vụ của hy vọng và đức tin. Thời kỳ đó Hê-len đã tổ chức một ban hát gồm 100 người và hát  những bài hát mà họ đã sáng tác.

Thấy có sự đáp ứng lớn như vậy đối với chức vụ mình, Ket-rin đồng ý ở lại Đen-ver. Mọi sự có vẻ diển ra thật tốt đẹp, cho nên họ quyết định tìm một chỗ nhóm cố định. Sau đó bỗng nhiên tai hoạ đến từ một phía bất ngờ.

Bố đã đi

Nỗi đau lớn đầu tiên Ket-rin trải qua trong đời đó là vào cuối tháng 12 năm 1934, khi người bố thân yêu của bà bị chết.

Bà được tin là trong một cơn bão tuyết ông bị trượt chân ngã trên đường và bị xe cán phải.

Bà chạy xe hết tốc độ từ Đen-ver qua Kan-sas về Mis-su-ri. Nhưng ông đã chết sáng 30/12. Nỗi đau tưởng chừng không thể chịu đựng được đối với Ket-rin. Trong bà dường như nổi dậy lòng căm thù đối với người thanh niên đã lái chiếc xe kia.

“Ngồi đó trên hàng ghế đầu, tôi vẫn không chấp nhận được cái chết của bố. Điều này là không thể có được… Lần lượt từng người thân của tôi đứng dậy và tiến đến quan tài. Hai người chị của tôi, và anh trai tôi. Chỉ có tôi ngồi lại trên ghế.

Người chịu trách nhiệm tang lễ đến gần tôi và nói: “Ket-rin, chẳng lẽ chị không muốn nhìn người bố mình trước khi tôi đóng nắp quan tài sao?”

Bỗng nhiên tôi nhận thấy mình đang đứng nhìn từ trên xuống – cặp mắt tôi bị hút chặt không phải vào mặt bố, mà là vào vai ông, nơi vai mà tôi thường nép vào đó… Tôi cúi xuống và dịu nhẹ đặt tay lên vai của ông trong quan tài. Và khi tôi làm thế, có gì đó đã xẩy ra. Những ngón tay tôi chỉ đang vuốt ve bộ comp-lê… trong cái hòm đó chỉ còn một cái gì đó không còn cần thiết nữa, trước kia từng được yêu mến, nhưng bây giờ đã bỏ sang một bên. Bố tôi không có ở đó.

Lần đầu tiên quyền năng của sự sống lại Đấng Christ chạy xuyên suốt qua tôi một cách thực hữu. Tôi không còn sợ cái chết nữa… khi nỗi sợ biến đi thì sự thù hận cũng biến theo. Bố không chết. Ông vẫn sống.”

Được đổi mới và tươi cười

Ket-rin quay về Đen-ver với sự hiểu biết và lòng thương cảm mới.   Vào năm 1935, ngày 30 tháng 5 toà nhà “Đền tạm phấn hưng” tại Đen-ver đã mở cửa, với hàng chữ được hứa trước “Lời cầu nguyện biến đổi hoàn cảnh”. Gian phòng có sức chứa hai ngàn người, và tên của Đền tạm được thấy rõ từ xa. Trong bốn năm tiếp theo hàng ngàn ngàn người đến dự các buổi nhóm của Ket-rin từ các vùng lân cận. Các buổi nhóm diễn ra vào các buổi chiều trừ ngày thứ hai.

Trung tâm phấn hưng rất nhanh chóng trở thành một Hội Thánh có tổ chức. Nó không thuộc bất cứ giáo phái nào. Sau đó bắt đầu có trường học chủ nhật, tổ chức xe buýt để đưa người đến nhóm. Những sự phục vụ trong các nhà tù và trong các trại trẻ cũng bắt đầu. Sau đó ít lâu Ket-rin bắt đầu dẫn chương trình truyền thanh với tên gọi: “Hãy luôn mỉm cười.”

Vết thương liên quan đến cái chết của bố được Ket-rin gọi là kinh nghiệm “trũng bóng chết” sâu sắc nhất, nhưng bà còn phải trải qua một kinh nghiệm nữa, cũng không kém phần sâu nặng.

Uol-trip là ai? – Ông “sai lầm”

Vào năm 1935 một nhà truyền giảng tên là Be-rou Uol-trip được mời đến Đền tạm. Ông ta là một người đàn ông rất đẹp trai, hơn Ket-rin 8 tuổi. Không lâu sau đó họ bắt đầu có cảm tình với nhau.

