Hoa Huệ Giữa Chông Gai – Thế Gian Không Xứng Đáng Cho Họ

Thế Gian Không Xứng Đáng Cho Họ

Tác giả: Danyun

1. Lời Giới Thiệu

Chín ngày liền, mỗi một giọt nước ở vùng đồng bằng Fanda, thuộc miền bắc Trung Quốc đều bị đông đá. Nhiệt độ đã hạ xuống mười chín độ dưới không. Có một ngọn gió tây bắc thổi, quét những đợt tuyết quấn lại giống như những quả bóng bằng bông. Sau nhiều giờ đồng hồ, tuyết dày đến một mét đã bao phủ khu vực giống như một tấm chăn màu trắng. Có vẻ như nó che phủ mọi tội lỗi của loài người. Vào lúc hai giờ sáng, ở một huyện nọ tại làng ‘Tình Yêu’, có một người đàn ông trạc tuổi trung niên, ngoài bốn mươi, quì gối cầunguyện trong sân đằng sau nhà. Ông cầu nguyện hơn hai tiếng đồng hồ. Ông cầu nguyện dốc đổ lên cùng Chúa cho đất nước mình, cho đồng bào, và hàng nghìn linh hồn và vì công việc Hội thánh. Khi ông cầu nguyện, mắt cá chân ông càng lún sâu xuống tuyết sâuhơn và sâu hơn. Ông bắt đầu khóc và nước mắt ông đã rơi xuống tuyết. Ông tiếp tục cầu nguyện và thình lình ông nghe thấy trong lòng có tiếng êm dịu nhỏ nhẹ nói với ông: “Trong ba ngày nữa, ngươi sẽ bị bắt vì Chúa”. Từ tận đáy lòng, ông cảm tạ Chúa và đứnglên. Lúc đó chiếc quần của ông trở nên giống như đá. Ông là ai? Từ đâu đến? Tại sao ông lại đến cầu nguyện ở chỗ đó?

2. Ánh sáng đã mọc lên trên những kẻ ngồi dưới bóng sự chết (Ma-thi-ơ 4:16)

Mặt nước sông trong xanh chiếu lấp lánh, như những đốm lửa dưới ánh mặt trời buổi sáng sớm. Bạn dường như thấy ánh sáng cứ tiếp tục lan ra, khi dòng sông chảy từ hướng bắc đổ về phía nam. Những con cá nhỏ bơi lượn dưới ánh mặt trời ban mai, nếu mà có vài cậu chăn bầy đi qua, có lẽ chúng sẽ nhảy xuống sông để nô đùa. Phía đông của giòng sông là một ngọn núi nhỏ. Tuy nó không cao lắm, vốn là phần của một dải núi kéo dài một nghìn sáu trăm cây số. Dải núi trùng trùng điệp điệp có cây rậm bao trùm, làm cho nó có một dáng vẻ rất đặc biệt. Trong ngôi làng ở dưới chân núi, có bốn ngôi nhà tranh nằm ven sông. Ở đây có một đôi vợ chồng và năm đứa con sinh sống.

Đầu của gia đình là Cheng Jian. Anh có dáng người vừa vừa, nhưng rất chắc nịch, với đôi lông mày đậm, đôi mắt sáng, một gương mặt tròn, cái mũi to và một cái miệng rộng. Anh là người đầy tràn sức sống. Tuy đã ngoài ba mươi và có một cuộc sống khắc nghiệt, nhưng anh vẫn thường cởi mở, dí dỏm và lạc quan như những ngày còn trẻ tuổi. Anh là một người đầy dẫy sự vui mừng, dù cho trong hoàn cảnh khó khăn nhất, bạn vẫn có thể nghe thấy tiếng cười của anh.

Bởi vì tình trạng đất nước bi đát, nên đối với mỗi người, cuộc sống rất khó khăn. Vợ của Jian rất hay bị đau ốm. Họ nghèo đến nỗi nhiều khi nhà không có đồ ăn. Điều đó đã kéo dài sáu đến bảy năm. Đôi khi, Jian đi ngang qua nhà của người họ hàng mình chỉ để chào hỏi. Người họ hàng của anh thì lo sợ rằng anh sẽ mượn tiền của họ. Họ thấy không biết nói chuyện gì với Jian. Điều đó càng làm cho Jian lúng túng hơn và không biết làm thế nào.

Trong cuộc cách mạng văn hóa, đối với các Cơ-đốc nhân, xuống đường để bị ‘bêu gương’ là chuyện rất bình thường. Lúc đó là vào mùa xuân năm 1974. Vào một buổi trưa, Jian đi ngang qua một xóm kia. Anh trông thấy có một bà già bị bắt ra đường để bị ‘bêu gương’. Bà khoảng chừng sáu mươi tuổi. Jian đã nghe thấy bà nói rằng “Gia đình chúng tôi rất nghèo, và chúng tôi thường bị đau ốm. Thậm chí, tôi bị nhiều chứng bịnh khác nhau. Tôi đã tốn hết bao nhiêu tiền cho thuốc men và thật là khổ sở. Nhưng kể từ khi tôi đến với Chúa Giê-xu, trong gia đình tôi có sự bình an.”

Sau khi Jian nghe thấy điều đó, anh tự nghĩ: “Hay đấy, tin Chúa Giê-xu có thể làm cho mình được khỏe mạnh.” Nên anh đã chạy về nhà và tìm những người của Hội thánh. Anh nói rằng anh muốn tin Chúa Giê-xu, và nhờ Hội thánh hãy cầu nguyện cho vợ của mình. Nhưng các anh em đã không tin lời anh. Nhưng anh đã kiên quyết. Anh đã ba bốn lần trong ngày đến nhà của các anh em, để xin họ cầu nguyện. Cuối cùng, các anh em đã được lay động. Họ đến nhà của anh để cầu nguyện cho vợ anh. Họ làm liên tiếp ba ngày liền. Ngợi khen Chúa! Vợ của Jian đã được lành hẳn. Cô không trông như đã từng bị bệnh một thời gian dài, nhưng cô đã ra đồng làm việc được ngay vào ngày thứ tư và những người trong tổ sản xuất đều rất ngạc nhiên. Cô thường hay kêu la và rất khó gần. Nhưng bây giờ cô đã hoàn toàn thay đổi. Mọi người hỏi cô “Có phải chị tin Chúa Giê-xu không?” Chị Jian chỉ cười; chị không nói một lời nào. Nhưng bản thân Jian, thì vẫn chưa đến với Chúa. Tấm lòng anh vẫn còn cứng cỏi. Anh nghĩ, bởi vì vợ tôi được chữa lành, nên cô sẽ là người tin Chúa Giê-xu, chứ không phải là tôi. Vào một buổi tối, vợ anh từ buổi nhóm trở về. Cô đã quì gối trong phòng riêng và cầu nguyện dốc đổ cho jian, trong khi Jian đang ngủ ở một phòng khác. Sau đó Jian cảm thấy người khó chịu quá. Anh đã quì gối xuống và bắt đầu kêu gào. Anh đã kêu la mấy tiếng đồng hồ như vậy, cho đến khi anh được sự bình an trở lại trong lòng, và tối hôm đó anh đã tiếp nhận Chúa. Jian vốn là người ‘hồn nhiên, ngây thơ’ và được mọi người yêu mến. Nhưng sau khi anh được cứu, mọi người bắt đầu ghét bỏ anh.

3. Khi ngươi đã quay trở lại, hãy làm vững chí anh em mình. (Lu-ca 22:32)

Vào một ngày kia, khi Jian và vợ đang làm việc ngoài đồng, có hai người bắt đầu châm chọc và nói những điều có ý khích bác. Họ rất có vẻ miệt thị và nhạo báng Đức Chúa Trời, đến lúc Jian không thể đứng yên được nữa, anh lên tiếng nói “Thôi đi! Nếu các ông muốn nói gì, thì hãy nói ra! Tôi có làm hại các ông điều gì chăng, mà các ông lại xúc phạm đến Đức Chúa Trời của tôi như vậy?” Hai người không dám nói điều gì thêm. Họ gục đầu xuống và bắt đầu làm việc.

Jian đi nhóm thường xuyên. Vào một ngày kia anh và vợ bị bắt trong một buổi nhóm và bị đưa đi ‘học tập’. Năm đứa con nhỏ bị bỏ lại ở nhà, không ai chăm sóc. Mười ngày sau, tất cả những người trộm cắp, cờ bạc, và gây gổ đều được thả ra, ngoại trừ Jian và vợ anh. Cuối cùng không còn thức ăn ở nhà nữa. Các con cứ đến lớp ‘học tập’ và đứng ngoài kêu gào. Điều đó làm cho trái tim Cheng Jian tan nát. Càng tệ hơn, những người lãnh đạo đảng tiếp tục dọa nạt họ. Nên cuối cùng, Jian chối bỏ Chúa Giê-xu và ký tên vào.

Sau khi về nhà, họ vô cùng buồn bã. Họ không thể ăn ngủ được. Sau đó họ đã quì gối xuống và khóc lóc trước Chúa. “Chúa ơi, chúng con đã không thành tín, chúng con không biết là Ngài có còn yêu chúng con nữa hay không. Nếu Ngài còn yêu chúng con. Xin hãy để cho chúng con bị ốm trong mười ngày.” Sau khi họ đã cầu nguyện lời cầu nguyện đó, họ càng khóc thảm thiết hơn nữa. Ba ngày sau đó, cả gia đình đều lăn ra ốm. Người lãnh đạo đảng thấy gia đình Jian không ra đồng làm việc mấy ngày, thì ông cùng với mấy người nữa đã đến, để tìm ra nguyên nhân. Jian nói với ông ta, “Bởi vì các ông bắt ép tôi chối bỏ Chúa Giê-xu và ký tên, nên chúng tôi đã bị ốm, và Chúa cũng đã tha thứ cho chúng tôi. Hãy đưa lại cho tôi tờ ‘tuyên bố ly khai’, nếu không chúng tôi sẽ chết. Kể từ lúc này, không những cả gia đình tôi tin Chúa Giê-xu, chúng tôi còn hiến dâng cả nhà cửa chúng tôi cho Chúa nữa. Chúng tôi sẽ có những buổi nhóm ở nhà chúng tôi.

Sau khi Jian đã ăn năn như vậy, anh bắt đầu tháo mồ hôi và được lành hoàn toàn. Một vài ngày sau, cả gia đình đều được lành. Họ cảm thấy kinh hoàng và ngợi khen Chúa.

Chúa đã đặc biệt lựa chọn gia đình và căn nhà đó để làm nơi nhóm họp rất tốt. Gần như mỗi ngày, họ đều có những tín đồ đến nhà mình. Chính quyền thấy rất chướng tai gai mắt, thường sai những kẻ gây rối và dọa nạt họ. Nhưng cả gia đình Jian cùng họp lại cầu nguyện. Họ hứa nguyện phú thác mọi sự trong tay Chúa và không lo sợ gì hết.

Ba tháng sau, Jian nhận được sự kêu gọi giảng tin lành. Từ lúc đó, anh luôn luôn đi ra giảng tin lành và phục vụ mọi người. Lời giảng của Jian rất thu hút và có sức thuyết phục. Trên hết mọi điều đó, anh có một trái tim dành cho những linh hồn. Anh luôn luôn bằng nước mắt, giục dã mọi người hãy ăn năn và quay trở lại với Chúa. Và nhiều người trở lại với Chúa qua những lời giảng của anh. Có một ngày, Jian nghe nói có một đầy tớ Chúa, người anh em Ming, sống ở trên đồi, bị đi tù vì cớ tin lành. Vào năm 1974, anh bị kết án bảy năm tù. Jian đã cầu nguyện khẩn thiết cho người anh em Ming và gia đình anh. Vào ngày hai mươi ba tháng giêng 1975, vợ của Jian nói với chồng hãy đem lúa đi ra phố chợ bán. Với số tiền có được, anh có thể mua ít đồ ăn và thực phẩm chuẩn bị cho tết năm mới. Rồi anh ra đi, và bán được sáu Yuan. Sau đó anh đã nghĩ đến gia đình anh Ming và thấy thương họ. Anh quyết định đến thăm họ. Jian chỉ biết là anh Ming sống ở trên đồi, nhưng anh không biết cụ thể ở chỗ nào, và anh biết là nếu hỏi thăm người ngoài là thiếu khôn ngoan. Anh đã bắt đầu đi lúc trưa và mất sáu tiếng đồng hồ sau mới đến chân đồi. Lúc đó trời đã rất tối và có gai góc, bụi gai mọc dọc đường, thật sự là rất khó khăn. Tuy nhiên, Jian vẫn cứ đi tiếp. Vào tối mịt, Jian có thể nhìn thấy vài ánh đèn trên đồi. Anh đi theo hướng có ánh sáng. Vào lúc nửa đêm, anh mới tìm được nhà. Anh gõ cửa, và một ông già ra mở cửa. Khi ông thấy Jian, ông rất ngạc nhiên, bà cụ đứng sau đã mời anh vào. Tất cả họ đều ngồi bên đống lửa và ông già hỏi Jian đến từ đâu và tại sao anh lại đến vào lúc đêm hôm khuya khoắt này. Jian nhìn xung quanh và trông thấy một thiếu phụ trẻ ngồi bên hai ông bà, nhưng không thấy có đứa trẻ nào. Anh bắt đầu ngạc nhiên và hỏi “Có phải đây là gia đình của anh Zhang không?”

“Vâng, đúng rồi” bà cụ nhã nhặn trả lời.

“Vậy ở trong gia đình này có bao nhiêu người vậy?”

“Cộng tất cả lại là năm.”

“Thế còn hai người nữa ở đâu?”

“Một người là đứa cháu tôi, nó vừa tròn một tuổi. Bây giờ nó đang ngủ. Người còn lại là con trai tôi. Nó đang ở trại ‘lao động’ vì cớ tin lành. Và đây là con dâu tôi.”

Khi Jian nghe thấy điều đó, anh không thể không thốt lên, “Chúa ơi, cuối cùng Ngài đã đưa con đến nhà người anh em Ming.” Bố mẹ anh Ming và vợ anh đều rất ngạc nhiên. Jian nói với họ, tại sao anh đến đây và có điều gì đã xảy ra dọc đường. Jian lấy bốn Yuan ra và đưa vào tay bà cụ và nói, “xin bà hãy nhận lấy và mua sắm gì đó cho ngày tết năm mới”. Xong rồi, anh đứng lên và bắt đầu ra về. Nhà họ Zhang không làm sao giữ anh ở lại được. Nên họ tiễn anh ra cửa và xúc động khóc.

Khi Jian về nhà, vợ hỏi, anh ở đâu vậy? “Anh có đem gì về cho năm mới không?” Jian nói với vợ điều đã xảy ra và cô kêu thốt lên. Lúc đó, chưa đến hai mươi tám tháng giêng, với hai Yuan còn lại, Jian mới ra đi và mua ít thịt mỡ cho năm mới.

Vào buổi tối hôm Jian trở về từ nhà anh Ming, anh có buổi nhóm tại nhà anh. Anh nói cho tất cả các anh chị em về gia đình anh Ming và nói “Chúng ta có thể bớt phần ăn đi, để có thể giúp đỡ gia đình anh Ming.” Mọi người đều xúc động. Vào ngày hai mươi tám tháng giêng, một nhóm anh chị em đến thăm gia đình anh Ming. Họ đem theo gạo, bột, thịt mỡ, muối và giấm. Khi đến nhà anh Ming, tất cả họ đều khóc. Khi ra về, có vài người đã để áo choàng của họ lại cho nhà ông Zhang. Đó là lần đầu tiên trong những năm qua, nhà ông Zhang có một năm mới hạnh phúc. Nhưng Jian có một ước mong chưa được thỏa nguyện. Đó là đến thăm anh Ming, là người đã bị đi cải tạo vì cớ Đấng Christ. Lúc đó là vào một ngày đẹp trời mùa xuân năm 1976. Anh Ming đang làm việc ở vườn rau. Khi nhìn lên, thấy những cây ăn trái, anh cảm thấy rất buồn. Anh suy nghĩ về Hội thánh ở thành phố ‘F’ và ở tỉnh ‘J’, về những anh chị em đang bị tù, về bố mẹ, vợ và con trai và anh không thể kiềm được nước mắt.

Sau đó, người lính canh đến nói với anh là anh có người đến thăm. Vì thế, Ming đến phòng tiếp khách. Khi Ming bước vào phòng khách, có một người đàn ông đi lại bắt tay anh thắm thiết và nói, xin chào anh Ming, tôi là Cheng Jian. Rất mừng được gặp anh. Tôi đã dự định đến thăm anh.

Ming đã được nghe về Jian và gia đình anh và các anh chị em khác, là những người nóng cháy vì Chúa. Bây giờ, Jian đã đi một đoạn đường dài để thăm anh, làm anh rất xúc động, nên anh đã đưa Jian ra vườn rau. Jian kể cho Ming tình hình Hội thánh ra sao và về lần đến thăm đầu tiên của anh tại gia đình Ming. Cả hai đều khóc. Trước khi anh ra về, Jian đã đưa cho Ming năm hào trong một túi nhỏ. Ming không hiểu tại sao lại như vậy, nên Jian đã nói với anh: “Trên đường đến đây thăm anh, tôi gặp một cháu gái chừng mười mấy tuổi. Gia đình và bố mẹ cháu đều không tin Chúa và cháu hay bị phạt khi đi nhóm về. Cháu luôn luôn cầu nguyện cho Hội thánh và cho những người đang bị tù vì cớ tin lành. Cháu mong ước được đến thăm anh, nhưng vì cớ gia đình và lý do tài chính, cháu không thể đi được. Cháu nói với tôi, hãy đưa cái này cho anh, đây là số tiền cháu dành dụm được.

Khi Ming nghe thấy điều đó, anh không cầm được nước mắt và nói “Tôi không thể nhận cái này được. Anh Jian, anh hãy lấy tiền đó và mua một cái khăn tay cho cô em gái chúng ta. Hãy nói với em, hãy dùng chiếc khăn tay để lau nước mắt mỗi khi em cầu nguyện và khóc.” Trên đường về, Jian đã làm như Ming bảo anh. Anh mua một chiếc khăn tay bằng số tiền của cháu gái. Nên cô em gái càng cầu nguyện khẩn thiết hơn và dùng chiếc khăn tay để lau những giọt nước mắt.

Jian thường xuyên đến thăm gia đình Ming cùng với các anh chị em khác. Anh luôn luôn đến đây để giúp đỡ họ trong vụ mùa và để an ủi gia đình Ming trong những ngày lễ hội. Vợ của Ming đã rất xúc động, nên cuối cùng cô đã tiếp nhận Chúa. Cho nên, có một sự phấn hưng trong gia đình của Ming trước khi Ming ra tù.

4. Quả thật các ngươi sẽ uống chén mà ta uống (Mác 10:39)

Vào một buổi tối mùa xuân năm 1978, trong khi Jian đang giảng ở một làng không cách xa nhà anh bao nhiêu, anh đã bị bắt cùng với tám mươi anh chị em khác. Họ bị nhốt chung trong một phòng của căn nhà hành chính của đội sản xuất. Những người trong làng đến tập hợp bên ngoài và đả đảo họ, dùng những lời lẽ thậm tệ. Nên Jian đã hướng dẫn những tín đồ hát tôn vinh Chúa.

“Chúa Giê-xu đến Ghết-sê-ma-nê; Những tên lính đến để bắt Ngài; Giu-đa đến để hôn Chúa…”

Sau khi họ hát được mấy câu, thì họ bắt đầu khóc. Họ vừa khóc vừa hát như vậy trong một tiếng rưỡi đồng hồ, và càng ngày hát càng to hơn.

Trước khi trời tối, có một cô bé mười ba tuổi đến với Jian và nói, “Bác ơi, cháu đến dự buổi nhóm sau khi học về. Còn bây giờ cháu đã bị bắt. Nếu cháu không về nhà được hôm nay, bố cháu sẽ đánh cháu, và cháu sẽ bị đuổi học nữa.” Khi cô vừa nói xong, cô lớn tiếng nói và khóc.

Cánh cửa bị khóa và bị gài then chốt kim loại bên ngoài. Anh không thể mở được bằng sức lực của mình. Cô bé càng khóc to hơn. Trong phòng có hơn ba mươi chiếc ghế. Anh tự nghĩ “Có thể dùng những chiếc ghế này đập cho cánh cửa mở ra.” Vậy nên, anh đã cầm chiếc ghế lên và chuẩn bị đập vào cánh cửa. Nhưng thình lình, một người anh em nói “Kỳ lạ chưa, cánh cửa đã mở ra!” Tất cả họ đều giật mình và ngợi khen Chúa, sau đó chạy ra khỏi phòng. Jian thì ở lại trong phòng, bởi vì phải có một ai đó chịu trách nhiệm cho những điều đã diễn ra, và một vài anh chị em cũng ở lại phòng với anh. Vào lúc đó, cómột ông bác sĩ đi qua. Ông là người rất có uy tín trong vùng. Khi ông thấy điều xảy ra, ông nói: “Tốt hơn hết là các anh hãy chạy đi, dại gì mà ngồi đây chịu hình phạt? Bên cạnh đó, tin Chúa Giê-xu không phải là một tội hình sự trầm trọng. Tại sao lại ở lại? Hãy chạy đi!” Vì thế, họ đã chạy. Khi họ rời khỏi văn phòng, lúc đó trời đã tối.

Vào buổi sáng hôm đó, đội sản xuất có một buổi họp đột xuất liên quan đến chuyện những Cơ-đốc nhân kia. Quyết định cuối cùng là những Cơ-đốc nhân bị phạt sẽ phải trả tiền xem phim cho cả làng trong một năm.

Khi họ đến chỗ những Cơ-đốc nhân bị nhốt, họ kinh ngạc vì thấy cánh cửa mở và không có một ai ở trong đó. Chỉ có hai người có chìa khóa vào phòng: một người là bí thư và người kia là kế toán. Cho nên ông bí thư đi với một số người đến nhà của người kế toán. Họ hỏi vợ của ông kế toán, “Ai là người mở cửa cho những Cơ-đốc nhân tẩu thoát?”

“Không phải là chúng tôi đâu. Chúng tôi không hề mở cửa cho họ. Chúng tôi vô tội.” Vợ ông kế toán kêu la như hô hoán. Bà cầm lấy cổ áo ông bí thư và dồn ông ra ngoài, bắt ôngthề giữa trời rằng họ vô tội. Ông phải nhờ những nhân viên đi theo để thoát khỏi tay bà.

Nên họ đã trở lại văn phòng, mệt lả người và nói với nhau: “Chúng ta sẽ làm gì với những Cơ-đốc nhân này? Đi ‘học tập’ không ăn thua vì bọn chúng không sợ roi vọt và tra tấn. Cách duy nhất để truy quét chúng.” Họ cùng đi đến một ý kiến rằng, nếu các Cơ-đốc nhân bị bắt trong một buổi nhóm, chúng phải tìm một cây roi và bắt họ đánh lẫn nhau.

Vào tháng bảy cùng năm đó, Jian phải đi lao động công ích ba mươi lăm ngày. Và người đội trưởng chỗ anh làm sẽ thi hành lệnh đó. Jian rất bất bình. Anh cầu nguyện với Chúa khẩn thiết. Chúa nói với anh “Ta biết sự khó khăn của con…” Anh được an ủi và sự bình an trở lại trong lòng. Sau đó anh nghe một giọng nói rõ ràng trong lòng “Ngày mười hai tháng tư.” Jian nói “Chúa ơi, con ngợi khen Ngài. Dù cho ngày đó có xảy ra điều gì, con đã sẵn sàng. Con vui mừng làm theo ý muốn Ngài.”

Thời gian trôi đi nhanh chóng. Chẳng bao lâu đến ngày mười hai tháng tư năm sau. Lúc đến chiều, Jian có buổi họp với các bạn đồng lao. Trong khi anh đứng lên để đọc Lời Chúa, những công an an ninh đã ập đến. Chúng đánh đập anh. Jian ngã xuống nền nhà, máu me bê bết. Sau đó, chúng đưa anh đến đồn công an. Trên đường lên đồn công an, đôi giày của Jian hay bị tuột ra ngoài, nên anh đã cúi xuống để buộc chặt lại. Khi tên chỉ huy công an thấy vậy thì la lên “Mày làm gì thế?” Tuy nó biết anh cúi xuống để buộc dây giày, nhưng hắn vẫn ra lệnh tháo giày Jian ra. Con đường đó vừa mới làm xong, trải đầy đá nhọn sắc. Phải đi trên đó thật là đau đớn và Jian gần ngất xỉu. Sau đó, anh đã nghĩ về Chúa: Về con đường của Ngài lên Gô-gô-tha, Ngài còn phải mang một thập tự giá. Jian nói với Chúa, “Chúa ơi, tuy con đường con đi khó khăn, nhưng không thể so sánh với con đường Ngài đã đi. Cái chén con uống tuy đắng, nhưng vẫn không thể so sánh với cái chén mà Ngài đã uống.” Khi anh cầu nguyện xong, những viên đá dưới chân anh trở nên rất mềm. Jian nhảy lên và kêu to ‘Ha-lê-lu-gia!’.

Cuối cùng, họ đến đồn công an an ninh, ở đó Jian bị hỏi cung. Anh không nói một lời nào, dù chúng có hỏi anh đến đâu. Tên chỉ huy công an rất giận dữ và ra lệnh đánh đòn anh. Vào lúc đó, có năm chị em tới, người lớn tuổi nhất chỉ mới mười chín. Họ đã cùng ở trong buổi nhóm của Jian vào buổi tối hôm đó và đã bị giải theo anh suốt dọc đường. Khi họ trông thấy Jian bị đánh, họ kêu lên, “Đấy là chúng tôi đề nghị anh ta giảng. Anh ta đã mắc tội gì? Nếu các ông muốn đánh anh ta, thì cũng hãy đánh luôn cả chúng tôi nữa.” Nên chúng đưa Jian qua một phòng khác và khóa cửa lại. Chúng còng tay anh lại đằng sau lưng và treo anh lên một xà nhà trong phòng. Nhưng mái nhà quá thấp và chân của Jian vẫn chạm được vào nền nhà. Nên chúng đã nghĩ ra cách tàn bạo hơn để làm cho Jian đau đớn. Chúng đã trói khuỷu tay Jian vào một xà nhà, sau đó buộc một cục đá to lên trên cây xà đó. Thật hết sức đau đớn. Anh tiếp tục cầu nguyện xin Chúa giải cứu mình. Cuối cùng anh ngất đi. Khi anh hồi tỉnh, lúc đó trời đã tối. Jian thấy mình vẫn còn ở trong căn phòng ngột ngạt đó và xung quanh có đầy muỗi. Anh suy nghĩ về đất nước mình và về sự nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời; anh nghĩ về những anh chị em bị bắt vì cớ Chúa; anh nghĩ về Hội thánh và sự bị cô lập. Anh nghĩ về nhiều anh chị em đã ngã xuống, anh không kìm được nước mắt và khóc thổn thức. Hai ngày sau, Jian bị bắt phải làm việc. Anh bị bắt phải gánh cát để đắp đường. Nhưng vết thương anh chưa lành hẳn, nên anh đã ngất xỉu.

5. Còn ngươi hãy vững lòng bền chí

Đó là vào đêm mùa đông lạnh giá năm 1979; anh Ming vừa ra khỏi tù và đang giảng ở một buổi nhóm ở trong một làng kia. Jian cũng có mặt ở đó; anh là người hướng dẫn buổi thờ phượng. Chỗ nhóm chật ních người. Khi Jian đi vào, anh thấy có một nhóm người đang tán chuyện làm anh rất ngạc nhiên. Anh hỏi một người chị em, “Có điều gì xảy ra thế? Tại sao họ lại không hát?” Người chị em trả lời, giọng thì thào “Có một đảng viên đang ngồi đàng trước kia.” Jian bèn đi lên và ngồi bên cạnh ông ta. Anh tự nghĩ, “Nếu ông ta đứng lên làm mất trật tự buổi nhóm, anh sẽ kéo ông ta xuống.”

Jian đứng lên và hướng dẫn mọi người hát tôn vinh:

“Nguyện hết thảy cừu địch Ngài đều hư mất như vậy!
Nguyện những kẻ yêu mến Ngài được giống như mặt trời, khi mọc lên rực rỡ.”
(Các quan xét 5:31)

Khi họ vừa hát xong, Jian hướng dẫn họ cầu nguyện. Sau đó anh nói “Bây giờ chúng ta sẽ dâng thời gian còn lại cho đầy tớ Chúa là anh Ming” Nên Ming đã đứng lên, đi về phía trước và bắt đầu giảng. Anh giảng về sự tái lâm của Chúa và những dấu hiệu xảy ra vào thời kỳ cuối cùng. Khi họ đang lắng nghe bài giảng của Ming, thì ông đảng viên đứng lênnói “Hãy ngừng lại và đi theo tôi!” Ông nắm cổ áo Ming và tìm cách lôi anh đi. Vào ngay lúc đó, Jian chạy lại và dùng hết sức ôm chặt lấy ông ta. Jian siết chặt ông ta đến nỗi ông ta không cựa quậy được. Vào lúc đó, anh Ming đã chạy thoát. Thế nên ông càng tức giận; ông thét vào Jian, “Tôi biết anh làm gì rồi!”

Jian đáp thẳng thừng “Tôi cũng biết ông làm gì chứ! Tôi biết động cơ của ông!”

“Tôi biết động cơ của ông!” Jian nói tiếp, “Ông chỉ bắt bớ những Cơ-đốc nhân chúng tôi;đó là tất cả những gì ông làm. Ông chỉ đến ngăn cản những buổi nhóm chúng tôi, nhưng chúng tôi không bao giờ ngăn cản ông. Đó là loại chính sách gì vậy?”

“Tôi là một đảng viên, anh phải nghe theo tôi!”

“Không, chúng tôi không nghe theo các ông; chúng tôi chỉ nghe theo Chúa mà thôi.”

Sau khi Ming đã chạy khỏi, Jian buông ông đảng viên ra. Sau đó anh hướng dẫn mọi người tiếp tục hát tôn vinh. Và rồi anh kết thúc buổi nhóm.

Tất cả đều trở về nhà; không một ai để ý đến ông đảng viên. Ông ta giận điên người và hăm dọa rằng “Hãy đợi đấy!”

Vào ngày hôm sau, đội sản xuất đã tố tụng các Cơ-đốc nhân lên cho công an an ninhhuyện. Mấy ngày sau, ông cán bộ đảng đó đã đi với một toán lính đến nhà của Jian. Ông ta cười vỗ vỗ vai Jian và nói “Hôm nay tôi mời anh lên uống nước chè với tôi; hãy đi theo tôi.” Sau đó, ông bảo với những kẻ đi cùng, “Hãy trói hắn lại!” Jian bị bắt giải lên văn phòng đội sản xuất; khi ông bí thư chủ tịch trông thấy anh, ông quát vào mặt Jian “Có phải anh là thằng Jian khốn kiếp đó phải không?”

Jian vẫn tỉnh khô. Ông cán bộ đảng liền điên tiết đánh vào trán Jian “Đồ khốn nạn, đất nước chúng ta thật vững mạnh và hùng cường; con người sống một đời sống rất sung sướng, không ai bị đau khổ. Tại sao mày lại tấn công đất nước chúng ta?” Jian thấy kinhngạc. Anh không hiểu điều ông ta nói. Ông bèn tát má Jian và nói “Đừng giả vờ nữa! Mày là đứa đã lãnh đạo sự cầu nguyện trong buổi nhóm ở làng Guo.”

“Đúng thế,” Jian trả lời.

“Sau khi cầu nguyện xong, mày nói ‘bây giờ chúng ta dâng thời gian còn lại cho những sự đau khổ.’” (Chữ đầy tớ và đau khổ phát âm gần giống nhau.)

“Không, tôi không hề nói như vậy.”

“Mày còn dám cãi nữa à! Đến khi chúng ta có tất cả các bằng chứng, thì mày liệu hồn.”Ông cán bộ đảng chạy lại và đấm vào đầu Jian. “Chính tai tao đã nghe mày nói, hiểu chưa.”

Lúc đó Jian mới vỡ lẽ điều ông ta nghĩ; anh nói: “À, tôi hiểu ra rồi, tôi có nói, ‘Bây giờ chúng ta sẽ dâng thời gian còn lại cho đầy tớ Chúa’, chứ không phải là cho những sự đaukhổ.” ông đã nghe nhầm điều tôi nói. Ông bí thư chủ tịch, có nhiều kinh nghiệm trong việc xử trí với Cơ-đốc nhân, và ông có một vài kiến thức về từ ngữ của họ hay dùng. Saukhi Jian giải thích, ông bắt đầu hiểu. Nên ông nói: “Thôi được rồi. Ông X đã nghe nhầm. Nhưng tên đầy tớ có nghĩa là gì vậy?”

Jian đáp: “Tên gì mới được chứ? Đầy tớ là một đầy tớ. Một tên đầy tớ là một đầy tớ. Nó còn có tên nào khác nữa.”

Ông bí thư chủ tịch rất thất vọng; ông nghĩ, Jian chỉ là một gã nông dân dốt nát. “Đồ ngu! Mày mà cũng không biết đầy tớ có nghĩa gì à. Mày là loại người giảng đạo gì vậy?” Nên ông đã thôi không theo đuổi sự việc thêm nữa. Nhưng ông căm ghét Đức Chúa Trời và những Cơ-đốc nhân, và ông bắt đầu nói phạm thượng Đức Chúa Trời và sự giáng sinh của Chúa Giê-xu bởi nữ đồng trinh. Jian tức giận; anh đứng lên và đập tay vào bàn. Anhmắng ông chủ tịch, “Ông hãy câm đi! Đừng nói xúc phạm đến Đức Chúa Trời của tôi!Ông nói tôi không biết gì. Nhưng còn ông thì biết những gì? Thậm chí ông còn không biết chính sách của đảng nữa kìa.”

Ông chủ tịch thẹn tím mặt; ông thuỏng cho Jian một cái tát. “Được. Hãy nói cho tao biết đi, mày biết điều gì?” Những tiếng nguyền rủa và nạt nộ phừng phừng kéo theo, nhưng Jian là một con người vui tính; ở ngay trong hoàn cảnh đó, anh đứng thừ người và cảmthấy buồn ngủ. Khi ông bí thư chủ tịch thấy như vậy, ông càng tức giận hơn. Ông lại tát vào mặt Jian. Jian vẫn đứng như vậy và gật gù buồn ngủ. Cuối cùng anh cũng được thả ra.

Vào một ngày mùa đông đổ tuyết khác năm 1978, Jian thức dậy vào buổi sáng sớm để cầu nguyện giữa trời tuyết. Anh tự nghĩ, “Thật là một cơ hội quí giá để ra đi giảng tin lành.” Bình thường, nếu anh đi ra truyền giảng, anh phải xin phép đội trưởng sản xuất cho nghỉ mấy ngày. Bởi vì trời tuyết, nên anh không phải làm thế; anh cứ việc đi. Khi Jian đi vào nhà lấy Kinh thánh, con trai anh nói “Bố ơi, bố cho phép con nói điều này không?”

“Tất nhiên rồi, điều gì thế con?”
“Nếu bố đi lần này, bố có thể mua cho chúng con một cái bơm máy được không?”
“Để làm gì thế con?”
“Bởi vì bố và mẹ thường hay bị bắt và bị nhốt trong tù, và chúng con thì còn nhỏ. Nếu
chúng con đi lấy nước, chúng con rất khó khăn. Nếu bố có thể mua cho chúng con một
cái bơm, và chúng ta có thể đào một cái giếng trước sân nhà. Để cho, nếu lần sau bố bị
bắt, chúng con vẫn có nước uống.”

Jian rưng rưng nước mắt; anh nói trong thâm tâm “Chúa ơi, con cám ơn Ngài, vì ngay cả con trẻ cũng biết sự bắt bớ gian khổ là gì.” Jian đi lên tỉnh, anh tìm mua một cái máy bơm. Bây giờ chính quyền biết Jian là một con người có nhiều ảnh hưởng và anh sẽ không chịu luồn cúi, nên họ đã nghĩ ra một mưu kế. Cơ quan huyện gởi cho anh một lá thư mời anh đến dự một buổi họp cấp huyện và trở thành một thành viên của ủy ban. Khi đội sản xuất nhận được lá thư, họ đã ghen tức: “Cái gì? Mời tên Cơ-đốc nhân này lên họp trên huyện à?” Họ không biết làm gì hơn là tuân theo mệnh lệnh. Nên họ đã cử hai đảng viên đưa lá thư đến cho Jian.

Khi họ đến nhà của Jian, họ nói rất từ tốn. “Anh đến dự cuộc họp trên huyện là một vinh dự đối với chúng tôi. Anh phải cố gắng và nói là chúng ta đã làm việc tốt ra sao.” Jian cầm lấy lá thư và đọc, để sang một bên và nói, “Tôi chỉ là một nông dân, làm sao tôi có thể là một thành viên ủy ban được?”

Họ đến với Jian ba lần bốn lượt, nhưng Jian vẫn phớt lờ. Cuối cùng, chính quyền huyện đã gọi điện thoại cho đội sản xuất bảo phải làm sao cho Jian đến cuộc họp trên huyện. Nhưng Jian vẫn không chịu đi. Nhà cầm quyền tức giận và cử một cán bộ đến gặp riêng Jian.

Đội sản xuất gọi Jian lên, nhưng Jian từ chối không lên. Anh nói: “Tôi phải làm mấy thứ đồ gỗ, phải đến một thợ mộc, nên không đi được.” Người cán bộ rất bực mình.

“Họ đã cử một cán bộ để đến gặp anh và anh vẫn không chịu đi. Anh…”

Jian tiếp tục nói, “Nếu có điều gì cần thiết, hãy nói với ông ta đến thẳng nhà tôi.” Ông cán bộ không biết làm gì nên ra về.