Nan đề duy nhất là ở chỗ ông ta đã có vợ và hai con. Cảm tưởng như Ket-rin đã bỏ qua sự báo trước của Đức Thánh Linh rằng mối quan hệ này là sai lầm. Còn Uol-trip không lâu sau chuyến thăm Đền tạm lần đầu tiên đã ly dị vợ, và nói với mọi người rằng vợ ông ta đã bỏ ông. Nhưng vợ ông ta Gies-sy lại nói rằng ông ta tự cho rằng nếu lấy ai mình không yêu thì đó không phải là giao ước, cho nên có quyền đi lấy người khác (là một điều ngụy biện dối trá ghê gớm – BBT).

Bỏ gia đình, ông ta đến Mei-son city bang Ai-o-va, tại nơi đó tự giới thiệu mình là người độc thân, và bắt đầu xây dựng Trung tâm phấn hưng với tên gọi Đài phát thanh “Nhà cầu nguyện”. Ông ta là một nhà truyền giảng có phong thái đầy ấn tượng. Ket-rin và Hê-len đến thành phố và giúp ông ta quyên góp tài chính cho công việc.

Không lâu sau đó tình cảm của họ được mọi người biết đến. Hê-len và những người bạn khuyên Ket-rin không nên lấy ông ta, nhưng bà suy luận rằng nếu vợ đã bỏ ông ta, thì ông ta là tự do và có quyền lấy vợ khác.

Ket-rin rơi vào tình trạng bị lừa ngay từ đầu. Bà tin vào câu chuyện của ông ta kể, nhưng lòng bà không thấy bình an trong mọi kế hoạch cưới.

Thậm chí chính mẹ của ông ta cũng khuyên bà không nên cưới con trai mình. Bà ta hy vọng nó sẽ quay về với vợ con trước của mình. Bạn có thể hỏi vì sao Ket-rin còn cưới ông ta?

Trước đám cưới bí mật (16/10/1938) Ket-rin cũng bàn với các bạn gái mình Lot-ty và Hê-len. Lot-ty còn nhớ chính Ket-rin nói: “Tôi dường như không thấy ý muốn Đức Chúa Trời trong việc này.” Những người bạn khuyên bà hãy đợi và noi theo sự dẫn dắt của Chúa, nhưng bà không nghe họ.

Hai người bạn cuối cùng từ chối không đi dự đám cưới. Ket-rin tìm người khác làm chứng cho lễ thành hôn của mình với Uol-trip. Trong lúc hành lễ Ket-rin đã ngã ngất, Uol-trip phải đỡ bà dậy để làm cho xong.

Trên đường về, bà từ chối không đến phòng khách sạn với người chồng mới cưới của mình, chạy đến ngồi khóc với những người bạn gái. Ba người bạn sau đó lên đường trở về Đen-ver, để giải thích với hội chúng điều đã xẩy ra. Nhưng hội chúng không còn muốn nghe họ. Người ta giận giữ vì cớ sự nhẹ dạ và đám cưới bí mật. Thế là họ đã đẩy Ket-rin ngược trở lại với Uol-trip.

Những ước mơ tan vỡ

Tất cả công việc mà Ket-rin xây dựng trong năm năm cuối sụp đổ nhanh chóng. Vì cớ sai lầm của mình bà đã đánh mất cả Hội Thánh, những người bạn thân và chức vụ của mình. Và cả mối quan hệ của bà với Đức Chúa Trời cũng bị thương tổn.

Ket-rin Kul-man mà được nhiều người tôn sùng như một “người nữ trọn vẹn”, thật ra cũng là một con người, cũng bị những cám dỗ con người. Bà là một người nữ vĩ đại của Đức Chúa Trời, nhưng điều đã khiến bà trở nên vĩ đại, đó là quyết định và hành động để sửa chữa sai lầm. Trong điều kiện những cặp mắt xiên xéo, lời đồn đại và thái độ hắt hủi chung, để phục hồi lại được chức vụ của mình đòi hỏi một đức tin và lòng quyết tâm lớn. Người ta nói rằng những sai lầm đó đã giúp bà nhận được những sự tỏ ra đầy quyền năng mà tràn đầy những bài giảng của bà sau này về sự cám dỗ, sự tha thứ và chiến thắng.

Nỗi đau của cái chết

Đến năm 1944, Ket-rin rời bỏ Uol-trip, nhưng ông ta không chịu cho bà ly dị cho đến tận năm 1947. Có lần bà nói như sau về những năm tháng đó

“Tôi cần phải lựa chọn, tôi sẽ phục vụ con người mà tôi yêu, hay là Đức Chúa Trời, là Đấng tôi yêu? Tôi biết rằng tôi không thể vừa phục vụ Chúa vừa sống với “ông ta”. Không ai biết được nỗi đau của cái chết, như tôi đã nhận biết, bởi vì tôi yêu ông ta hơn cả sự sống mình. Và có lúc nào đó tôi yêu ông ta còn hơn cả Đức Chúa Trời. Cuối cùng tôi nói với ông ta rằng tôi phải rời bỏ ông ta, vì Đức Chúa Trời không bao giờ giải phóng tôi khỏi sự kêu gọi ban đầu. Tôi không chỉ sống cùng ông ta, mà tôi còn sống với lương tâm mình, và sự cáo trách của Đức Thánh Linh thật là không thể nào chịu nổi. Tôi đã quá mệt mỏi tìm cách tự biện hộ cho mình.”

Ra khỏi hang

Từ khi quyết định Ket-rin không lúc nào lay động trong việc đáp ứng lại sự kêu gọi của đời mình nữa, không bao giờ bà còn lùi bước khỏi con đường của Đức Chúa Trời đã định cho bà, và bà không bao giờ gặp lại “ông ta” nữa. Bà mua vé xe lửa một chiều đến Pen-sil-van-nia.

Sau đó bà di chuyển dần xuống phía nam, đến miền tây Vir-gin-nia và Ka-ro-li-na. Nơi thì tiếp đón bà tốt, nơi thì bới chuyện cũ của bà lên và đóng cửa sự phục vụ của bà. Bà phải quay lại Thành phố Frank-lin.

Năm 1946 Ket-rin được mời dẫn một đợt truyền giảng tại Đền tạm Tin lành khoảng 1500 chỗ ngồi tại Frank-lin, bang Pen-sil-van-nia. Và công vụ của Ket-rin tại nơi đó thật tuyệt vời, dường như không hề có 8 năm kia.

Không lâu sau đó bà bắt đầu dẫn chương trình truyền thanh hàng ngày tại Oil-city, bang Pen-sil-van-nia. Sự đáp ứng lớn đến nỗi vài tháng sau đó bà mở thêm một đài phát thanh nữa ở Pitsburg.

Bây giờ người ta không tránh né bà nữa, mà gửi thư từ đến ngập nhà. Đài phát thanh phải không cho khách đến thăm, vì cản trở đến công việc của các nhân viên.

Chiến tranh thế giới thứ hai vừa mới kết thúc, và Đức Thánh Linh hành động để phục hồi thân thể Đấng Christ qua ân tứ chữa bệnh. Sự phấn hưng chữa bệnh đang trên cao trào, và những sự chữa lành vĩ đại được thể hiện qua chức vụ của nhiều người như Oral Roberts, William Branham, Jack Coe…

Thời kỳ đó Ket-rin chủ yếu cầu nguyện cho người ta được cứu rỗi. Nhưng bà cũng bắt đầu cầu nguyện cho những người ốm, đặt tay lên những ai đến tìm sự chữa lành. Bà đi dự những buổi nhóm của những người hầu việc Chúa kia, muốn tìm hiểu hơn về điều kỳ diệu này của Đức Chúa Trời. Ket-rin không thể ngờ rằng chính sự phục vụ chữa lành sẽ mang đến cho bà sự nổi tiếng toàn thế giới.

Phép lạ đã đến

Khi Ket-rin nhìn thấy trong Lời Chúa rằng sự chữa lành cũng được ban cho mọi kẻ tin cũng giống như sự cứu rỗi, bà cũng hiểu ra mối quan hệ giữa cơ-đốc nhân với Đức Thánh Linh. Năm 1947 bà bắt đầu một loạt bài giảng về Đức Thánh Linh. Nhiều điều khi bà giảng trong buổi nhóm đầu tiên cũng là sự tỏ ra mới cho chính bà. Bà kể lại là đêm trước đó bà thức trắng, cầu nguyện và đọc Lời Chúa.

Đến buổi chiều thứ hai một điều kỳ lạ xẩy ra. Một lời làm chứng đặc biệt về sự chữa lành được kể ra trong công vụ của Ket-rin Kul-man. Một phụ nữ đứng dậy và nói rằng đã được lành bệnh trong trong khi Ket-rin giảng buổi chiều hôm trước. Không có ai đặt tay lên bà cả, thậm chí Ket-rin cũng không biết điều gì đã xẩy ra, dù vậy bà ta vẫn được lành khối u. Trước khi đến nhóm lần sau, bà đã đi bác sĩ để kiểm tra lại.

Đến chủ nhật sau đó một phép lạ nữa xẩy ra. Một cựu chiến binh chiến tranh thế giới thứ hai, được xác nhận là mù hoàn toàn do tai nạn lao động, được phục hồi thị lực ở con mắt bị chấn thương lại thành 85%, còn mắt kia thì cả 100%. 