Sau đó, ông ta đến nhà Jian cùng với các nhân viên. Jian đứng dậy và để cho những nhân viên ngồi trên chiếc giường gãy của mình. Người cán bộ thấy khó chịu và một lúc lâukhông nói được câu nào. Sau đó Jian nói với ông ta một cách đàng hoàng “Ông muốn gì ởtôi?” Ông cán bộ nhìn vào Jian và hỏi anh, “Anh có nhận được ‘Mười không’, mà chúng

tôi đã đưa cho anh chưa?”
“Chưa,” anh trả lời.
Ông cán bộ đảng xen vào, “Chúng tôi đang lược thảo. Nhưng chúng tôi rất bận; chúng tôi

vẫn chưa đưa.”

“Tôi chưa nhận được; tuy nhiên, tôi có nghe nói về những điều đó. Có phải trong đó nói
rằng không ai dưới mười tám tuổi được trở thành Cơ-đốc nhân không?”
“Đúng thế.”
“Không được cầu nguyện cho người bệnh? Không được đuổi quỉ?”
“Đúng y như vậy.”
“Tôi không cần biết là có bao nhiêu không trong đó, nhưng vừa mới xem những điểm đầu

tiên, tôi không thể chấp nhận được.”
“Anh dám bài bác sao?”
“Không, đó không phải là bài bác. Hãy để cho tôi hỏi các ông: Tôi có năm đứa con, đứa

lớn nhất vừa mới mười tám. Chúng tôi có năm buổi nhóm chiều mỗi tuần. Vào mùa xuân trời hay mưa, mùa thu trời gió và mùa đông thì lạnh. Tôi có thể nào để con tôi ngoài trời và để chúng đợi đến khi buổi nhóm kết thúc chăng? Nếu các ông là tôi, các ông có làm như vậy không?”

Ông cán bộ câm tịt, nên ông đã thay đổi đề tài. Và ông hỏi Jian, “Tại sao anh lại không

đến cuộc họp trên huyện?”
“Tôi không thể chấp nhận ‘mười không’ của các ông được! Và đó là lý do tại sao tôi lại
không đi.”

“Đó không phải là chúng tôi đưa nó ra; nhưng là do một mục sư trong tỉnh đề ra. Ông ta
biết Kinh thánh giỏi hơn anh.”
“Ông ta có tin Chúa Giê-xu không?”

“Tất nhiên rồi. Làm sao ông ta là mục sư mà không tin Chúa Giê-xu được?”
“Không, tôi không tin là ông ta tin Chúa Giê-xu. Vì trong Kinh thánh chỉ có ‘mười điều
răn’ thôi; chứ không có cái gì gọi là ‘mười không’ cả. Tôi phản đối kịch liệt loại giả hình
tôn giáo này.”

“Tôi không tranh luận với anh. Lý do tôi đến đây hôm nay là mời anh tham dự nhà thờ ba độc lập của chúng tôi và ủng hộ công việc của chúng tôi.”

“Trong Kinh thánh không có loại nhà thờ ‘ba độc lập’ nào cả, và tôi sẽ không đi theo.”

“Liên kết với chúng tôi không có nghĩa là anh không được cầu nguyện hay nhóm họp. Thế thì tại sao anh lại không nghe chúng tôi?”

“Chúng tôi chỉ nghe theo Đức Chúa Trời, chứ không nghe theo con người.”

Ông cán bộ trở nên giận dữ và ông nói: “Nếu không liên kết với tổ chức tôn giáo của chúng tôi, tất cả mọi buổi nhóm trong nhà anh đều là bất hợp pháp và sẽ bị đình chỉ.”

“Không, chúng tôi không ngưng nhóm. Kinh thánh không nói bỏ sự nhóm họp lại với nhau.”

“Nếu anh không ngừng lại, anh sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm hình sự trong làng.”

“Nếu đó là lý do an ninh, thì các ông hãy ngưng chiếu những loại phim ảnh và các cuộc chơi. Chúng tôi chỉ ngừng nhóm khi những cái đó cũng ngưng.”

Mười ngày sau, ông chủ tịch gọi Jian lên văn phòng đội sản xuất và nói: “Lần cuối cùng tôi thông báo cho anh biết rằng không được sự chấp thuận của chúng tôi, tất cả những buổi nhóm trong nhà anh là bất hợp pháp. Tại sao ông lại không thể nghe theo và ngừng nhóm đi?”

Jian tươi cười, “Ông có nhớ sự thỏa thuận của chúng ta không? Chúng tôi chỉ ngừng nhóm lại khi mọi hoạt động khác trong làng cũng bị ngừng. Đó là ông đã vi phạm sự thỏa ước giữa chúng ta, không phảo tôi. Tại sao ông lại có thể trách tôi vì điều đó?”

Ông chủ tịch nghiến răng và nói: “Những người cộng sản cuối cùng cũng sẽ giỏi hơn anh. Anh hãy đợi đấy!”

“Được, nếu ông cứ vô lý như thế, tôi nghĩ rằng tốt hơn hết là tôi ra về.”

“Anh sẽ phải chịu hoàn toàn hậu quả.”

“Đức Chúa Trời của tôi sẽ chịu những hậu quả.” Jian trả lời to, sau đó anh đã ra về và không thèm ngoái đầu lại. Cuối cùng họ đã trình thưa trường hợp của Jian lên công an an ninh ở thành phố ‘B’.

6. Thế gian không xứng đáng cho họ (Hê-bơ-rơ 11:38)

Vào một ngày kia, Jian nghe thấy một giọng nói rõ ràng trong lòng anh, “Con phải rời khỏi gia đình trong vòng ba ngày.” Vào buổi tối hôm đó, trong khi Jian đang giảng, Chúa lại nói với anh lần nữa, “Hãy chọn một ai đó để đảm trách công việc của con; hãy khăn gói và đi càng sớm càng tốt.”

Sau buổi nhóm, Jian gọi tất cả các anh em nhân sự lại và nói với họ. Sau khi đã thực hiện xong sự xếp đặt, họ cùng dâng Jian lên cho Chúa và khóc. Sau đó, họ đều ra về. Đến khi Jian về nhà, anh đem theo một ít đồ đạc: một quyển Kinh thánh và một vài quyển ghi chú. Sau đó, vợ và các con tiễn anh ra cửa. Lúc Jian ra đi, trời đã tối đen như mực.

Ba ngày sau, một chiếc xe công an đến đậu trước cửa nhà Jian. Một số công an và một toán binh lính đã đi thẳng vào nhà. Họ lục soát căn nhà, nhưng không tìm thấy Jian. Nên họ đã hỏi cung vợ Jian và các con, nhưng tất cả đều nói không biết Jian ở đâu. Sau đó, họ quay sang đứa con gái của Jian, mười ba tuổi. Họ xách tai đứa bé lên và hỏi “Bố mày ở đâu?” nó trả lời “Tôi không biết!” Chúng tát má cháu; máu mồm và máu mũi chảy ra. Một tên trong bọn định treo cháu lên, nhưng cháu rất nhanh chân chạy vụt ra khỏi nhà, trước khi chúng có thể bắt được, cháu đã chạy trốn xuống một cái hố. Nước ở đó ngập sâu và bẩn, nên chúng không hành hạ cháu nữa và bỏ đi.

Kể từ ngày đó, Jian sống trốn tránh trong hai mươi mốt tháng. Anh Ming, chị Bài và một vài anh chị em khác nữa cũng như vậy. Họ thuòng ngủ đêm trên đồi, trong rừng, trong bụi cây và trên những cánh đồng. Họ phải chịu giá lạnh và gió rét và bị muỗi cắn. Họ không thể đến nhà của những tín đồ trước khi trời tối. Và Chúa luôn luôn giải phóng họ khỏi tay kẻ thù. Họ và công an cứ giống như chơi trò ‘ú tim’. Bất kỳ lúc nào có cơ hội, họ đều giảng tin lành và nhắc nhở anh chị em hãy phục vụ Chúa hết lòng.

Có một thời kỳ, công an an ninh đã đuổi sát gót họ; họ dường như thở không kịp. Nên họ đã đến một thị trấn có tên ‘He-Ping’ thuộc tỉnh ‘R’. Tình hình an ninh ở đây rất căng thẳng, nên các anh chị em không dám đón tiếp họ. Không thể đi đâu được, nên họ đã ra một chuồng ngựa. Thấy đâu cũng có phân ngựa; thậm chí không thể tìm được một chỗ để đứng. Cuối cùng, họ nhặt được một ít rơm, rồi chui vào đó mà ngủ. Trời càng khuya càng trở nên lạnh, họ đều run rẩy. Nên họ đã quyết định đi ra khỏi chỗ đó và chạy bộ để chống lại cơn lạnh. Trong khi đang đi ngoài đường, họ gặp anh Ming và anh Yun. Và họ đã cùng chạy với nhau rời khỏi tỉnh ‘R’.

Khi họ đến một vùng có tên là Liu Shan, Jian muốn đến thăm một người bà con ở đây và để xem gia đình họ sống ra sao. Anh Ming biết rằng gia đình này vì cớ Jian mà sẽ chịu nhiều khó khăn, nên khuyên Jian phải trở về sớm và không ngủ đêm lại đó. Khi Jian đến nhà người bà con, anh được tiếp đón nồng hậu, họ không muốn để cho anh đi, nên Jian đã ở lại. Vào nửa đêm, khi Jian đang ngủ, thì những người bên công an an ninh ập đến, họ bao vây căn nhà và lục soát từng phòng. Ở trong nhà có bốn phòng. Khi họ lục soát đến phòng thứ ba, Jian rất sợ hãi, nên anh đã giao phó mình trong tay Chúa. Sau đó anh nhận thấy có một cái hòm bên cạnh chiếc giường. Nên anh đã giở nắp ra lấy chăn chiếu trong đó để lên giường và anh thì chui vào trong hòm và đậy nắp lại. Khi Jian trốn xong thì các tên công an vào. Họ quét đèn pin tìm anh mọi nơi. Một trong những tên đi theo đã lấy gậy đập trên nắp rương. Jian sợ là chúng sẽ giở nắp rương, nhưng chúng đã không làm điều đó. Sau đó một lúc chúng bỏ ra về.

Sau khi những công an an ninh đã ra về, những người họ hàng của Jian đã chạy vào tìm anh. Họ tìm anh trong mỗi căn phòng, nhưng không thấy anh đâu. Jian không biết đó là họ, nên anh không dám cựa quậy. Sau đó bà cụ vào lo lắng nói, “Anh ta đi đâu rồi kìa?” Jian nhận ra đó là bà cụ, bèn nói, “Cháu ở đây. Họ đã đi khỏi chưa?” và anh đứng dậy. Khi họ thấy anh. Họ thật sung sướng và ngợi khen Đức Chúa Trời. “Đúng là chúng tìm chúng tôi; tốt hơn hết là tôi phải đi và báo cho các anh em biết.” Nên Jian đã chạy bộ ba mươi cây số và cuối cùng tìm đến chỗ Ming và những người khác ở và họ đã chạy ra cánh đồng ngủ đêm ở đó.

Vào một buổi tối, Jian trở về nhà và ở đó ba ngày. Ban ngày, vợ anh và các con đi ra đồng làm việc và cửa nhà thì khóa. Những lúc anh ho hay hắt hơi, anh phải trùm chăn lại; và anh cảm thấy rất cô đơn. Vào buổi tối thứ ba, Sa-tan đã đến tấn công anh. Trong khi anh đang ngủ, có một con chuột cống đã đến cắn vào cánh tay anh, làm thương một cái gân tay và chảy máu rất nhiều. Chỗ chảy máu không cầm lại được. Cả gia đình anh quì gối xuống cầu nguyện và kêu cầu lên Đức Chúa Trời; thình lình máu ngưng lại. Nhưng tay của anh vẫn bị sưng và rất đau.

Jian trở lại chỗ Ming và những người khác. Anh đi đến nhiều nơi. Bất kỳ nơi nào anh đi, anh đều gây dựng Hội thánh và tìm cách trốn tránh công an an ninh.

7. Họ được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Chúa (Công vụ các sứ đồ 5:4)

Jian, Ming, Yun và một vài người khác đã tổ chức một lớp huấn luyện vào tháng giêng năm 1984. Vào buổi tối đó anh đi ra sân đằng sau nhà; anh quì gối xuống tuyết và cầu nguyện. (Sự kiện này được nhắc lại trong câu chuyện ‘Người Công Dân Thiên Quốc’) Chúa đã chỉ cho anh rất rõ là trong ba ngày nữa, một vài người trong số họ sẽ bị bắt.

Vào buổi sáng thứ ba, khi họ đang nhóm lại với nhau, Jian đứng lên và nói: “Hôm nay có vài người trong chúng ta sẽ bị bắt vì cớ Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện dốc đổ cho những người đó.” Vào buổi tối đó, Jian, Yun và ba người khác đã bị bắt trên đường về nhà sau buổi nhóm.

Công an đánh Jian bằng một cây gậy, nhưng kỳ lạ là anh không cảm thấy đau đớn gì. Khi họ thấy những cây gậy giáng trên người không ăn thua gì với Jian, chúng đẩy anh xuống nền nhà và trói quặt tay anh đằng sau lưng. Từ khi anh bị chuột cắn, cánh tay anh vẫn còn bị thương, nên nếu anh bị trói ngoặt lại như vậy, rất có thể anh sẽ bị tật nguyền. Điều kỳ lạ là tay phải của Jian bị vết thương bấy lâu nay, sau khi anh bị trói đã không bị đau nữa.

“Anh đến từ đâu?” Chúng hỏi anh.

“Tôi đến từ thành phố ‘F’”. Tôi chỉ đi ngang qua đây. Khi tôi thấy có buổi nhóm ở đây, tôi mới vào xem.” Jian trả lời.

“Buổi nhóm ở đâu, hãy đưa chúng tôi đến đó.” Chúng ra lệnh cho anh, nên Jian đã đưa họ đến một trường trung học và đứng bên ngoài.

“Đây, đây là địa điểm.” Các công an an ninh và binh lính nhảy xổ vào trong. Có một nhóm thầy giáo đang chuẩn bị giáo án. Khi họ thấy công an đi vào thì một người đứng lên hỏi “Các anh làm gì ở đây?”

Công an an ninh tỏ ra rất bực tức; nên chúng càng đánh Jian nhiều hơn. “Hãy khai ra đâu là chỗ nhóm lại? Nếu mày không nói cho chúng tao biết, chúng tao sẽ giết mày!” Jian muốn cho các anh em biết là công an an ninh đến nên đã lớn tiếng nói: “Tại sao các ông lại đánh tôi như vậy? Tôi đã quên họ nhóm lại ở đâu rồi.”

Cùng lúc đó, Yun đã được các công an giải đến. Nên anh đã la to, “Tôi đến từ thiên quốc; tôi không biết họ nhóm lại ở đâu.” Các anh chị em ở nơi nhóm lại nghe thấy tiếng nói của Jian và Yun, nên họ đã dời sang nơi khác ngay. Công an biết rằng họ đã bị lừa, nên rất tức giận. Chúng nói “Thôi bây giờ hãy đi, về đồn, chúng mày sẽ biết tay.” Chúng đẩy Jian lên chiếc xe tải. Bởi vì tay Jian bị trói, anh đã bị tuột xuống và ngã xuống tuyết. Bọn lính xốc anh lên và quẳng anh lên thùng xe. Đầu anh đập vào thành xe, anh bất tỉnh. Khi những anh chị em thấy điều đó, họ rất đau buồn và khóc; họ không dám nói một lời nào.

Chúng đưa Jian và ba anh em kia đến đồn công an Shi Lin. Khi họ đến, Yun đã có mặt ở đó; tất cả đều bị còng tay. Năm người họ run rẩy vì trời lạnh, nên họ đã quì gối xuống cầu nguyện, và họ đã cầu nguyện dốc đổ.

Sáng sớm hôm sau, họ bị đưa ra sân sau để xúc tuyết. Sau đó, Jian,Yun và một anh em bị đưa đến nhà tạm giam. Ở đó đã có tám người. Khi cai tù thấy hai người mới đến, hắn chống nạnh, nhìn họ gườm gườm. Hắn thét lên rằng “Hãy lại đây!” Jian và Yun vâng lời, sau đó hắn nói: “Bây giờ tao sẽ cho chúng mày làm vài việc – đó là ‘câu cá’ và ‘chạy xe máy’.”

Cái gọi là ‘câu cá’, là một hình thức tra tấn rất dã man. Tù nhân phải lấy một cọng rơm cho vào miệng và nhúng vào thùng nước tiểu. Sau đó phải thổi thành những cục bong bóng cho đến khi nước tiểu bắn đầy mặt. Tên cai ngục cứ cười và diễu cợt, “Chúng mày có nhận được gì không?” Loại hình tra tấn thứ hai ‘chạy xe máy’ là: tù nhân phải ngồi chồm hổm, giống như ngồi trên ghế, và giơ hai tay ra, phải làm tiếng còi xe lửa hú. Nếu ai không làm được, hay ngừng làm, sẽ bị hình phạt nặng nề. Chao ôi! Đã có bao nhiêu đầy tớ trung tín của Chúa đã bị làm nhục và hành hạ ở đây. Quả thật, thế gian không xứng đáng cho họ. Tên cai ngục ra lệnh cho những tù nhân khác đánh Yun. Sau khi Yun bị đánh, anh ngã xuống nền nhà. Còn những tù nhân khác thì đạp lên anh. Máu chảy xối xả từ miệng; anh như là gần chết.

Đầu tiên Jian và Yun giả vờ họ không biết nhau. Nhưng khi Jian thấy Yun bị đánh quá chừng, anh không thể giả vờ được nữa. Anh chạy lại với Yun, đỡ anh và khóc. Anh xin Chúa hãy an ủi và che chở Yun, và anh đã chùi máu đang trào nơi miệng Yun.

Sau đó ít ngày, những tù nhân thấy Jian thật dễ mến và dễ gần, họ bắt đầu thích anh và họ nói anh hãy hát cho họ một bài hát. Nên Jian đã bắt đầu hát và anh đã chia xẽ tin lành cho họ, trong khi đó Yun cầu nguyện dốc đổ cho họ. Họ đã làm điều đó trong ba ngày liền. Vào ngày thứ tư, Jian bắt đầu hát, sau khi anh đã thức dậy:

“Hôm nay là một ngày tuyệt vời;
Là ngày Chúa đã dựng nên;
Ngài dọn bàn cho tôi trước mặt kẻ thù nghịch tôi.
Ngày hôm nay Chúa ở với tôi.”

Những tù nhân khác chú ý lắng nghe; dường như họ hiểu những gì Jian đang hát. Sau khi ăn sáng, xe công an đến đưa Jian đi. Những tù nhân khác rất ngạc nhiên, họ nói với nhau,“Ô! Thật con người này là cái gì đó; Nó hát về một ngày tuyệt đẹp hôm nay và bây giờ thì được thả ra!” Họ bắt đầu suy nghĩ về những gì Jian đã chia xẽ với họ trong những ngày vừa qua và một vài người trong số họ đã tiếp nhận Chúa.

Trong lúc đó, thì công an an ninh đã khóa còng tay và xiềng chân Jian lại và trói anh vàoghế xe công an. Họ đi chưa được bao xa thì chiếc xe bị hỏng và dừng lại. Ông chỉ huyquát vào mặt Jian, “Tao cấm mày chạy!” Jian tươi cười “Ông có đùa không? Tôi bị còng tay và xiềng chân, lại bị trói chặt vào ghế xe, làm sao tôi có thể chạy được?”

Tên chỉ huy tức giận và nói: “Cấm mày cười! Chúng tao phải tốn vài nghìn Yuan để bắt mày, và bây giờ thì cái xe bị hỏng; mày phải trả giá cho mọi cái.”

Jian mỉm cười nói: “Tôi không đòi hỏi ông làm điều đó. Đó không phải là lỗi tại tôi.”Ông chỉ huy lấy ra một cái roi kim loại và ném vào Jian. Jian quay đầu để tránh, nhưng anh không thể tránh được, nó đã đập vào trán và trán anh bị thương nhẹ và bắt đầu chảy máu.

Trong lúc đó có một đám đông vây xung quanh họ. Vài người thì nguyền rủa và nhổ nước miếng vào anh, nhưng những người khác thì chỉ tay vào công an và nói, “Người gì mà vô nhân đạo quá.” Công vụ 5:41 liền đến trong tâm trí anh: “Hãy vui mừng vì họ đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Chúa.” Jian mỉm cười. Những người xung quanh thấy rất kinh ngạc và nói, “Người này là giống gì vậy?” Có nhiều cặp mắt nhìn vào, ông thủ trưởng không biết phải làm gì. Nên đến khi chiếc xe đã sửa được, họ liền chạy mất.

Chiếc xe chạy đến và đứng bên ngoài cổng nhà tù. Những tên lính canh gác đẩy Jian xuống khỏi xe và ông chỉ huy hỏi anh “Anh có biết chỗ này không?”

“Không”

“Không? Đây là nhà tù nổi tiếng ở thành phố ‘F’, và đây là chỗ của anh.”

“Chỗ của tôi? Ha,ha!”

“Đừng có mà tẩu thoát! Nếu mày chạy trốn, mày sẽ chết ở đây!”

Không khí trong nhà tù rất căng thẳng đến nỗi kẻ mới đến không dám thở. Jian bị lục soát khắp thân thể, cả thắt lưng và dây giày của anh cũng bị tịch thu. Jian bị đưa đến một căn phòng và một tù nhân già ở đó nói với anh rất nghiêm túc “Anh đừng tin những gì họ nói, anh phải nói sự thật.” Jian mỉm cười và nói “Xin cám ơn về sự quan tâm của ông. Tôi tin vào Chúa Giê-xu, không có gì để giấu cả. Bên cạnh đó, Chúa của tôi sẽ lo cho tôi.”

Vào buổi chiều hôm đó, Jian bị tra khảo. Họ hỏi anh về Hội thánh ở huyện ‘B’. Jian dạn dĩ và can đảm; anh sử dụng sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh ban cho anh để trả lời những câu hỏi. Chúng cởi áo anh ra và đánh đòn anh. Anh nghiến răng chịu đựng và không hé môi kêu chút nào.

Những kẻ tra tấn điên khùng đó dùng mọi loại tra tấn để hành hạ anh. Khi chúng dùng một thanh sắt nung đỏ để gí vào thân thể anh, anh không thể chịu được. Anh kêu lên “Cha ơi, xin hãy giải cứu đứa con của Ngài!” Sau đó anh ngất đi. Một xô nước lạnh xối lên anh, Jian hồi tỉnh trở lại. Sau đó lại là sự tra khảo và tra tấn tiếp tục. Điều đó lặp đi lặp lại năm sáu lần; Jian bị thương nặng.

Bảy tháng trôi đi. Vào một đêm Chúa chỉ cho Jian. Khi cây cối bắt đầu đâm chồi, con sẽ rời khỏi đây. Mùa đông đã đi qua, mùa xuân đã đến. Hằng ngày Jian nhìn ra cửa sổ xem cây cối có đâm chồi chưa. Đó là một ngày đẹp trời, buổi sáng còn mờ mờ và mặt trời vừa mới chiếu những ánh đầu tiên. Jian đã quì gối trong xà-lim cầu nguyện mấy tiếng đồng hồ. Khi anh mở mắt ra, thấy ánh sáng chiếu rạng và anh đứng lên, vỗ tay và ngợi khen Chúa. Bỗng nhiên anh nhìn thấy một cành cây vắt ngang qua cửa sổ và bắt đầu đâm chồi nẩy lộc.

Nước mắt rưng rưng và anh nói thầm “Chúa ơi, con ngợi khen Ngài. Tuy con không biết điều gì xảy ra phía trước, con xin phú thác mọi sự vào tay Ngài. Chúa ơi xin hãy gìn giữ con.” Trong những ngày sắp tới, Jian bị kết án tù hai năm vì đã gây rối an ninh quốc gia.

Jian bị bắt đưa đến trại cải tạo ở Xin-Yan. Đó là một trại cải tạo khét tiếng trong tỉnh. Ở đó tù nhân bị hành hạ tàn bạo. Mỗi tù nhân chỉ được phát cho một bát cơm mỗi ngày và phải làm việc nặng nhọc mỗi ngày trên mười hai tiếng. Đó là lý do tại sao các tù nhân rất gầy ốm. Ngoài ra, họ còn bị đánh đập và tra tấn nữa.

8. Ngài bẻ ra…, đưa cho các môn đồ và họ ăn (Lu-ca 9:16,17)

Bạn càng luyện vàng bao nhiêu, nó càng trở nên tinh ròng bấy nhiêu. Tuy mỗi ngày thể lực Jian càng trở nên yếu hơn, nhưng trái tim anh càng ngày càng được đổi mới và anh càng trở nên mật thiết với Chúa hơn. Jian không bỏ lỡ một cơ hội nào để bày tỏ tình yêu đối với mọi người và cứu vớt những linh hồn.

Trong phòng anh có hơn hai mươi người. Anh vui tính và dễ gần, và những tù nhân khác nhìn vào anh như nhìn thấy một người cha. Bởi vì nhân cách đôn hậu của anh mà có nhiều người đã tiếp nhận Chúa.

Hai năm trôi qua, trước khi Jian được thả ra, anh được gọi lên. Họ nói với anh “Mọi người đều được thay đổi mỗi khi họ ở đây. Bây giờ anh đã ở đây hai năm, anh có thay đổi không?”

Jian tươi cười trả lời “Chúa Giê-xu sống trong lòng tôi; không cần biết là tôi phải ở đây bao nhiêu năm, mười hay hai mươi năm, tôi vẫn không thay đổi. Nếu các ông có giết tôi,Chúa Giê-xu sẽ đưa tôi về trời.” Ông ta rất tức giận, ông chỉ ngón tay vào mũi Jian và nói “Nếu tao còn bắt được mày nữa, tao sẽ làm thịt mày!” Sau đó ông hét lên “Hãy cút ngay!” Jian vui mừng đi khỏi.

Gia đình của Jian đã phải chịu bắt bớ và hành hạ nhiều vì cớ Chúa. Họ luôn luôn nhận được càng ít lúa giống và càng xấu hơn. Nhưng Kinh thánh nói với chúng ta: “Thà ít của mà công bình, còn hơn giàu có mà gian ác.” Lời Đức Chúa Trời đúng thật. Khi đó lương thực khan hiếm; cuộc sống rất khó khăn đối với mỗi người. Nhưng gia đình Jian lúc nào cũng đủ ăn. Đức Chúa Trời luôn luôn nhân từ.

Vào một mùa xuân, ba tháng trước mùa gặt, gia đình Jian chỉ còn lại một nửa thúng khoai lang. Thông thường, chừng đó chỉ đủ cho hai ngày. Khi Jian đem một ít đi xay, thì thật kỳ lạ, lượng bột thu lại nhiều gấp không biết bao nhiêu lần. Cả gia đình Jian quì gối xuống và cảm tạ trong nước mắt.

Vào một ngày nọ, có một tín đồ trong làng đến nhà anh và nói “Anh ơi, gia đình tôi có sáu người, tôi chỉ còn lại có ba mươi cân thóc, chừng đó chỉ đủ cho nửa tháng là cùng. Nhưng chúng ta còn ba tháng nữa mới đến mùa gặt, anh có biết là ai có thể cho mượn tiền hay là lương thực không? Jian trả lời “Hãy cứ tin cậy Chúa, Ngài sẽ giúp đỡ anh!” Nên người tín đồ đã về nhà. Cứ năm ngày, anh lại lấy bảy cân rưỡi đi xay bột. Anh cứ làm như vậy trong ba tháng mà vẫn còn lại mười lăm cân!

Có một lần, Jian đến tỉnh ‘M’ để giảng tin lành ở đó. Trong một buổi giảng có một phụ nữ đã đến với anh, bồng đứa con trên tay. Nó đã chết. Jian đã đặt tay trên nó và kêu to: “Trong Danh Chúa Giê-xu tôi truyền cho em hãy dậy đi!” Ngay lập tức, đứa trẻ mở mắt và vùng dậy.

Vào một lúc khác, Jian hướng dẫn một buổi thánh lễ báp-tem ở một con sông trong tỉnh đó. Có một đứa trẻ bị câm từ lúc mới sinh ra, khi lên khỏi nước, nó đã la lên “Ha-lê-lugia! Ngợi khen Chúa!”

Có một lần, một anh em họ Zhang bị bắt. Chính quyền gọi một đám đông đến để xem anh bị tra tấn. Họ muốn làm điều đó để làm cho dân chúng sợ, đừng tin Chúa Giê-xu. Chúng treo ngược anh lên, chúng đánh đập và đấm đá anh. Anh kêu lên với Chúa “Chúa ơi, Phi-e-rơ đã bị treo ngược lên vì cớ Ngài! nhưng con không xứng đáng!”

Khi những anh chị em nhìn thấy điều đó, họ đã khóc nức nở. Ngay cả những người vô tín cũng khóc nữa. Dẫu sao, những kẻ bắt bớ các Cơ-đốc nhân đều gặp một kết cuộc thảm hại. Có một sĩ quan ở quân đội, rất căm ghét Cơ-đốc nhân. Có lần khi Jian bị bắt, hắn trói chặt anh và để anh ngoài hành lang, đạp và nện thình thịch lên lưng anh. Và hắn nói “Tao không đạp mày, mà tao đạp Chúa của mày; tao không trói mày, mà tao trói Chúa của mày. Để xem Chúa của mày có thể làm gì được tao!” Sau đó, hắn đưa Jian ra diễu hành ngoài đường phố để bị ‘đấu tố’. Hắn vừa nói vừa đánh Jian “Kìa, Chúa của mày ở đâu? Tại sao Ngài lại không đến mà cứu mày? Tại sao Ngài không đến mà thi thố với tao?” Thình lình, có một con chó dữ từ trong ngõ chạy ra cắn vào chân hắn. Sau đó, vết thương bị nhiễm trùng và dạ dày hắn bị phình trướng lên. Trong vòng hai tháng, hắn chết một cái chết khủng khiếp.

Nhưng vẫn có một cuộc phấn hưng trong các làng lân cận. Chúa đã làm nhiều phép lạ dấu kỳ qua Jian và hàng ngày số những người được cứu được thêm lên.

Lửa tin lành cứ tiếp tục lan ra và lan ra…




Hoa Huệ Giữa Chông Gai – Trân Ở Tù Cùng Với Chúa Giê-xu

Trân Ở Tù Cùng Với Chúa Giê-xu

Tác giả: Danyun

1. Bởi Con Người đến để tìm và cứu kẻ bị mất. (Lu-ca 19:10)

Trước kia tôi thường hay coi khinh những người tin Chúa Giê-xu. Tôi hoàn toàn không biết làm gì với những điều họ nói với tôi về Đức Chúa Trời. Cho đến một ngày kia, mẹ tôi bịốm nặng. Bà đã già rồi và bác sĩ nói rằng chẳng bao lâu bà sẽ chết. Mẹ tôi biết rằng mình sẽ không khỏe lại nữa, trong những ngày đó, bà đã rất thay đổi. Bà làm tôi ngạc nhiên vì bà bắt đầu quan tâm đến niềm tin Cơ-đốc, bà càng yếu chừng nào thì sự mong muốn được tìm hiểu nhiều hơn về Chúa Giê-xu càng tăng lên. Hồi đó tôi kiên quyết chống lại Cơ-đốc giáo và không ngần ngại khước từ mọi lời nài xin của mẹ tôi và giữ không cho các Cơ-đốc nhân đến gần ngôi nhà chúng tôi. Cuối cùng, bà đã chết mà không có ai có thể kể cho bà nghe về Chúa Giê-xu. Tôi buồn rầu vì cái chết của bà, nhưng tôi đã cho rằng mình đã cư xửđúng đắn.

Vào mùa đông 1979, bỗng nhiên tôi bị bệnh nặng. Trong khi đó tôi đã lập gia đình và có ba con nhỏ. Giống như phong tục ở Trung Quốc, gia đình chúng tôi sống ở nhà bố mẹ chồng. Trong vòng mấy ngày sau, các con cái tôi cũng lần lượt bịốm theo, cho đến khi tất cả bốn chúng tôi đều nằm trên giường. Tôi rất yêu các con tôi và thấy đau lòng khi không thể an ủi và săn sóc chúng được. Nhưng tôi quá yếu không thể rời khỏi chiếc giường. Những sự lo lắng cho con cái cứ canh cánh trong lòng, tôi không thể chịu được những tiếng khóc của chúng. Tôi sẵn sàng làm bất cứđiều gì, miễn là tôi có thể giúp được chúng nó. Nhưng bản thân tôi càng ngày càng thậm tệ hơn. Trong sự tuyệt vọng mình, tôi bắt đầu cầu nguyện. Vì tôi không biết gì về niềm tin Cơ-đốc, nên tôi đã cầu nguyện với những ông thần của Phật giáo mà tôi quen thuộc. Nhưng sự sợ hãi của tôi càng tăng lên, tôi không thểăn và ngủ được nữa, những hình ảnh về sựđau khổ và cái chết của các con dày vò tôi, và chính tôi cũng cảm thấy dường như cái chết đang đến gần. Cuối cùng, tôi thấy chán sống và muốn được chết và bắt đầu nghĩ về sự tự sát. Tôi đã từ bỏ mọi hi vọng cho chính mình và cho các con tôi.

Trong những ngày đen tối đó, có một bà hàng xóm đến thăm tôi đều đặn, bà là người tin Chúa Giê-xu. Trước kia, tôi luôn luôn cấm bà không được nói về niềm tin Cơ-đốc, nhưng trong lúc này, tôi đã quá tuyệt vọng để bám vào mỗi một cọng rơm còn lại. Bà kể cho tôi nghe rằng, Chúa Giê-xu yêu tôi và có thể giúp đỡ tôi được. Những lời lẽ bà đã tác động tôi sâu sắc, và Đức Thánh Linh đã thay đổi nội tâm tôi, hầu cho tôi có thể tin cậy vào Đức Chúa Trời, và bằng mọi sự quyết tâm, tôi đã quay khỏi thái độ trước kia, căn bệnh của tôi đã biến mất trong thời gian ngắn nhất mà không cần một sựđiều trị y tế nào, và các con tôi cũng nhanh chóng lành bệnh, và cho đến hôm nay là những đứa trẻ khỏe mạnh, vui tươi, căng tràn sức sống.

Một cuộc sống mới bắt đầu. Có một niềm vui đầy dẫy tôi dù trong hoàn cảnh nào. Tôi yêu thích học Lời Chúa và tận dụng mỗi giây phút rảnh rỗi để đọc Kinh thánh. Càng ngày, Kinh thánh càng hấp dẫn tôi nhiều hơn, tôi nghiệm thấy rằng đó là những lời hằng sống của Đức Chúa Trời đã thay đổi bản chất tôi. Tất nhiên, sự chuyển hướng trong đời sống tôi không thể qua mắt được những người khác ở chung quanh, và tôi vui mừng về mỗi dịp tiện có thể kể về sự Đức Chúa Trời đã bắt đầu làm trên đời sống tôi. Những điều tốt lành mà tôi khám phá được trong Chúa Giê-xu, trước hết tôi thường hay kể lại cho chồng. Chồng tôi bị bệnh huyết áp cao, tôi đã cầu nguyện cho anh và Đức Chúa Trời với sự nhân từ Ngài, đã chữa lành hoàn toàn cho anh. Dẫu vậy, anh chống đối Đức Chúa Trời và đặt cho tôi nhiều tảng đá cản trở trên đường đi. Mặc dù anh vẫn đối xử tốt với tôi, nhưng bây giờ anh đã cấm tôi đi thờ phượng Chúa, và cả việc cầu nguyện ở nhà anh cũng cấm tôi. Vậy nên, tôi đã quen thức đến khuya, chờ cho anh đi ngủ. Sau đó, tôi lẻn ra sân đằng sau nhà và cầu nguyện. Thỉnh thoảng, anh bắt được tôi, thì giận dữ và trách tôi nặng nề, nhưng điều đó không làm cho tôi nản chí, vì sự vui mừng bên trong lớn hơn những lúc chịu khổđó. Tôi vui hưởng những giờ phút trong sân, khi đó tôi trút đổ tấm lòng mình cho Đức Chúa Trời và đặc biệt cầu nguyện nhiều cho chồng, xin Chúa Giê-xu mở mắt anh, để anh nhận biết tình yêu Đức Chúa Trời và dâng hiến mình cho Ngài.

Năm tháng sau đó, có điều không thể hiểu được đã xảy ra: Chồng tôi làm việc trong một công xưởng, bị một tai nạn vì đã chạm phải dòng điện cao thế. Anh chết ngay lập tức. Khi tôi nhận được tin anh chết và nhìn thấy thân thể cháy đen của anh, thì sựđau đớn và buồn khổ tràn ngập tôi như những đợt sóng màu đen, đánh gục tôi và kéo tôi xuống vực sâu. Thêm vào đó, mẹ chồng và gia đình bên chồng, là nơi chúng tôi đã sống chung, đã lập tức chống lại tôi, trách cứ và loại tôi ra khỏi những cuộc trò chuyện và quyết định của gia đình. Điều đó quá nhiều đối với tôi, tôi bị chơi vơi, mất chỗ đứng. Vô vàn những sự kinh hoàng, đau khổ và sự thù nghịch đó là quá sức đối với tôi. Một dạng như sự chấn động tinh thần đè lên tôi, tôi phải nằm xuống và ngất đi. Tôi đã nằm bất tỉnh như vậy khoảng ba mươi phút, thì có những Cơ-đốc nhân từ bên hàng xóm, nghe tin về sự bất hạnh của tôi đã đến để an ủi tôi. Họ thấy tôi bị bất tỉnh nhân sự và bắt đầu cầu nguyện cho tôi. Cảm tạ Chúa về sự cứu giúp của Ngài, sau đó tôi đã tỉnh lại, đứng lên và thậm chí cảm thấy mạnh mẽ.

Một thời gian rất khó khăn bắt đầu đối với tôi. Con tôi, đứa lớn nhất là chín tuổi, đứa nhỏ nhất mới lên ba. Bây giờ, toàn bộ trách nhiệm trút lên cho tôi. Tôi không chỉ chăm sóc cho con tôi, nhưng cho cả mẹ chồng. Dẫu vậy, thái độ của bà đối với tôi vẫn thù ghét, và bà muốn đuổi tôi ra khỏi nhà là tốt nhất. Bà không bỏ qua một cơ hội nào, để tỏ cho tôi thấy sự hắt hủi của bà và ngăn trở công việc tôi. Bây giờ, vì con trai bà không còn nữa, nên tôi và các con tôi trở nên không cần thiết trong cuộc sống bà. Hằng ngày bà chửi mắng tôi. Nhưng Đức Chúa Trời tôi che chở tôi và ban cho tôi năng lực và sự can đảm để muốn sống tiếp tục.