Khi những phép lạ và sự chữa lành bắt đầu xẩy ra, người ta đến Đền tạm còn
đông hơn trước kia. Đức Chúa Trời đã cho sự phục vụ của Ket-rin thành
công lớn, nhưng ma quỉ cũng tìm cách để cản trở hành động và trào lưu
Đức Thánh Linh. Đầu tiên là chủ của Đền tạm. Nhưng những người ủng hộ
Ket-rin tìm đủ 10.000 đô-la để mua một gian phòng cũ trước dùng làm nơi
trượt ba-tanh. Họ gọi đó là Đền thờ của đức tin. Nó còn lớn gấp đôi toà
nhà cũ và ngay từ buổi nhóm đầu tiên đã chật ních người.

Thật đặt biệt, nhưng trong giai đoạn căng thẳng và mang tính quyết định đó
vào năm 1947 lại có một sự kiện đáng kinh ngạc xẩy ra. Một lần và buổi
chiều Ket-rin nghe tiếng gõ cửa nhà mình. Khi bà mở cửa, thì trước mặt
bà là ông cảnh sát trưởng trong bộ quân phục. Ông đến để nói với bà
rằng “ông ta” (Uol-trip – ND) đã nộp đơn ly dị, và giấy tờ đã đến nơi
phòng làm việc của ông.

Ket-rin cúi mặt xuống và thấy giấy tờ ở trong tay ông. Bà đứng đó, không ngẩng
đầu lên. Thấy nỗi xấu hổ và thất vọng của bà, ông cảnh sát trưởng đỡ
lấy cánh tay bà. Ông đã từng dự buổi nhóm của Ket-rin Kul-man và hiểu
rằng bà được Đức Chúa Trời phái đến. Và biết rằng tên tuổi của những
người nổi tiếng trong các giấy tờ ly hôn rất dễ bị đưa lên báo chí, ông
đã quyết định giữ kín chuyện này và đích thân đến chuyển tận tay cho bà.

Ông cũng nói rằng chỉ có hai người, là ông và bà biết chuyện này thôi.
Ket-rin nói với ông, là bà biết ơn ông cho đến hết đời. Lòng tốt của
ông đã cứu bà khỏi nỗi đau vĩ đại. Bẩy năm sau các nhà báo cũng bới ra
được chuyện này, nhưng đến lúc đó công vụ của Ket-rin đã rộng lớn đến
nỗi những chuyện cũ không còn ảnh hưởng đến nó được nữa.

Những buổi thờ phượng chữa lành tiếp tục trong gian phòng mới và lan sang
những thành phố lân cận. Đức Thánh Linh đã tìm được một công vụ không
tìm cách qui về cho mình những công việc Ngài làm, cùng với vinh hiển –
kết quả của những hành động của Ngài.

Một nữ thư ký của bà nhớ lại:

“Miss
Kul-man thật là mềm mại với Đức Chúa Trời. Sau buổi nhóm tôi ngó vào
phòng thu âm. Miss Kul-man, không biết là có người nhìn, đang quỳ gối
và ngợi khen Chúa về buổi thờ phượng.”

Cùng với sự lớn lên của chức vụ, bà bắt đầu nhấn mạnh hơn về Đức Thánh Linh
toàn năng. Trong các buổi nhóm của bà không có các thẻ cầu nguyện,
không có hàng dài những người ốm để đợi bà đặt tay cầu nguyện. Bà cũng
không bao giờ lên án người ta rằng họ không nhận được sự chữa lành vì
cớ đức tin mình yếu đuối. Cảm tưởng như sự chữa lành có thể xẩy ra tại
mọi nơi trong gian phòng, trong khi người ta ở tại chỗ của mình, hướng
lên trời và tập trung vào Chúa Jê-sus.

Trước buổi nhóm của bà tại Kar-ne-gi-hall ở Pitsburg người gác cổng nói rằng
ngay cả các danh ca ô-pê-ra cũng chưa bao giờ được đầy phòng thính giả,
nhưng Ket-rin ra lệnh đặt ghế thêm cho đủ kín phòng. Bà thật đã biết
trước – không còn chỗ trống nữa.

Hội Thánh trên không trung

Những bài giảng của bà được nghe đến trên toàn Hợp chủng quốc và trên nhiều
nơi khác ở nước ngoài nhờ truyền thanh trên sóng ngắn. Cảm tưởng như cả
nước Mỹ nóng lòng chờ đợi giọng nói ấm áp, đễ thương đó, mà thường hỏi
thính giả vào đầu chương trình: “Xin chào, các bạn đợi tôi phải không?”

Những chương trình phát thanh của bà không hề mang tính tôn giáo hay là buồn
tẻ. Ngược lại, những thính giả cảm thấy như Ket-rin đến thăm họ uống
tách cà-fê. Bà phục vụ những nhu cầu của họ, những lo lắng và nan đề
của họ, và những lời động viên của bà đã biến đổi đời sống thính giả.
Bà rất hay đùa, cho mọi người đều biết rằng đây là cuộc nói chuyện tâm
tình. Nếu bà muốn hét lên – bà sẽ hét, nếu bà muốn hát – bà sẽ hát.
Ket-rin biết cách phục vụ trên ra-điô cũng như trước đám đông. Người ta
vẫn tiếp tục đăng ký cát-sét những bài giảng của bà cho tới sáu năm sau
khi bà đã chết…

Trong tám năm trước khi bà chết những chương trình truyền hình được truyền đi
khắp đất nước. Những năm đó chương trình nửa tiếng đồng hồ của bà là
dài nhất trong các chương trình được ghi tại CBS.

Mọi sự như Ket-rin muốn

Nơi nhóm thờ phượng của bà được chuyển sang Hội Thánh Trưởng lão thứ nhất
tại Pitsburg, và nhiều năm sau đó những giáo sư Kinh-Thánh nổi tiếng và
được kính trọng cũng đến đó dự nhóm. Trong mười năm cuối đời bà tổ chức
những tháng truyền giảng tại Los-Angeles, nơi đó bà phục vụ vô số ngàn
người và hàng trăm người được lành bệnh. Bà cũng giảng ở các Hội Thánh
lớn, trong các đại hội và các hội nghị quốc tế.

Phải mất vài năm bà mới chịu đồng ý tổ chức những buổi thờ phượng phép lạ
trong các hội nghị. Bà cảm thấy là thời khoá biểu hạn chế của các hội
nghị có thể hạn chế sự tự do của Đức Thánh Linh là điều chính nhất
trong công vụ bà. Nếu có ai muốn phát biểu cùng đợt với bà, họ phải
thay đổi mình theo ý bà muốn…

Bà đã hàng ngàn lần chết

Người ta nói rằng sự cầu nguyện là sự sống của bà. Bà thường xuyên di chuyển
và không có chỗ và thời gian cố định, nên bà đã học được cách biến mọi
chỗ thành phòng cầu nguyện của mình. Trước buổi thờ phượng có thể thấy
Ket-rin đi đi lại lại, lúc ngẩng đầu lên, lúc cúi xuống, lúc giơ tay
lên, lúc đặt tay sau lưng. Khuôn mặt bà đẫm nước mắt…

Lời cầu nguyện sâu thẳm như vậy có thể thấy như là một việc kín rất riêng
tư, nhưng đối với Ket-rin thì không phải như vậy. Nhiều lần người ta
cắt ngang bà bằng một câu hỏi nào đó, và bà đáp lại, sau đó lại chìm
ngập vào độ sâu cầu nguyện mà người ta mới lôi bà ra khỏi. Oral Roberts
mô tả mối quan hệ của bà với Đức Thánh Linh như sau: “Cảm tưởng như họ
đang nói chuyện với nhau, và không thể nói được là lúc nào thì Ket-rin
bắt đầu còn lúc nào thì Đức Thánh Linh tiếp tục. Đó là một sự hiệp
nhất.”

Những người từ mọi tầng lớp xã hội đến với buổi nhóm của bà. và bà biết rằng
bà là chiếc bình phải dùng để hướng họ lên Đức Chúa Trời. Bà biết cách
vượt qua những biên giới và đưa mọi người cùng đến một sự hiểu biết
chung. Bằng cách nào bà làm được điều đó? Có lẽ do sự dâng mình trọn
vẹn cho Đức Thánh Linh. Bà luôn luôn nói: “Tôi đã hàng ngàn lần chết
trước mỗi một buổi thờ phượng.”

Ket-rin bao giờ cũng biết là đến một ngày bà sẽ phải đứng trước Đức Chúa Trời
và trình lại với Ngài về chức vụ của mình. Bà không bao giờ tin mình là
lựa chọn số một của Đức Chúa Trời cho công vụ này. Bà tin rằng những
người khác cũng được kêu gọi, nhưng họ không chịu trả giá cho sự đó.