Chồng tôi và tôi đã sống chung được chín năm và chúng tôi rất yêu thương nhau. Tôi thật thấy thiếu vắng anh, và mặc dù anh đã chết, tôi vẫn không thôi yêu anh. Trước khi anh chết, chúng tôi có chụp cho anh một tấm ảnh, bấy giờ tôi đem đến hiệu ảnh phóng to ra. Tôi mua một khung ảnh thật đẹp và đặt ảnh của anh vào nơi trang trọng trong căn phòng chúng tôi. Mỗi ngày tôi ngắm nhìn gương mặt anh rồi khóc và nhớ thương anh. Càng ngày sự buồn rầu của tôi càng tăng lên, cho đến khi tôi hoàn toàn đánh mất sự bình an và niềm vui bên trong, tôi càng lẫn trốn vào trong những sự nhớ thương đau đớn và những giấc mơ ban ngày. Tấm ảnh này trở nên một cái bẫy cho tôi, và chỉ còn cách gang tất, tôi đã suýt nữa gây ra một sự bất hạnh tiếp theo.

Một ngày kia, có một phụ nữ đến thăm tôi, bà là con cái Chúa. Bà vừa bước chân vào trong nhà tôi, thì ngã lăn đùng xuống đất, và sau vài hơi thởđã chết trước mắt tôi. Tôi chết lặng người vì kinh hoảng và hoàn toàn không biết mình phải làm gì. Điều duy nhất tôi nhớđược là quì gối xuống và kêu cầu Chúa.

“Chúa ơi, như thế là quá nhiều đối với con, xin đừng để cho như vậy! Đức Chúa Trời ơi, có phải tại con hay không? Con có làm gì sai không? Xin Chúa hãy thương xót người đàn bà này, xin đừng để cho bà chết! Và Chúa ơi, nếu đó là tại tội lỗi trong đời sống con, thì xin hãy chỉ ra, xin hãy thương xót chúng con!”

Tôi kéo thân thể không còn động đậy của người chị em vào trong phòng ngủ của tôi và đặt lên giường tôi. Sau đó tôi sai đứa con trai cả: “Con ơi hãy chạy thật nhanh và gọi tất cả những Cơ-đốc nhân đến đây, hãy nói với họ, có điều kinh khủng đã xãy ra, và họ phải cầu nguyện! Họ đừng để mất thời gian!” Những con cái Chúa sống cách đó gần nhất cũng bảy tám cây số và chắc sẽ rất lâu cho đến khi họđến được chỗ tôi.

Trong khi tôi ở lại một mình với người chết, vẫn còn trơ người nhưđá vì sợ hãi, tôi cố gắng cầu nguyện tiếp tục. Thình lình, tấm ảnh chồng đập trước mắt tôi. Tôi dường như cảm nhận rằng, Đức Chúa Trời muốn nói với tôi là phải cất bỏ nó khỏi chỗđó. Bất ngờ và còn hơi không chắc chắn, tôi đứng dậy, cầm lấy tấm ảnh và đặt nó úp mặt xuống đất. Cùng lúc đó, người chị em bắt đầu động đậy. Đột nhiên tôi hiểu là: “Chúa Giê-xu yêu tôi, và Ngài biết điều sâu thẳm trong lòng tôi. Điều đó đã không giấu được Ngài, rằng tôi còn yêu những điều hư không và hư nát của đời này. Nhưng để được gần Ngài, điều cần thiết là phải cắt đứt mọi thần tượng trong đời sống tôi. Ngài chỉ có thể là Chúa của tôi, nếu tôi giải phóng mình khỏi mọi cái đó và chỉ nhìn lên Ngài. Phục vụ Ngài, có nghĩa rằng Ngài là đối tượng quan trọng nhất trong đời sống tôi.” Trong chớp nhoáng mọi điều đó đã rõ ràng trong tôi. Về nội tâm tôi phải tách khỏi người chồng đã chết của mình. Ngay lập tức, tôi lấy tấm ảnh ra khỏi khung và xé nó thành những mảnh nhỏ, trong khi vừa lớn tiếng cảm tạ Chúa Giê-xu, tôi quẳng những mẫu giấy xé vụn đó vào đống lửa đang cháy bập bùng trong lò sưởi nhỏ của chúng tôi. Trong lúc đó, người chị em đã ngồi dậy và hỏi tôi điều gì đã xãy ra thế. Một lát sau con trai tôi và những Cơ-đốc nhân chạy bổ vào nhà thở hổn hển. Tôi kể nhanh gọn cho họđiều gì đã diễn ra và sau đó chúng tôi cùng nhau dự một buổi thờ phượng cảm tạ và tôn vinh Chúa ở trong phòng ngủ của tôi. Cuối cùng, sự bình an thiên thượng tuyệt vời đó, mà kể từ khi chồng chết, tôi không còn được biết nữa, đã đầy dẫy tôi trở lại.

Nhưng gia đình chúng tôi còn phải đứng trước những sự tấn công tiếp theo của Sa-tan. Hồi đó, chúng tôi sống trên tầng bốn của tòa nhà, và trong khi những anh chị em con cái Chúa đến thăm tôi, họđều cảm thấy không được thoải mái ở trong nhà tôi.

Vào một ngày nọ, có một bà tín đồ đã già và đáng yêu đến thăm tôi, bà đã ngoài bảy mươi tuổi. Chúng tôi thường có thói quen là nói chuyện ngắn gọn vài câu, rồi cùng quì gối xuống và cầu nguyện. Đứa con gái lớn cùng cầu nguyện với chúng tôi, đứa con gái út ngồi trong phòng trên giường và đang chơi. Bỗng nhiên, đứa nhỏ bắt đầu kêu lên: “Mẹơi, đầu gối con đau quá.” Tôi nghĩ rằng chắc là nó thấy chán và muốn cho chúng tôi chơi chung, cho nên tôi không hề mở mắt, mà cứ cầu nguyện tiếp tục. Nhưng ngay sau đó nó bắt đầu rên rĩ, rồi la to: “Ôi, đau quá mẹơi, cái chân con bị làm sao thế này …” Tôi bật dậy và chạy đến chỗ con, nhưng tôi không thể làm gì được nữa. Truóc con mắt tôi diễn ra cảnh tượng rùng rợn: nó hét lên, một tiếng kêu thất thanh, tôi chưa từng nghe có ai kêu như vậy, sau tiếng kêu đó, bỗng nhiên nó im bặt, ngã lăn ra giường và chết. Sự kinh khủng túm lấy tôi như một bàn tay lạnh.

Đứa con gái lớn của tôi lúc đó được tám tuổi, cũng đứng dậy và chạy lại chỗ đứa em, lúc đó đã tắt thở. Nó nhảy xổ tới và ôm đứa em trong tay, lắc lắc nó và muốn đánh thức nó dậy. Nhưng trong khoảnh khắc tiếp theo, nó cũng không còn động đậy nữa và nằm bất động trên đứa nhỏ.

Cả bà tín đồ cũng ngừng cầu nguyện và chạy đến bên giường, chỗ tôi đang đứng bàng hoàng và không hiểu được điều gì đang diễn ra trước mắt. Tôi chết điếng người vì sợ hãi. Bà cúi người xuống để đỡ đứa con gái lớn tôi dậy, nhưng ngay lúc đó, bà lại ngã quị xuống nền nhà và chết.

Tôi chao đảo bước lùi vài bước, mồ hôi đổ ra sau lưng vì khiếp đảm, tôi không dám đụng đến những người chết. Rốt cuộc chỉ còn tôi là người còn sống sót, vừa mới trước đây ít phút thì ởđây còn là một nhóm nhỏ vui vẻ…! ‘Ngươi là đứa kế tiếp!’ , đó là điều duy nhất mà tôi nghĩ tới lúc đó, đầu tiên tôi không thể cầu nguyện hay làm một điều gì khác. Mắt không rời khỏi ba thân thể bất động, tôi sụp xuống vào một góc phòng và những tiếng nấc không còn nước mắt rung lên trong tôi, trong khi tôi run rẩy đem trình sự việc lên: “Chúa ơi, xin cứu chúng con!” Tôi cứ gọi liên tục, kêu van và than khóc: “Đức Chúa Trời ơi, xin cứu chúng con!”

Vì những tiếng khóc và kêu nài của tôi nên những người hàng xóm đã để ý, và có một đám người đứng trước phòng tôi. Nhưng không ai dám bước vào phòng, họ chỉ nhìn qua cánh cửa, và cảnh tượng mà họ nhìn thấy khiến họ vội bỏđi: hai đứa trẻ chết nằmtrên giường, một bà già dưới nền nhà phía trước, tôi ngồi thu lu ở góc phòng đối diện, không ngớt kêu cầu Đức Chúa Trời. Một trong những bà hàng xóm đã nói điều đó cho ông giám đốc nhà máy, nơi tôi làm việc. Ông làm điều cần thiết nhất là đặt một chiếc xe chở xác chết.

Không lâu sau đó, ông giám đốc và những người khiêng xác chết đã đến. Họ muốn đem ba xác chết đến nhà xác. Ông thủ trưởng hỏi tôi: “Cô Trân, tôi cho rằng, sau mọi điều đã xảy ra hôm nay, cô nhìn ra được rằng niềm tin của cô vào ông Giê-xu này là nguy hiểm?”

Nhưng câu trả lời của tôi đến không chút lưỡng lự: “Tôi tin, và vẫn luôn tin. Và nó cũng tốt cho ông, nếu cuối cùng ông cũng tin Chúa Giê-xu.”

“Thật là điều vô lý,” ông giám đốc đáp lại, “cô hãy đem những người chết vào bệnh viện. Niềm tin của cô không giúp gì cho cô, mà cô là một nạn nhân của sự mê tín này.”

Sau đó, quyền năng Đức Chúa Trời đã đến trên tôi, sự sợ hãi đã biến mất và bỗng nhiên tôi biết phải làm điều gì. Tôi đứng dậy khỏi góc phòng và tuyên bố bằng uy quyền: “Chúng tôi sẽ không đi đến bệnh viện. Chắc chắn Chúa tôi sẽ giúp đỡ tôi!”

Những lời vừa ra khỏi miệng, tôi còn chưa có thời gian để ngạc nhiên về sự dạn dĩ của mình, thì phép lạđã xãy ra. Những đứa trẻ và người phụ nữ cùng một lúc động đậy trước mắt ông thủ trưởng của tôi. Trong khi cả ba đã sống lại, thì những người đàn ông kia nhanh chóng rời khỏi căn phòng tôi.

Không còn phải hỏi, Đức Chúa Trời đã nói vào đời sống tôi bằng cách thức rất khác thường. Nhưng Ngài dùng biến cố này để tỏ cho tôi thấy tình yêu của Ngài. Tinh thần tôi yếu đuối và đầy sự tự thương hại mình, tôi đeo theo mấy đứa con tôi hơn là đeo theo Chúa Giê-xu, và những điều hư không chóng qua, tôi coi trọng hơn là việc nói về Chúa Giê-xu cho những linh hồn quí giá. Đức Chúa Trời đã biết sự yếu đuối của tôi và Ngài đã dùng mọi cái để làm cho tôi được mạnh và giải phóng tôi khỏi mọi sự nông cạn. Tôi học được sự nhận biết chắc chắn rằng tình yêu Ngài là sựđáng tin cậy nhất trong đời sống tôi, tình yêu Ngài còn mạnh hơn cả sự chết. Được tình yêu đó bồng ẵm, tôi có thể dám phú thác cho Ngài và đầu phục Ngài. Về bên trong, tôi đã được chuẩn bị như vậy cho sự chịu khổđang chờở phía trước mình, và trong trường học của sự phú thác này, tôi đã được rèn luyện để về sau ở trong tù, có thể đứng vững trong Đức Chúa Trời mình và trở nên một nguồn phước cho những tù nhân khác.

Đức Chúa Trời bắt đầu dùng căn hộ của chúng tôi để phục vụ những người cần được sự giúp đỡ. Hầu như không có ngày nào mà không có những bạn bè con cái Chúa của tôi đem đến cho tôi những người cần sự cầu nguyện. Trong lúc đó, tôi thường nghĩ đến câu Kinh thánh: “Nếu ai không yêu anh em mình thấy được, thì không thể yêu Đức Chúa Trời, là Đấng mình không thấy được.” (I Giăng 4:20). Nên tôi sẵn sàng tiếp nhận tất cả mọi người.

Trong thời gian đó, ba con tôi và tôi chỉ có khẩu phần ăn cho một người. Cuộc sống của chúng tôi chắc chắn là không nhẹ nhàng chút nào, nhưng Đức Chúa Trời đã chúc phước cho tôi bằng những đứa con tuyệt vời. Chúng không bao giờ than vãn và chấp nhận hàng ngày chỉăn một bữa, mà thường là những bữa ăn rất đạm bạc. Sau đó, những đứa trẻ thường hay ra đồng và tìm rau cỏ, để chúng tôi ăn độn với ‘bánh bao’. Nếu chúng tôi có khách, thì chúng tôi đem giấu những ‘bánh bao’ đó và sai các con đi mua một vài thứ để chúng tôi có thể nấu cho những người khách những đồ ăn ngon. Các con tôi luôn luôn đồng ý.

Và Đức Chúa Trời bằng sự nhân từ của Ngài đã ở về phía chúng tôi, cho nên, chúng tôi luôn khỏe mạnh. Hằng ngày, tôi và các con cùng nhau ngợi khen Đức Chúa Trời, và chúng tôi tràn đầy niềm vui. Thỉnh thoảng, tôi giúp đỡ bố tôi làm công việc cho ông và thường khi đó phải đi làm muộn, điều đó khiến cho tôi bị trừ lương và bị phê bình, nhưng tôi được bảo bọc bởi sự bình an, và không ai và không có gì có thể làm suy chuyển được.

2. Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? (Ê-sai 6:8)

Vào một ngày, Đức Chúa Trời nói rất rõ cho tôi. Ngài nói với tôi là tôi sẽ rao truyền Tin lành của Chúa Giê-xu ở một nơi xa xôi. Đó là vào năm 1982. Lúc ấy tôi chưa có đến một quyển Kinh thánh riêng, và tôi cũng không thể tưởng tượng được là sẽ nói tin lành trước đông người. Về khoản ăn nói, tôi vừa không được tập luyện lại không có năng khiếu. Và Đức Chúa Trời cũng không nói cho tôi là ởđâu. Điều mà khi ấy tôi không thể lường được, là Đức Chúa Trời đã chọn tôi để nói về Ngài ở trong tù.

Đến tháng 3 năm sau, tôi cùng với năm anh chị em tín đồ khác đến một địa điểm nọ để thăm viếng và làm báp tem cho những người mới tin Chúa. Chúng tôi đã có một thời gian tuyệt vời ở cùng nhau và trở về đầy sự vui mừng và được mạnh mẽ trong đức tin. Ở nhà có một bà tín đồ đang đợi tôi, bà bị ung thư và tình trạng bệnh tật của bà càng trầm trọng. Tôi đón bà vào nhà mình, và cùng anh Vũ, chị Linh, chúng tôi đã cùng nhau kiêng ăn cầu nguyện ba ngày và cầu xin Đức Chúa Trời chữa lành cho người phụ nữ này. Tuy chúng tôi đã cầu nguyện hết sức khẩn thiết với Đức Chúa Trời, nhưng không có gì xảy ra, càng tệ hơn, mỗi ngày, bà càng trở nên yếu ớt hơn. Bà thở càng khó khăn mệt nhọc, và rõ ràng là bà không còn sống lâu nữa.

Tôi thấy hết phương cách và vô vọng. Tại sao Đức Chúa Trời không can thiệp vào? Ngài vẫn thường chứng tỏ quyền phép của Ngài mà! Trong suốt thời gian ba ngày này, sự mong muốn cho người chị em đó được lành thật lớn, thậm chí, tôi đã cầu nguyện rằng, thà Chúa để cho con tôi về với Ngài còn hơn là để cho bà ta chết. Tôi không hiểu tại sao, nhưng Đức Chúa Trời không nhậm lời cầu nguyện của chúng tôi, và người chị em chết vào ngày thứ ba trong nhà tôi.

Khi tin về cái chết của người phụ nữ này được đồn ra, thì có nhiều con cái Chúa ở hội thánh địa phương đến thăm tôi. Một vài người chỉ trích tôi và nói rằng tôi đã làm một điều hết sức ngu dại, mà tiếp nhận người chị em vào nhà mình, trong khi thấy bà có thể sẽ chết. Nhưng tôi biết rằng tôi đã hành động đúng đắn, nên tôi đã bình tĩnh và không nói gì đối với họ. Tôi không thất vọng, vì Đức Chúa Trời không can thiệp, và hoàn toàn không sợ hãi. Một sự bình an thiên thượng đầy dẫy tôi. Anh Vũ và chị Linh cố tình ở lại nhà tôi. Tôi tìm cách thuyết phục họ rằng, họ hãy về nhà mình đi, vì tôi biết rõ rằng trong hoàn cảnh đó không phải là không nguy hiểm. Cái chết của người phụ nữ sẽ được tâu trình lên cho công an và qua đó sẽ có một lý do để chống lại những Cơ-đốc nhân chúng tôi.

Tôi nói đủ mọi cách: “Xin hãy nghĩ đến gia đình các anh chị, không cần anh chị phải tự nộp mình cho sự bắt bớ. Tôi nhận lấy trách nhiệm này về một mình tôi cũng không sao cả, và đằng nào tôi cũng phải làm, dù anh chị có ởđây. Nhưng bây giờ xin hãy đi, tôi xin anh chị, trước khi công an họ đến!” Ít giờ đồng hồ sau đó, công an đến, và không cần phải nói nhiều, họđem chúng tôi lên đồn. Anh Vũ vừa ra về và đã thoát khỏi sự bị bắt.

Vừa đến đồn công an, họ lập tức tách chúng tôi ra. Tôi bị hỏi cung đầu tiên. Một viên cán bộ cấp cao của công an địa phương ngồi bệ vệ đằng sau một chiếc bàn cũ, với vẽ người trơ trơ, kênh kiệu, với bộ quân hàm hãnh diện, mà tôi không biết được giá trị cấp bậc của nó. Ông cùng một giọng nói giống như tôi, nhưng gương mặt thì lạnh lùng và ông vặn tôi bằng giọng như dao cắt: “Cô hãy nói cho tôi biết, ai chịu trách nhiệm về cái chết của người đàn bà này?”

Mặc dù tôi chưa lần nào ở trong một tình huống giống như vậy, nhưng tôi cảm thấy thật bình an, cho đến nỗi người ta cho thái độ của tôi là không tôn trọng. Tôi biết rằng, tôi không làm điều gì sai trái, dẫu bên ngoài mọi người có thể thấy tôi ở trong thế bất lợi đến đâu. Và tôi biết rằng Đức Chúa Trời đang ở bên tôi. Nhưng điều đó còn hơn cả sự hiểu biết: Tôi vẫn còn cảm nhận sự bình an sâu lắng đó, là sựđã tràn ngập tôi kể từ cái chết của người chị em. Giữa tình cảnh đầy sự thù nghịch này tôi vui hưởng được sự nương náu của tình yêu Đức Chúa Trời. Tôi trả lời bằng một giọng bình tĩnh, chắc chắn: “Tôi là người chịu trách nhiệm.”

“Cô nói dối! Chúng tôi biết có một người đàn ông ở chỗ cô! người đó là ai?” Rất có thể là những người hàng xóm không những chỉ báo công an về cái chết của bà ở trong nhà tôi mà còn nói ba chúng tôi đã cầu nguyện.

Tôi đáp lại: “Không, chỉ có mình tôi cầu nguyện cho bà ấy. Không ai tham gia vào nữa.”

“Cô đã giết bà ấy bằng cách nào?”

“Tôi muốn bà ấy đến bệnh viện, nhưng bà từ chối. Tôi đã không làm gì hơn là hát ca ngợi Chúa và cầu nguyện với Đức Chúa Trời.”

Người công an nhỏm dậy đằng sau cái bàn, mặt ông ta đỏ bừng, cố gắng kiềm chế, ông gằng giọng: “Tốt hơn hết là cô hãy tự động khai thật đi. Nếu không, chúng tôi cũng có những biện pháp để moi toàn bộ câu chuyện nơi cô ra.” Và để làm tôi hoảng sợ, ông vớ lấy một trong những dụng cụ tra tấn ở xung quanh, mà tôi chỉđoán được những công dụng của nó, ông cầm vật đó quay quay và tỏ vẻ lơđễnh.

Chỉ bởi ân điển Đức Chúa Trời, mà trong hoàn cảnh đó tôi đứng trước con người này không hề sợ hãi gì. Tôi lập lại những điều vừa nói: “Xin ông hãy tin tôi, tôi là người cầu nguyện cho bà ấy. Nhưng vì thời gian sống trên đất của bà đã hết, nên Đức Chúa Trời đã đưa linh hồn của bà về Thiên đàng.”

“Linh hồn là cái gì? Thiên đàng là cái gì?”

“Ông biết không,” tôi vui vẻ giải thích cho ông, “mỗi một người có một linh hồn bất tử. Ai tin Chúa Giê-xu, không chỉ nhận được sự chữa lành cho thân thể mình ở dưới đất này, mà linh hồn người đó cũng được cứu. Vì thế, tôi nghiêm túc khuyên ông, ông nên tin Chúa Giê-xu, vì chính Ngài đã nói rằng, ai tin Ngài thì có sự sống đời đời, nhưng ai không tin Ngài thì đã bịđoán xét rồi.” (Giăng 3:18, 6:47)

“Cô im mồm đi” Ông quát lên “hay là cô chán sống rồi? Có người đã chết vì niềm tin điên rồ của cô vào ông Giê-xu đó, và bây giờ cô còn tìm cách thuyết phục tôi nữa?”

Tôi nhìn thẳng vào cặp mắt ông và đáp: “Thưa quí ông, tôi vừa rao truyền cho ông tin lành về Chúa Giê-xu. Nếu ông không tin, và một ngày kia ông bịđem ra trả lời trước Đức Chúa Trời, thì tôi không chịu trách nhiệm về ông nữa.”

Ông đồn trưởng công an không nói được vì giận dữ, ông đưa tay ra hiệu cho những kẻ đứng chờđằng sau đưa tôi đi. Bây giờđến lượt chị Linh.

“Cô hãy nói thật cho tôi, có phải người đàn ông đi chung đã giết người phụ nữđó không?” Bây giờ ông công an đó cũng tìm cách moi tin tức từ chị Linh. “Nếu cô kể cho chúng tôi biết toàn bộ sự việc diễn tiến ra sao, thì chúng tôi sẽ khoan hồng và tha tội cho cô.”

Chúng tôi đã không thỏa thuận trước, nhưng chị Linh cũng trả lời quả quyết như tôi trước đó. “Không, chuyện này không liên quan gì đến người đàn ông có mặt ở trong nhà, lại càng không liên quan gì đến cô Trân. Chỉ là lỗi duy nhất của tôi, vì tôi đã đem người đàn bà bị bệnh đó vào nhà cô Trân và đã cầu nguyện cho bà mỗi ngày.”

Mọi nghệ thuật, mọi sựđe dọa từ phía công an không ăn thua gì, chị Linh giữ vững lời mình: “Chỉ mình tôi chịu trách nhiệm về cái chết của bà ta.”

Sau những lần khảo cung đó, mới đầu chúng tôi lại được thả ra, Nhưng cả hai chúng tôi biết rằng sự việc vẫn chưa xong xuôi. Tôi bị bắt phải trả một khoản tiền phạt: Tôi phải trả cho gia đình người chết 500 nhân dân tệ (bằng năm tháng lương), là lệ phí việc mai táng. Nhưng tôi vẫn vui vẻ, dù lương tôi hàng tháng vừa đủ cho tôi và các con, và chúng tôi không có khoản tiền tiết kiệm nào. Các con tôi và tôi phải tìm những người hàng xóm và những người quen đề nghị họ cho chúng tôi mượn, anh Vũ và chị Linh cũng phụ giúp với, đến khi tôi có thể có được số tiền lớn đó và đem cho những thân nhân của người quá cố.

Trong lúc đó, người không bị bắt là anh Vũđã phải nghĩ ngợi nhiều. Anh biết rằng tôi có ba con nhỏ, nếu trong trường hợp tôi bị bắt, thì chúng sẽ giống như bị mồ côi, không nơi nương tựa và chắc gia đình anh sẽ phải chăm sóc chúng. Còn chị Linh, có chồng và mẹ chồng chưa tin Chúa, cũng đông con, nếu vậy những đứa nhỏ sẽ lớn lên mà không có sự dạy dỗ bằng niềm tin Cơ-đốc. Anh càng suy nghĩ và cầu nguyện cho điều đó, thì anh càng thấy sáng tỏ: chính anh sẽ ra trình diện công an, anh nghĩ rằng như vậy còn hơn là bắt mấy phụ nữ phải bỏ con nhỏ lại.

Anh cầu nguyện lâu và khẩn thiết cho vấn đề này, đến khi Đức Chúa Trời ban cho anh sức lực để chia tay với gia đình và tình nguyện đến đồn công an. Những người công an thấy kinh ngạc không ít, khi anh tự giới thiệu. Lập tức, anh bị hỏi cung và không cần phải lo lắng về hậu quả của những điều mình nói, anh nhận lấy toàn bộ trách nhiệm về cái chết của người phụ nữ. Bằng mọi lý do có thể có, anh tìm cách thuyết phục những người công an rằng, một mình anh có lỗi và toàn bộ sự việc không hề liên quan gì đến chúng tôi.

Đó là vào đầu tháng ba 1983, khi công an địa phương tuyên bố anh là kẻ thủ phạm, họđã bắt giam và kết án anh. Khi tôi vừa nghe tin đó, tôi liền đến thăm gia đình anh, đem cho họ những món quà và tìm cách an ủi động viên họ. Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ người chồng và người cha của họ trong tay Ngài và Ngài cũng sẽ săn sóc gia đình họ, tất cả chúng tôi đều tin chắc như vậy. Từđó, tôi đến ngay nhà tạm giam, là nơi anh Vũ bị bắt giữ. Tôi rất muốn gặp anh và động viên anh, nhưng tôi không nghĩ rằng lính gác cổng sẽ cho phép tôi vào thăm anh.

Người mặc quân phục ở cửa ra vào trại giam muốn đuổi tôi ra lập tức mà không cần nghe tôi nói gì. Nhưng tôi tìm cách không để cho sự lạnh nhạt đó làm lúng túng. “Ông biết không”, tôi nói ngọt ngào với tên lính “thật ra tôi có lỗi về toàn bộ việc này. Người đàn ông mà ông bắt giam đó không thể làm gì được. Ông bắt anh ta là không đúng. Trên thực tế người phụ nữđó đã chết trong nhà tôi, tôi đã cầu nguyện cho bà, anh ta hoàn toàn không liên quan gì. Tôi sẽ nhận tội mình và nhận hình phạt phải chịu.”

“Tôi không biết vụ việc gì hết, ông Vũ được giao cho tôi canh giữ, tất cả chỉ có thế. Tôi cũng không quan tâm gì hơn, tất cả những chuyện khác là việc của cấp trên tôi.” Cứ như vậy người lính canh muốn dứt điểm nhanh gọn với tôi. Nhưng tôi không chịu buông lỏng hơn: “Ít ra tôi có thểđưa cho anh một chiếc khăn tay hay một ít thức ăn được không?”

“Không, rất tiếc là không được. Bây giờ xin cô đi cho”. Tôi vẫn ởđó và nói tiếp: “Xin đồng chí đi mà, đồng chí biết là người ta cần khăn tay trong tù mà!” Cuối cùng người lính canh thấy lắm chuyện và miễn cưỡng nhượng bộ: “Thôi được, cô hãy đưa khăn mùi xoa cho tôi, tôi sẽđưa cho tù nhân.”

Tôi đứng lại đó và nhìn người lính canh đi vào với một gói nhỏ. Sau đó, tôi biết được rằng tên lính đi vào phòng giam số một. Tôi có nghe nói rằng đó là phòng dành cho những tội phạm trầm trọng. Có lẽ những tù nhân của phòng này hằng ngày bị hành hạ, tra tấn và đối xử tồi tệ nhất. Khi tôi nghĩ như vậy thì ruột gan tôi co lại. Người anh em thân yêu, thật đáng thương! Và tôi kêu tên anh to đến mức có thể được. Một trong những người lính gác cửa quát mắng tôi: “Ai cho phép cô? Cô có biết mình đang ởđâu không? Cô hãy thôi ngay, đừng kêu la nữa! Cô đã vi phạm nội qui nhà tù.”

Nhân cơ hội này tôi cũng giải thích cho cả người đó: “Ông Vũ vô tội. Xin ông hãy bắt tôi thay vào chỗ anh ta, tôi chịu trách nhiệm cho sự việc đó và vì vậy mà anh ta đã bị bắt giam.”

Không nói một câu nào, họ lôi tôi ra ngoài cửa. Vào ngày hôm sau, tôi lại đem thức ăn và một cái chăn, đạp xe đến nhà giam, và khung cảnh lại tái diễn. Một viên công an nhận món quà cho anh Vũ, sau đó tôi kêu thật to tên anh và bị tống ra ngoài.

Khoảng mười ngày sau đó, ngày mười lăm tháng ba, chị Linh cũng bị bắt. Tôi đợi ở nhà nửa tháng nay nhưng họ chưa đến bắt tôi. Tôi vẫn đi làm công việc như thường lệ. Hai tuần sau, vào một buổi sáng, khi tôi sửa soạn đi làm thì các con tôi khóc nức nở. Tôi xoa đầu chúng và an ủi chúng.

“Các con yêu dấu của mẹ, thôi đừng khóc nữa, nếu các con khóc sẽ làm cho mẹ rất buồn. Nếu mẹ bị bỏ tù thì các con có Cha chúng ta trên trời săn sóc cho các con. Ngài sẽ gìn giữ các con. Ngoài ra các anh, các chị, các bác, các dì ở hội thánh cũng là các anh, các chị, các bác, các dì của các con. Tất cả họ sẽ lo cho các con.” sau khi trấn tĩnh chúng, tôi đem chúng đi làm như thường lệ.

Vào chín giờ sáng hôm đó, người quản đốc gọi tôi lên văn phòng ông và giải thích rằng ông có một thư mời tôi lên công an. Chính ngay lúc đó, tôi biết rằng, vì công việc của Chúa Giê-xu, có một con đường rất khó khăn đang ở trước tôi. Tôi tìm cách không để cho các con tôi nhận biết những cảm xúc của mình. Các con tôi đã phải mất cha của chúng rất sớm, và giờđây chúng cũng bị lấy đi luôn người mẹ nữa. Kể từ ngày hôm nay, chúng sẽ trở nên những đứa trẻ mồ côi vậy, tự mình lo liệu, không có người bà con nào săn sóc chúng. Qua khóe mắt, tôi nhìn thấy những gương mặt nhỏ bé ướt đẫm nước mắt, nhưng tôi không thể nhìn vào mắt chúng, điều đó sẽ làm trái tim tôi quặn thắt không chịu nổi. Đó là một con đường rất gian khổ.

Khi tôi vừa đến đồn công an thì họđã chờ tôi ởđó. “Cô có biết tại sao hôm nay chúng tôi gọi cô đến đây không?”

“Vâng tôi biết tại sao.”

“Cô bị bắt!” người công an chìa cho tôi tờ lệnh bắt giam. Lúc đó là 9:45AM. Tôi ký nhận lên tờ giấy, đóng dấu tương lai mình trong nhà tù. Nhờ ân điển Đức Chúa Trời, tôi được phép về nhà một lần nữa, có người đi kèm, để sắp xếp công việc và thu dọn những đồ dùng cần thiết nhất cho tôi. Các con tôi vẫn còn trong nhà máy. Khi tôi tạm thời dọn dẹp lại trong nhà lần cuối cùng và nhớ lại buổi chia tay sáng nay với các con, tôi chỉ còn một ước muốn duy nhất: giá mà tôi tìm được một chỗ và khóc. Nhưng Đức Chúa Trời đã giúp đỡ cho tôi không bị quỵ xuống, nhưng sự bình an siêu nhiên của Ngài tràn ngập tôi nhiều hơn đến nỗi tôi không phải khóc một giọt nước mắt nào trước mặt những người công an.

Mấy người công an chờ tôi thấy sốt ruột, cho đến khi tôi xong xuôi, sau đó tôi bị trói và bị tống lên xe chở tù nhân, là một chiếc xe thùng không mái che đem tôi đến nhà tù. Một niềm vui lớn lao tràn ngập tôi, và tôi nhớ đến một câu Kinh thánh: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về tin lành đâu, vì là quyền phép Đức Chúa Trời để cứu những kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Hy-lạp.” (Rô-ma 1:16)

Chiếc xe chạy qua các phố và nhiều người qua lại, đứng tò mò nhìn xem tôi. Đức Thánh Linh nói với tôi và bảo tôi đừng cúi gục đầu, đừng nhìn xuống xấu hổ, nhưng hãy ngồi thẳng dậy và mỉm cười với những người ở hai bên đường.

Tôi nói với chính mình: “Tôi đã không vi phạm luật pháp mà là một tù nhân vì cớ Chúa Giê-xu. Cho nên tôi không cần phải xấu hổ, hơn nữa, đó là một niềm vinh dự lớn cho tôi.” Tôi cũng nhớ đến một bài thơ của bà Curie có tựa đề: “Tình yêu của Ngài đã chắp cánh cho tôi.” Chúng tôi đã chạy qua những đường phố và người qua kẻ lại như vậy, và có thể một thời gian lâu tôi sẽ không nhìn thấy những cái đó nữa.

Trước hết, người ta đưa tôi vào trong sân của đồn công an và để tôi ởđó một mình. Tôi đã quì gối xuống như có thểđược, vì có dây trói và cầu nguyện. Sau một lát có một người công an đi qua, giận dữ xông vào tôi, khi hắn biết rằng tôi đang cầu nguyện từ nãy đến giờ, hắn lôi tôi lên bằng một tay, còn tay khác hắn cởi dây trói cho tôi và kéo tôi tới hành lang đi xuống các phòng giam. Lúc chúng tôi đi qua phòng số hai mươi bốn, thì chị Linh bị giam ởđó, đã nhìn thấy tôi và chị bắt đầu giàn dụa nước mắt, phản đối lớn tiếng: “Tại sao các ông lại đem người chị em của chúng tôi đến đây? Tôi đã nói với các ông rồi là tôi có lỗi thôi. Chịấy không có tội! Chịấy không liên quan gì đến việc này!”

Thật là một tình yêu quên mình biết là dường nào! Mặc dù chính chịấy cũng cùng cảnh ngộ giống như tôi, chị vẫn thấy lo lắng cho tôi và ba đứa con nhỏ của tôi. Chịđã nhận lấy toàn bộ tội lỗi về mình để tháo gánh nặng cho tôi! Tôi chỉ muốn chạy lại ôm chặt lấy chị và khóc cùng chị, nhưng những song sắt lạnh lùng, không thương xót ngăn cách chúng tôi, và người công an phớt lờ đẩy tôi đi tiếp. Tôi bị tống vài phòng giam số hai mươi. Thời gian tù của tôi bắt đầu.

Nhưng ở tại đó, Đức Chúa Trời của chúng ta cũng quan tâm tới chúng tôi. Mặc dù anh Vũ, chị Linh và tôi bị nhốt trong nhiều nơi khác nhau, nhưng chẳng bao lâu, không ngờ chúng tôi tìm được một khả năng có thể trao đổi với nhau. Một chị bị kết án tử hình, đã được nghe về Chúa Giê-xu do chị Linh kể và đã trở thành người tin Chúa. Chịđó được đi lại tự do hơn chúng tôi và mạo hiểm đem tin tức giữa chúng tôi với nhau. Chị không hề sợ hãi và rất đáng tin cậy, một quà tặng tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Vậy là, chúng tôi có thể chuyển cho nhau những mẫu giấy để an ủi, động viên và bàn trước về việc sau này chúng tôi sẽ đứng nói trước tòa như thế nào. Trong những ngày đó, tôi nhận được những mẫu giấy nhỏ của anh Vũ và chị Linh gởi cho tôi, tôi chưa bao giờ thấy vui mừng về một bức thưđến như vậy, và về sau này cũng không có như vậy.

Ở trong trại giam này, chị Linh phải chịu đựng nhiều hơn hết. Sự tàn bạo và nhục nhã chị phải chịu ởđó vượt quá những sự tưởng tượng về sự thậm tệ và có thể chưa từng có trước đó bao giờ, nhưng chắc sẽ lập lại ở các nhà tù khác trong tương lai. Khi chi Linh đến nhà tù, chị thấy kinh khủng về tình cảnh tuyệt vọng của những phụ nữ khác, và chị cảm thấy một sự thương xót lớn đối với họ. Chị cầu xin Chúa Giê-xu đầy dẫy chị bằng tình yêu của Ngài đối với những con người khốn khổ nhất trong số những người nghèo này. Nhiều người bị tù đã lâu, nhìn gầy gò vì đói, và chị Linh không làm gì khác hơn là đầu tiên dành cho họ một phần ăn mà những người đến thăm đem cho chị, sau đó, chị cũng quen dần chỉăn một phần của khẩu phần hằng ngày và phần còn lại, chị đưa cho họ. Và cùng với điều đó, chị kể cho họ nghe rằng Chúa Giê-xu yêu họ vô điều kiện và Đức Chúa Trời muốn tiếp nhận họ làm con cái Ngài, vì thế có nhiều chị em đã bắt đầu tin Chúa Giê-xu.