Không thể kể hết mọi sự

Những phép lạ đáng kinh ngạc đã xẩy ra như thế nào? Dù chúng xẩy ra đến hàng
ngàn, đối với Ket-rin phép lạ lớn nhất vẫn là sự con người tái sanh. Có
một trường hợp cậu bé què quặt từ khi sinh ra đã đứng dậy lên sân khấu
giảng của Ket-rin mà không cần ai giúp đỡ. Trường hợp khác một phụ nữ
tàn tật đã bị ràng buộc vào ghế lăn tay đã 12 năm tự đi lên sân khấu
không phải tựa vào tay chồng. Một người từ Phi-la-đen-phia, 8 tháng
trước được lắp tim nhân tạo bằng máy, đã cảm thấy đau nhói nơi ngực khi
Ket-rin đặt tay lên ông. Khi quay về nhà, ông thấy vết sẹo nơi người ta
mổ lắp tim vào cho ông đã biến mất, và ông không hiểu là cái máy còn
làm việc hay không nữa. Sau này, khi bác sĩ chụp X-quang, ông ta phát
hiện ra rằng cái máy tim nhân tạo không có ở đó nữa, và quả tim của ông
này đã thay đổi.

Chuyện những khối u, ung thư biến đi, người mù được sáng mắt, người điếc nghe
thấy là thường tình. Những cơn đau đầu hết ngay lập tức. Thậm chí cả
những cái răng đau được phục hồi theo cách của Đức Chúa Trời. Đơn giản
là không thể đếm hết những phép lạ dã xẩy ra tại các buổi thời phượng
của Ket-rin Kul-man. Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết được hết.

Ket-rin khóc vì vui mừng khi thấy hàng ngàn người được chữa lành bởi quyền năng
Đức Chúa Trời. Người ta còn nhớ nước mắt bà rơi xuống tay của họ như
thế nào.

Người ta cũng nói là Ket-rin cũng khóc khi nhìn thấy những người ra về mà
chưa được lành bệnh hay trên những chiếc xe đẩy. Bà không bao giờ thử
tìm cách giải thích, tại sao một số người này thì được chữa lành, số
khác thì không. Nhưng bà cũng nói rằng đó sẽ là một trong những câu hỏi
đầu tiên bà sẽ hỏi Chúa khi về trời.

Bây giờ Ket-rin đã trở nên một nhân vật sáng chói cả giữa vòng cơ-đốc nhân,
lẫn giữa người thế gian. Những ngôi sao điện ảnh cũng đến dự các buổi
thờ phượng của bà. Giáo hoàng Lamã mời Ket-rin gặp gỡ cá nhân tại
Va-ti-căng và tặng bà tấm bảng có chạm nổi hình con chim bồ câu. Những
thành phố lớn nhất nước Mỹ đón mừng bà với “chìa khoá” của thành phố
mình. Thậm chí Việt nam cũng tặng bà huy chương danh dự về sự cứu giúp
những người bệnh.

“Tôi muốn về nhà”

Buổi thờ phượng phép lạ cuối cùng Ket-rin Kul-man đã dẫn tại Los-Angeles,
bang California, 16/11/1975. Sau buổi nhóm người cộng sự của bà tại văn
phòng Hollywood nhìn thấy điều mà không bao giờ quên được.

Khi mọi người đã ra hết khỏi gian phòng, Ket-rin nhẹ nhàng tiến đến rìa sân
khấu. Bà ngẩng đầu lên và chăm chú nhìn lên ban-công, như soi xét từng
ghế ngồi. Việc đó kéo dài lâu như cả sự vĩnh cửu. Sau đó Ket-rin chuyển
cái nhìn sang ban-công thứ hai, chăm chú nhìn từng hàng ghế và mối
chỗ ngồi. Sau đó bà nhìn xuống hàng ghế bên dưới, nghiên cứu từng chiếc
ghế.

Chúng ta chỉ có thể giả định điều gì đang diễn ra trong đầu bà lúc đó. Bà
đang chia tay với chức vụ trên đất của mình? Chỉ ba tuần sau đó Ket-rin chết sau khi mổ tim.

Oral và Evelyn Roberts ở trong số ít những người được phép gặp Ket-rin tại
trung tâm y tế Hil-rest. Oral nhớ lại, là khi họ vào phòng và cúi xuống
cạnh giường bà để cầu nguyện cho bà lành bệnh, thì một việc kỳ lạ đã
xẩy ra. “Khi Ket-rin hiểu ra rằng chúng tôi đến để cầu nguyện cho bà
khoẻ lại, bà giơ tay ra cản, và sau đó chỉ lên trời.” Evelyn Roberts
nhìn sang chồng và nói: “Bà không muốn lời cầu nguyện của chúng ta.  Bà
muốn về nhà.”

Chị của Ket-rin cũng nhận được điều đó từ Ket-rin. Bà nói: “Ket-rin muốn về nhà.”