Lúc đầu, những chị cùng bị giam với chị Linh rất khó chịu. Có thể có một tình yêu quên mình được như vậy sao? nhưng sau đó, họ nhận thấy rằng sự vui vẻ, sự mềm mại và nhịn nhục là đích thực và chân tình đối với họ. Dần dà, những sự nghi ngờ cũng tan đi. Khi họ thấy rằng người phụ nữ này còn không sợ hãi trước sự tra tấn, họ bầu chị Linh làm tổ trưởng của họ. Có nhiều nhiệm vụđi kèm theo, một trong những công việc đó là đi lấy cơm cho cả tổ. Mỗi sáng, chị đến căng-tin nhận một cặp lồng cơm cho cả ngày. Một ngày kia, khi chị xách cặp lồng lấy cơm ra thấy có cái gì nâu nâu lòi dưới nắp. Đó là giấy đi cầu. Khi chị giở nắp cặp lồng thì thấy một cục phân người nằm trên cơm. Không để cho ai trông thấy, chịđem cặp lồng cơm về phòng giam. Sau đó, chị gắp cục phân ra, lấy phần cơm bẩn để riêng ra làm phần ăn cho mình, trước khi chịđem cặp lồng cơm cho những chị em khác. Khi chịăn cơm buổi sáng đó, chị nhớ câu Kinh thánh: “Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng. Bởi sựức hiếp và xửđoán, nên người đã bị cất lấy.” (Ê-sai 53:7-8) Và chịđã cầu nguyện: “Lạy Chúa, mặc dù Ngài là con Đức Chúa Trời mà Ngài không mở miệng và cứ để cho sự chống nghịch và lăng nhục xảy đến trên mình và Ngài đã tự nguyện chịu bị giết trên thập tự giá. Một học trò không thể lớn hơn thầy mình. Chúa ơi, con cũng muốn sẵn sàng nhận sự căm ghét của thế gian.” Chịđã khóc, trong khi đang ăn, nhưng đó không phải là những giọt nước mắt tuyệt vọng nữa, vì chị biết rằng chịđang bước theo dấu chân của Chúa mình. Khi buổi sáng hôm sau, chịđi lấy cơm, nó lại bị bẩn như vậy và điều đó lập lại nhiều lần, nhưng tôi không bao giờ nghe chị Linh phàn nàn về việc đó.

Tôi biết ông chồng của người đàn bà đã chết trong nhà tôi. Ngay trong lúc bà còn sống, bà hầu như không chịu nổi chồng mình. Ông hầu như không bao giờ chấp nhận để cho bà tin Chúa và cuối cùng ông tìm cách xua đuổi bà vì cớ đức tin. Thuòng lần nào tôi gặp người chị em, tôi đều thấy bà mang những vết tím bầm, bịđánh thương, khi tôi hỏi bà thú nhận rằng chồng mình đã hay đánh đập và đạp lên bà, khi ông thấy bà cầu nguyện. Một lần, khi ông thấy bà đang quì gối cầu nguyện, ông lấy một hòn đá lớn nặng vài chục cân đem để trên bắp chân bà. Sau cái chết của vợ, không những ông đòi 500 nhân dân tệ cho tiền mai táng, mà ông còn thường xuyên đổ lỗi cho tôi và cho tất cả những người mà ông nghi là đã giết bà. Ông đã quyết tâm không yên nghỉ cho đến khi thấy cả ba chúng tôi bị kết án tử hình.

Trong những tuần lễ tiếp theo, ở trong tù để chờ đợi ngày xét xử, chúng tôi bị hỏi cung nhiều lần. Nhưng cho dù những cán bộ và công an tìm đủ cách tìm xem ai là thủ phạm, thì chúng tôi vẫn một mực giữ những lời mình. “Chỉ một mình tôi chịu trách nhiệm cho vụ việc.” Mỗi người trong chúng tôi luôn luôn quả quyết như vậy. Những người có trách nhiệm rất lúng túng và không biết họ nên làm gì với chúng tôi. Gia đình người chết đòi hình phạt cho chúng tôi: một tử hình, một tù chung thân và một án tù hai mươi năm. Cho nên những người công an đề nghị chúng tôi nên thuê luật sư. Chúng tôi cầu nguyện cho việc đó mỗi người trong phòng giam mình, sau đó, chúng tôi lại trao đổi những mẫu giấy nhỏ để thống nhất với nhau về câu hỏi này. Anh Vũ hỏi chúng tôi: Các chị thấy có nên thuê một luật sư, ít nhất là để họ nói thế cho mình không?” Câu trả lời của chị Linh viết dưới: “Vâng rất cần. Chúng ta cần luật sư tốt nhất có thể có. Và thậm chí người đó cũng đã đại diện cho chúng ta bây giờ rồi! Chúa Giê-xu chúng ta là người luật sư tốt nhất, công bình nhất, không ai có thể bảo vệ sự việc của chúng ta tốt hơn.” Tôi tiếp thu ý kiến của chị, vì tôi chắc chắn rằng nếu phải bị giam, thì đó là chương trình của Đức Chúa Trời cho tôi. Nên chúng tôi đã nói cho bên công an biết rằng, chúng tôi không cần luật sư. Họ hết sức ngạc nhiên. Nhưng cách phản ứng của chúng tôi làm họ không thể hiểu nổi. Mỗi tù nhân khi qua tay họ đều tìm mọi cách để đuọc tự do hay ít nhất để giảm hình phạt xuống tới mức tối thiểu. Trái lại, mỗi chúng tôi đề nghị hình phạt cao nhất vì tội giết người cho mình, theo luật đó là tội tử hình.

Phiên tòa xét xử được ấn định vào ngày hai mươi ba tháng bảy. Nhưng tôi rất ngạc nhiên là trước đó vài ngày tôi được phép về nhà và được ở cùng với các con tôi một lần nữa, không nghi ngờ gì, đó là một quà tặng khác thường của Đức Chúa Trời. Nhưng khi tôi bước vào cửa nhà mình, đứa nhỏ nhất chạy ào đến tôi và khóc, tiếng khóc nó xé ruột xé gan. Vừa nấc từng tiếng nó vừa xin tôi: “Mẹơi, xin đừng đi nữa! Đừng, mẹ đừng trở lại nhà tù nữa, con không để cho mẹđi một mình nữa đâu!” Đứa gái út mới sáu tuổi, tôi rất yêu nó. Sựđau đớn ập đến trên tôi, và sức mạnh đã ban cho tôi, mà tôi kinh nghiệm ở trong nhà tù và trong những cuộc hỏi cung biến đi đâu mất. Làm sao tôi có thể bỏ những đứa con của tôi lại được? Tự nguyện nhận lỗi về một cái chết mà thực ra tôi không hề liên quan chút nào? Dẫu sao, bà cũng đã bị ung thưở giai đoạn cuối! Tôi càng cho phép sựđau lòng bao nhiêu, sự tuyệt vọng tôi càng lớn bấy nhiêu. Không còn phải hỏi, Sa-tan dùng việc này để tấn công tôi tới tấp vào đức tin của tôi. Nhưng tạơn Đức Chúa Trời, bằng tình yêu lớn lao, Ngài đã sai một mục sưđi qua, đã đọc và chỉ cho tôi nhiều câu Kinh thánh và tôi lại được an ủi và đức tin tôi được mạnh mẽ lại.

Buổi tối trước phiên tòa xét xử, có một chị em đến thăm và cầu nguyện với tôi. Tôi nhóm ba đứa con tôi quanh mình, an ủi chúng và đưa cho chúng những lời dặn dò, như thể tôi chỉđi có vài ngày hay đi công tác một thời gian ở thành phố khác. Sự bình an Đức Chúa Trời đầy dẫy tôi trở lại, cho nên tôi có thể nói rất bình tĩnh “Sáng mai, mẹ sẽ để các con ở nhà một mình, cho nên bây giờ mẹ muốn cầu nguyện với các con.” Tất cả chúng tôi cùng quì gối xuống cầu nguyện, cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời. Tôi giao phó các con tôi trong sự che chở của Cha Thiên Thượng của chúng ta. Sau đó tôi đưa chúng lên giường và sau khi chúng đã ngủ rồi, tôi cùng cầu nguyện với người chị em suốt đêm.

Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời, vì Ngài đã săn sóc cho các con tôi và tôi bằng tình yêu của Ngài. Trong suốt những ngày tôi ở nhà, các con tôi đã khóc nhiều lắm và nài xin tôi đừng trở lại nhà tù nữa, đến nỗi tôi cảm thấy vô cùng sợ hãi trước sự phải ra đi lần nữa. Nhưng trong buổi tối cuối cùng đó, Đức Chúa Trời đã làm tinh thần tôi mạnh mẽ và đã an ủi tôi và vào lúc chia tay buổi sáng, theo lẽ tự nhiên là giờ phút nặng nề nhất, thì Đức Chúa Trời đã dùng đứa con gái út để làm mạnh mẽ đức tin tôi. Khi tôi hôn nó lần cuối cùng, tôi dặn dò nó: “Bây giờ mẹ phải đi, nên hãy vâng lời Đức Chúa Trời và hãy là đứa con ngoan được Chúa yêu.” Đứa con gái sáu tuổi của tôi không hề khóc, mà rạng rỡ nhìn tôi bằng con mắt tròn to xinh đẹp của nó và nói: “Mẹơi, mẹ bịđi tù vì Chúa mà, nên mẹ không phải sợ gì!”

Tôi vô cùng tạơn Chúa vì câu nói này, Đức Chúa Trời đã giục lòng tôi mạnh mẽ bằng những lời nói của đứa trẻ này. “Con nói đúng, con yêu dấu của mẹ, con nên hãy cám ơn Chúa” tôi trả lời “bây giờ các con có muốn đi xuống gác cùng mẹ không?” Tất cả chúng đều xuống dưới đường và vẫy theo tôi, trái tim tôi tràn ngập sự biết ơn và vui sướng. Tôi biết rằng tôi đi trong ý muốn Đức Chúa Trời và chính Ngài sẽ săn sóc những đứa con tôi. Trong khi tôi ngồi trên xe đến nhà tù, trong nội tâm tôi có thể chuẩn bị bằng sự cầu nguyện để đứng trước quan án, những thẩm phán và những người kiện cáo. Tôi cầu nguyện xin sự khôn ngoan để nói điều cần phải nói.

Tôi là người đến đầu tiên trong số những người bị cáo. Khi anh Vũ và chị Linh bị giải đến, thì phòng xét xử được canh phòng rất cẩn mật. Vì họđã truyền giảng trong thời gian bị giam, và có những người cùng giam với họ tin nhận Chúa, nên họ phải chịu những sự tra tấn nặng nề. Anh Vũ phải chịu đựng nhiều. Tôi giật mình khi nhìn gặp anh lần đầu tiên kể từ sau khi bị bắt. Anh gầy còm chỉ còn da bọc xương, và da thịt anh tái nhợt. Còng đeo tay xiết chặt để lại những vết cứa trên tay, và sự nhiễm trùng bắt đầu lan từ khuỷu tay ra toàn cánh tay, làm cả cánh tay bị sưng vù đỏ tấy. Những vết thương trên thân thể anh bị nhiễm trùng, và khắp người anh đầy những ung nhọt lở loét. Tôi phải quay mặt đi, vì phải nhìn anh như vậy làm lòng tôi đau xót. Nhưng khi cặp mắt anh nhìn tôi, thì từ trong đó chiếu ra một đức tin lớn động viên tôi. Mặc dù thân thể anh đầy sựđau đớn, nhưng tinh thần anh không bị ngã gục.

Phiên tòa xét xử bắt đầu, và mỗi người trong chúng tôi thay phiên nhau đứng trước quan tòa giải thích rằng, mình là người có lỗi. Tôi quả quyết: “Kính thưa quan tòa, xin ngài hiểu cho rằng, tôi là người gây ra và chịu trách nhiệm chính.” Ngay lập tức, anh Vũ ngắt lời tôi và nói: “Không, điều đó không đúng. Tôi chịu trách nhiệm.” Tức thì chị Linh tiếp lời ngay: “Không, không ai trong hai người, tôi là người chịu trách nhiệm.”

Vị quan tòa thở dài nghe rõ tiếng và lắc đầu không tin được: “Tôi làm quan tòa nhiều năm nay, nhưng những người như các anh chịđây, tôi chưa từng thấy.”

Trong khi tôi nhìn sang hai người anh chị em mạnh mẽ của mình cách trìu mến và tự hào, thì tôi thấy lo lắng cho họ và những người thân của họ. Anh Vũ có một mẹ già tám mươi tuổi, một người vợ còn rất trẻ, cùng với hai đứa con thơ hay ốm đau. Chị Linh cũng có hai con, bây giờ được dạy dỗ theo sự vô thần, bởi người cha vô tín, chồng cô và một bà nội vô tín. Tôi có thể hình dung được là họ lo lắng như thế nào. Thật là một gánh nặng đặt trên hai anh chị em yêu dấu của tôi lớn dường nào! Tôi mong muốn gánh lấy hình phạt này cho họ làm sao! Rồi tôi nghe tiếng phán êm dịu của Đức Thánh Linh khiến cho tôi bình tĩnh lại: “đó là việc của Ta.”

Tôi biết rằng cả ba chúng tôi phải đi học trường “Đại học nhà tù” đặc biệt này, để học cách giành giật linh hồn con người cho Đức Chúa Trời.

Cuối cùng, quan tòa đứng dậy và đọc lời tuyên án. Tôi chợt nghĩ trong lòng, hôm nay là thứ sáu thương khó, là ngày Chúa chúng ta chịu nạn cho chúng ta. Ngay chính ngày thứ sáu thương khó hôm nay bị kết án vì cớ Chúa Giê-xu, thật vui mừng biết bao! Trong khi viên quan tòa bắt đầu nói bằng những ngôn ngữ tòa án khó hiểu, thì trong thâm tâm, tôi cảm tạ Chúa, vì tình yêu vô bờ bến của Ngài đã chọn đúng ngày hôm nay cho sự xét xử chúng tôi. Một ơn phước từ Chúa thật kỳ diệu là dường nào! Sau đó những lời của quan tòa đập vào tâm trí tôi “…chị Linh tám năm tù, còn anh Vũ bảy năm và chị Trân sáu năm cải tạo lao động.” Chúng tôi đón nhận sự xét xử này từ tay Đức Chúa Trời một cách biết ơn, đáng lẽ chúng tôi phải bị phạt nặng hơn, vì chúng tôi tự nhận lỗi đã làm chết người, mà theo thông thường là phải bị tử hình. Nhưng sự tự kết án của chúng tôi đã làm cho quan tòa phải bối rối, đến nỗi cuối cùng ông đi đến lời tuyên án này.

Phiên tòa xét xử chấm dứt. Những người công an trói anh Vũ rất chặt bằng những sợi dây ni-lông mỏng dính, làm anh rất đau đớn, vì nó cắt sâu vào da thịt. Chị Linh và tôi bị còng tay chung với nhau. Chúng tôi đi bộ một quãng đường dài từ nơi tòa án đến nhà giam. Ngay khi bắt đầu đi, tôi cảm nhận Đức Thánh Linh muốn nói với tôi hãy đi thật nhanh đuổi kịp anh Vũđang đi đằng trước chúng tôi. Khi chúng tôi theo kịp anh, là lúc chúng tôi đi qua cửa ra vào của tòa án và những người coi giữ không chú ý đến chúng tôi. Nên chúng tôi có thể tháo dây trói cho anh Vũ lỏng hơn. Khi chúng tôi đi bộ dài qua thành phố để đến nhà tù và không bao giờ nghĩ rằng, chúng tôi sẽ không nhìn thấy những con đường này trong một quãng thời gian dài nữa, vừa khi ấy chúng tôi nhìn thấy trong số những khách đi đường đang xì xầm, tò mò có một vài người nhìn chúng tôi trìu mến, nhiều người khóc và chúng tôi cũng thấy vài khuôn mặt quen thuộc của các anh chị em trong những Hội thánh chúng tôi. Những anh chị em thân yêu của chúng tôi đã đến từ khắp nơi, nhiều người thậm chí không biết chúng tôi, họ đến để cùng đứng với chúng tôi trong những ngày này. Điều đó làm cho chúng tôi thấy thật tốt đẹp. Từ con đường mà đáng lẽ là nặng nề này, đã trở thành một cuộc diễn hành thầm lặng của sựđoàn kết, gắn bó của những người tin Chúa và trong những ngày tiếp theo, kỷ niệm này giúp chúng tôi rất nhiều chống lại sự cô đơn rình rập. Cuối cùng, khi chúng tôi bị đẩy qua cánh cổng nhà tù cao sừng sững, chúng tôi nghe thấy những tiếng khóc to của những Cơ-đốc nhân. Cánh cổng được khóa lại cẩn thận, Tuy một thời gian khó khăn thử thách bắt đầu trước chúng tôi, nhưng chúng tôi biết rằng, Đức Chúa Trời cùng với chúng tôi bước vào nhà tù này, và các anh chị em không bao giờ quên chúng tôi.

Vào buổi tối hôm đó, khi tôi ngồi trên chiếc giường phên của mình và cầu nguyện thầm trong tâm trí, thì Chúa Giê-xu đã ban cho tôi một khải tượng đặc biệt, tôi thấy một dòng chữ lớn “Nhiệt Liệt Chào Mừng” viết trên nền trời. Một ánh sáng chói vàng khác thường, bừng sáng qua dòng chữ. Trong tôi có một niềm vui bắt đầu dâng lên ngày càng mạnh mẽ hơn như một dòng nước tràn dâng thành một dòng nước sự sống, và tôi giơ hai tay lên hướng về Đức Chúa Trời, mở to miệng mình và để cho sự ngợi khen Ngài tuôn chảy ra “Chúa ơi, Ngài đã chuẩn bị cho con công việc này của thập tự giá. Vì thế, Ngài chỉ cho con thấy tình yêu Ngài, và đây là một con đường của sự vui mừng và sự khoái lạc. Ha-lê­lu-gia! Con cám ơn Ngài!”

Vào ngày mười ba tháng tám, cơ quan quản lý nhà tù cho phép những người thân mang cho tôi một ít đồ dùng hàng ngày. Những anh chị em khắp vùng đều đến thăm tôi. Trong số đó có anh Y từ thành phố ‘F’ đã đem theo những con cái Chúa khác và đón các con tôi, chở tất cả đến nhà tù đúng giờ cho phép thăm. Không ai sợ hãi trước những người công an và mọi sự xấu có thể xãy ra, nhưng tất cả đều vào trong sân nhà tù, và chúng tôi được ởđó nửa tiếng đồng hồ. Chúng tôi động viên khích lệ lẫn nhau, hãy hầu việc Chúa Giê­xu bằng tất cả tấm lòng. Những giây phút quí giá trôi qua nhanh chóng. Các con tôi ăn mặc đầu tóc gọn gàng, chúng tỏa chiếu một nghị lực, đó là điều làm cho tôi thấy yên tâm.

Từ trên cửa sổ nhà tù có nhiều tù nhân quan sát chúng tôi, chắc chắn họ rất ngạc nhiên khi thấy có nhiều người đến thăm tôi và yêu mến tôi như vậy, trong khi thông thường những cuộc gặp mặt như vậy chỉ chứa đựng sự xấu hổ và trách móc. Những người quản lý đã đến và đuổi những người thân yêu của tôi ra ngoài cánh cửa ra vào nhà tù và đã ngăn cách họ khỏi cái nhìn thương nhớ của tôi. Tôi chạy thật nhanh lên tầng một, trèo lên cửa sổđể có thể nhìn thấy tất cả. Đức Thánh Linh thôi thúc tôi nói với họ.

Điều đó không dễ dàng đối với tôi, giọng tôi run run, nghẹn ngào, vì chắc tốt nhất là tôi bò vào một góc nào đó mà khóc về các con tôi. Nhưng Đức Thánh Linh đã ban cho tôi sức mạnh, nhìn vào các con tôi qua những song sắt và tôi lớn tiếng dặn dò chúng “Các con phải yêu thương nhau, phải một lòng một dạ, hãy chú ý đừng để điều gì xãy ra giữa các con, thì Đức Chúa Trời Ba ngôi sẽở giữa các con và che chở các con.” Các anh chị em đang đứng sát bên cạnh các con tôi cũng hiểu rằng sứđiệp này vừa dành cho họ, họ rất xúc động và nhiều người bắt đầu khóc.

Bây giờ tôi nhìn trực tiếp các con tôi: “Hãy gắn bó với nhau. Các con biết mẹ không ở bên các con, nhưng các con có hàng ngàn người cha, người mẹ săn sóc các con.”

Một lính canh kéo tôi xuống khỏi cửa sổ và đưa tôi trở lại phòng giam, ởđó, tôi có thể trông thấy anh Y và những người khác còn đứng đợi lâu ở trước tường thành nhà tù và không muốn ra về. Tôi rất vui mừng vì họ và biết rằng họđã cầu nguyện cho tôi. Nhiều người cai ngục rất cảm kích về sự thăm viếng của những Cơ-đốc nhân và nói với nhau: “Chỉ những người tin vào Chúa Giê-xu này mới có sự yêu thương nhau như vậy.” Trong đêm hôm đó tôi bị đem lên phòng hỏi cung, ởđó hàng tiếng đồng hồ. Người chỉ huy cuộc hỏi cung của công an an ninh tìm cách moi những tin tức qua tôi về những Cơ-đốc nhân và những Hội thánh. Nhưng tôi không trả lời gì cả, không một lời. Suốt thời gian đó, lòng tôi tràn ngập một niềm vui sâu đậm, một niềm vui mà cuộc tra khảo vào lúc ban đêm này không thể cướp mất của tôi được.

Hai ngày sau, phòng hành chính trại giam thông báo cho tôi rằng tôi sẽ được thuyên chuyển đến một trại cải tạo lao động ở một tỉnh khác. Tôi đã chợt mừng thầm rằng cả ba chúng tôi sẽđược cùng đi chung một xe tải trong một chuyến đi dài và thậm chí chúng tôi có thể được tương giao thoải mái, không ai cấm cản. Nhưng đến ngày chuyển trại tôi biết rằng, bên công an có những chương trình khác nhau cho chúng tôi. Điều quan trọng đối với họ là chia cắt chúng tôi, điều đó cũng ảnh hưởng chúng tôi ít nhiều. Chị Linh ở lại trong trại giam này và thường bị nhốt ở phòng số năm, anh Vũ cũng đến một trại cải tạo, nhưng khác nơi với tôi. Chúng tôi không có cơ hội để chia tay nhau nữa. Tôi bị trói chặt và bị tống lên xe chở tù binh. Tôi đầy sự buồn rầu, vì phải rời khỏi tỉnh nhà và các con và những anh chị em và tương lai trước mắt hoàn toàn vô định.

Trong lúc xe chạy, tôi nhìn qua cửa sổ và thấy một ông già đi bên vệ đường và ẵm một con chiên con trong tay, chắc nó vừa mới cai sữa khỏi mẹ nó. Tiếng nó kêu be be, muốn trở lại với mẹ nó, nghe da diết làm sao. Khung cảnh đó làm tôi rung động sâu sắc, vì tôi cũng cảm thấy mình giống như vậy. “Chúa ơi, con giống như con chiên con này, đang dùng sữa của sự thông công với các anh chị em khác, bây giờ người ta kéo con ra khỏi đó và đưa con đi. Xin Ngài hãy ở bên cạnh các con và bảo vệ chúng.”

Tôi buồn rầu nhớ lại ba chúng tôi, anh Vũ, chị Linh và tôi đã thường gởi thư cho nhau ra sao. Đó là một loại hình tốt đẹp của sự thông công mà bây giờ tôi bị mất đi. Thỉnh thoảng, những bức thư của chúng tôi kết thúc như thế này “hẹn gặp nhau trên thiên đàng!” Chúng tôi tin rằng ngày Chúa Giê-xu trở lại đã gần rồi, và vì chúng tôi bị án tù lâu như vậy, chúng tôi không nghĩ rằng mình còn được nhìn thấy trái đất một lần nữa. Trong khi tôi để cho những tư tưởng đó dậy lên, thì tôi bắt đầu khóc. Tên lính chịu trách nhiệm chuyến đi này gườm tôi nói: “Thôi tôi xin cô im đi cho! Đáng lẽ cô phải nghĩ đến điều đó trước khi phạm tội kìa.”

Tôi trả lời: “Tôi không hề làm điều gì bất chính. Tôi bị bắt vì danh Chúa Giê-xu. Thưa đồng chí, xin đồng chí hãy tin Chúa Giê-xu ngay, Ngài có thể cứu đồng chí, nếu đồng chí tin Ngài, thì còn phục vụ Ngài nhiệt thành hơn cả tôi nữa.”

Chúa đã dùng hoàn cảnh đó để tôi có thể kể cho người đó nghe về Chúa Giê-xu, điều đó rất an ủi tôi. Sự bình an của Chúa đến trở lại. Sau đó, chúng tôi đến trại cải tạo, ởđó tôi phải sống những năm tháng tiếp theo và làm việc nặng nhọc. Trong sáu năm tù theo như án lệnh dành cho tôi, thì hầu như năm đầu tiên tôi ở nhà tù khác và nhà tù tạm giam.Dầu vậy, còn lại năm năm đối với tôi như một ngọn núi, tưởng chừng không vượt qua được.

3. Ta sai con đến với họ (Công vụ các sứđồ 26:17)

Khi tôi đến trại cải tạo, ởđó có khoảng sáu trăm tù nhân, về sau con số tăng lên đến hơn bốn nghìn, tất cả tù nhân và tất cả ban quản lý trại đều là nữ. Trong toàn trại, ngoài tôi ra còn có một chị em khác cũng là con cái Chúa, chị này ở ngay trong phòng giam đầu tiên tôi được phân vào. Nhưng chị rất sợ sệt và nhác gan. Những phụ nữ sống chung ởđây phạm đủ mọi tội hình sự: giết người, hành hung, đĩ điếm, bắt con tin tống tiền, trộm cắp, hối lộ, v.v… Có vài người phải trả giá bằng án tù chung thân, có người thì hai mươi năm, mười lăm năm, mười hay tám năm. Những phụ nữ này đầy dẫy tội lỗi các loại, sự tối tăm và vô vọng.

Đó là một chỗ khủng khiếp. Tôi chưa từng nghe một loại ngôn ngữđộc địa, chua cay như vậy bao giờ, nhưng ởđây, thì cả ngày đều như vậy. Cứ hễ những nữ tù nhân gặp nhau là có tiếng chửi tục, nguyền rủa, cho dù lúc tập thể dục hay lúc ăn cơm, những phụ nữđó công kích nhau bằng những lối nói bẩn thỉu thâm độc, trong phòng giam của tôi, lúc nào cũng bị căng thẳng vì thứ ngôn ngữ kích động đó. Xen giữa những điều đó là những tiếng khóc tuyệt vọng, thường xuyên có tiếng đồn về những chuyện tự tử.

Tình trạng này thật sự là địa ngục, một nơi khốn nạn, bẩn thỉu không tưởng tượng nổi, vượt ra ngoài sự tưởng tượng của tôi. Trong khi tôi quan sát và làm quen với những phụ nữđáng thương này, những con người đầy thù hận cay đắng và đầu hàng với số phận, hoàn toàn không còn hi vọng gì và không có gì để mất nữa, đang trôi thả ra ngoài đến với sự hư mất đời đời, thì một gánh nặng đã đặt vào trái tim tôi, đè nặng lên tôi ngày và đêm.

Tôi bắt đầu cầu nguyện khẩn thiết, “Chúa ơi, Ngài đã gọi con đến một nơi xa xôi này để giảng tin lành. Con biết rằng đây là chỗ Ngài kêu gọi con, xin cám ơn Ngài, vì đã đem con đến đây. Khi con nhìn những con người bất hạnh đáng thương này, thì làm sao con có thể nín lặng được rằng Ngài là có thật và là hi vọng? Con nhất định phải kể cho họ nghe về Ngài. Nhưng con cần sự giúp đỡ của Ngài.” Cuối cùng, tôi ở trong một nhà tù, ngay cả nói chuyện cũng không được tự do, chứ chưa nói là làm chứng về Chúa. Tôi phải làm gì, hành động bằng cách nào, làm sao để tiếp cận với những con người cứng cỏi, cay đắng này? Người ta cũng không được phép quì gối cầu nguyện ở trong phòng giam. Chỉ những ngày chủ nhật, khi các nữ tù nhân khác được đi dạo trong sân, thì tôi được ở lại phòng một mình và có thể quì gối ngoảnh mặt vào tường và cầu nguyện. Ngoài những ngày chủ nhật ra, tôi còn có thể cầu nguyện vào lúc nữa đêm, nếu tất cảđã ngủ say. Lúc đó tôi dành nhiều thời gian tìm kiếm Đức Chúa Trời. Còn những lúc khác, tuy tôi cũng cầu nguyện không thôi và hết lòng, nhưng chỉở trong tâm trí để cho không ai chú ý.

Chẳng bao lâu, những người bị giam cùng phòng tôi nhận thấy rằng tôi khác thường. Tôi không chửi rủa, không đánh nhau, mà vui vẻ, mềm mại và lo lắng đến những người khác. Tình yêu của Chúa Giê-xu trở nên đậm nét trong tôi đã thu hút sự tò mò của những người khác. Tôi tận dụng mọi cơ hội để kể cho những phụ nữ về Chúa Giê-xu, có vài người khóc và bắt đầu tin Chúa Giê-xu và mở lòng tiếp nhận Ngài. Trong những bữa ăn và những lúc đi dạo thường có dịp tiện để trò chuyện, cũng như lúc đi tắm, những lúc chiếu phim hay những lúc được xem ti-vi. Tôi dạy họ cầu nguyện và đem cho họ những mẫu giấy viết những câu Kinh thánh và những bài hát tôn vinh Chúa tôi thuộc, tôi cẩn thận viết chúng vào cuốn sổ tay và xé ra đưa cho họ.

Dần dần, đời sống của những cá nhân bắt đầu thay đổi. Sau này, tất cả bầu không khí của trại giam được thay đổi. Không phải tất cả những người cùng phòng đều đón nhận tin lành mà tôi rao truyền cho họ. Nhưng những người khác đến với tôi khi họ bị khó khăn hay nhận được những tin tức xấu xảy ra ở gia đình. Tôi lắng nghe họ, đưa cho họ những lời khuyên và an ủi họ. Trước hết, họ cảm nhận tình yêu của Đức Chúa Trời, là tình yêu mà Ngài đã yêu tôi. Và những sự sợ hãi nặng nề của họ thường biến mất khi chúng tôi nói chuyện. Mỗi ngày có những phụ nữ khác đến tin Chúa Giê-xu. Trong phòng giam đầu tiên tôi ởđó có mười lăm trong số hai mươi phụ nữđã tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa và Đấng cứu chuộc của họ. Họ từ bỏ những cách nghĩ và lối sống cũ, được tái sinh và Đức Chúa Trời ban cho tôi những người chị em mới.

Sau đó, tôi được đem đến phòng giam số hai. Ởđó, điều kiện khắt khe hơn nhiều so với phòng giam đầu tiên. Bà quản lý ởđó rất khó tính và ít khi nào rời mắt khỏi chúng tôi. Nếu bà bắt quả tang tôi đang cầu nguyện là tôi bị lãnh hình phạt nặng nhất. Nhưng Đức Chúa Trời biết rằng tôi rất sợ những sựđánh đập và đau đớn, và Ngài đã làm cho tôi mạnh mẽ bằng sự can đảm, hầu cho tôi không nhụt chí trước những điều đó và hầu cho tôi, tuy thế vẫn cứ chấp nhận và liều mạng cầu nguyện. Lập tức, sau đó tôi được chuyển sang phòng giam số năm. Những ngày trôi qua nhanh chóng, và dần dà tôi làm quen được với cuộc sống trong trại. Chúng tôi phải làm việc mười tiếng mỗi ngày, thoạt đầu, điều đó không nhẹ nhàng đối với tôi. Nhưng vượt lên trên mọi điều đó, tôi biết rằng Đức Chúa Trời đã đem tôi đến đúng nơi này và đến cùng những người phụ nữ này, để kể cho họ về Chúa Giê-xu và đem cho họ một cơ hội kinh nghiệm sự bình an và tha thứ, để họ có thể làm lại cuộc đời. Đồng thời, tôi biết rằng nếu không có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, thì tôi không thể thuyết phục được một con người nào trong số họ tin vào sự tồn tại của Thượng Đế cả. Vì dù cho họ rất tuyệt vọng, họ vẫn rất cứng cỏi và cay đắng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sẵng sàng những tấm lòng này. Những gì tôi kinh nghiệm trong những năm tới đây là những điều thật nằm mơ cũng không thấy.

Một vài tuần lễ trôi qua, cho đến khi tôi quen với địa lý và cơ cấu tổ chức của trại cải tạo, tôi vốn không biết cuộc sống trong một trại cải tạo như thế nào. Về căn bản, chúng tôi tạo nên một thế giới nhỏ riêng biệt, hoàn toàn tách với thế giới bên ngoài. Khu nhà trại cải tạo chiếm một mặt bằng khoảng mấy trăm héc-ta đất, ở trong một vùng đồng bằng lẻ loi. Người ta không thấy một vùng dân cư nào trong tầm mắt. Trong trung tâm của trại, có bốn khu nhà lớn, mỗi nhà cao bốn tầng. Ở khu nhà chính, mỗi tầng có ba mươi phòng tù nhân. Hai nhà bên cạnh là hai phân xưởng để tù nhân làm việc. Ngôi nhà đối diện, gần cổng chính ra vào trại là nhà hành chính, nơi ở của các nữ nhân viên trại. Trước và sau trại cải tạo là những bãi đất trọc, chỉ có vài loại cỏ dại sống được. Khi tôi đến trại thì đã gần cuối thu, hoa lá đã rụng tàn từ lâu. Ấy là vùng đất xám xịt, không sự sống, đang đón chờ một mùa đông khắc nghiệt. Khu trại được bao bọc bằng một bờ tường dài ba cây số cao bảy mét và những dây điện gắn trên đó. Thật sự không có khả năng chạy trốn khỏi nhà tù này, thế giới tự do dường như xa vời, không thể đến được. Những nữ tù nhân khác kể rằng ởđây trước đây là nghĩa địa, và ban đêm người ta nghe thấy tiếng kêu của những người đã chết, gây nên những tiếng động rùng rợn. Nhưng tôi phải nói rằng, đó là điều tôi ít gặp khó khăn nhất.

Ngoài những tù nhân ra, còn có hàng trăm nữ nhân viên sống trong khu trại này. Họ thiết lập một cơ chế rất nghiêm ngặt, gồm những nữ đội trưởng, nữ tổ trưởng, nữ giáo viên và những nữ cai tù. Bà trưởng trại khoảng năm mươi tuổi. Bà đã cống hiến nhiều năm nay, với sự nỗ lực giáo dục các nữ tù nhân bằng lao động và kỷ luật trại giam. Bà có một kho kinh nghiệm lớn, là người mềm mại và có trách nhiệm, đầu tư hết sức lực mình vào nhiệm vụ này. Bà nữ tổ trưởng của chúng tôi cũng được mọi người tôn trọng và có thể gọi là một con người tốt. Bà không to lớn lắm, có một khuôn mặt dài và đôi mắt to. Mặc dù bà đã ngoài bốn mươi, nhưng trông bà vẫn còn trẻ và sắc sảo, hầu như lúc nào cũng có nụ cười trên gương mặt và quan hệ với tù nhân trong tổ rất thân tình. Bà thật sựđã chăm lo cho chúng tôi, quan tâm đến những sự lo lắng hằng ngày của chúng tôi, bà không thờơ về sức khỏe của chúng tôi. Thỉnh thoảng, chúng tôi tìm thấy trên bàn trong phòng giam mình bánh kẹo, mà bà đã mua cho chúng tôi và để lại ởđó, không cho ai biết. Những nữ tù nhân đã cảm động trước lòng tốt của bà, nên đã giữ lại những quà đó lâu ngày.

Đáng tiếc là những phụ nữ này không biết về Thượng Đế. Họ nghĩ rằng, họ có thể thay đổi con người bằng luật pháp, nhà tù và tra tấn. Họ hành động với mục đích tốt nhất, nhưng họ không biết Đấng có thể làm thay đổi được tấm lòng con người, vì Ngài đã dựng nên con người. Tôi có một ước muốn, đó là kể cho những phụ nữ này về Chúa Giê-xu, nhưng đáng tiếc là tôi không bao giờ có cơ hội thuận lợi. Đến hôm nay, tôi còn thấy tiếc vì điều đó, nhưng tôi cầu nguyện để những chị em tin Chúa khác làm điều này thay cho tôi.

Bà giáo trưởng của chúng tôi là người hay dùng vũ lực nhất đối với chúng tôi. Bà cũng khoảng bốn mươi tuổi, hơi gầy và nhỏ bé, cặp mắt một mí, nằm xếch trên gương mặt dài xương xương. Bà dễ nổi điên và có thể giận dữ và tàn nhẫn. Bà thường mặt quân phục và đội mũ công an. Tất cả đều sợ bà, và bà biết điều đó. Bà thấy thích thú khi hành hạ chúng tôi, bà thưởng thức địa vị quyền lực với sự tự kiêu tự mãn, và thường đeo theo bên người cây roi điện. Nếu bà xuất hiện, thì ai nấy phải liệu hồn, vì thế nào cũng có người bịđánh, bị chửi hay bị quất bằng roi điện. Mỗi lần bà bước vào phân xưởng thì tất cả đều im phăng phắc, các phụ nữ bắt đầu làm chăm chỉ và tránh nhìn lên bà. Tất cả đều sợ roi điện của bà, khi nó chạm vào làm đau điếng người, mà bà thì lại hay dùng nó một cách hào phóng. Nhưng bà vừa đi khuất mắt mọi người là những tù nhân chửi rủa và gọi bà là ‘mụ bà chằng’. Những chị em mới tin Chúa của tôi hay bị hành hạ bởi tay bà, những cuộc bắt bớ Cơ-đốc nhân xảy ra do bà và phần lớn bà cũng tự thi hành.

Tôi vào trại chưa bao lâu, mà đã có nhiều chị em bịđem ra và kết tội là đã nói về Chúa Giê-xu một cách công khai. Một người trong số họ là chị S. cũng như tôi, chị biết rằng Đức Chúa Trời đã đưa chị vào trại giam này để kể về Chúa Giê-xu cho những phụ nữở đây. Chị chỉ bị giam trong một thời gian ngắn, nhưng trong thời gian đó, chịđã dắt đưa nhiều người đến với Chúa Giê-xu.

Vào một buổi tối, khi tôi vừa chuẩn bị giặt quần áo, thì một cô gái trẻ đến cạnh tôi cũng giặt quần áo. Tôi không biết cô ta. Cô bắt chuyện với tôi và giới thiệu với tôi cô là người tin Chúa. Tôi nhìn vào ánh mắt rực sáng của cô, biết rằng cô đã nói thật, và tôi cảm nhận sự bình an êm ái từ Chúa trong cô, đó là điều còn hiếm hoi trong nhà tù này. Trong khi cả hai chúng tôi đang đứng cúi xuống xô quần áo của mình và chú ý quan sát xung quanh xem có ai nghe trộm không, sau đó cô nói cho tôi điều mong ước của cô. “Mẹơi, con rất khao khát Lời Đức Chúa Trời. Con muốn biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời là Đấng đã yêu con. Mẹ có thể tìm cách mượn cho con một quyển Kinh thánh được không, chỉ vài ngày thôi cũng được?” Giọng cô run run, và những giọt nước mắt cô tràn trên đôi mắt, khi cô thổ lộ cho tôi điều lòng cô ao ước. Thật vui khi được gặp cô! “Con gái yêu, mẹ vui lòng đưa cho con điều con rất khao khát. Mẹ tuy không có cả quyển Kinh thánh, nhưng mẹ có thểđưa cho con quyển sổ tay của mẹ, trong đó có những câu gốc mẹ còn nhớ.” Tôi cũng đem theo quyển sổ tay giấu trong quần áo, và đưa cho cô, không để cho ai trông thấy. Cô vui mừng quá nên bắt đầu nhảy múa.

Chiều chiều, vào lúc ba giờ rưỡi chúng tôi thường có một tiếng để nghĩ giải lao, trong thời gian này, chúng tôi có thểđi lại tự do trong sân. Chỉ hai ngày sau khi tôi đưa cho cô gái trẻ quyển sổ tay, cô đến với tôi trong giờ nghĩđó và dúi quyển sổđó vào túi áo tôi. “Rất cám ơn mẹ, nhưng bây giờ con phải cần một quyển Kinh thánh.” Tôi rất cố gắng và với sự giúp đỡ của Chúa, quả thật tôi đã nhận được một quyển tân ước và đưa cho cô. Cô nhận nó với lòng biết ơn, và làm việc chăm chỉ và chẳng bao lâu cô đã viết lại gần hết!

Làm sao cô có thể viết nhiều như vậy được trong khi chúng tôi luôn luôn bị canh chừng? Ban ngày cô phải làm việc mười tiếng đồng hồ như những người khác. Lúc đó, chúng tôi bị canh phòng nghiêm ngặt, cho nên không ai có thể làm được việc gì khác. Nhưng đêm đêm, khi tất cả những người cùng phòng đã ngủ say, cô còn nằm thức, chui vào trong chăn chỉ để một chút ánh sáng nhỏ từ ngọn đèn sáng ngày đêm trong phòng chiếu vào tờ giấy và cô viết rất khẩn trương. Tất nhiên cô cũng mệt mỏi như những người khác vì công việc mệt nhọc trong ngày, thêm vào đó là sự thiếu ngủ là cơ thể cô rã rời. Đến mùa đông, vềđêm cô hay bị lạnh run cầm cập vì chăn đắp mỏng, chăn mỏng phát cho chúng tôi không đủ để làm ấm thân thể gầy gò của cô, và trong khi cô viết người ta nghe thấy tiếng hàm răng run cầm cập đánh vào nhau dưới chăn. Nhưng cô gái không chịu ngưng nghĩ mà cứ viết lại Lời Đức Chúa Trời quí giá, vì có một ước muốn giục giã: tặng những Cơ-đốc nhân trẻ khác một Kinh thánh tân ước. Từng hàng chữ Trung Quốc chạy tung tăng trên trang giấy, từng câu quí giá về Lời Đức Chúa Trời, bánh sự sống được cô làm gia tăng lên không mệt mỏi. Tất nhiên cô luôn luôn bị sự buồn ngủ cám dỗ, gật lên gật xuống và cây viết tuột khỏi tay cô. Nhưng sau đó cô thấy những chị em trong giấc mơ đang giơ tay ra khao khát cầu xin Lời Đức Chúa Trời và đột nhiên cô lại tỉnh như sáo và viết tiếp. Cô thường viết như vậy cho đến rạng đông.

Khi cô đã hoàn tất một bản sao chép, cô lại đưa cho những chị em tin Chúa ở các phòng khác. Những phụ nữ nhận quyển sách quí giá đó cảm tạ Đức Chúa Trời và bắt đầu tận dụng mỗi giây phút rảnh rỗi để đọc. Những chị em đó hay đi ăn muộn, trong khi tất cả những người khác vội vàng đi ăn ngay sau khi làm việc xong, thì họ tranh thủ đọc nhanh một vài câu nữa. Và trong khi những phụ nữ khác đi đi lại lại trong sân vào những lúc giải lao, thì các chị em tin Chúa thích ở lại phòng và đọc Kinh thánh hơn. Họ đọc trong nhà vệ sinh hay vào những lúc đêm khuya, khi những người khác đã ngủ. Quả thật, họđã dùng mọi cơ hội để tìm hiểu chân lý là điều có thể giải phóng họ, cho dù họ là những tù nhân.

4. Hãy chịu đựng gian khổ và truyền bá phúc âm. (II Ti-mô-thê 4:5)

Gần cuối năm 1983, con số tù nhân tăng từ sáu trăm lên đến bốn nghìn. Trong thời gian đó, S. cô tín đồ trẻ tuổi, cũng ở nhà tù này cùng với tôi, cô đã dắt nhiều phụ nữ đến tin nhận Chúa Giê-xu qua lời chứng của cô. Tôi dành nhiều thời gian thông công và cầu nguyện với S. Tôi rất thích thú được trò chuyện và cầu nguyện với cô, vì cô cùng chung ý nghĩ về việc ở tù này cũng giống như tôi: Đức Chúa Trời đã đem chúng tôi như những người truyền bá phúc âm đến nhà tù này, để nói về Chúa Giê-xu cho những nữ tù nhân ở đây. S. luôn nói cho tôi những tin mới “Cô Trân ơi, cô biết không, cả những người đó … đó … cũng tin nhận Chúa Giê-xu, và họ rất khát khao cho cả trại biết rằng Chúa Giê-xu là sự sống. Họ cầu nguyện cho tất cả phụ nữởđây trở lại tin Chúa. Cả phòng số … và phòng số … các chị em bây giờ cũng cầu nguyện cho cả trại giam biến thành một Hội thánh lớn …” Chẳng bao lâu, mỗi phòng đều có người tin Chúa, là những người kiêng ăn hẳn hoi và cầu nguyện bằng nước mắt để xin tin lành Chúa đến chiếm hữu trại cải tạo này. Những phụ nữ này tuy mới được nghe về Chúa Giê-xu ởđây, nhưng cũng đầy một sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời bằng một tình yêu đối với các chị em khác, những điều đó làm cho tôi kinh ngạc. Điều đó chứng tỏ Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang vận hành ở đây và làm những phép lạ. S. và tôi chắc sẽ không bao giờ thay đổi những phụ nữ cứng cỏi cay đắng này như vậy được. Vào mùa đông này, có tất cả các phòng đều tham gia kiêng ăn, cầu nguyện và kêu khóc để cho trại cải tạo biến thành nhà thờ.

Đầu năm 1984, có một cơn phấn hưng lớn đến độ tôi và S không ngờ được. Có nhiều phụ nữ trở lại tin nhận Chúa đến nỗi tôi không còn ước tính được nữa. Mùa gặt này đem lại sự vui mừng vô xiết kể, giống như là chúng tôi đang làm việc trên một đồi nho đã chín muồi, chúng tôi chỉ cần đi ngang qua là những trái nho đã rơi vào đầy các giỏ. Có nhiều phép lạ cứu rỗi và chữa lành xãy ra, đến nỗi tôi không thể kể hết được. Những phụ nữ mới tin Chúa lòng đầy hăng say kể về Chúa Giê-xu cho những chị em khác, không ai sợ hãi trước những nữ nhân viên và có một số nhân viên trong trại trở lại tin nhận Chúa. Những phụ nữ trước kia phạm mọi loại tội, bắt đầu tin Chúa, xưng nhận tội lỗi mình và từ bỏ đường ác của mình. Quyền lực tối tăm bị bẻ gãy. Toàn bộ bầu không khí biến thay thấy rõ ràng. Trại cải tạo này trước kia từng đầy dẫy sự hận thù, ô uế, và ô nhục, thì bây giờ tràn đầy tình yêu và vinh hiển Đức Chúa Trời. Bóng tối phải lánh khỏi trước sự sáng của Chúa Giê-xu. Ban đêm, người ta không còn nghe thấy tiếng khóc than tuyệt vọng nữa, cả tiếng nguyền rủa, cãi nhau, những câu chuyện tiếu lâm bẩn thỉu và những tiếng chửi thề, đã từng đầy dẫy không gian ởđây, thì bây giờ, người ta không nghe thấy nữa. Thay vào đó, là những tiếng reo to “Ha-lê-lu-gia”, những bài hát và những lời cầu nguyện, niềm vui và sự nồng thắm cai trị trong tiếng chào hỏi của các chị em phụ nữ với nhau.

Nếu có hai chị em tin Chúa trong trại gặp nhau, một người nói “Ha-lê-lu-gia, ngợi khen Chúa!”, và người kia đáp lại “Ha-lê-lu-gia, A-men!”. Cái đó trở thành lời chào hỏi trong vòng các chị em và chữ “Ha-lê-lu-gia” người ta thường xuyên nghe thấy mọi nơi.

Mỗi buổi chiều, khi những tù nhân có giờ nghỉ giải lao và được phép ở lại trong sân, thì chỗ nào cũng thấy các chị em tin Chúa tụ tập thành những tốp nhỏ, họ cùng nhau cầu nguyện và kể cho nhau những gì họđã tìm thấy trong khi họ đọc Lời Chúa hay những gì Đức Thánh Linh chỉ trực tiếp cho họ, hoặc họ cùng hát với nhau và cùng nhau học những bài hát mới.

Khi tôi đi qua trong sân và đâu đâu cũng thấy những gương mặt rạng rỡ chào tôi bằng tiếng ‘Ha-lê-lu-gia’, đôi lúc tôi tưởng rằng mình đang mơ. Tôi thật thích thú về những điều Đức Chúa Trời làm. Từ lâu, người ta không thể gọi chỗ này là nhà tù nữa, không nhận ra nó nữa, đối với tôi, nó như là thiên đàng dưới đất vậy. Đức Chúa Trời đã làm vượt ra ngoài những giấc mơ vĩ đại nhất của tôi. Trong một tổ lao động ở tầng bốn của phân xưởng có hơn một nửa số tù nhân là người tin Chúa. Ởđó, mỗi ngày làm việc là một buổi thờ phượng. Có một phòng, trong đó hai mươi tám người là con cái Chúa. Hằng ngày họ cùng thờ phượng trong phòng mình, cùng cầu nguyện, hát tôn vinh, và cùng đọc Kinh thánh cho nhau.

Và tất cả những điều đó không những chỉ xảy ra trong một trại cải tạo, mà còn trong một chính phủ vô thần, mà mục đích của hệ thống chuyên chính vô sản đó là nhổ tận gốc tôn giáo, mê tín dịđoan, bằng cách họđem những tín đồ còn sót lại vào những trại lao động nhằm mục đích gò ép và giáo dục tư tưởng vô thần. Vì sao những Cơ-đốc nhân ởđây có thể nhận được nhiều sự tự do và những người có trách nhiệm lại không ngăn cản gì hết, trong khi cùng thời điểm đó, ở nhiều nơi khác trong đất nước các nhà thờ bị chèn ép và nhiều Cơ-đốc nhân bị săn lùng, bị hành hạ và bị giết vì cớ đức tin? Và ởđây, những tín đồ số lượng chỉ bằng lòng bàn tay, được trang bị bằng quyền phép Đức Thánh Linh đã có thể làm đảo lộn cả một trại có hàng trăm nữ nhân viên canh phòng.

Trong diễn tiến của năm, tình hình đang còn thay đổi. Sa-tan nổi dậy và tìm cách kiểm soát tình thế. Phương tiện của nó là một phụ nữ, bị án tù hai mươi năm, rất cùng đường và tuyệt vọng. Bà tìm cách làm giảm án tù bằng cách làm việc tốt và đã sốt sắng báo tin cho những nữ nhân viên trại mọi hoạt động không cho phép của những chị em tin Chúa chúng tôi. Chẳng bao lâu có một làn sóng bắt bớập đến chúng tôi, như một cơn nước lụt. Thế rồi, những chị em trước đây luôn luôn xưng nhận đức tin mình tự do và sống hết mình, thì nay vì cớ đức tin bị hành hạ trên thân thể thường xuyên, điều đó đã trở thành chuyện thường ngày. Sau đó, Đức Chúa Trời chỉ cho chúng tôi điều sắp xảy ra: Một vụ khám xét các phòng để tim Kinh thánh và ‘những bằng chứng tài liệu’ Nên chúng tôi có thể chuẩn bị cho ngày này bằng cách thu gom tất cả những phần Kinh thánh viết tay quí giá đem giấu ra ngoài trại.

Vào ngày bị khám xét, sự canh gác rất nghiêm ngặt. Có nhiều công an an ninh đã được tăng cường và họđã cùng với những nữ nhân viên bao vây căn nhà chúng tôi, họ được trang bị vũ khí hạng nặng và ăn nói với tù nhân rất thô lỗ, họđã xáo tung cả khu nhà. Mỗi góc nhỏ trong mỗi phòng giam đều bị lục soát. Nhưng chúng tôi đã chuẩn bị cho ngày này kỹ càng và đã viết thành những mẫu giấy nhỏ đặc biệt dành riêng cho cuộc lục soát này và đã giấu trong đồ đạc của mình. Cho nên những người công an tìm thấy những miếng mồi, rất nhiều những miếng mồi nhỏ, và họ không nghĩ đến việc tìm Kinh thánh của chúng tôi ở ngoài căn nhà. Trên những mẫu giấy này có những câu Kinh thánh mà chúng tôi đã viết riêng cho họ, vì chúng tôi biết rằng những câu Kinh thánh này sẽ được những người ở công an bộ nội vụ đọc. Ấy là những đoạn về tình yêu Đức Chúa Trời, sự tha thứ và cuộc sống mới, dành cho mỗi người khi tin vào sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu. Chúng tôi phấn khởi về cơ hội này, bằng cách đó chúng tôi có thể nói cho những người cán bộ về Chúa Giê-xu.

Đến chập tối, khi cuộc lục xét đã chấm dứt, tôi và mấy người chị em bịđem đến một xà lim đặc biệt, dành cho những đối tượng cứng đầu, chống lại nội qui trại. Đó là một phòng thông với hệ thống nước cống thải của nhà tù, không có tường, chỉ có những song sắt và những dây kẽm gai ngăn cách chúng tôi với cái lạnh giá ban đêm. Đó là vào tháng mười, nhiệt độ giảm xuống mười độ âm và chúng tôi không có chăn hay quần áo ấm. Tuy thân thể chúng tôi run rẩy vì cái lạnh thấu xương, nhưng có một sựấm áp bên trong, và một cảm giác hạnh phúc ngập tràn, mà chỉ có thể giải thích được bằng sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Đó là một đêm dài lạnh giá và ngủ là điều không thể nghĩ đến, nhưng sự bình an Đức Chúa Trời đối với chúng tôi còn quí hơn một cái giường ấm, và chúng tôi coi mình là người hạnh phúc, vì Chúa Giê-xu ở bên cạnh và chúng tôi động viên an ủi nhau bằng những câu Kinh thánh và bằng tình yêu Đức Chúa Trời.

Vào buổi tối đó, sau đợt khám xét có hai chị em bịđem xuống một xà lim dưới hầm, ởđó hai chị bị nhốt trong một phòng nhỏ tối tăm. Phòng này được dùng làm hình phạt và tra tấn đối với những tù nhân ngoan cố! Không có cửa sổ và ánh sáng, nền nhà có nước lấp xấp dưới chân, không khí hôi mốc và ẩm thấp, các bức tường bị phủ rêu mốc. Suốt thời gian ở dưới xà lim, quần áo và đầu tóc bịẩm và lạnh, khí lạnh giá rất bí bách, cứởđây chờ thời gian chầm chậm trôi qua, và người ta không còn cảm giác đâu là ngày đâu là đêm nữa. Khi hai chị bịđem vào trong xà lim này, họ gặp một cô gái trẻ bị nhốt trước họ. Cô là một kẻ hay đập phá, bị án mười năm tù. Nhưng trong tù, cô thường xuyên gây sự rối loạn, đầy sự kích động và giận dữ, chuyên môn gây ra những vụẩu đả. Nhiều lần, cô đã tấn công những nữ nhân viên, và chuyên tìm cách đột nhập vào khu nhà hành chánh để hành hung những nữ cán bộ và làm tan hoang phòng làm việc của họ. Cho đến nay, không ai làm gì được với cô gái này. Việc cô bịđem nhốt một thời gian dài ởđây là điều không làm ai ngạc nhiên.

Nhưng khi những chị em tín đồ khác nghe tin hai người chị em mình bị giam chung xà lim với cô gái hung bạo kia, thì điều đó làm cho họ lo lắng. Cô ta có thểđánh nhừ tử hai người chị em, vì đã hoàn toàn nằm trong tay của mình và hai chịđó không thể hay có lẽ không muốn tự bảo vệ mình. Nên nhiều nữ tín đồ đã bắt đầu cầu nguyện khẩn thiết cho sự việc này. Và Đức Chúa Trời đã can thiệp cách lạ lùng.

Lúc hai nữ tín đồ đó vừa bước vào trong xà lim tối, cô gái nhìn họ đầy căm thù và khoái trá “Chúng mày đến đây làm gì hả, bọn đểu kia?” Cô ta trừng mắt. Rồi một loạt những lời chửi rủa bẩn thỉu đổ trên hai người.

Hai chị không để tâm đến điều đó. “Vì có mình cô ởđây thôi, chúng tôi nghĩ chắc chắn cô cảm thấy cô đơn, nên điều đó cũng tốt và cô không phản đối nếu chúng tôi làm cho cô khuây khỏa được phần nào.”

Những câu chửi rủa và lời nói cộc cằn là câu trả lời. Nhưng căn bản là sau những lời đầu tiên, bằng cách nào đó cô ta đã được động chạm qua sự tỏa chiếu từ hai người, chỉ có điều cô chưa muốn công nhận mà thôi. Nhưng sựấm áp và vui vẻ thật dễ chịu, không thể nhầm lẫn được tuôn chảy từ hai người chị em này, đã đánh thức một khao khát trong cô. Nếu cô nhìn hai người phụ nữ này, cô có một nhu cầu kỳ lạ là cô muốn được khóc, một cảm giác cô đã không còn biết đến nó nữa từ khi còn thơấu. Bên cạnh sức mạnh nội tâm và niềm vui tỏa chiếu từ hai người, cô cảm thấy mình rách nát làm sao, và tất cả những sức mạnh, cô từng nhờ cậy và tin tưởng từ trước đến nay, giờ đối với cô chỉ toàn là sự tự lừa dối mình, thật thảm hại. Dần dần, cô trở nên dịu hơn, thôi không chống chế bằng những lời lẽ bẩn thỉu và khiêu khích nữa và để cho những chị tín đồ có cơ hội nói chuyện với mình. Mặc dù, họ bị thấm ướt sau vài phút, bắt đầu thở không khí ẩm thấp đó, ngay cả hai người không còn biết là bên ngoài trời sáng hay tối, thì hai người nữ tín đồ vẫn cảm nhận sự gần gũi của Đức Chúa Trời và được sưởi ấm bằng ánh sáng Chúa Giê-xu. Và họ nhận thấy rằng Đức Chúa Trời đem họ đến đây trong một phòng chật chội cùng với một phụ nữ có giá trị, là người, nếu không thì có lẽ sẽ không bao giờ có cơ hội nghe về Chúa Giê-xu. Vì vậy họ cố gắng không chú ý đến những tiếng chửi rủa tục tằn và không sợ hãi trước cô gái, nhưng họ bắt đầu khéo léo kể cho cô nghe về chuyện Chúa Giê-xu, tình yêu Ngài đã biến đổi họ triệt để ra sao. “Hai chị cũng là những kẻ phạm tội giống như em, chúng tôi bị giam ởđây không phải là không có lý do đâu. Đời sống chúng tôi đầy dẫy sự thù hận và lỗi lầm, chúng tôi không còn gì để mất nữa. Điều xảy ra cho chúng tôi cũng giống như cho em. Nhưng chúng tôi đã được nghe về Chúa Giê-xu, về Đức Chúa Trời, Ngài đã đến trên đất này như một con người, Ngài đến vì tình yêu. Chúa Giê-xu này đã thay đổi đời sống chúng tôi tận gốc rễ. Đáng lẽ là hận thù, bây giờ tình yêu và sự bình an tràn ngập trong chúng tôi. Em cũng có thể kinh nghiệm được điều đó. Ngài yêu em cũng giống như Ngài đã yêu chúng tôi vậy.” Và Đức Thánh Linh đã sử dụng những lời nói để chỉ cho cô gái đó sự khao khát của Đức Chúa Trời muốn cứu cô. Không lâu sau đó, cô bắt đầu khóc, cô quì gối trên nền nhà, dường như quên rằng nền nhà ngập nước lấp xấp và cô đã xưng nhận tội lỗi mình, cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ và tái sinh cô.

Ba người phụ nữ bị giam trong xà lim đó hai mươi ngày. Sau đó, họ được phép trở về phòng cũ của mình. Cô gái trẻ làm cho không ai nhận ra. Đức Chúa Trời đã thay đổi cô hoàn toàn, và cô đã nhân thời gian bị biệt giam mà được biết thêm về Chúa Giê-xu qua hai người chị em kia. Những người bạn cùng phòng không tin được điều họ nhìn thấy. Đó là con người mà họđã biết ư? Cô không chửi rủa nữa, trở nên vui vẻ, niềm nở và mỉm cười, vâng đôi khi cô còn hát khe khẽ nữa! “Có điều gì đã xảy ra vậy?”, đó là điều mọi người hay hỏi cô. Và rồi cô trả lời nhẹ nhàng với một sựđáng tiếc và thành thật: “Em phải xin lỗi mọi người. Em đã không biết về Chúa Giê-xu, nên em đã làm mọi điều đó. Xin hãy tha thứ cho em. Bây giờ em tin Chúa Giê-xu, Ngài là Chúa của đời sống em, và em sẽ không bao giờ nguyền rủa hay báng bổ bất kỳ một người nào nữa.” Tất cả những người trước đây biết cô đều rất kinh ngạc.

Sự biến đổi đó cũng không lọt khỏi mắt bà tổ trưởng của cô, và bà tổ trưởng đã gọi cô lên để hỏi thăm về việc đó. “Mọi người nói bây giờ cô cũng tin Chúa Giê-xu. Ai đã dụ dỗ cô làm điều đó?” 

Cô vui vẻ trả lời: “Vâng, tôi đã trở thành Cơ-đốc nhân. Chúa Giê-xu đã đem tôi lại với Đức Chúa Trời.”

“Nói láo, cô đã bị những đứa tín đồđó mê hoặc và lừa phỉnh rồi!” Bà tổ trưởng hét lên.

Cô gái chỉ tươi cười, “Nếu như tôi không tin Chúa Giê-xu, chắc tôi còn làm cho các bà một mớ những chuyện phiền phức nữa, sau vụ các bà đã nhốt tôi trong xà lim khủng khiếp đó một thời gian lâu. Chính ra các bà phải mừng mới đúng…”

Bà tổ trưởng không biết nói gì thêm, nhất là cô gái đã nói có lý. Rõ ràng, bây giờ cô ta là một nữ tù nhân dễ chịu hơn nhiều so với trước kia. Bà tổ trưởng im lặng và đưa tay ra hiệu cho cô gái ra về, không còn có thêm một cuộc thẩm tra nào nữa.

Một trong hai người chị em bị nhốt dưới hầm xà lim đó đã bị hỏi cung vào những ngày sau đó tám lần liên tiếp. Cô không được đối xử tử tế như cô gái trẻ kia. Nhưng tại mỗi cuộc tra khảo, Đức Thánh Linh đều nói cho cô biết hãy ứng xử như Chúa Giê-xu trước mặt Phi-lát. Vì vậy, mỗi lần cô đều đứng lặng thinh trước những nữ nhân viên, không trả lời bất cứ một câu hỏi nào.

Bà tổ trưởng gầm thét với cô, “Bây giờ cô hãy nói đi, ai đã dụ dỗ niềm tin cô? Kinh thánh từđâu đến?” Nhưng người nữ tín đồ im lặng. Bà tổ trưởng thì muốn biết vềđiều đó, sự kiên nhẫn bà ta đã hết “Nếu hôm nay cô không khai ra, tôi sẽđánh cô chết!” Bà nói nghiêm túc “Làm sao một đứa nhỏ bé bẩn thỉu như cô dám đứng trước mặt tôi tám lần mà không nói gì cả?”

Người nữ tín đồ im lặng và cầu nguyện ráo riết trong tâm trí xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình. Bà tổ trưởng cầm cây roi điện kéo dài ra hướng về cô trông thật khiếp sợ. Sau đó, bà bật điện và chạm vào thân thể cô tín đồ. Dòng điện này làm hết sức đau nhói, như có hàng nghìn mũi tên đâm qua trái tim vậy. Theo lẽ thường tình những người bị tra tấn như vậy là bất tỉnh nhân sự. Nhưng bây giờ, khi loại dụng cụđáng sợđó chạm vào thân thể người nữ tín đồ, cô không hề nhăn mặt, cô cứđứng yên.

Điều đó khiến bà chỉ có thể giải thích rằng máy điện không hoạt động. Để cho chắc ăn, bà đã thử lên con chó của bà không biết gì đang nghoe nguẩy đuôi. Con vật nhảy đựng lên, kêu rú một tiếng lớn, sùi bọt mép và nằm bất động trên nền nhà. Bằng một cái nhăn mặt quỉ quái, bà ta quay lại cô tín đồ đụng cây roi vào người cô. Nhưng cô vẫn không có phản ứng gì, cô hoàn toàn không cảm thấy gì cả. Khi đó, những nữ nhân viên có mặt ởđó thấy sợ hãi trước điều xảy ra, họ khiếp đảm vềđiều đó và đưa ngay cô tín đồ trở về xà lim trong hầm tối.

Trên đoạn đường về xà lim, cô gái hát khẽ bài hát cảm tạ Đức Chúa Trời. Cánh cửa đằng sau cô vừa đóng lại và một mình trong bóng tối, cô quì ngay xuống đất và hát ‘ha-lê-lu­gia’, tràn đầy sự cảm tạ dâng lên Chúa, đã bảo vệ cô cách siêu nhiên. Cô chúc tụng Chúa Giê-xu bằng lời cảm tạ và không hề để ý sựẩm thấp và lạnh lẽo đang bao trùm xung quanh mình.

“Chúa ơi, Ngài đầy sự yêu thương. Ngài đã làm cho Lời Ngài được ứng nghiệm, nếu Lời Ngài nói rằng Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài không để cho anh em bị sự thử thách quá sức đâu. Trong sự cám dỗ Ngài sẽ mở đường để anh em vượt qua khỏi (I Cô-rinh-tô 10:13), cám ơn Ngài vì Lời Ngài thật đáng tin cậy.”

Một cô gái trẻ khác được đem đến phòng giam ở tầng một. Cô cũng tin Chúa trong thời gian ở trong trại giam, và kể từđó cô tham gia sao viết lại không biết mệt mỏi những đoạn Kinh thánh và những bài hát, cho đến khi cô bị một người giam cùng phòng chỉ điểm. Lúc cô bịđem đi thẩm vấn, cô im lặng và coi như không biết điều gì. Những nữ nhân viên tìm đủ mọi cách dọa nạt, đánh đập và lừa phỉnh cô. Nhưng cô gái không sợ hãi. Cuối cùng hai tay cô bị còng lại với nhau và cô phải sinh hoạt như vậy. Thật là khó khăn, khi ở trong tư thế như vậy mà phải ăn uống, đi vệ sinh, thay quần áo, giặt giũ, đặc biệt là vào mùa đông những nữ tù nhân phải mặc quần áo chồng lên nhau để đủ ấm vì trong căn phòng hầu như không có lò sưởi.

Chúng tôi phải ngủ giường tầng và theo lệ thường những người trẻ phải nằm trên và những người lớn tuổi hơn ở dưới. Vì tay bị còng, khiến cô gái trẻ hầu như không cách nào trèo lên giường được. Thỉnh thoảng, cô trèo mãi vẫn không được và cứ thử lên thử xuống, đến khi những vòng sắt cứa vào da thịt, làm cô đau đớn toát mồ hôi lạnh. Trong phòng cô không phải tất cảđã tin Chúa. Những người này lại còn hay treo ghẹo cô nữa, thay vì giúp đỡ cô. Họ chế nhạo: “Chúng tao nghĩ Đức Chúa Trời mày là có thật, Đấng sống và toàn năng. Bây giờ Ngài đâu rồi? Hãy nói Ngài mở còng khóa cho mày đi!” Ngày ngày, họđem cô gái ra làm trò cười như vậy.

Vào một buổi tối, sau nhiều khó khăn và giữa những tiếng giễu cợt của những người cùng phòng, cuối cùng cô cũng trèo được lên giường, sựđau đớn ở khuỷu tay căng ra, cô quay mặt vào tường và khóc khe khẽ “Chúa ơi, con biết rằng phải bị trói và đeo còng tay vì Ngài là vinh dự, và Ngài biết con sẵn sàng chịu đựng. Nhưng để danh Ngài không bị chế nhạo nữa và cho có nhiều phụ nữ tin Ngài, con xin Ngài hãy mở còng tay này cho con. Chúa ơi, như còng tay của Phi-e-rơ được tháo tung ra sao, cũng hãy tháo tung ra như vậy cho con. Vì Ngài không chỉ là Đức Chúa Trời của Phi-e-rơ, của Phao-lô mà cũng là Đức Chúa Trời của con…”

Khi cô vừa kết thúc lời cầu nguyện, những còng tay rơi khỏi tay cô. Vào ngày hôm sau, cô bị những nữ nhân viên đòi lên để tra khảo, họ thấy lạ vì tay cô không bị trói nữa. Họ hoang mang hỏi “Làm thế nào cô có thể tháo những còng tay ra được?”

“Đó là nó tựđộng mở ra, và tôi cũng không biết nó xảy ra như thế nào.”

Những nữ nhân viên biết rằng cô gái trẻ tin Chúa Giê-xu này nói thật và họ cũng biết rằng không hề có cách nào có thể mở nó được. Rồi họ cũng nhớ lại cách đây mấy hôm, cây roi điện không hoạt động trên người cô tín đồ kia. Toàn bộ sự việc làm họ thấy bối rối, làm cho họ không muốn thẩm tra cô tiếp tục nữa. Vì hai phép lạ này, mà có nhiều phụ nữđã trở lại tin Chúa.

Cho dù những sự săn lùng gay gắt, dù mọi hình phạt và dọa nạt từ những nữ nhân viên đưa ra nhằm đập tan niềm tin vào Chúa Giê-xu hay để kìm hãm lại ít nhiều, nhưng lại càng có thêm nhiều phụ nữ tin Chúa hơn. Theo cái nhìn của những kẻ thù Cơ-đốc giáo, tình hình bắt đầu rơi vào thế không kiểm soát nổi. Trong khi đó, hai tháng tiếp theo tin mừng về Chúa Giê-xu đã lan tràn khắp trại, các phụ nữ lòng đầy khao khát Đức Chúa Trời. Nó giống như một cánh rừng khô đã bén lửa vậy, tình yêu của Chúa Giê-xu được bắt lửa từ tấm lòng này sang tấm lòng khác, không ngăn nản nổi. Con số người tin Chúa gia tăng như cơn sốt. Toàn bộ trại cải tạo này bị một cuộc cách mạng tràn đến, mà những người cộng sản không thấy trước trong đường lối của họ. Chẳng mấy chốc, hơn nửa số tù nhân là con cái Chúa.

Không ai ngạc nhiên khi sức ép chống đối chúng tôi tăng lên. Chúng tôi bị phạt nặng nề hơn vì những sự vi phạm nội qui nhà tù. Đức Thánh Linh đã báo trước cho chúng tôi là sẽ có một làn sóng bắt bớ lớn đến với chúng tôi và những phụ nữ bị phát hiện là những người cầm đầu phong trào có thể sẽ bị tăng án tù. Vì thế, chúng tôi bắt đầu kiêng ăn và cầu nguyện ráo riết, để chuẩn bị cho những đòn tấn công xảy đến. Nhất định chúng tôi phải và mong muốn được đầy dẫy quyền phép Đức Chúa Trời và đức tin mạnh mẽ.

Vào một buổi sáng tháng mười một 1984, chúng tôi vừa thức dậy, bỗng nhiên bầu trời tối sầm lại. Một cơn gió bấc nổi lên, thổi trực tiếp từ cao nguyên tây bắc đến và không chỉ làm rung đổ những cây cỏ xơ xác trong sân và hú xung quanh nhà, mà còn rít lên khi lùa qua những phòng giam chúng tôi và thình lình làm chúng tôi phải rùng mình vì giá lạnh tràn đến. Chúng tôi bồn chồn nhìn ra cửa sổ, tất cả đều rung rinh và kêu kẽo kẹt. Sau đó, có một cơn bão tuyết bắt đầu, chúng tôi ít khi thấy có những đợt bão tuyết giống như vậy. Chúng tôi mặc hết tất cả những gì mình có, nhưng không thểđủấm.

Nhưng vào buổi sáng hôm đó, không những chỉ thời tiết xáo động mà những nữ nhân viên cũng lật đật dậy sớm khác thường. Họ mặc quân phục công an chỉnh tề đội mũ và thắt lưng. Họ còn trang bị thêm những roi điện, hoặc là gậy gộc và súng lục đã lên cò sẵn sàng và đảo qua đảo lại trong nhà giam chúng tôi bằng những cặp mắt lạnh quắc. Có điều gì xảy ra hôm nay đây? Tất cả những tù nhân đều lo lắng và căng thẳng, tự hỏi liệu hôm nay có điều gì sẽ diễn ra. Cả những nữ tín đồ chúng tôi cũng dựđoán có điều gì đó không bình thường chờ đợi, và chúng tôi cầu nguyện khẩn cấp cầu xin Đức Chúa Trời bảo vệ chúng tôi khỏi những nguy hiểm không lường trước có thể tràn tới.

Vào lúc chín giờ sáng, có nhiều chiếc xe kéo đến, chạy vào tận trong sân nhà tù, đậu giữa bốn khu nhà bốn tầng, sao đó các cán bộ cao cấp đủ loại bước xuống.Đã có nhiều chiếc bàn đặt sẵn cho các vị thượng cấp ngồi. Sau đó, chúng tôi bị các nhân viên quản lý đem ra khỏi phòng và đưa vào trong sân, ởđó, chúng tôi phải ngồi xuống đất trước mấy cái bàn. Cơn bão tuyết đã giảm bớt, cái lạnh như cắt vào da thịt và chúng tôi ngồi trần trụi trên tuyết. Các cán bộ công an an ninh ngồi phía trước chúng tôi, những người bên bộ nội vụ, cơ quan pháp lý, những thủ trưởng và cán bộ của nhiều cơ quan khác nhau của đảng và ủy ban, họ không chỉ từ thành phố ‘H’, mà cả từ huyện ‘M’. Những lính của công an an ninh được trang bị vũ khí hạng nặng, đứng chung quanh sân và chĩa súng vào chúng tôi. Họ làm như chúng tôi là những kẻ thù nguy hiểm, có thể lật thế cờ bất cứ lúc nào. Những cặp mắt đầy căm thù và độc ác dò xét chúng tôi. Bây giờđã có hàng nghìn người tụ tập trong sân, một sự căng thẳng bao trùm bầu không gian. Không ai dám động đậy, trong khi những tên lính im lặng nhìn chăm chăm vào chúng tôi. Tôi cầu nguyện trong tâm trí và kêu cầu Đức Chúa Trời xin hãy bênh vực chúng tôi.

Thình lình có tiếng phóng thanh trên giàn loa, giọng của người chỉ huy buổi họp xé tan bầu không khí yên lặng. “Chúng tôi tuyên bố khai mạc buổi đấu tố. Tôi xin nhường lời cho ông bí thư công an tỉnh chúng ta.”

Không một ai vỗ tay cho lời chào mừng của ông cán bộđang đi xuống. Ông kia nói khoảng nửa tiếng đồng hồ về thái độ đúng đắn trong trại lao động và những ưu điểm được cải tạo ởđây và để đào tạo thành người có ích cho xã hội. Cuối cùng ông kết thúc. Chúng tôi run cầm cập, răng đánh vào nhau, có nhiều phụ nữ rất hoảng sợ, nhất là những người không cầu nguyện được. Điều diễn ra tiếp theo sẽ là gì? Nhiều người đã được chứng kiến những buổi đấu tố như vậy, hoặc ít ra có nghe về sự tàn bạo xảy ra ở giữa nơi thanh thiên bạch nhật. Người chỉ huy buổi họp lên mi-crô và cầm theo tờ giấy đọc to: “Những tù nhân sau đây xin mời lên khán đài lập tức: Bà Linh, …” Ông đọc mười hai tên. Tất cả là Cơ-đốc nhân. Họ bị những nữ nhân viên kéo lên trên và phải đứng hàng dài trước những cán bộ đảng đang nhìn gườm gườm vào họ. Chị Linh bị coi là kẻ cầm đầu phải chịu thẩm vấn công khai đầu tiên. Những buổi họp đấu tố như vậy có mục đích làm cho những kẻ bị tố cáo phải công nhận trước công luận về những tội lỗi họ bị ép chịu và phải chịu sự nhục nhã trước những người có mặt. Thường thường những người bị lên án nhận bừa cả những việc họ không bao giờ vi phạm, vì nếu không thì sựđánh đập và tra tấn dã man chờđợi họ và những tội nhân còn ngoan cố thường bịđánh đến chết.