Người phụ nữ tóc vàng tuyệt vời đã giới thiệu Đức Thánh Linh cho thế hệ chúng
ta cuối cùng đã nhận được điều lòng mình mong muốn. Người ta kể, là Đức
Thánh Linh còn giáng trên bà một lần nữa, và khuôn mặt bà rạng sáng
lên. Nữ y tá trong phòng nhận thấy một vầng hào quang bao quanh giường
bà và tạo nên một tâm trạng bình an lạ lùng. Tám giờ rưỡi tối thứ sáu,
20/2/1976, Ket-rin đã về nhà để đến với Chúa Jê-sus. Bà được 68 tuổi.

Ket-rin Kul-man là một của báu đặc biệt. Chức vụ của bà đã mở đường cho chúng
ta nhận biết Đức Thánh Linh trong thế hệ chúng ta. Bà đã cố gắng chỉ
cho chúng ta biết làm thế nào có được mối thông công với Ngài và yêu
mến Ngài. Bà thật sự biết cách tỏ Đức Thánh Linh ra cho chúng ta như
một Người Bạn. Chính lời bà đã nói:

“Thếgian gọi tôi là người ngu dại vì tôi đã dâng cả đời mình cho Đấng mà
tôi chưa bao giờ được nhìn thấy. Tôi biết chắc điều mình sẽ nói khi đến
trước sự hiện hiện của Ngài. Nhìn vào khuôn mặt tuyệt vời của Jê-sus,
tôi sẽ chỉ nói một điều: “Con đã cố gắng.” Tôi đã dâng mình theo như
tôi biết. Sự cứu chuộc của tôi sẽ trọn vẹn, khi tôi sẽ sẽ đứng và nhìn
thấy Đấng đã làm điều đó trở thành có thể thực hiện được.”

(trích dịch từ một chương của sách “Các tướng lĩnh của Đức Chúa Trời” – Roberts Liardon

ND – Q.H. Tinlanh.Ru)



Để Sử Dụng Danh Chúa Một Cách Hợp Pháp, Bạn Phải “Kết Hôn”!

Để Sử Dụng Danh Chúa Một Cách Hợp Pháp,
Bạn Phải “Kết Hôn”!

 

Ngàì đã hiện ra trong hình thể loài người, Ngài đã tự hạ thấp mình
xuống và khiêm nhường, mang sự vâng phục của Ngài cho đến chết, ngay cả
cái chết trên thập tự giá ! Vì đó (vì Ngài đã xuống quá thấp) Đức Chúa
Trời đã tôn Ngài lên rất cao và đã ban nhưng không trên Ngài danh hiệu
trên hết mọi danh. Để cho hễ khi nghe đến danh Jêsus, tất cả mọi đầu gối
trên trời, dưới đất và bên dưới đất thảy đều quỳ xuống. Philíp 2:8-10

Tôi muốn nói với bạn về danh Jêsus và sự cầu nguyện, nhưng trước hết
tôi muốn chia xẻ với bạn một số điều mà Chúa đã phán với tôi nhiều năm
trước đây.

Vào lúc ấy, tôi đang suy gẫm tại sao danh Jêsus hình như đã không sản
sinh ra những kết quả đầy quyền năng cho tôi như tôi đã thấy trong sách
Công Vụ Các Sứ Đồ. Tôi đã cầu nguyện trong danh Chúa Jêsus, tôi đã nhơn
danh Jêsus, nắm lấy uy quyền trên kẻ thù nghịch, nhưng những kết quả
không hề giống như những gì tôi đã đọc được.

Tôi đã học về danh Jêsus trong sách Philíp thì tôi đọc đến những câu
đã bày tỏ cho tôi một chân lý quan trọng. Trước hết, Chúa Jêsus đã vâng
lời tuyệt đối rồi sau đó, hay là vì cớ đó, Ngài đã được ban cho danh
trên hết mọi danh, danh mà ngày nay vẫn nắm giữ quyền năng lớn lao đến
nỗi khi danh đó được nói đến, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới
đất thảy đều quỳ xuống.

Chúa đã cho tôi thí dụ, Ngài phán : “Joyce, khi con đã kết hôn với
Dave con mang tên của anh ấy và có quyền trên tất cả mọi điều mà tên
Meyer hàm ý.” Ngài đã nhắc tôi rằng tôi có thể nhận được như là anh ấy
đang đi cùng với tôi. Tôi có thể đi ra ngân hàng và rút tiền của Dave
Meyer, vì cớ khi hai người kết hôn họ trở nên một và tất cả tài sản của
riêng mỗi người bây giờ thuộc về người kia.