Vị quan tòa nói vài lời, sau khi chị Linh đứng trên khán đài cạnh ông: “Cô Linh, xin cô tường thuật cho chúng tôi biết tỉ mỉ việc cô nói về niềm tin của mình trong nhà tù ra sao. Cô đã lôi kéo được bao nhiêu tù nhân về phía cô? Ai là người cộng tác với cô? Bây giờ cô phải khai thật cởi mở và thú nhận toàn bộ sự việc.”

Chị Linh đứng thẳng lên và không sợ hãi trước mi-crô, trong khi tất cả những Cơ-đốc nhân khác ở trên bãi thầm cầu nguyện cho chị “Xin các ông hãy cởi trói cho tôi, để tôi có thể đọc lời thú nhận của tôi.” Cô nói với giọng trong trẻo và chỉ vào nhiều tờ giấy được viết kín mà cô đang cầm. Được cởi trói rồi, cô thư giãn đôi chút và nhìn vào những cặp mắt của những chị em hồi lâu, họđang căng thẳng hướng lên cô, sau đó, cô lấy giọng và bắt đầu đọc tờ tuyên xưng của mình. Giọng cô vang to và nhẹ nhàng tràn đầy cả bầu không gian.

“Vào một ngày kia, tôi đã nói tin lành cho một người, Tôi nói với người đó rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên trời đất và muôn vật. Đức Chúa Trời đã dựng nên con người từ bụi đất. Tôi nói với cô rằng con người không phải bắt nguồn từ khỉ và toàn bộ thuyết tiến hóa của Đác-uyn chỉ là một giả thuyết, không được chứng minh… Vào một ngày khác, tôi nói với một người khác rằng tất cả mọi người đều phải một lần chết và sau đó là sự phán xét … Lại vào một ngày khác, tôi nói với một người rằng Chúa Giê-xu là con Đức Chúa Trời và Ngài đã đến thế gian để tìm và cứu những kẻ bị hư mất, hơn thế nữa Ngài đã bịđóng đinh trên thập tự giá, chịu chết, nhưng sau đó Ngài đã sống lại… Một lần tôi cầu nguyện với một chị và cầu xin Chúa Giê-xu hãy tha thứ mọi tội lỗi của chị, để chị được tái sinh và được tiếp nhận vào nước Đức Chúa Trời… Một ngày nọ, tôi có dạy cho một vài tù nhân một bài hát, lời bài hát đó nói rằng Chúa Giê-xu sắp trở lại, nhưng chúng ta không biết thì giờ chính xác là lúc nào…”

Chị Linh cứ nói và nói. Những Cơ-đốc nhân chúng tôi nghe thấy vậy không tin vào tai mình, và chúng tôi sung sướng vì những lời đó chứa đựng những chân lý quí giá đã biến đổi đời sống chúng tôi. Chúng tôi đầy sự vui mừng và bắt đầu hát khe khẽ bài ‘Ha-lê-lu­gia’. Những tù nhân chưa tin Chúa kinh ngạc và thấy câu hỏi đó viết trên gương mặt họ “Một kiểu thú nhận gì vậy? Cô ta không làm gì khác hơn là giảng đạo cho người ta!”

Những người cán bộ tức giận đỏ mặt tía tai. “Có phải cô ta có ý nói chúng ta chăng? Có phải cô tìm cách làm cho chúng ta tin Chúa chăng?” Đột nhiên họ trở nên mất bình tĩnh, rất giận dữ đến nỗi không thể ngồi yên được. Sau đó, chúng ngắt lời chị Linh bằng một vài lời mắng chửi thậm tệ và đe dọa “Chúng tôi sẽ nhốt cô cho đến chết, cô hãy xéo đi cho!”

Hai chị em phải thú nhận cũng làm giống như chị Linh. Hai chịđã sử dụng cơ hội với một sự can đảm từ trời, để kể về Chúa Giê-xu và giải thích về chương trình cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời dành cho con người. “Tôi đã kể cho những phụ nữở phòng giam của tôi rằng tội lỗi đã ngăn cách Đức Chúa Trời và con người, nhưng Chúa Giê-xu đã vượt qua sự ngăn cách đó, khi Ngài chết vì mọi tội lỗi của con người.” Những người có trách nhiệm lồng lộn đằng sau chiếc bàn, nhìn những phụ nữ này và thấy hoang mang. Họ không biết giải quyết như thế nào, họ chưa từng thấy sự việc tương tự như vậy, chưa bao giờ họ nghe những lời nói như vậy. Những phụ nữđang nói bằng một sức mạnh lớn dường nào. Bọn chúng bối rối và sự tức giận đó biến thái thành sự không biết phải làm gì. Một điều đã rõ là họ không muốn nghe thêm những lời thú nhận tiếp theo nữa! Vì vậy những phụ nữ khác được cho về chỗ và viên chỉ huy buổi đấu tố hướng về công chúng đang run cầm cập vì lạnh và như thói quen ông vẫn thường làm, muốn kêu gọi những lời hô khẩu hiệu để tất cả những tù nhân cùng họa theo.

Bằng một giọng sấm sét, ông hét vào mi-crô: “Đả đảo mọi phần tử chống cải cách!” Ngoài vài ông cán bộ và những nữ nhân viên, không còn ai hùa theo ông ta.

Những nữ nhân viên đứng giữa những hàng chúng tôi tức giận cầm roi và gậy điện dọa dẫm chúng tôi “Tại sao chúng mày không hô khẩu hiệu? Nếu chúng mày không làm thì sẽ biết roi điện này!”

Viên chỉ huy bắt đầu thử lần nữa “Đả đảo những kẻ cầm đầu tôn giáo mê tín dịđoan!” Ông gào thét khản cả cổ vào mi-crô, nhưng một sự im lặng hoàn toàn tiếp diễn. Không ai nói điều gì, không nghe thấy một tiếng nói nào.

Tôi không nghĩ những Cơ-đốc nhân sẽ hô khẩu hiệu theo. Nhưng còn đối với những người khác thì sao? Tại sao họ cũng im lặng? Sau này tôi hỏi họ mới biết rằng, tuy họ chưa tin Chúa, nhưng ít nhiều họ thấy tác động của năng quyền Đức Chúa Trời và thấy không có điều gì xấu xa trong những Cơ-đốc nhân, mà ngược lại. Cho nên, họ cũng cưỡng lại không hô hào theo.

Mấy phút đồng hồ liền, không ai rời khỏi chỗ. Tình thế trở nên rất khó xử cho những ông cán bộ. Họ rơi vào một tình cảnh kinh khủng, vì họđã thua chúng tôi là những phụ nữ và tù nhân. Họ cũng bỏ qua kế hoạch ban đầu tăng án tù những nữ tín đồ. Chỉ tên của chín phụ nữ được ghi lại, sáu người trong sốđó bị cảnh cáo bắt buộc phải im lặng về niềm tin của mình, nếu họ không muốn bị tăng án tù.

Buổi họp đấu tố được kết thúc bằng một lời đe dọa chung chung “Ngay lập tức các cô bị cấm tuyệt đối không được phép nói về niềm tin của mình. Ai vi phạm sẽ bị hình phạt nặng nề.” Rồi chúng tôi được thả về phòng.

Vừa gặp nhau ở phòng là chúng tôi cùng quì gối xuống cảm tạ Đức Chúa Trời. Chúng tôi rất được khích lệ và đầy dẫy niềm vui, vì đã được chứng kiến thấy Đức Chúa Trời có quyền trên mọi hoàn cảnh và không có điều gì xảy ra cho chúng tôi nếu Ngài không cho phép. Vào buổi sáng đó, tất cảđã thấy tận mắt ý định của Sa-tan bị phá hủy. Từ một cuộc tấn công tổng lực vào tất cả các Cơ-đốc nhân, đã trở nên một cuộc biểu dương đáng ghi nhớ về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Nếu trong thời gian sau đó, có những tù nhân không tin Chúa lên tố cáo chúng tôi về những hoạt động không được phép, thì những nữ nhân viên có phản ứng lạ thường là tỏ vẻ không quan tâm. Câu trả lời của họ là mặc kệ lẫn chịu thua. “Vậy à, cô hãy quên điều đó đi. Những cô tín đồ đó làm việc cũng tốt hơn cô, và ngoài niềm tin của họ, thì họ không có gì đáng trách. Cho nên, làm sao bây giờ? Ngoài ra, nói thật là chúng tôi cũng không thể làm gì chống lại họ được.” Những tù nhân bị khiển trách như vậy thấy xấu hổ và từđó trởđi thôi không kiện cáo chúng tôi nữa. Bởi vì điều đó cũng không đem lại lợi lộc gì cho họ.

Đức Chúa Trời chúng ta, Ngài thật sự biết hết mọi việc. Ngài biết lúc tôi yếu đuối và đổ ân điển đầy tràn trên tôi, và cả những lúc tôi cảm thấy mình không có khả năng. Thỉnh thoảng, có những ngày tôi cảm thấy mệt mỏi và đức tin tôi quá ít trước những thử thách của đời sống trong trại, nếu tôi thất vọng và chán chường, thì Đức Chúa Trời đặc biệt gần bên tôi bằng sự khôn ngoan và quyền năng lớn lao của Ngài. Tôi rất được động viên khi có những Cơ-đốc nhân khác đến thăm tôi.

Thế rồi có một hôm, người nữ nhân viên gọi tôi lên và nói có mấy người đến thăm tôi. Tôi thật hết sức vui mừng “hãy đi đi nào” người nữ nhân viên nói giọng càu nhàu “Cô có thể dừng tay một lát, cô có gia đình đến thăm” và cô nhân viên chìa cho tôi mảnh giấy có tên người thăm.

Tôi chạy suốt đoạn đường lên phòng tiếp khách, lòng hân hoan và vui sướng. Vì tên của người đến thăm tôi là một nam và một nữ, họ bị truy lùng khắp nơi. Không hiểu tại sao họ lại dám đến đây! Chắc chính Đức Chúa Trời đã nói với họ mạo hiểm đến đây và Ngài sẽ bảo vệ họ. Mối nguy hiểm rình rập là những người canh gác có thể phát giác họ. Những người đến thăm tôi thuộc trong sáu người lãnh đạo linh vụ trong các địa phương khác nhau, họ là những người nòng cốt của phong trào nhà thờ tư gia đang bị cấm đoán. Bởi vì đức tin họ không bị lệch lạc, và dù cho các cán bộ đảng cũng không ngăn cấm được họ tổ chức những buổi thờ phượng công khai, và họ vẫn cứ tiếp tục làm việc cho Đức Chúa Trời, nên họ bị coi là kẻ thù nguy hiểm của đất nước. Vì thế, họ không còn chỗ ở cố định nữa. Từ nhiều năm, họ không thể về thăm gia đình,vì họ sẽ bị bắt ngay ởđó. Nhưng đối với họ, công việc Hội thánh quan trọng hơn. Tất cả chúng tôi đều biết rằng mỗi một người trong số sáu con người đó nếu bị bắt chắc sẽ bị giết chết vì cớ đức tin. Và hôm nay có hai người trong số họ đến thăm tôi! Ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời đã tạo điều kiện cho buổi gặp gỡ này.

Trong phòng thăm, chỉ có một mình chúng tôi, mà tất nhiên có nhiều nhân viên canh gác khác không rời mắt khỏi chúng tôi. Nhưng cũng không cần lời nói, chỉ riêng cái nhìn của những anh chị em này và sự tỏa chiếu của họđã rất động viên tôi rồi. Họ rất trìu mến và mềm mại, nhưng đồng thời mạnh mẽ và không hề sợ hãi. Tôi có thể thấy sự nhiệt thành và quyền phép Đức Chúa Trời, lúc họ cầm lấy tay tôi và nói nghiêm trang “người chị em thân yêu, đừng lo lắng gì cho mình, nhưng hãy làm việc hết sức, hãy có trách nhiệm trong mọi sự việc, hãy vâng lời cấp trên, để gây sự thiện cảm. Còn các con cái ở nhà chị không phải lo. Có Cha đã chăm lo rất tốt cho chúng.

5. Đừng sợ chi, hãy nói và chớ làm thinh! Ta ở cùng ngươi (Công vụ các sứ đồ 18:9-10)

Cuộc sống của chúng tôi trong trại rất căng thẳng và lao lực. Tuy vậy tất cả những người trước đây chưa biết gì về Thượng Đế, và để lại một cuộc sống hư hỏng phía sau, bây giờ khi tin Chúa, họ khao khát được sự chăm sóc, trò chuyện và cầu nguyện cùng với họ. Họ cần sự giúp đỡ để hiểu Kinh thánh, họ muốn biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời mà họđã tin cậy. Trong những trường hợp khác, tất cả những gì cần cho sự tăng trưởng tâm linh, họ có thể tìm thấy trong một Hội thánh. Nhưng chúng tôi ở trong trại đây làm việc từ sáng đến tối, có ít thời giờ dành cho nhau. Nhưng chính Đức Chúa Trời với tình yêu của Ngài đã chăm sóc những con cái Ngài trong nhà tù. Ban quản lý trại cho chúng tôi được nghỉ ngày chủ nhật! Thật vui sướng biết bao! Và chúng tôi sử dụng thời gian của ngày chủ nhật rất cẩn thận, không ai muốn làm mất thời giờ này vào những chuyện tầm phào hay việc ăn uống. Nhiều phụ nữ khó hiểu Kinh thánh đã đến với tôi và tôi giải thích cho họ tất cả những gì tôi biết nhờ sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh. Những người khác đến với tôi, vì họ có vấn đề cần giải tỏa và cầu nguyện, những người khác bịốm đến với tôi để tôi cầu nguyện cho sự chữa lành, hoặc là họ muốn học những bài hát mới. Chúng tôi rất bận rộn vào ngày nghỉ chủ nhật, và chúng tôi nếm trải từng giây, từng phút. Chúng tôi tràn đầy niềm vui đến nỗi không còn nghĩ rằng mình đang ở tù. Và những nữ nhân viên để mặc cho mọi điều đó xảy ra!

Vào một buổi tối có chiếu phim, hầu hết những nữ nhân viên và nữ tù nhân đều xem. Những Cơ-đốc nhân chúng tôi đã chờ đợi cơ hội này từ lâu để có thể làm báp têm cho những chị em mới. Khi mọi người vừa vào phòng chiếu phim, là chúng tôi chạy gấp đến nhà tắm. Nhưng chúng tôi thất vọng, vì ởđó còn có vài người đang giặt quần áo. Chúng tôi còn biết làm gì hơn là cũng lấy quần áo mình đến giặt và hy vọng đến lúc tất cả những người kia sẽ ra về? Nên chúng tôi giặt quần áo và cầu nguyện trong tâm trí, cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng tôi cơ hội làm buổi báp-tem đàng hoàng. Và Cha thiên thượng thành tín chúng ta lại giúp đỡ chúng tôi: Bỗng nhiên bị hết nước, vòi không chảy nữa! Những phụ nữ kia chửi bới và tức tối, đợi một lúc lâu, không thấy gì, sau đó họ bỏ về và để lại cho chúng tôi những xô nước đầy. Chúng tôi reo mừng và nhảy múa vì sung sướng! Một chị em đứng canh trước cửa và canh chừng hành lang, hầu chúng tôi không bị bắt bất ngờ. Sau đó, chúng tôi dự buổi báp-tem thờ phượng Chúa rất đặc biệt, phù hợp với điều kiện cho phép, bằng cách chúng tôi dội nhiều nước hết chị này đến chị khác và làm báp-tem cho họ trong Danh Cha, Con và Đức Thánh Linh. Sự bảo vệ và sự hiện diện của Đức Chúa Trời rất mạnh mẽ. Khi chị em cuối cùng vừa mặc đồ khô vào, thì vòi nước bắt đầu chảy, và chúng tôi nhanh chóng hứng đầy những xô nước cho những người kia, và sau đó thì họ cũng vừa đến để giặt tiếp. Nhưng chúng tôi đã làm báp-tem cho tất cả những người mới tin Chúa.

Kể từ lần đấu tố vừa qua, ban quản lý trại đã giảm bớt sức ép chống lại chúng tôi là những Cơ-đốc nhân. Nhưng đối với riêng tôi lại bắt đầu một thời gian thử thách mới của sự bắt bớ, nó hao tốn nhiều sức lực và đôi khi tôi gần như không chịu đựng nổi. Đó là một trong những người cùng phòng với tôi hằng ngày đày đọa tôi, và trở nên kẻ chống đối tôi kịch liệt nhất. Nhờ Chúa giúp đỡ, tôi đã đem cho cô tình yêu mà Chúa Giê-xu đã ban cho tôi. Bất cứ cơ hội nào cho phép, tôi đều vui vẻ với cô. Tôi lấy nước chè cho cô, xách nước cho cô và giặt quần áo cho cô. Tôi không cảm thấy khổ sở, nhưng tôi thích phục vụ cô. Nhưng tất nhiên, qua đó tôi cũng hi vọng đến một lúc nào đó cô sẽ thay đổi thái độ nhỏ nhen của cô và cô sẽ mở lòng với tình yêu Đức Chúa Trời và tôi không còn bị cô hành hạ nữa. Nhưng cô một mặt ưa thích những sự giúp đỡ của tôi, mà lại không thuyên giảm sự thù ghét của mình chút nào. Cô đã làm tất cả những gì có thể nghĩ ra để trêu chọc tôi. Cô thường xuyên chửi rủa và mắng nhiếc tôi to tiếng. Nhưng điều kinh khủng nhất, đó là cô không bao giờ để cho tôi yên lặng cầu nguyện. Mỗi lần khi tôi quì gối xuống, cô đến ngay bên cạnh, thét lên và nguyền rủa tôi. Và mỗi lần cô thấy tôi nói chuyện với ai về Chúa Giê-xu, là cô đến ngắt quảng cuộc nói chuyện chúng tôi, bắt đầu tranh cãi và làm cho không thể nói chuyện tiếp tục được. Sau đó, cô luôn luôn chạy tức tốc lên văn phòng và thêu dệt những chuyện về tôi.

Ngày ngày cứ như vậy, cho đến khi tôi không thể chịu được nữa. Tôi ngã xoài trên giường và hoàn toàn mất sự tự chủ. Tôi than khóc và cầu nguyện với Đức Chúa Trời “Chúa ơi, con không thể chịu được nữa. Con không muốn tiếp tục nữa. Thế là đủ rồi. Xin hãy cho con chết. Con muốn về nhà, về với Ngài, con không muốn ởđây thêm một ngày nào nữa. Xin hãy cất linh hồn con về với Ngài!” Vào buổi tối đó, Đức Thánh Linh nói với tôi và nhắc đi nhắc lại câu Chúa Giê-xu đã nói: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hạt giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứởđó một mình; nhưng nếu chết đi thì kết quảđược nhiều.” (Giăng 12:24)

Sau đó, tôi thấy rõ ràng mình đã yếu đuối, đầy sự thương hại bản thân, và đáng lẽ là tiếp tục nuối tiếc, thì tôi nhớ lại tất cả những điều kỳ diệu và vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã làm trong trại cải tạo lao động này. Trong khi tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự cứu giúp của Ngài trong quá khứ, tôi thấy dần dần trở lại bình tĩnh hơn. Dù vậy, tôi làm đơn xin ban quản lý trại cho tôi chuyển phòng. Những người quản lý biết tình trạng của tôi và cho phép tôi chuyển sang phòng số tám.

Thở phào, tôi đã thu gom số đồđạc cá nhân ít ỏi, rời khỏi hoàn cảnh khó khăn đó và nhận giường mới, trong phòng mới. Nhưng chẳng bao lâu, tôi mới rõ là mình đã tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Trong phòng trước của tôi, chỉ có một người duy nhất chống đối tôi, nhưng ởđây, tất cả những người cùng phòng đầy sựđê tiện và đểu cáng. Trong số họ, không có một người nào tử tế, không một người biết gì về Cơ-đốc giáo: Đức Chúa Trời, Ngài đã cho phép người phụ nữở phòng trước đày đọa tôi, để tôi xin chuyển, vì Ngài muốn tôi ởđây với những phụ nữ chưa được Đức Chúa Trời đụng chạm, trong khi Ngài đã làm ở những chỗ khác trong trại. Điều đáng ngạc nhiên là toàn phòng ởđây chưa có ai tin Chúa. Tôi đã nghĩ rằng trong lúc này, có ít nhất một vài nữ tín đồ ở mỗi phòng, và họ có thể kể cho những người cùng phòng về Chúa Giê-xu. Nhưng ởđây hoàn toàn là khu vực mới cho Đức Thánh Linh. Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài đã đem tôi đến đây, và tôi bắt đầu cầu nguyện khẩn thiết, tôi kiêng ăn và bước vào sự cầu thay cho những phụ nữ sống chung này.

Đầu tiên, có rất nhiều sự chống trả. Cứ mỗi lần tôi bắt đầu nói về Chúa Giê-xu là tất cả hội đồng lại để chống tôi. Họ không muốn nghe về Đức Chúa Trời, họ thường xuyên hắt hủi tôi. Tôi thấy thất bại, nên từ bỏ ý định muốn nói thêm cho họ. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho họ. Và tôi thấy tương đối nản đối với những phụ nữ này. Tôi khó tin được rằng một ngày nào đó họ sẽ quay trở lại với Đức Chúa Trời. Tôi cầu nguyện dốc đổ với Đức Chúa Trời, xin chính Ngài nói với họ và mở lòng họ để họ nghe tin lành về Chúa Giê-xu và trở lại với Ngài. Một ngày kia, cô gái trẻ nằm cạnh giường tôi bịốm nặng. Tôi thấy lo lắng cho cô và xem sự săn sóc cô là bổn phận của mình. Nên tôi chăm sóc cô cho đến khi cô khỏe mạnh. Qua đó, trái tim cô được tình yêu của Chúa Giê-xu đụng chạm, và cô đã dâng đời sống mình cho Ngài. Sau đó, có hai người cùng phòng nữa tin nhận Chúa. Không lâu sau đó, một người cùng phòng đã lên báo cáo cho những nữ nhân viên về những hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm của tôi “Từ khi cô Trân đến phòng chúng tôi, lúc nào cô cũng nói về Chúa Giê-xu, cô cầu nguyện và hát suốt đêm, đến nỗi chúng tôi không tài nào chợp mắt được. Đến lúc các bà phải ra tay rồi.”

Vì vậy, những nữ nhân viên đến phòng chúng tôi, để lục soát những đồ đạc cá nhân. Họ hi vọng tịch thu những tài liệu bằng chứng và có thể trừng phạt tôi, vì những hoạt động bị nghiêm cấm. Tôi không biết gì về cuộc lục soát này và đang ngồi khi những nữ nhân viên bước vào, lúc đó tôi ngồi trên giường và đọc quyển sống với thánh kinh “Những dòng nước trong đồng vắng”. Tôi rất ưa thích quyển sách và mỗi ngày đọc một đoạn tương ứng, gồm có một đoạn Kinh thánh ngắn và một câu chuyện liên hệ, một bài thơ hay một vài câu giải thích. Ở trong trại, quyển sách này đối với tôi có rất nhiều ý nghĩa. Dầu vậy, đem nó vào đây không phải là không nguy hiểm. Tôi không bao giờ muốn để bị mất cuốn sách quí giá đó. Trong khi những nữ nhân viên bước vào căn phòng, tôi dúi nó cho cô ngồi đối diện giường tôi. Cô phản ứng như không có gì xảy ra và giấu nó trong quần áo mình. Thật tình là đã quá muộn, vì tất cả những cặp mắt của các nhân viên và tù nhân đều chĩa về tôi, lúc tôi đưa cuốn sách. Có ít nhất hai mươi lăm người đã trông thấy động tác nhanh chóng này. Nhưng Ha-lê-lu-gia, không ai nhìn thấy gì! Ngay lập tức, câu Kinh thánh đến trong tâm trí tôi “Nếu Đức Chúa Trời bênh vực chúng ta, thì còn ai chống lại chúng ta.” (Rô-ma 8:31) Tôi thấy thú vị.

Những nữ nhân viên đã lục lọi hồi lâu và kỹ càng, không có gì không bị động tới, họ bới tung lên tất cả những xó xỉnh bị tình nghi, nhưng rồi không tìm thấy gì cả. Mặc dù vậy, họ vẫn đưa tôi lên văn phòng. Ởđó, tôi bị cảnh cáo phải giữ nội qui trại. Sau đó, họđem tôi xuống hầm để nhốt tôi vào xà-lim chật chội và tối tăm khét tiếng đó, mà trước đó vài Cơ-đốc nhân đã bị nhốt ởđó, nhưng nước ởđó ngập cao đến nỗi họ phải đóng ngay cửa lại. Nhưng họ vẫn chưa cho tôi trở lại phòng, mà đem tôi đến một phòng theo dõi ở tầng trệt, dành để nhốt riêng những người tội phạm nặng. Có những lúc, nếu căn phòng không có người, thì những tù nhân bị phạt bị nhốt tạm thời ởđây, nếu họ đặc biệt không tỉnh ngộ và cứ vi phạm nội qui nhà tù. Đây là lần đầu tiên tôi ở trong phòng này, tôi không biết là phải ởđây bao lâu. Nhưng tôi tìm cách an ủi mình rằng, Đức Chúa Trời, ít ra sẽ che chở tôi, giống như Ngài đã làm trước đó cho quyển sách sống với thánh kinh của tôi.

Vào ngày thứ hai, có bốn người nữa bị bắt nhốt cùng xà-lim với tôi, sau này còn có người thứ năm. Họ không phải là Cơ-đốc nhân và bị phạm một tội nào đó, nên đã bị phạt. Chúng tôi bị theo dõi liên tục và chúng tôi không được phép nói chuyện với nhau. Nhưng tôi không muốn chấp nhận điều đó. Cả những phụ nữ này cũng nên được kinh nghiệm rằng họ có thể bắt đầu một cuộc đời mới với Chúa Giê-xu, ở giữa cảnh giam cầm này. Đức Chúa Trời, bằng ân điển lớn lao của Ngài đã bảo vệ chúng tôi, và tôi thấy có nhiều cơ hội để nói chuyện với họ vềĐức Chúa Trời, mà không bị nữ nhân viên để ý.

Một buổi tối, Chúa ban cho tôi một khải tượng, trong đó tôi thấy bà trưởng trại nói chuyện với tôi và bắt tôi khai báo tất cả các ‘hoạt động cấm’, mà tôi đã làm ở phòng số tám. Vào sáng hôm sau, tôi nói cho người đứng theo dõi gác trước cửa phòng: “Hôm nay tôi sẽ bị gọi lên hỏi cung.”

Cô ta hỏi: “Làm sao mà chị biết được?”

“Chúa là Đấng tôi phục vụđã nói cho tôi đêm qua.” Cô kinh ngạc và không nói gì thêm.

Đến tám giờ sáng, đã đến lúc những lính canh có vũ trang đem tôi lên phòng hỏi cung. Có bốn bà cán bộ ngồi đằng sau những cái bàn nhỏ, chân bắt chéo, ngả lưng ra phía sau, nói chuyện rôm rả và cười đùa với nhau và trông họ trong bộ quân phục rất oai phách. Tôi được chỉ cho hãy ngồi xuống chiếc ghế đẩu đặt trước họ, và đợi vài phút trôi qua, đến khi họ mới quay sang chú ý đến tôi.

“Cô Trân, cô đã suy nghĩ mọi điều kỹ lưỡng chưa?” Họ bắt đầu cuộc hỏi cung “Bây giờ cô phải tường trình lại thành thật và đầy đủ.”

“Tôi phải tường thuật về gì cơ?” Tôi hỏi lại.

“Cô biết rất rõ điều đó!” là câu trả lời cụt ngủn. Bây giờ tất cả gườm gườm nhìn tôi, họđã cúi người xuống, chống lên bàn và chờ câu trả lời của tôi. Nhưng tôi không biết phải trả lời điều gì cho họ. Tôi lưỡng lự một lát và cầu nguyện lên Đức Chúa Trời và hỏi Ngài tôi sẽ nói điều gì. Sau đó, tôi nói với giọng khẩn khoản: “Tôi đã không làm điều gì sai hoặc không đúng. Thật sự tôi không biết tôi sẽ nói gì.”

Thình lình, tất cả đều vỡ tung, họ rít lên, giận dữđập bàn và quát tháo tôi, rồi họ chỉ ngón tay trỏ vào tôi, làm như tay họ là súng lúc vậy: “Cô Trân, sao cô cứng cổ thế? chúng tôi cho cô cơ hội để nói, mà tại sao cô không nói? Sau khi cô đã có thời gian để suy nghĩ cho thật kỹ lưỡng, tại sao cô không tường trình thành thật cho chúng tôi? Cô Trân, nếu bây giờ cô không nói, cô sẽ bị xay ra cám bây giờ!”

Khi tôi nghe thấy điều đó, bỗng có một niềm vui siêu nhiên tràn ngập tôi. Tôi cầu nguyện trong tâm trí: “Chúa ơi, nếu Ngài cho phép con bịđánh đập, con thật sự sẽ rất vui mừng, vì như vậy Ngài đã xem con là xứng đáng chịu nhục vì danh Ngài.”

Những bà cán bộ còn tiếp tục chửi rủa và dọa nạt một lúc lâu và đặt một vài câu hỏi, nhưng sau đó, tôi ngạc nhiên, vì họ đột ngột nói rằng: “Cô có thể trở lại phòng mình và sau đó cô trở lại với chúng tôi và bình tĩnh tường thuật lại mọi chi tiết tỉ mỉ.” Cuộc hỏi cung được chấm dứt như thế, và tôi lại bịđem về phòng theo dõi.

Một vài ngày sau, tôi được đem lên hỏi cung. Lúc tôi được đem đi, trời đã tối, nhưng hoạt cảnh diễn ra rất giống như lần trước. Bà cán bộ cao cấp nhất của chi bộ quay sang tôi: “Giờ thì cô hãy nói đi, tuy cô không vi phạm những tội mới, nhưng chỉ qua đức tin của cô vào Đức Chúa Trời đã làm cho chúng tôi phải làm những việc không cần thiết. Kể từ khi cô đến trại, chúng tôi hằng ngày phải bận rộn với những hậu quả của sự mê tín dịđoan.”

Tôi cầu nguyện thầm: “Chúa ơi, con muốn vâng lời Ngài. Con muốn làm theo ý muốn Ngài!” Đức Thánh Linh mới nói với tôi và nhắc tôi nhớ lại lời Kinh thánh: “Hãy trung tín cho đến chết.” (Khải huyền 2:20). Cái đó ban cho tôi thêm năng lực, và tôi có thể để cho mọi sự tấn công xảy ra trên tôi, mà không cần phải nói nhiều. Cũng giống như những lần hỏi cung trước, tôi bị một đòn phủ đầu và ngăm dọa, nhưng nó chỉ dừng lại ở lời nói. Tôi không bịđánh hay tra tấn. Rõ ràng Đức Chúa Trời tôi đã che chở tôi, hầu cho không ai có thể đụng vào thân thể tôi. Cuối cùng, những lời cầu nguyện của các chị em không phải là không công hiệu. Tuy họ không biết cụ thể lúc nào tôi bị hỏi cung, nhưng tất cả đều biết tôi ở phòng giam theo dõi, không có Kinh thánh, không được liên hệ với những chị em tín đồ khác và không có thời gian thuận tiện để cầu nguyện. Chỉđiều đó thôi, cũng đủ để cho những Cơ-đốc nhân cầu nguyện dốc đổ cho tôi, và Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của họ, Ngài ban cho tôi năng lực, chúc phước cho tôi bằng sự nương náu bên Ngài và bảo vệ tôi khỏi những ý định độc ác của những nữ nhân viên.

Một cuộc hỏi cung thứ ba cũng diễn ra theo bố cục giống như vậy. Họ đặt nhiều câu hỏi cho tôi, tôi không trả lời, và sau những lời đe dọa, tôi bịđem trở lại xà-lim, để tôi suy nghĩ tiếp về tội lỗi của mình.

Trở lại phòng theo dõi, tôi suy nghĩ xem điều gì có thể xảy đến cho tôi. Tôi đi đến ba khả năng: hoặc là tôi bịđem lên miền tây bắc, ởđó, có trại cải tạo lớn. Hoặc là tôi bị tăng án tù. Hoặc là tôi bị án tử hình. Tôi đã cầu nguyện và đầy dẫy niềm vui sâu đậm, tôi nói “Chúa Giê-xu ơi, nếu con bịđem lên vùng tây bắc, con có thể lớn tiếng ngợi khen Ngài. Nếu hạn giam con bị kéo dài,con sẽ có nhiều thời gian hơn để học với Ngài và thấy sự vận hành của Ngài ởđây. Và nếu con bị tử hình, thì con chắc sẽ vui mừng, vì như vậy con sẽ được ở bên Ngài, và cuối cùng sự khao khát của con đối với Ngài sẽ được thỏa mãn.”

Trong khi tôi ở phòng biệt giam này, có năm phụ nữ khác bịđem đến nhốt chung với tôi. Vì chúng tôi ngày và đêm phải cùng ở trong căn phòng chật chội đó, thì mặc dù bị cấm nói chuyện, nhưng không ngăn giữ được chúng tôi, và chúng tôi phải chú ý để không một nữ nhân viên nào trông thấy. Tôi kể cho họ về Chúa Giê-xu và tình yêu Đức Chúa Trời tuôn chảy qua tôi đến với họ. Có một cô đã ăn cắp của bạn tù mình áo quần và đồ ăn, nên cô phải ởđây để suy nghĩ về sự phạm pháp của mình. Cô bị trầm trọng, cô bị những nữ nhân viên hành hạ và khó có thể chịu đựng được cuộc sống ở xà-lim này. Cô cũng bị sự cắn rứt lương tâm và sự tự ti mặc cảm hành hạ. Tôi có thể nói với cô là “Tất cả mọi người đều đã phạm tội và có lỗi đối với Đức Chúa Trời. Nếu cô không tin Chúa, cô sẽ hư mất đời đời. Nhưng cô có thể quay khỏi đời sống cũ của mình trước đây và tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa mình…”. Bởi vì tôi cầu nguyện và kiêng ăn cho cô, nên có thể dành thức ăn lại và đưa cho cô, điều đó làm cô rất vui.

Một ngày kia, cô đã kể cho tôi câu chuyện của cô, cô vừa khóc vừa nói: “Những điều chị kể cho em nghe về Chúa Giê-xu không phải là mới đối với em. Mẹ em cũng là con cái Chúa và luôn tìm cách dạy em trở thành người tin Chúa. Em cũng biết rằng, bà đã cầu nguyện cho em trong những năm tháng qua, và cả bây giờ nữa. Nhưng em không hề muốn liên hệ gì đến Đức Chúa Trời. Em muốn sống cuộc sống của em, như em thích, mà không cần phải hạn chế mình. Và em muốn giống như sốđông mọi người. Vì thế, bây giờ em rơi vào chỗ này. Và ngay cảởđây Chúa Giê-xu không buông lỏng em hơn, nhưng đã tìm cách kéo em đến với Ngài. Kể từ khi em gặp chị, em luôn luôn nghĩ rằng, có thể Chúa Giê-xu còn yêu thương em, sau khi em đã làm hư hỏng hết. Chị biết không em thật sựđi đến bước đường cùng, em không biết phải sống tiếp như thế nào nữa. Chị có nghĩ rằng em còn có thể bắt đầu lại một lần nữa được không?” Chúng tôi đã cùng nhau cầu nguyện, cô trao cho Chúa tội lỗi và cuộc đời hư hỏng của mình và Ngài đã ban cho cô sự tha thứ và một cuộc đời mới. Thật là một phép lạ, được chứng kiến những tù nhân trở thành con cái Đức Chúa Trời, tôi không thấy có niềm vui nào lớn hơn! Cô gái trẻ này trở thành một nữ tín đồ nóng cháy, yêu mến Chúa Giê-xu hết lòng và trong những năm tiếp theo đưa dắt nhiều người trong tù đến với Chúa.

Vào một ngày kia, có một cô gái còn rất trẻ được đưa đến phòng tôi. Thật ra, cô còn là một đứa trẻ. Cô không nói gì, không nhìn tôi, nhưng chỉ ngồi bất động dưới đất. Trên gương mặt cô thấy rõ sự tuyệt vọng, như là cô muốn kết thúc cuộc đời này vậy. Tôi thấy đau đớn khi phải nhìn thấy cô như vậy và tìm cách nói chuyện với cô làm cho cô vui lên, nhưng cô không động đậy và chẳng buồn nhìn lên. Tôi còn biết làm gì hơn là cầu nguyện cho cô?

Sau khi nhiều ngày cứ trôi qua như vậy, vào một buổi sáng, tình yêu Đức Chúa Trời đối với cô gái này đã cảm động tôi thật nhiều, nên tôi ngồi bên cạnh cô và cầm lấy tay cô trong nước mắt tôi nhẹ nhàng nói với cô: “Con ơi, con có thể kể cho cô biết chuyện buồn của con được không?” Cô không phản ứng gì. Tôi chợt nhớ ra, là ngày hôm trước, con trai tôi có đem cho tôi ít đồ ăn. Tôi mới lấy đưa cho em. Lúc đó, kể từ khi vào tù, lần đầu tiên em cảm thấy thật sự có cái gì đó giống như tình yêu. Em nhìn tôi hồi lâu gương mặt em trở nên mềm lại, khi em nhận lấy món quà và sau đó em đã gục đầu vào lòng tôi và khóc. Tôi được nghe câu chuyện rất buồn của em: Em bị kết án bốn năm tù, bởi vì em đã gây rối loạn và chống lại những bậc cầm quyền. Em không bao giờ chịu khuất phục. Em đã làm cho gia đình phải lo lắng và chịu biết bao nhục nhã, thế rồi khi em vào tù thì nhận được lá thư của bố mẹ, đã làm trái tim em sụp đổ. Bố mẹ viết rằng, em không còn là đứa con của gia đình và không bao giờ được phép về nhà nữa. Trong tù em bịốm nặng, bị viêm màng não, không ai săn sóc cho em và em cảm thấy điều đó thật kinh khủng, vì không ai săn sóc mình. Em còn rất trẻ và không còn người thân nào nữa. Một sự sợ hãi và tuyệt vọng tràn ngập, đến nỗi em chỉ còn nghĩđến việc tự sát.

Tôi thật vui mừng vì có câu trả lời “Con ơi, dù bố mẹ con không yêu con nữa, nhưng có một Đấng yêu thương con từ lâu lắm rồi. Ngài luôn luôn yêu con ngay từ trước khi con được sinh ra, Ngài đã vì tình yêu đối với con mà đã chết cho con, Ngài đã tình nguyện gánh tội lỗi trên mình để con được tự do và có một cuộc sống hạnh phúc. Ngài luôn luôn muốn cứu con và để con trở thành con cái Ngài. Điều duy nhất con cần làm là mở lòng ra cho Ngài và Ngài sẽ tiếp nhận con vào gia đình Ngài…”

Lúc tôi đang nói, tiếng khóc cô trở nên nức nở, và cô đến với Đức Chúa Trời bằng tất cả tấm lòng. Cô hối hận sâu xa, vì thái độ nổi loạn của mình, sau khi cô đã xưng nhận những tội lỗi trước Đức Chúa Trời và tôi, cô có thể kinh nghiệm sự chữa lành của Đức Chúa Trời trên tấm lòng bị tan nát của cô. Một vài ngày sau đó, tôi nói với cô rằng nếu cô có thể cầu nguyện cho bố mẹ và viết một bức thư cho họ để xin lỗi và xin bố mẹ tha thứ. Biết đâu bố mẹ sẽ thay đổi ý định lần này thì sao và sẽ yêu thương cô trở lại. Cô vâng lời và bắt đầu cầu nguyện và kiêng ăn cho bố mẹ. Sau đó, cô viết bằng nước mắt cho họ một lá thư như sau:

“Kính thưa bố mẹ, con đã gây cho bố mẹ nhiều điều đau khổ. Vì đứa con gái không xứng đáng của bố mẹđã làm nhiều điều hư đốn và tai tiếng, nên không những con bị phạt thôi, mà còn khiến cho bố mẹ phải chịu sự nhục nhã. Con đã làm ô danh gia đình và để cho cả nhà phải bị tai tiếng. Con hiểu rằng bố mẹ căm ghét con và con thật sự không xứng đáng là con của gia đình. Nhưng ở trong tù đây con đã gặp một người mẹđã giúp đỡ con, để tìm thấy một cuộc sống mới và chỉ cho con con đường sống và giải thích rằng, mỗi người sẽ phải chịu lấy trách nhiệm về việc làm của mình. Bố mẹ yêu quí, xin hãy đến thăm con! Bố mẹ hãy đánh con, chửi mắng và trút sự giận dữ vào con. Nhưng con muốn xưng nhận trước bố mẹ tội lỗi con và cầu xin bố mẹ tha thứ cho con. Con xin chúc bố mẹ mạnh khỏe!

Đứa con không xứng đáng của bố mẹ (họ tên và ngày tháng)”

Khi bố mẹ cô gái nhận được lá thư, trên đó còn thấy dấu vết những giọt nước mắt của con gái mình, thì họ lập tức vào nhà tù thăm con. Khi hai bên đứng đối diện nhau thì toàn bộ sự giận dữđã biến mất, họ ôm chầm lấy nhau và khóc rất lâu. Nhiều người nhìn thấy cảnh đó cũng không cầm được nước mắt, đó lạ một khoảnh khắc xúc động kỳ diệu của sự làm hòa. Ít ngày sau đó, cô gái phải trải qua thời gian bắt bớ, vì trong khoảng thời gian đó, đức tin cô đã được mọi người biết đến. Nhưng cô không bị nhụt chí. Năng quyền mà cô tìm thấy trong Chúa Giê-xu mạnh hơn những cuộc hỏi cung và đau đớn. Những cán bộ nhất định muốn biết ai đã thuyết phục cô tin Chúa, nhưng cô cứ một mực trả lời: “không ai bắt ép tôi tin, và đó chính là Chúa Giê-xu đã yêu tôi. Ngoài ra những việc tốt, đạo đức và tình yêu của những người tin Chúa đã thuyết phục tôi.”

Người phụ nữ thứ ba đến phòng biệt giam của tôi đã lớn tuổi. Bà bị án tù chung thân, bởi vì bà đã giết chồng. Vì thế, không những bà phạm luật pháp mà còn bị mọi người khinh bỉ, bởi vì những kẻ giết người trong xã hội chúng tôi rất bị khinh bỉ và căm ghét. Kể từ khi bà bị giam, không một người thân quen nào đến thăm nom hay gởi cho bà một thứ đồ dùng gì. Bà rất nghèo và hoàn toàn không có của cải gì, đến nỗi bà không mua nổi xà phòng, khăn mặt, kem đánh răng hay những thứđại loại như vậy. Thêm vào đó, bà còn bị bịnh, và sựđau đớn trong linh hồn và sự cô đơn làm bà không chịu nổi.

Sau khi bà bị đưa đến phòng tôi, tôi đã mua cho bà vài thứ đồ dùng sinh hoạt hằng ngày. Tình yêu của Chúa Giê-xu cũng đã làm tan chảy tấm lòng cứng cỏi và cay đắng này, bà đã trở lại với Chúa và kinh nghiệm một sự thay đổi lớn.

Người phụ nữ trạc tuổi trung niên, bị đưa đến phòng tôi là người thứ tư. Bà đến từ một thành phố cách đây hàng nghìn cây số. Bà bịđi tù, vì đã làm nghề buôn gái. Người mẹ già của bà đã tám mươi tuổi, không hề biết gì về việc con gái mình bị tù, nhưng bà đã nghĩ rằng con gái mình đang đi công tác xa. Nữ tù nhân này bị khủng hoảng tinh thần, bà khóc mỗi ngày. Nhưng khi tôi kể cho bà về Chúa Giê-xu, bà đã tiếp nhận và nhận được sự tha thứ. Bà được đầy dẫy niềm vui và hát ngợi khen Đức Chúa Trời mỗi ngày, cầu nguyện, đọc Kinh thánh và dẫn những tù nhân khác đến với Đức Chúa Trời.

Người tù nhân thứ năm mà Chúa đem đến cho tôi ở tỉnh Henan, bị bắt vì tội bắt con tin tống tiền. Bà bị án tù mười lăm năm và tính tình rất đê tiện. Tôi đã đặc biệt cầu nguyện cho bà rất nhiều và lâu dài, rồi cuối cùng phép lạ cũng xảy ra trên đời sống bà: Bà đã hối hận lỗi lầm, trở lại và xin Chúa Giê-xu bước vào đời sống mình, sau này, khi bà đã mãn hạn tù và được tự do, bà vẫn giữ lòng yêu mến Chúa không thay đổi, và đưa chồng, gia đình và nhiều người khác đến với Chúa.

Cảm tạ Đức Chúa Trời, vì quyền phép Ngài đã tác động và tất cả năm phụ nữđã giao phó đời sống mình cho Chúa Giê-xu. Họ được kinh nghiệm một sự giải phóng, sự tha thứ và sự bình an kỳ diệu,và chúng tôi vui mừng về sự tốt lành mà Cha thiên thượng chúng ta đã tuôn đổ trên chúng tôi.

Vậy nên những ngày ở phòng biệt giam này trôi qua cũng đầy phước hạnh và niềm vui và bận rộn công việc cho Chúa Giê-xu. Đến ngày thứ năm mươi của tôi ở phòng biệt giam, tôi bị đưa lên cho những bà quản lý trại, để bị hỏi cung lần thứ tư. Tôi lại bịđòi hỏi phải viết ra tờ xưng nhận tội lỗi mình. Thế rồi, họ lại hỏi rằng “Cô hay đọc loại sách nào nhất?”

Tôi nhớ là vào 1982, khi tôi bị bắt, tôi có đem theo một cuốn tiểu thuyết. Hồi đó, tôi hơi ngạc nhiên về chính mình, tại sao tôi đã đem theo cuốn sách này, nhưng bây giờ tôi mới biết điều đó. Vì thế tôi có thể trả lời: “Tôi đọc cuốn tiểu thuyết… Nếu các bà không tin, hãy đến mà xem. Quyển sách nằm dưới giường phía chân tôi.” Họ mới sai người đi tìm ngay, và thật sự có tìm thấy quyển sách đó và đem lên phòng hỏi cung.

Tôi mạnh dạn nói tiếp “Bây giờ các bà đã có bằng cớ rồi đấy, tất cả những người đã tố cáo tôi đều vu khống tôi.” những bà cán bô không nói gì thêm, và cuối cùng tôi được phép trở về phòng số tám và tham gia vào cuộc sống hằng ngày ở trại cải tạo.

Đối với tôi năm mươi ngày ở phòng biệt giam không phải là hình phạt nhưng là một quà tặng của Đức Chúa Trời, bởi vì tôi có thể dành nhiều thời gian cho năm chị em đã tin Chúa đó và giúp họ bắt đầu một đời sống mới. Không phải những nữ nhân viên đã hình phạt tôi, mà Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đó. Tôi đã nghĩđến Lời Chúa có chép rằng:

“Ta đã sai ngươi để mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng và từ quyền lực của quỉ Sa-tan và đến Đức Chúa Trời, mà cho họ bởi đức tin nơi ta được sự tha tội và cùng phần gia tài với các thánh đồ.” (Công vụ các sứđồ 26:18)

Tôi đầy sự vui mừng, vì đường lối Đức Chúa Trời đối với tôi, tôi đã reo lên, ca hát và cảm tạ Ngài, mỗi khi tôi nhớ lại năm mươi ngày này.

Nhà tù của chúng tôi nổi tiếng trong toàn nước, vì nó có trên bốn nghìn nữ tù nhân và thuộc vào cỡ lớn nhất trong các trại cải tạo. Những phụ nữ mới thường được đem đến, và những người cũ được thả ra hay thuyên chuyển. Cho nên, đối với chúng tôi là những Cơ­đốc nhân không khi nào hết việc. Thường xuyên có những phụ nữ mới đến chưa từng nghe về Chúa Giê-xu. Trong thời gian bị tù tôi đã sống chung với nhiều phụ nữ, mà trong hoàn cảnh bình thường chắc tôi không bao giờ quen biết họ, tấm lòng và thân thể họ đầy dẫy sự bẩn thỉu, đê tiện, tôi bị phó cho cách sống và những sựđê tiện của họ, hằng ngày, tôi phải nghe những câu nói tục tĩu và phải dối diện với những tội lỗi ghê tởm và tàn bạo nhất. Nhưng trong con mắt tâm linh, tôi thấy những phụ nữ này sẽ phải trả lời trước Đức Chúa Trời, trước tòa án chung thẩm và họ sẽ phải đi vào sự hư mất đời đời ra sao. Và câu Kinh thánh trong châm ngôn của Sa-lô-môn không rời khỏi tâm trí tôi: “Hãy giải cứu những kẻ bịđùa đến sự chết; hãy cứu sống những kẻđang liêu xiêu đến nơi tử hình!” (Châm ngôn 24:11)

Và tôi cảm nhận giống như Giê-rê-mi: “Lời của Chúa cháy trong lòng tôi giống như một ngọn lửa, bọc kín trong nội tâm tôi. Tôi đau đớn vì nín lặng không chịu được nữa.” (Giê­rê-mi 20:8,9)

Vào một buổi tối, tôi thức dậy, và gánh nặng đó đè lên tôi, đến nỗi tôi không ở lại trên giường được. Tôi đừng dậy và nhẹ nhàng đi vào nhà vệ sinh, ởđó, tôi quì gối và khóc trước Đức Chúa Trời vì những phụ nữđáng thương này, là những người đang sống với tôi. Bằng giọng thì thầm, tôi kêu nài lên Đức Chúa Trời: “Chúa ơi, Ngài đã đến thế gian để cứu tội nhân. Con xin Ngài hãy để cho tất cả những phụ nữ bị tù ởđây kinh nghiệm được ân điển Ngài. Nếu không con thà chết thay vào chỗ những phụ nữ này còn hơn!”

Cô Sinh, cô Linh và tôi luôn luôn liên lạc với nhau, để trao đổi những tin tức và những nan đề cầu nguyện, và chúng tôi dạy dỗ và nhắc nhở tất cả những Cơ-đốc nhân hãy cầu nguyện cho sự truyền bá phúc âm trong trại cải tạo của chúng tôi. Chúa Giê-xu của chúng ta là thành tín và chính Ngài đem lại mùa gặt, hầu cho rất nhiều phụ nữở trong trại có thể được sinh ra vào trong gia đình Đức Chúa Trời.

6. Linh hồn con khao khát Chúa như con nai cái thèm khát khe nước (thi thiên 42:2)

Khi số lượng tín đồ trong trại gia tăng, thì nhu cầu Kinh thánh là vấn đề lớn nhất của chúng tôi. Vào một ngày kia, tôi thấy có một cô gái tin Chúa khóc sụt sịt trong lúc làm. Tôi dịu dàng hỏi cô có nổi khổ gì chăng, và câu trả lời của cô là: “Làm sao em có thể nhận biết được Chúa Giê-xu của em, nếu như em không có Kinh thánh?” Nhiều người cũng ở trong hoàn cảnh giống như cô, và tôi lo lắng cho tình trạng này. Nhất định những phụ nữ phải có Kinh thánh, để có thể trưởng thành trở nên những Cơ-đốc nhân và để chuẩn bị cho cuộc sống lúc được tự do, nhưng vẫn còn cấm không được phép giữ tài liệu Cơ-đốc. Tôi không còn biết làm gì khác hơn là cứ luôn luôn dâng trình sự thiếu thốn này lên cho Đức Chúa Trời.

Chúng tôi có hai cách để có Kinh thánh. Một cách đó là sao chép Kinh thánh. Nhưng chúng tôi có rất ít thời gian trống, trong khi đó con số những người tin Chúa luôn luôn gia tăng và như thế sẽ rất chậm để cho mỗi một nữ tín đồ có thể có dù chỉ một đoạn Kinh thánh. Nên chúng tôi đã bắt đầu bước một bước mạo hiểm, là dùng các con tôi. Chúng được phép thăm tôi một tháng một lần, và mặc dù đoạn đường xa xôi, nhưng chúng vẫn đến đều đặn. Trước khi chúng vào trại, chúng xé Kinh thánh thành nhiều phần nhỏ, và trong quá trình đến thăm, tìm cách tẩu tán cho tôi.

Điều đó làm tương đối đơn giản, bởi vì Đức Chúa Trời đã làm cho những nữ nhân viên không biết gì. Cứ mỗi lần các con tôi, sau một lúc đến thăm thì nói rằng: “mẹơi con phải đi ngoài…”. Người nữ nhân viên lúc đó luôn luôn cho phép tôi dắt con đi đến nhà vệ sinh. Khi chúng tôi vừa ởđó, nhìn xem xung quanh có ai theo dõi mình không. Những đứa trẻ bỏ những phần Kinh thánh vào quần trong của chúng rồi dùng băng keo dán lại dọc theo chân. Thà vậy chứ không nên giấu trong đồ ăn, vì những cán bộ luôn luôn kiểm tra những món quà. Cả quần áo trên của trẻ con bị kiểm tra và động vào. Nhưng cách này thì được. Một thời gian dài, hầu như chúng tôi đều cùng đi nhà vệ sinh, và vậy là lời Đức Chúa Trời dần dần đến được trong trại. Tôi thật vui dường nào khi có thểđem cho các chị em những phần Kinh thánh mỏng, và họ cảm động rơi nước mắt, nhận lãnh của báu đó với lòng đầy biết ơn.

Vào thời gian đó, những Cơ-đốc nhân chúng tôi luôn luôn thức dậy vào lúc năm giờ ba mươi sáng và vội vàng đi rửa mặt và mặc quần áo. Khi tiếng chuông báo thức vừa kêu lên và những cánh cửa ở sân trong khu nhà đã mở, thì tất cả chúng tôi nhanh chóng xuống tầng dưới ra ngoài trời, cùng quì gối cầu nguyện và ngợi khen Đức Chúa Trời, thờ phượng và dâng lên cho Ngài những nan đề của chúng tôi. Vào lúc sáng sớm này, những nữ nhân viên còn ngủ trên những chiếc giường êm ấm của họ và không chú ý đến chúng tôi, vì công việc họ đến bảy giờ mới bắt đầu. Và các nữ tù nhân đều mệt mỏi vì công việc tay chân nặng nhọc, nên họ dậy càng muộn càng tốt. Sự vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời! Ngài đã bố trí thời gian này đặc biệt cho chúng tôi. Vào mỗi ngày của những ngày kỳ diệu này, chúng tôi có một tiếng đồng hồ quí giá vào buổi sáng tinh mơ. Đó là một ơn phước cho chúng tôi. Vào mỗi buổi sáng chúng tôi kinh nghiệm sự gần gũi của Đức Chúa Trời, chúng tôi cầu nguyện khẩn thiết cho những nan đề chúng tôi và được tự do để chúc tụng Chúa và vui vẻ trong sự hiện diện của Ngài. Trong thời gian này, chúng tôi luôn luôn được Chúa làm cho mạnh mẽ và Ngài đầy dẫy chúng tôi bằng ánh sáng của Ngài một cách mới. Nếu trời càng lạnh, chúng tôi càng được tự do hơn. Hay nhất là nếu trời tuyết rơi dày. Thì chúng tôi quì gối xuống trên tuyết và có thể quên mọi sự canh chừng. Nếu chúng tôi cùng nhau thờ phượng Chúa, có một ngọn lửa cháy trong lòng chúng tôi, mạnh hơn bất kỳ sự băng giá bên ngoài nào.

Đó là vào năm 1983, Đức Chúa Trời đã nói với tôi là nhà tù chúng tôi sẽ trở nên như tầng trời thứ ba, là Thiên đàng, một nơi của sự vinh hiển Chúa. Cũng tình cờ mà khu trại nơi có phòng tôi và chỗ sân trong nằm trong tầm quan sát của vọng gác thứ ba. Và Chúa đã gọi khu vực thuộc vọng gác thứ ba là tầng trời thứ ba! Sau khi Đức Chúa Trời đã nói cho tôi điều đó, buổi sáng hôm sau, tôi đã chia xẽđiều đó cho những chị em trong giờ cầu nguyện buổi sáng, và chúng tôi vui mừng về sự hài hước của Đức Chúa Trời chúng ta. Tất cả chúng tôi đang quì gối cầu nguyện và ngợi khen Đức Chúa Trời, đều mặc một đồng phục giống nhau, nên chúng tôi có thể cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, giờ chúng con đều mang một y phục giống nhau và từ ‘tầng trời thứ ba’ chúng con cùng nhau ca ngợi danh Ngài.” Ha-lê-lu-gia! Chúng tôi thật có lý do để vui mừng và vui cười hớn hở.

Thời gian làm việc của chúng tôi trừ chủ nhật, kéo dài đến hai mươi hai giờ. Công việc hơn mười tiếng mỗi ngày, làm cho chúng tôi đến ranh giới của sức lực mình. Khi chúng tôi được trả về từ nhà máy lúc mười giờ tối, thì tất cả những phụ nữ nhanh chân chạy đến phòng tắm để tắm giặt và sau đó đi ăn. Những Cơ-đốc nhân không như thế. Tất cả chúng tôi đều trước hết chạy về phòng ngồi lại và sau đó có thời gian tĩnh nguyện, trong khi những phụ nữ khác không ởđó, có thể đọc Kinh thánh hay những sách Cơ-đốc khác. Chỉ khi những bạn tù cùng phòng về, thì chúng tôi mới nhanh chóng đi tắm giặt và ăn phần ít ỏi. Dẫu vậy, sau đó có những người trong chúng tôi còn thức để đọc Kinh thánh cho đến hai ba giờ sáng.

7. Hãy vững lòng bền chí,… vì Chúa, Đức Chúa Trời ngươi ở cùng ngươi (Giô-suê 1:9)

Hiển nhiên, Sa-tan không chịu để cho yên. Nó sẽ không chấp nhận điều đó mà không có sự chống cự nào, khi thấy những tù nhân được tự do ngợi khen Đức Chúa Trời và nói về Ngài, ngay trong một trại cải tạo có mục đích cải tạo những con người này thành những người vô thần. Và vì trong toàn nước Cơ-đốc giáo bị bắt bớ tàn khốc, chúng tôi cũng phải dự tính khả năng bịđàn áp. Những sự khám xét, hình phạt thân thể, còng tay, nhốt trong xà-lim không cửa sổ hàng tuần và những cuộc tra khảo đối với chúng tôi là bình thường, là những Cơ-đốc nhân, chúng tôi phải tính đến khả năng đó.

Có một đội lao động gồm có ba mươi tội nhân và bảy mươi Cơ-đốc nhân. Thậm chí, một nữ nhân viên là đảng viên tin Chúa Giê-xu. Thời khóa biểu thường ngày của những người tin Chúa Giê-xu giống như tôi đã nói ở trên. Vào mỗi tối lúc mười giờ, những nữ tín đồ đều chăm chỉ đọc lời Chúa. Nếu những tù nhân khác ăn xong trở về, thì họ vội giấu Kinh thánh trong tay áo. Nhưng tất nhiên, đó là một điều bí mật mà ai cũng biết điều họ làm mỗi tối. Nên chẳng bao lâu sau, có một bà bị án nặng tù lâu năm, đến gặp nữ nhân viên báo cáo về những hoạt động cấm của các Cơ-đốc nhân.

Nhưng người nữ nhân viên đó phản ứng rất lưỡng lự, khiến cho nữ tù nhân đó rất ngạc nhiên “Kìa, mấy người đó làm việc chăm chỉ, hòa nhã và vui vẻ với mọi người. Điều duy nhất chúng tôi có thể kiển trách họ là niềm tin của họ. Chúng tôi chống lại họ làm gì, họ có làm hại ai đâu?” Khi bà ta thấy người nữ nhân viên không làm gì chống lại những nữ tín đồ, thì bà lên thẳng phòng chủ tịch.

Không lâu sau, người trưởng trại cùng với nhiều nữ nhân viên đến thình lình phòng đó, để lục soát. Họ lục tìm kỹ lưỡng và thấy trong đống đồ đạc có nhiều Kinh thánh. Hai nữ tín đồ bị giải đi, một người bị đưa đến một phòng xà-lim ở tầng hầm, người kia lên tầng bốn ở phòng theo dõi. Cô gái trẻ vừa mới tin Chúa mấy ngày đây thôi, và những người trong chúng tôi thấy lo lắng, liệu cô có thể vượt qua thời gian khó khăn này không, vậy nên chúng tôi cầu nguyện cho cô. Nhưng chúng tôi thật vui mừng biết mấy khi vào một buổi sáng, tất cả chúng tôi đang nhóm cầu nguyện ở dưới sân, thì chúng tôi nhìn thấy cánh tay cô vẫy vẫy từ song sắt cửa sổ, và chúng tôi nghe thấy giọng cô vui mừng gọi: “Các chị em phải mạnh mẽ!”

Ha-lê-lu-gia, cảm tạ Chúa! Mặc dù cô gái bị hỏi cung nhiều lần, nhưng cô không khai gì. Những người cán bộ nhất định muốn biết cô lấy Kinh thánh ởđâu ra, nhưng câu trả lời đơn điệu của cô: “Tôi không biết.” Cô bịđánh đập tàn nhẫn và phải mang còng tay, nhưng cô đã giữ vững lập trường mình. Cuối cùng, sau khoảng hai hay ba mươi ngày gì đó thì cô được gọi ra khỏi phòng, và người trưởng trại nghiêm khắc cảnh cáo cô: “Cô còn rất trẻ, cô nên chấm dứt ngay việc tin vào ông ‘Giê-xu’ đó”.

Cô đứng thẳng trước ông và giải thích bằng sự quyết tâm mới: “Trước khi tôi bị bắt, tôi là người theo Chúa Giê-xu bí mật, sau khi tôi bị biệt giam, tất cả đều biết tôi là Cơ-đốc nhân. Cho nên kể từ bây giờ, tôi sẽ tin Chúa công khai và theo Ngài cho đến cuối cùng.”

Khi cô nói điều đó, không những cô chỉ nói với người trại trưởng, mà cô còn tuyên bố trước thế giới vô hình và hữu hình, trước thiên sứ Đức Chúa Trời và ma quỉ. Người trại trưởng chịu thua trước sự quyết tâm đó, ông lắc lắc đầu và thở dài, vì ông biết rằng không có biện pháp nào đủ mạnh để làm lay chuyển đức tin của cô gái này.

Người nữ tín đồ kia bị nhốt ở tầng hầm phải chịu đựng không khí ẩm lạnh. Đó là một thời kỳ gian khổ cho cô và cô phải chịu đựng nhiều. Trước khi cô được thả ra, những nữ nhân viên nói với nhau: “Chúng ta hãy thả nó thì hơn, những tín đồ tin Chúa Giê-xu này, người ta có thể nhốt cho họ chết, hay đánh đến chết, nhưng hoàn toàn không thể khiến họ chối bỏ niềm tin vào Chúa Giê-xu.” Trước tết ba ngày, cô được thả về với cuộc sống bình thường trong trại. Vào ngày sau ngày cô được thả ra, cô đã cùng hai chị em gặp nhau ở phòng tắm, đọc Kinh thánh ởđó. Họ cùng nhau đi ra hành lang để trở về phòng. Trong lúc đó, họ vẫn còn đang chìm sâu trong một bài thi thiên của Đa-vít và dừng lại trước cửa phòng tắm và đọc đi đọc lại. Có một phụ nữ nào đó chắc đã trông thấy ba người đó và đi báo cáo cho những nữ nhân viên. Vì thình lình, nhiều nữ nhân viên ở đằng sau họ mà họ không biết gì hết, và một trong những nữ nhân viên đã giật cuốn Kinh thánh khỏi tay người nữ tín đồ. Và cô lại bị giải đi tra khảo tiếp. Lần này, cô chỉ bị phạt tiền vì giữ và đọc Kinh thánh trái phép. Nhưng người nữ tín đồ không khiếp đảm, vẫn tự do sống với đức tin mình. Không lâu sau đó cô lại bị kêu lên, với lý do đã kể cho người cùng phòng về Chúa Giê-xu, đúng là có điều đó. Trên đường đến phòng hỏi cung, Đức Thánh Linh nhắc cô một câu Kinh thánh gửi cho con cái Chúa tại thành Cô-rinh-tô: “Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dù người bề ngoài hay hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sinh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời vô lượng vô biên, bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời vô cùng vậy.” (II Cô-rinh-tô 4:16-18)

Cho nên, cô rất được khích lệ và mạnh mẽ, khi cô cùng với lời này đi lên phòng tra khảo, mà lúc này cô đã quen rồi. Nhưng lần này, những nữ nhân viên đầy sự giận dữ về sự gan lì của cô, và không hỏi cô một lời nào, họ lột hết quần áo cô ra, những nữ nhân viên bắt đầu đánh đập và chà đạp cô, đến khi toàn thân thể cô đầy những vết tím bầm. Cô không chống lại và cũng không kêu la. Sau đó, cô bị trói và bịđánh tiếp tục bằng gậy và roi da. Cô bịđánh lâu đến nỗi toàn thân thể cô đầy thương tích và máu trào ra từ miệng và mũi. Cuối cùng, cô được đem lên phòng theo dõi, có một nữ tín đồđã ởđó. Trực tiếp ngay sau đó, có một buổi họp toàn thể để hạ nhục và tố cáo chống lại hai người này, nhằm mục đích bắt họ nhận tội và chối bỏ niềm tin. Trong lúc đó, khi tôi vừa nghe tin người chị em thân yêu bị bắt lần nữa, tôi đã chạy vào phòng vệ sinh và khóc với Chúa, và cầu nguyện cho cô, cầu xin Ngài ban cho cô sức mạnh và một đức tin không lay chuyển. Và Chúa Giê-xu của chúng ta đã ở cùng cô, hầu cho từ trong hoàn cảnh đau thương này, cô có thể trở thành người chiến thắng. Không có một hình phạt nào có thể tách cô khỏi đức tin vào Chúa Giê-xu. Ở trong sự phú thác vào Chúa Giê-xu, cô đắc thắng và mạnh hơn tất cả những gì con người tìm cách hại cô.

Đức Chúa Trời đã đặt trong chúng tôi sự khao khát đem những phụ nữ khác đến với niềm tin Cơ-đốc. Ngày qua ngày, chúng tôi nhận lãnh thật nhiều sức lực, niềm vui và sự an ủi bởi Đức Thánh Linh, và Ngài đầy dẫy chúng tôi bằng tình yêu sâu đậm đối với những người xung quanh mình, thì chúng tôi vui mừng vì mỗi cơ hội được kể về Chúa Giê-xu cho những người chưa biết Ngài. Một khả năng mà chúng tôi hàng ngày hay dùng, đó là tờ nhật báo, mà những nữ nhân viên cho chúng tôi đọc. Chúng tôi nhận những tờ báo theo tinh thần nghị quyết của đảng, để giáo dục chúng tôi, đó là một phần của sự cải tạo. Bởi vì, chúng tôi bị ngăn cách với thế giới bên ngoài, nên mỗi người đều hay đọc kỹ những tờ báo đó. Nhưng những nữ tín đồ chúng tôi đã phát huy một cách đọc riêng: Chúng tôi tìm những trang nào có bài viết phù hợp với lời Kinh thánh, nói về sự tận thế. Nếu chúng tôi tìm thấy những bài nói về động đất, nhắc nhở trước bịnh SIDA, những bài nói về nạn đói, chiến tranh và thiên tai, thì chúng tôi chỉ cho các phụ nữ những chỗđó và sử dụng cơ hội đó để nói về Chúa Giê-xu. Tôi còn nhớ một chuyện: Vào năm 1986, tôi thấy có một bài viết tựa đề: “Bốn mối nguy hiểm đe dọa sự tồn tại của loài người.” Tôi đọc bài đó to lên, và tất cả những người ngồi nghe thấy sợ hãi. Trong cuộc nói chuyện tiếp theo, những phụ nữđó đã nói lên sự sợ hãi và lo lắng mình, tôi đã có dịp nói cho họ rằng Chúa Giê-xu là câu trả lời thực tiễn cho câu hỏi của họ, rằng Ngài là sự sống và Ngài ban cho sự nương náu và an toàn mạnh hơn cả sự chết.

Trước khi Ngài rời khỏi trái đất, Chúa Giê-xu có nói cho các môn đồ rằng: “Hãy đi khắp thế gian và giảng tin lành cho mọi tạo vật! Và những ai tin sẽ có những dấu lạ này kèm theo: đặt tay trên người bệnh, thì người bệnh sẽđược lành.” (Mác 16:15-18)

Thực tế lý do tại sao đức tin vào Chúa Giê-xu lại có thể lan tràn nhanh chóng trong trại cải tạo này, là vì Ngài đã ban quyền phép để qua đó dấu lạ xảy ra cho chúng ta, nhưđoạn Kinh thánh này nói.

Điển hình có một phụ nữđã lớn tuổi bị án hơn mười năm tù. Một thời gian sau khi bị tù, bà bị quỉ ám, cách cư xử của bà đặc biệt hung dữ và khiêu khích. Có một lần, chúng tôi đang làm việc trong công xưởng, bà đã chồm dậy, cầm cây kéo trong tay và la hét, mặt biến sắc, bà nói rằng sẽ giết hết mọi người và phá hủy toàn bộ máy móc. Những nữ công nhân khác bỏ chạy thật nhanh khỏi nhà máy, vì hốt hoảng nên họ dày đạp lên nhau, trong khi bà bị quỉ ám cầm cây kéo giơ lên tìm cách đâm họ. Tôi lúc đó đang làm việc ở một xưởng bên cạnh, nhưng một con cái Chúa đã đến chỗ tôi và nói tôi có thể làm gì đó để cho bà kia trở lại bình thường. Tôi chạy ngay đến chỗ xưởng đó, bây giờđã trống trơn, bà kia vẫn cứ lồng lộn, không chú ý đến tôi. Khi bà vừa trông thấy tôi, bà đã muốn nhảy xổ vào tôi. Tôi đứng bình tĩnh ở cửa ra vào, nhìn thẳng vào bà và truyền lệnh trong danh Chúa Giê-xu: “Hãy bỏ cái kéo ra khỏi tay!” Bà ta lập tức thay đổi, bà tỏ một thái độ hoàn toàn qui phục và không nói lời nào làm theo liền. Sau đó, tôi ra lệnh cho bà trong danh Chúa Giê-xu ngồi xuống và bà làm tại chỗ. Sau đó, tôi bắt đầu cầu nguyện cho bà, và sau khi tôi đã cầu nguyện cho bà ba lần, tà linh phải rời khỏi bà và trước mặt tôi là một con người mới được thay đổi.

Những phép lạ giải cứu như vậy xảy ra hằng ngày, như phép lạ chữa lành thân thể. Qua đó, danh Chúa Giê-xu được đồn ra, quyền phép và sự nhân từ Đức Chúa Trời chứng tỏ mạnh hơn tất cả những gì mà các phụ nữđã chứng kiến trước đó. Nên họ không thấy khó khăn để tin Ngài, ngay cả trước đó, họ chưa từng nghe nói về Ngài. Tuy nhiên, sự vận hành siêu nhiên của Đức Thánh Linh mới là một lý do để những phụ nữ này quan tâm đên Đức Chúa Trời. Lý do khác là họ nhìn thấy và cảm nhận trong chúng tôi những nữ tín đồ có cái gì đó hấp dẫn họ. Những phụ nữ này, khi đến trại là những tội phạm, sau khi họ vừa mở lòng cho Đức Chúa Trời, họ được đầy dẫy bằng tình yêu và niềm vui khiến cho những phụ nữ khác cũng phải ghen tị với họ. Toàn bộ đời sống của họ là một sự phô bày duy nhất cho Đức Chúa Trời, ánh sáng Chúa Giê-xu chiếu sáng từ trong họ, trong mọi lãnh vực, chỗ làm cũng như trong cách xã giao và trong mọi hành vi thái độ của họ.

Có một nữ tín đồ trẻ làm việc ở xưởng thêu. Mỗi ngày cô thêu hai mươi bao gối trong mười tiếng đồng hồ, một năng suất không phụ nữ nào sánh kịp. Trong khi cô làm việc, cô ca hát khe khẽ và đọc những câu Kinh thánh mà cô đã thuộc. Không những cô hoàn thành chỉ tiêu hàng ngày, mà còn đều đặn vượt định mức bảy tám cái. Hơn nữa, chất lượng công việc cô được đánh giá xuất sắc. Cô được kể vào trong số ba nữ công nhân giỏi nhất toàn trại, cả ba đều là những tín đồ. Thậm chí, những nhân viên đốc công và đảng bộ không biết làm gì hơn là khen ngợi và thán phục về thành tích vượt định mức của họ.

Một hôm, cô bị bà đội trưởng gọi lên nói với cô bằng một thái độ công nhận “Tôi thấy cô hay hát nhỏ lúc làm việc và hàng thêu của cô lại xuất sắc, cô làm việc nhanh hơn và tốt hơn mọi người khác. Rất có thể là Đức Chúa Trời của cô đã giúp cô chăng?” Trong lòng hết sức cảm tạ Chúa, cô gái chỉ mỉm cười khiêm tốn.

Còn tôi, tôi chưa bao giờ khéo léo về những việc làm chân tay. Nhưng tất nhiên Đức Chúa Trời cũng biết điều đó và Ngài đã thay đổi tôi, hầu cho tôi có thể đạt năng suất rất khá. Quả là Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ, vì mặc dù trước kia tôi chưa hề may vá bao giờ, nhưng bây giờ tôi là nữ công nhân nhanh và tốt nhất trong toàn tổ của tôi. Nhiệm vụ của tôi là may những đường viền của áo com-lê nam. Định mức tôi phải may là ba mươi đường viền như vậy mỗi ngày, nhưng tôi vượt quá nhiều so với định mức. Hơn nữa, những đường viền tôi may chắc chắn và thẳng hàng, làm cho những nhân viên đốc công tôi rất hài lòng.

Một lần, tôi phải phụ giúp công việc khác vài ngày liền. Trong lúc đó, có một phụ nữ làm thay công việc tôi. Trong ba ngày, cô chỉ hoàn thành được hai mươi chín đường may, và cô làm rất cẩu thả. Tất cả những đường may mà cô đã đánh viền, bị trả lại vì thiếu chất lượng, làm cho người quản đốc rất bực tức. Ông hỏi tôi có muốn sửa lại không? Đó là một công việc khó khăn mà không ai thích làm, vì trước hết tôi phải tháo hết những đường may cũ, sau đó, tôi phải là lại tất cả những nếp cho thẳng lại và gấp lại lần thứ hai, trước khi tôi có thể may lại. Tôi không hào hứng lắm với công việc phức tạp đang chờ đợi mình, nhưng tôi cũng đồng ý nhận công việc, vì điều quan trọng là tôi làm việc cho Chúa Giê-xu. Tôi muốn làm điều khiến cho Ngài vui. Vào ngày tôi phải sửa lại những đường may, tôi đã kiêng ăn và cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ mình, kết quả là không những hôm đó tôi sửa xong cả hai mươi chín cái cẩn thận, mà còn làm thêm phần định mức qui định hằng ngày. Bà quản lý tôi rất thích thú và khen tôi hết lời “Chỉ có cô Trân tin Chúa của chúng ta mới làm được vậy thôi!” Ha-lê-lu-gia tôn vinh Chúa vì điều đó.

Một câu chuyện lý thú khác của chị Linh. Nhiệm vụ của chị là coi giữ kho vải. Chị phải lên sổ sách và định lượng các loại vải và cắt đo chúng. Những người cùng làm việc với chị chưa tin Chúa thường xuyên ỷ lại công việc cho chị. “Có người làm rồi, chúng ta cứ ngồi chơi xơi nước”. Họ thường nói với nhau như vậy. Và chị Linh không phải là người hay so bì, chịđã làm mọi việc phải làm. Ngay cả khi chịđã mệt nhoài thân thể rã rời và đôi chân sưng vù, nhưng chị không chịu gác lại công việc mà nghỉ ngơi một chút.