Trong hôn nhân, những gì thuộc về người này cũng thuộc về người kia
là bạn đời của mình. Nếu tôi có một nan đề, Dave cũng có một nan đề. Nếu
Dave cũng có một nan đề thì tôi cũng có một nan đề. Chúng tôi là một.
Ngay vừa khi chúng tôi cưới nhau, tôi đã có quyền theo luật để sử dụng
danh của anh ấy. Tôi không có quyền này khi chúng tôi đang chuẩn bị kết
hôn, chỉ có sau khi chúng tôi đã kết hôn.

Qua thí dụ của cuộc sống hằng ngày này, Đức Thánh Linh đã nỗ lực dạy
dỗ tôi rằng dù tôi đã có một mối liên hệ với Chúa, thì đều giống như một
sự theo đuổi nhau chứ chưa phải là một cuộc hôn nhân. Tôi như là đã
thích “dự những buổi hẹn hò” với Ngài, nhưng khi “giờ hẹn” đã hết, tôi
lại muốn đi theo đường riêng của tôi. Tôi chưa sẵn sàng để cùng sống với
Ngài. Còn có nhiều lãnh vực trong đời sống mà tôi muốn giữ lại cho
mình. Những lãnh vực mà Ngài muốn bước vào nhưng tôi giữ lại. Tất cả
những gì của tôi chưa phải là tất cả những gì của Ngài. Tôi nuốn giữ
được tất cả những gì của Ngài, ân huệ của Ngài và mọi quyền lợi, nhưng
tôi không muốn trao cho Ngài tất cả những gì của chính tôi. Tôi đã giữ
lại một phần rất lớn của Joyce cho Joyce.

Mặc dù tôi đang tăng trưởng trong sự vâng lời Ngài, Chúa đã dùng đoạn
sách trong Phi-líp để chỉ cho tôi thấy tôi chưa có quyết định trở nên
vâng lời cách tuyệt đối như Kinh Thánh đã nói về Chúa Jêsus và do đó
Ngài đã nhận được danh trên hết mọi danh.

Bạn đã kết hôn với Chúa Jêsus chưa hay chỉ “hẹn hò”? Bạn đang tạm
theo đuổi Ngài hay là theo đuổi Ngài nghiêm túc? Bạn có đã hứa hôn rồi
nhưng cứ tiếp tục dời ngày cưới lại không? Hãy nhớ kỹ bạn không thể sử
dụng danh Ngài cách hợp pháp được cho đến khi bạn đã kết hôn với Ngài.

Chúa Jêsus là Chàng Rễ, và chúng ta là Cô Dâu của Ngài. Đó là chương
trình Đức Chúa Cha đã hoạch định, và đó cũng là cách duy nhất để kế
hoạch của Ngài thực thi cách phải lẽ.

NgườI ta sẽ chẳng gọi ngươi là Kẻ Bị Bỏ nữa, đât ngươi cũng chẳng gọi
là Đất Hoang Vu nữa; nhưng ngươi sẽ được gọi là Hephjibah (“Sự khoái
lạc ta ở trong người” Bản Amplified) và đất ngươi sẽ được gọi là Benlah
(kẻ có chồng: “đã kết hôn” Bản Amplifieh) Vì Đức Giêhôva khoái lạc trong
ngươi và đất ngươi sẽ có chồng (kết hôn), như chàng rể mới vui mừng vì
cưới vợ mới mình, Đức Chúa Trời ngươi cũng vui mừng vì cớ ngươi. Êsai
62:1-5

Mặc dù những câu Kinh Thánh này không phải là lời trực tiếp cho từng
cá nhân tín đồ, tôi nghĩ rằng nguyên tắc ở đây rất rõ ràng và có thể dạy
cho chúng ta một chân lý và yên ủi chúng ta với tư cách cá nhân : đó là
danh và sự kết hôn cùng đi với nhau.

Đức Chúa Trời khao khát kêu gọi chúng ta bước vào sự kết hôn, và như
chàng rễ trẻ tuổi vui mừng và khoái lạc trong cô dâu của mình thể nào
thì Chúa cũng khao khát vui mừng và khoái lạc trong chúng ta thể ấy.
Đang khi chúng ta sống trong sự vâng phục tuyệt đối, như là những người
đã kết hôn, chúng ta sẽ nhìn thấy một sự gia tăng trong quyền năng của
Đức Chúa Trời được khai phóng ra đang khi chúng ta sử dụng danh con Ngài
là Jêsus.

Joyce Meyer




NGƯỜI SỐNG LẠI TỪ CÕI TRỜI VÀ CÕI CHẾT năm (2001)




If You Don’t Believe In Miracles, WATCH THIS!!!