Chị Linh cứ phải luôn luôn khiêng những cuộn vải mà thông thường cần hai người khiêng. Nhưng chị lăn những bó vải lên vai và chuyển vào kho. Mỗi sáng, trước khi bắt đầu làm việc, chị kiêng ăn và cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban sức lực cho mình ngày hôm nay, và chị vui hưởng thời gian tương giao với Chúa. Những thước vải chị cắt đo thường đúng từng phân một, những người quản lý tin cậy chị hoàn toàn và giao cho chị những thườc vải lớn. Họ hay nói: “Tất cả những gì cô Linh động tay vào đều thành công mỹ mãn, và trong mọi việc cô làm không sơ suất, sơ suất duy nhất của cô là cô đã tin Đức Chúa Trời!”

Một vài thời gian sau, chị được đem ra làm việc ở ngoài kho, và những phụ nữ khác phải làm công việc thay chị. Nhưng những nữ công nhân khác làm rất chậm chạp và phạm rất nhiều so suất. Lúc đo và cắt, những loại vải khác nhau thường hay bị thiếu hụt một khúc, làm cho những nữ đốc công rất bực mình. Một hôm, một nữ nhân viên mất hết cả bình tĩnh và quát tháo những nữ công nhân mới “Chúng mày không thể làm đàng hoàng được à, đồ ngu kia! Hồi con Linh nó còn ởđây không xảy ra vấn đề gì, chúng mày thì hôm nào cũng vãi ra, thật không thể được! Chúng mày không một lần nào làm đúng cả”. Kết quả là chị Linh lại được đưa vào chỗ làm cũ. Chị làm ởđó cho đến khi được thả tự do.

Trong khi cuộc phấn hưng lan tràn đến những nữ tù nhân, thì kẻ thù là ma quỉ tìm mọi cách để phá hoại công việc Đức Chúa Trời. Nó lồng lộn bắn một mũi tên lửa vào những tín đồ, mạnh hơn tất cả những lần tấn công trước. Vào một buổi sáng, người đội trưởng sản xuất cử chị Linh sang một phòng sản xuất khác để giúp việc kiểm kê ởđó trong vòng hai ngày. Vào ngày hôm sau, lúc giữa trưa, bỗng nhiên kho hàng bị bốc cháy. Những cột khói đen bốc lên từ cửa sổ, bầu không khí đầy những tiếng nổ lách tách của lửa, một sức nóng khủng khiếp bốc ra từ căn nhà bị cháy, và một đám mây đen kịt đã chẳng mấy chốc bao trùm chúng tôi, che cả ánh mặt trời. Vì cả trại đầy ắp vải, loại hàng dễ cháy, ngọn lửa lan tràn nhanh chóng, trong giấy lát, khói lửa đã ùn ùn kéo ra từ các cửa sổ.

Sau đó, tiếng còi cứu hỏa báo động. Hầu hết những phụ nữđã đứng trong sân và nhìn xem cảnh rùng rợn đó. Ở khu nhà của những người lãnh đạo và những nữ nhân viên sống có một cánh cửa sổ mở. Dường như có nhiều người đang cãi nhau dữ dội. Sau đó, một ông cán bộ có trách nhiệm chồm ra ngoài cửa sổ và hướng về những tù nhân trong sân, giọng ông run lên vì hoảng hốt “trong kho là những vải vóc và hàng hóa, đáng giá nửa triệu đô-la. Nếu có một tù nhân nào đủ can đảm dập lửa, thì người đó sẽ được thưởng đặc biệt, chúng tôi sẽ rút ngắn hình phạt và trọng thưởng cho người đó!” Lúc đó, cánh cửa song sắt của nhà kho đã bị nung đỏ và tỏa ra một sức nóng khủng khiếp. Không ai muốn liều thân mà đến gần đó. Nhưng có vài phụ nữđã bắt đầu bẩy cánh cửa bằng một cây đòn dài, và cũng bẩy ra được. Đa số đứng đàng xa quan sát cảnh diễn ra, nhưng vài phụ nữ, bị kích động bởi lời hứa giảm án tù, đã xông vào giữa cảnh hỏa hoạn. Họ biến mất trong cuộn khói đen kịt dày đặc. Chúng tôi hãi hùng vì ngọn lửa đã táp ngay vào chỗ những phụ nữ kia vừa mới chạy vào. Họ chỉđi xa được vài bước và bị ngất xỉu vì ngạt thở.

Cuối cùng, nhiều xe cứu hỏa đã đến, đội cứu hỏa làm điều họ có thể làm được. Nhưng khi những người phòng cháy chữa cháy dập tắt ngọn lửa, thì nhà kho đã bị cháy trụi chỉ còn trơ lại mấy bức tường và nền nhà. Mười phụ nữ chạy vào căn nhà cháy đó đã được khiêng ra, và xe cứu thương chở vào bệnh viện. Họ bị bất tỉnh và tình trạng của họ rất nguy kịch.

Ít ngày sau vụ cháy đó, có vài người trước đây hay tìm cách gây khó khăn cho những Cơ­đốc nhân, đã lên gặp ban quản lý trại. Họ nói với công an an ninh và những cán bộ đảng là cô Linh cùng với một số con cái Chúa khác đã châm lửa. Những người có trách nhiệm tức nhiên đang muốn tìm bắt thủ phạm gây nên vụ hỏa hoạn, đã lập tức bắt chị Linh và những người khác đem lên phòng hỏi cung. Những nữ tín đồ với một lương tâm trong sạch, bước ra không hề sợ hãi và hùng hồn, và sự cương trực của họ ghi rõ trên nét mặt. Khi họ bị lần lượt gọi vào để trả lời những câu hỏi, họ tin tưởng vào sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh, rằng Ngài sẽ ban cho họ câu trả lời hợp lý. Người nữ đốc công được lệnh đem chị Linh lên đã tuyên bố một lời nhận định, làm một gánh nặng được cất khỏi cho chị “Cô này vô tội. Khi lửa cháy cô làm việc ở một căn nhà khác.”

Vào cuối buổi tra khảo, viên sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm của bên công an an ninh tuyên bố “Vụ cháy này không liên quan gì với những Cơ-đốc nhân”. Bây giờ, những phụ nữđã có ý định độc ác bịđem lên phòng biệt giam. Đó là một điều lý thú vì ban quản lý trại dã trừng phạt những kẻ kiện cáo những Cơ-đốc nhân. Và tin tức này đã đồn nhanh chóng như cơn gió, đến tất cả các phòng. Thật vui mừng, đức tin của những chị em nhờ đó được củng cố mạnh thêm, bây giờ, thì mọi người thấy rõ ràng Đức Thánh Linh là Đấng biện hộđáng tin cậy. Vào buổi sáng hôm sau, chúng tôi cũng đang nhóm cầu nguyện trong sân, tôn vinh và cảm tạ Chúa vì sự gìn giữ kỳ diệu của Ngài, nhiều người đã khóc vì vui sướng. Đòn tấn công của ma quỉ có tác dụng như dầu đổ vào cho ngọn lửa phấn hưng, và ánh sáng của tin mừng về Chúa Giê-xu, sau biến cố này càng cháy sáng hơn bao giờ hết. Sự vận hành của Đức Thánh Linh càng mạnh mẽ hơn, và càng ngày càng có nhiều chị em trở lại tiếp nhận Giê-xu làm Chúa và Đấng cứu chuộc mình.

Trong mỗi phòng, những nữ tín đồ có ấn tượng tốt qua việc họ chấp hành trọn vẹn nội qui trại trong mọi lĩnh vực. Dù cho họ bị theo dõi hay không, họ sống hết mình cho Đức Chúa Trời, từ lời ăn tiếng nói, đến phong cách, tính nết và đạo đức lao động, toàn bộ đời sống họ được đánh dấu bằng sự vâng phục, tuân hành, tình yêu và chăm chỉ. Điều đó không lọt qua mắt những nữ nhân viên. Cô kia vừa mới đó còn là một kẻ tội phạm, bây giờ mở lòng ra cho Chúa Giê-xu và năng quyền chữa lành của Ngài, thì sự thay đổi xảy ra mỗi lần như vậy quá rõ ràng và thú vị. Họđã khác xa một trời một vực so với những phụ nữ khác, sống không có Đức Chúa Trời, nên ban quản lý trại không làm gì khác hơn là công nhận rằng, những nữ tín đồ dễ bảo hơn nhiều.

8. Dòng dõi người công bình sẽ được cứu khỏi (Châm ngôn 11:21)

Vào thời gian đầu bị bắt, tôi phải bỏ lại ba đứa con mình. Đứa gái lớn mười bốn tuổi. Nó thường hay đau ốm. Từ lúc sanh ra, tôi đã đặc biệt chăm lo cho nó nhiều. Đứa út tôi mới sáu tuổi, khi tôi phải để chúng lại. Vì ba đứa đã phải mất cha sớm, nên tôi rất đau lòng, khi phải rời bỏ chúng. Thêm vào đó, là trong thời gian không những mình tôi mà cả Hội thánh đều bị bắt giam. Cho nên, hậu quả xảy ra là không có ai lo cho những đứa con tôi. Chúng hoàn toàn phải tự lo lấy, ở nhà một mình, và thường chúng không biết sẽăn gì. Sau này, chúng kể lại cho tôi là hầu như mỗi ngày chúng đều ra đồng tìm rau cỏ dại, rồi ăn chung với bánh bao. Chúng dùng khoai lang mót được nghiền bột và nấu độn với bánh bao.

Chiều chiều, khi con tôi từ trường trở về, không có ai ở nhà và không có sẵn thức ăn, chúng mang một cái cuốc hay cái xẻng nhỏ và rủ nhau đi nhặt cái gì đó ăn được. Chúng thường tìm ở những ruộng khoai đã thu hoạch và nhặt được những củ khoai nhỏ xíu bằng con sâu người ta bỏ lại. Đứa chị dùng cuốc chim đào, trong khi hai đứa nhỏ bò theo đằng sau và dùng tay bới dưới đất xem có củ khoai nào còn lẫn trong đất không. Chúng làm vậy cho đến khi mồ hôi đổ ướt đầm, thở hổn hển và mệt nhoài, và hầu như những thứ nhặt được không đủ no cho cả ba. Nếu chúng gặp được đám ruộng tốt và có thể nhặt được một giỏđầy thì vui mừng về của quí đó.

Con gái tôi hay gặp khó khăn với những bạn cùng lớp, thường bị chúng chế nhạo. Bạn bè gọi nó là ‘đứa con hoang không bố mẹ; con của phường trộm cướp’. Đêm đêm, các con yêu dấu của tôi kêu khóc trong giấc ngủ, tất cả chúng đều ngủ một giường, gác lên nhau để khỏi cho sự sợ hãi chổi dậy. Chúng sống như những đứa trẻ mồ côi cha mẹ, những giấc ngủ của chúng đầy những cơn ác mộng.

Nhưng Đức Chúa Trời không quên các con tôi, vì Ngài đã hứa trong lời Ngài “Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc; và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn núp (Châm ngôn 14:26)

Tình trạng kéo dài không lâu, sau đó, Đức Chúa Trời ban cho các con tôi một lối thoát: Một nữ tín đồ đã nhận ba con tôi về nhà nuôi, chị là vợ anh Vũ. Anh cũng bị bắt vì cớ đức tin và bị kết án bảy năm tù. Vợ anh có ba con, đứa lớn tám tuổi, hai đứa sinh đôi hai tuổi. Ngoài ra, cô phải chăm sóc bố mẹ chồng. Một hôm, Đức Thánh Linh đã thúc giục lòng cô Vũ đến thăm các con tôi. Nhà chúng tôi cách nhau khoảng một cây số rưỡi. Khi cô vừa đến nhà, thấy mấy đứa con tôi đang ăn, lần này chúng lại nhặt ởđâu những thứ rau cỏ xanh ăn được. Trên bàn là một nồi nhỏ đựng những bữa ăn của chúng, và chúng can đảm ăn hết đĩa mình mà không kêu ca gì, và chúng không quên cảm tạ Đức Chúa Trời cho đồ ăn. Khi cô Vũ trông thấy cảnh đó, lòng dạ cô xót xa, đến nỗi cô đã thuyết phục được những con tôi đến nhà cô. Từ lúc đó, không những cô phải thiếu vắng chồng mà cô còn phải lo cho ba đứa trẻ khác nữa.

Nếu những con tôi đi học về, chúng đi thẳng ra đồng tìm cô Vũ. Sau đó, chúng cùng về nhà cô và cô dạy chúng những công việc nội trợ trong nhà. Mặc dù việc đồng áng rất nặng nhọc, chịđã đảm nhận cả việc bếp núc, giặt quần áo và may vá, dọn dẹp nhà cửa, và tất cả những việc lớn nhỏ của những đứa trẻ. Nhưng người chị em yêu dấu và tuyệt vời của chúng tôi luôn luôn vui vẻ và hay chuyện trò. Chị thật sự đầy dẫy sự nhân hậu, sự trung thực và tình yêu Đức Chúa Trời.

Thường khi các con tôi gặp khó khăn và rất tuyệt vọng, chúng khóc “con muốn mẹ về nhà!” Trong những hoàn cảnh như vậy, chị Vũ khóc với chúng, nhiều đêm chịđã bồng đứa út tôi trong tay và ru nó cho đến khi nó ngủ. Vào những ngày chủ nhật và những ngày lễ, nếu những đứa trẻ khác đi chơi với bố mẹ, đi nghỉ mát, và tận hưởng tình yêu và mái ấm của gia đình chúng, thì chị Vũđã bế con mình lại cho bố mẹ chồng mà đến chăm sóc các con tôi. Chị Vũđã càng ngày khỏa lấp sự thiếu vắng cho các con tôi như một người mẹ thứ hai.

Vào một buổi tối mùa thu, sau khi đã làm xong công việc đồng áng, chị Vũ đến thăm những con tôi, hôm nay không thấy chúng ra chỗ chị làm. Khi các con tôi thấy chị đến gần, chúng không muốn cho chị vào. Tất cả chúng vội vàng giấu đồ ăn vừa nấu xuống bếp. Trông thấy hành động không bình thường của chúng, chịđã đẩy chúng ra và mở cửa vào bếp. Điều chị nhìn thấy lúc giở vung nồi làm chị rất lo buồn: vì đói và không có ai chỉ bảo, những đứa trẻđã thử nấu gạo thô, nhưng gạo này không chín sau khi nấu và rất khó tiêu. Nhưng những con tôi phải lăn lộn với cuộc sống không có bố mẹ, muốn giấu những khó khăn của chúng, không muốn làm gánh nặng cho ai.

Nước mắt dàn dụa, chịđã ôm những đứa trẻđang xấu hổ vào lòng, rồi tất cả cùng khóc. Chịđã quì gối xuống Đức Chúa Trời và bắt đầu kêu cầu Ngài. Chị xin Đức Chúa Trời hãy đổ sự thương xót và phước lành Ngài lên cho ba con tôi. Vào sáng hôm sau, chị lại đến thăm những con tôi. Bây giờ chịđem theo một túi bột đầy và chỉ cho chúng nấu ăn ra sao.

Không tuyệt diệu sao, khi thấy Đức Chúa Trời đã săn sóc cho các con tôi và tôi như thế nào, hầu cho tôi có thể cống hiến cho sự phục vụ Chúa trong nhà tù không bị cản trở. Tôi đã có thể phú thác các con tôi hoàn toàn lên cho Đức Chúa Trời, và chị Vũ gánh trách nhiệm đối với chúng, chứng tỏ rằng điều tôi đã tin và hy vọng là đúng, rằng Đức Chúa Trời là người Cha và Đấng săn sóc chúng ta. Tôi vốn là một người nặng tình cảm hay lo lắng, nếu tôi phải lo cho các con tôi, thì chắc không chịu nổi sự chia ly này, chắc tôi sẽ không có đủ sức lực để phục vụ những tù nhân khác. Nhưng sự bảo vệ và ân điển kỳ diệu của Đức Chúa Trời đã bao phủ chúng tôi. Tất nhiên tôi đã viết cho các con tôi rất nhiều thư. Vì không được phép viết công khai về Chúa, tôi đã phải phát triển những câu và cách nói và cầu nguyện để các con tôi có thể hiểu điều tôi muốn nói là gì. Ví dụ, tôi muốn lần đến thăm sau chúng đem theo vài cuốn Kinh thánh, thì tôi đã viết: “Hãy đem cho mẹ vài cuốn sách mẹ hay đọc.” Nếu tôi muốn nhắc nhở các con tôi chuyên cần đọc Kinh thánh và nghe lời Đức Chúa Trời, thì tôi thường viết “Hãy chăm đọc những sách tốt và chú ý nghe lời cha con là Đa-vít dạy bảo.” Đức Chúa Trời ban cho các con tôi nhiều sự nhạy cảm hầu cho chúng có thể hiểu được khi đọc được những lá thư của tôi.

Chúng cũng viết cho tôi nhiều thư, bao giờ cũng đầy sự an ủi và động viên. Tôi có thể đọc được những hàng chữđiều chúng muốn nói. Như trên tôi đã nói, trong thời gian ở trại cải tạo, có một thời gian tôi bị một nữ tù nhân cùng phòng hành hạ, làm những sự phiền nhiễu khi tôi cầu nguyện, cho đến khi tôi xin chuyển phòng. Trong thời gian đó, tôi rất tuyệt vọng và thấy như Đức Chúa Trời không nhậm lời cầu nguyện của tôi, và như là tình yêu của tôi với chị kia bị dội ngược trở lại. Lúc đó, tôi cũng giống như Phao-lô đã có lần viết: “Vả hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng biết sự khốn nạn đã xảy đến cho chúng tôi trong xứ A-si, và chúng tôi đã bịđè nén quá chừng, đến nỗi mất lòng hi vọng giữ sự sống.” (II Cô-rinh-tô 1:8) Lúc đó, tôi cảm thấy thật yếu đuối, nên đã cầu xin Chúa cho tôi chết. Tôi không thể chịu đựng nỗi cuộc sống nữa. Nhưng sau đó, Đức Thánh Linh đã an ủi tôi bởi lời Đức Chúa Trời. Ngài đã dùng các con tôi để làm tôi mạnh mẽ qua các lá thư của chúng. Những lá thư này đã góp phần rất nhiều để tôi không đánh mất sự tin cậy và niềm vui nơi Ngài trong thời gian thử thách này. Một trong những lá thư, trong những ngày đó tôi muốn đưa ra đây:

“Mẹ yêu quí, mẹ có khỏe không? Chúng con đã đọc thư mẹ, và sau khi chúng con đã đọc, chúng con có thể hình dung chính xác hơn về cuộc sống ở trong trại cải tạo. Bây giờ, chúng con vẫn khỏe mạnh. Khi chúng con đọc thư mẹ, thì gần như là mẹ nói với chúng con vậy. Vì vậy, giờđây ba chúng con không còn lo lắng gì cho mẹ nữa. Mẹơi, chúng con vẫn khỏe và vẫn làm theo những gì mẹđã viết cho chúng con. Chúng con đoàn kết với nhau, yêu thương nhau. Các bác và các cô đã đến để giúp chúng con, cả ông giám đốc nhà máy cũng đến thăm chúng con đều đặn.

Mẹơi, xin mẹ hãy chú ý những lời mẹ nhận từ bên trên và hãy làm theo. Mẹ hãy cố gắng làm việc, hãy động viên chính mình và trở thành một con người được thay đổi. Trước tiên mẹ phải yêu thương tất cả mọi người mẹ gặp, và luôn luôn tìm cách làm hài lòng cấp trên. Xin hãy nhanh trở về nhà, để tất cả chúng ta được ở cùng nhau. Mẹơi, hãy vui mừng luôn luôn, đừng buồn rầu và đừng lo lắng về những việc của gia đình.

Con Trai mười lăm tuổi của mẹ”
(Những câu viết nghiêng có ẩn chứa nội dung Kinh thánh)

Khi tôi đọc lá thư này, tôi tràn ngập sự vui mừng, cảm tạ, đến nỗi tôi không thể kiềm chế được, quên cả người bạn cùng phòng mà quì gối xuống cảm tạ Chúa.

“Chúa ơi, từ những môi miệng trẻ thơ mà quyền năng Ngài được rao truyền. Qua lời những con trẻ mà Ngài đã nhắc nhở con, động viên và an ủi con. Con cảm thấy được mạnh mẽ trở lại. Tình yêu Ngài đối với các con con và đối với con thật lớn lao thay! Ân điển Ngài đối với chúng con thật vĩ đại, dù cho con có bị thịt nát xương tan vì cớ đức tin, thì con cũng không bao giờ có thể đền đáp được, dù chỉ là một chút rất nhỏ!” Cả các nữ nhân viên và chi bộđảng đã đọc lá thư này, tất cả thư từ gửi cho tù nhân đều bịđọc trước, bị kiểm duyệt hoặc bị tịch thu, trước khi đến tay người nhận. Lá thư này làm cho bộ phận kiểm duyệt đặc biệt chú ý, vì tính tích cực của nó, vì đối với họ, có gì đẹp hơn là một tù nhân được gia đình đề nghị hãy tuân phục và sẵn sàng chịu cải tạo. Lá thư được lọc ra, trong số những lá thư chung và là một bài mẫu điển hình, nó được chép lại, và những câu Kinh thánh trưng dẫn đã được gạch dưới bằng bút đỏ đậm, nổi bật lên. Tất cả được treo trên tấm bảng lớn, cho tất cả những tù nhân thường xuyên đi qua đọc thấy, lá thư được đề tựa: “Xin các bạn hãy đọc một lá thư của một đứa con trai mười lăm tuổi gửi cho mẹ nó.” Không nghi ngờ gì là những người có trách nhiệm hoàn toàn đồng ý với từng câu từng chữ trong thư.

Lá thư đó gây nhiều sự xôn xao trong vòng những nữ tù nhân, và lúc đầu mọi người chen lấn trước tấm bảng thông báo, vì mọi người đều muốn đọc nó. Những nữ tín đồ đọc những lời lẽ trong thư rất xúc động, họ cũng giống như tôi, đặc biệt là họ nhận ra những đoạn trích dẫn từ Kinh thánh và họ cũng được khích lệ và thêm sức giống như tôi. Đức Chúa Trời của chúng ta không hài hước sao? Thậm chí Ngài đã dùng những nữ nhân viên để gạch dưới Lời Ngài! Vài ngày sau, thì tôi lại bịđem xuống xà-lim, đó là nơi thông với hệ thống nước thải. Thật tuyệt, trước đó tôi đã nhận được sự an ủi! Đức Chúa Trời là Đấng săn sóc tôi, đã nghĩ ra điều đó cho tôi. Lá thư này giống như than hồng vào mùa đông, như giọt sương rơi đúng lúc.

Vào một buổi chiều trời quang đãng, sau đó ít hôm, trong khi làm việc, tôi đứng ở một cửa sổ song sắt và có linh cảm rằng, hôm nay tôi còn nhận một tin tốt lành nữa. Một ngọn gió xuân thổi nhẹ trên những bông hoa đầu mùa, báo hiệu mùa đông chấm dứt. Những bông hoa nhỏ cúi xuống trong gió, dường như chúng muốn nghiêng mình chào mừng nhân loại. Mặt trời với những ngón tay vàng của mình như muốn chạm vào thiên nhiên đang tỉnh giấc, và những cành cây còn khô cứng hòa vang lên bằng những tiếng lạch cạch vui vẻ. Tôi tận hưởng tất cả những vẻ đẹp đó và vui sướng thấy Cha thiên thượng của mình đã sáng tạo muôn vật thật là tuyệt vời thay, lúc đó tôi thình lình bị kéo ra khỏi giấc mơ: “Xin cô hãy đi cho, các con cô đến thăm cô!” Tiếng của một nữ nhân viên thúc giục tôi. Ngay lập tức, tôi gác tất cả lại và vội đi theo người nữ nhân viên dẫn tôi đến phòng thăm. Em trai tôi và ba đứa con đã chờ đợi tôi. Đứa út vừa trông thấy tôi là chạy ôm chầm lấy tôi, trong khi tôi bế nó lên, và nó bắt đầu khóc nức nở bên cổ tôi. Hai đứa kia đứng sát cạnh tôi, một đứa bên phải, một đứa bên trái, và trong khi chúng ngước nhìn tôi và tìm cách đọc những điều trên gương mặt tôi, chúng luôn luôn cắn chặt môi lại để đừng khóc. Tôi không khỏe sao? Tôi đã bị xuống cân? Rất nhiều câu hỏi chúng đổ dồn vào tôi qua ánh mắt, vì trong lúc có mặt những nữ nhân viên không được phép nói ra.

Chính tôi cũng phải đấu tranh để không khóc cũng như hai đứa lớn, tôi không muốn khóc trước chúng để chúng khỏi bị buồn rầu hơn. Trong tâm trí, lúc nào tôi cũng cầu nguyện Chúa ban cho tôi sức lực cần thiết, để có thể tận hưởng thời gian này được với các con tôi. Trong những năm tháng gian khổ, tôi vẫn còn là một người, như người ta hay nói là giàu tình cảm. Tôi không bao giờ tìm cách trở nên cứng cỏi, ngược lại, tràn đầy một tình mẫu tử. Tôi ước ao làm sao được cùng chung với các con để chăm sóc, dạy dỗ và hướng dẫn chúng đến khi chúng khôn lớn. Nhưng dẫu sự ước ao đó có mạnh đến đâu, thì bước theo con đường Đức Chúa Trời đã định cho tôi là quan trọng hơn tất cả. Tôi muốn nghe lời Đức Thánh Linh hơn bất kỳđiều nào khác và ở cùng với Ngài. Chính Chúa Giê-xu đã nói “Ai yêu con trai hay con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta” (Ma-thi-ơ 10:37). Từ bỏ sự phục vụ những tù nhân mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi ở đây để ở cùng với các con tôi, là điều không thể được đối với tôi. Ởđây, trong trại này, tôi có những đứa con cần có tôi hơn là những đứa ở nhà.

Tôi ghì đứa con gái út chặt trong tay, trán tôi áp vào má hồng hồng, đẫm nước mắt của nó và bằng một giọng nhẹ nhàng, tôi bắt đầu nói dịu dàng với các con tôi “Con yêu dấu, bây giờ hãy dũng cảm và đừng khóc nữa. Hãy nói cho mẹ nghe con có luôn vâng lời ba con là Đa-vít không?” Nó ngoan ngoãn gật gật cái đầu xinh xắn, giọng còn nấc và nói “Dạ có mẹạ”.

“Con có cầu nguyện hằng ngày không?”

“Có mẹ ạ”.

“ Và con cũng thích đến những buổi hát tôn vinh chứ?”

“Có mẹạ, những người lớn lúc nào cũng đem con đi.” Nó không thể ngừng khóc, nhưng nó trả lời rất nghiêm túc.

Những giây phút trôi qua nhanh chóng. Hàng nghìn suy nghĩ săn đuổi trong đầu tôi, thật nhiều điều tôi còn muốn nói cho các con, thật nhiều câu hỏi tôi muốn hỏi chúng, cũng như bao lần trước, tôi đã nghĩ trước đó hàng tuần: “Mình phải kểđiều này cho chúng, phải giải thích, hỏi chúng …” Và bây giờ, tôi như thẫn thờ trước ánh mắt chúng, vì tôi không còn nhớđiều gì nữa. Thời gian dành cho chúng tôi nhanh như trở lòng bàn tay. Người nữ nhân viên bắt đầu báo hiệu rằng tôi phải tạm biệt chúng. Thời gian đã hết. Đứa con gái út ôm chặt tôi đầy sợ hãi, như nó không muốn rời tôi ra. Nó nhướn đầu ra phía trước trong khi hai tay ôm lấy cổ tôi, và nó nhìn tôi bằng cặp mắt đầy tình yêu và đau đớn, đến nỗi tôi khó khăm lắm mới cầm được nước mắt. Nhưng lời người lính canh bây giờ rõ ràng hơn. Tôi hôn nó lúc chia tay, và cảm tạ Đức Thánh Linh vì sự hiện diện và an ủi của Ngài, tôi đã có thể nói với các con “Các con yêu dấu, bây giờ hãy về nhà. Đừng quên nghe lời các bác, các cô. Chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhau!”

Người em tôi bế đứa nhỏ ra khỏi tay tôi và cõng nó trên lưng đi ra ngoài. Trong lúc đi ra, tất cả đều cắn chặt môi, vì không ai muốn làm khổ cho người khác, vì những giọt nước mắt mình. Cứ vài bước, chúng lại quay đầu nhìn tôi lần nữa. Tôi đứng đó, vẫy chào và cố nở nụ cười, trong khi đó người canh gác đập bàn liên hồi. Rõ ràng, ba đứa chỉ muốn ở lại đây, nên chúng đi chầm chậm và luôn ngoái đầu lại nhìn tôi. Sau đó, đi qua cái cổng trại, một cái vẫy chào cuối cùng, và trong chốc lát tôi có thể nhận ra một nhóm người ở bên ngoài. Có khoảng bảy mươi Cơ-đốc nhân đã cùng đến với các con tôi. Tôi nghe thấy họ khóc nhỏ, họ chia xẽ sựđau thương với tôi và các con tôi. Và tôi biết rằng không những họ chỉ cầu nguyện dốc đổ cho tôi trong những giờ thăm viếng này, mà tiếng đồn về sự vận hành của Đức Chúa Trời trong trại này đã lan ra ngoài từ lâu qua những tù nhân được thả ra và có nhiều người được cảm động đã cầu nguyện cho chúng tôi.

Trong những năm tháng ở tù, hễ lúc nào có thể được là các con tôi đều đến thăm tôi. Mỗi lần chúng đều tìm cách tẩu táng một cuốn Kinh thánh vào cho tôi. Cứ mỗi chuyến thăm viếng, tôi vui mừng ngạc nhiên, vì chúng được lớn lên về tâm linh và thân thể. Tôi tràn đầy vui sướng vì chúng được phát triển tốt và yêu mến Chúa.

9. Đường còn xa quá cho ngươi (I Các Vua 19:7)

 Những cái lúc đầu trông như những ngọn núi không thể vượt qua, nhờ ân điển Chúa đã trở nên một con đường nhẹ nhàng cho tôi. Sáu năm ở trong trại cải tạo trôi vèo như chiếc lá. Vào ngày mười chín tháng ba năm 1987, tôi được mãn hạn tù. Từ hai tháng trước ngày tôi được thả ra, các chị em thân yêu cứ mỗi lần gặp tôi là họ khóc. Nếu trong khi ăn, tôi ngồi chỗ họ là họ để bát cơm qua một bên, vì họ không thểăn được, bởi cớ nước mắt chảy ràn rụa. Những người khác thăm tôi ở nơi làm hay ở phòng, cầm tay tôi và họ nghẹn ngào hỏi: “Thưa mẹ chúng con phải làm gì, nếu mẹ từ giã chúng con?” Đôi người đêm không ngủ được, họ nhẹ nhàng đến bên giường tôi, kéo chăn qua một bên, nhìn tôi và thấm ướt tôi bằng những giọt nước mắt của họ.

Thời gian chia tay này như làm trái tim tôi tan vỡ. Hằng ngày, khi tôi cầu nguyện, tôi tìm sự dạy bảo nơi Đức Chúa Trời, vì chính tôi không biết nên cầu xin điều gì nữa. Vì cớ tin lành và sự phục vụ những đứa con thuộc linh trong nhà tù, tôi sẵn sàng chịu giam tiếp tục. Tôi có nên cầu xin Đức Chúa Trời kéo dài thời gian bị tù lên không? Tôi đã nhớ lại hồi trước, cách đây sáu năm, lúc tôi bị bắt và phải bỏ lại ba đứa con không cha ở nhà, tôi đã không khóc hoặc không đau khổ. Mặc dù, tôi hoàn toàn không biết điều gì sẽ xảy đến với tôi, thì tôi cũng biết chắc rằng, tôi đang đi trên con đường Chúa vạch ra. Nhưng bây giờ tôi rất băn khoăn, chiếm ngự bởi một nỗi buồn và một sự đau lòng khi chia tay, dường như không chịu đựng nổi. Tôi không thể hình dung rằng tôi có thể bỏ lại những đứa con thuộc linh mà tôi nhận được trong trại cải tạo này.

Trong vòng hai tháng cuối, hầu như tôi không ngủ được, mà tôi dành thời gian hầu hết để lau những giọt nước mắt rơi trên những gò má của các chị em đến thăm và tôi an ủi và nhắc nhở họ bằng lời Đức Chúa Trời. Tôi dùng những giây phút để nói tường tận cho họ về Đức Chúa Trời và nhắc nhở họ rằng, họ có thể tiếp tục bước đi với Đức Chúa Trời được mà không cần có tôi. Tôi nhấn mạnh cho họ “Hãy sống theo sự kêu gọi đặt trên đời sống các chị em, và vì cớ toàn trại, tôi xin chị em hãy chăm chỉ về những công tác thuộc linh và Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho các chị em ởđây. Và cũng hãy cầu nguyện cho đất nước và đồng bào chúng ta, như chúng ta vẫn làm đến nay…” Nếu có thể được, tôi ước gì giữ lại quĩ đạo mặt trời, để trì hoãn ngày chia tay. Nhưng sau khi sáu năm trong tù đã trôi qua nhanh chóng, như một vài ngày, thì hai tháng cuối cùng này càng trôi qua nhanh hơn.

Và sau đó, đã đến ngày làm nhiều nữ tín đồ trong trại không muốn nghĩ đến. Vào đêm trước khi được thả ra, tôi không thể chợp mắt được, lúc trời vừa hừng sáng, người ta có thể nghe thấy tiếng khóc của các chị em từ tất cả các cánh cửa sổ. Hầu như không ai đi ăn sáng.

Vào chín giờ ba mươi, có một người bảo vệ vào phòng tôi và thông báo bằng giọng khô khan: “Những người đến đón cô đã đứng chờ trước cửa từđêm qua. Vậy bây giờ cô hãy đi cho, đừng để mất thời giờ nữa. Bây giờ cô phải lập tức rời khỏi trại.”

Những chị em con cái Chúa vây xung quanh tôi, một vài người ôm đầu tôi, những người khác cầm tay tôi. Vài người nắm vạt áo tôi và giữ chặt. Đặc biệt cảm động bùi ngùi khi chia tay với những chị em bị án tù chung thân. Ý nghĩ họ sẽ không bao giờ rời được khỏi trại làm cho họ càng buồn rầu gấp đôi.

Nước mắt rơi lã chã trên đôi gò má tôi, khi tôi chúc phước cho họ, cầu nguyện với họ lần cuối cùng và giao phó họ cho Đức Chúa Trời. Tôi yêu mến mỗi người trong số họ biết dường nào. Mỗi một chị em là một đồ trang sức quí giá với những câu chuyện đặc biệt kỳ diệu về sự cứu rỗi, sự giải phóng và sự thay đổi đức tin của họ vào Chúa Giê-xu. Các chị em thật quí giá của tôi! Nhưng người bảo vệđã mất cả kiên nhẫn, và trước khi để cho ông kịp nổi nóng, tôi đã xách gói hành trang ít ỏi dùng trong những năm qua và đi theo người lính ra cổng trại. Khi tôi quay nhìn lại, thấy những cặp mắt sưng đỏ của những người thân yêu của tôi, vì cớ khóc nhiều. Không ai quan tâm đến người lính đang hối thúc họ phải giải tán đểđi làm việc, nhưng tất cả họđều nhất quyết muốn tiễn đưa tôi ra cổng.

Những Cơ-đốc nhân đến đón tôi từ tờ mờ sáng đã đứng trước bức tường dài chờ đợi. Đến lúc tôi đã ra, tất cả họ vui mừng và chạy lại xách đỡ cho tôi gói hành trang nhẹ nhàng. Đôi chân tôi nặng như cục chì, hầu như tôi không thể nhấc lên khỏi mặt đất được, tôi lê bước hơn là đi, đi vào sự tự do mới. Khi tôi vừa đứng dưới cổng lớn, có một tiếng khóc to lạ thường của mọi người đưa tiễn òa lên. Những chị em ở tầng trên tôi không được phép đưa tiễn tôi. Những người lính canh không cho phép ai rời khỏi tầng mình, nên bây giờ, họ đứng bên cửa sổ, có vô số cánh tay vẫy vẫy tôi từ những chấn song sắt. Tất cả những điều đó thật quá nhiều đối với tôi. Những tiếng khóc xé lòng, những cặp mắt sưng đỏ và những cánh tay giơ ra của nhiều chị em đã mạnh hơn bản thân tôi và làm trái tim tôi tan chảy.

Không suy nghĩ mình đang làm gì, tôi bật chạy trở vào trại. Tôi nói trong nước mắt với người bảo vệ đầu tiên, khi đó người giữ tôi lại, “Không, không, tôi không muốn về nhà, ông hãy cho phép tôi ở lại đây cùng với những chị em thân yêu của tôi. Tôi muốn ởđây vĩnh viễn cùng với những người thân yêu này.” Ông bảo vệ nhíu cặp lông mày. Không nói một lời nào, ông đẩy tôi ra trước cổng và cài cái then to lại ngăn cách tôi và những chị em yêu dấu đó.

Tất cả sức lực đã lìa khỏi tôi, hầu như tôi không thể nhấc đôi chân lên được. Sau một hồi lâu tưởng chừng vô tận, tôi tìm cách bước đi, nhưng tôi chỉđi được vài bước. Tôi cứ quay lại nhìn những chị em tín đồ đang vẫy vẫy từ tầng trên. Tôi kéo mình ra khỏi những ánh mắt nhìn, để bước đi tiếp tục vài bước, cho đến khi tôi vẫn nghe thấy những tiếng khóc vẫn vang lên không thay đổi, rồi tôi lại dừng lại. Tất cả những người đến đón tôi đều nhẫn nại, vừa nhịp nhàng vừa thông cảm, họ đứng thành hai hàng dọc đón chào, trong khi tôi cố gắng đi qua. Cuối cùng, tôi đã đi xa, không còn nghe thấy tiếng khóc của những đứa con thuộc linh của tôi nữa. Ôi thật là một sự chia tay! Tôi nhướng mắt lên và nhìn thẳng về con đường trước mặt tôi, trong khi tất cả mọi người đang nhẹ nhàng ở đàng sau, và từ sâu thẳm trong lòng, tôi thốt lên với Chúa rằng: “Chúa ơi, con đường trước mặt con nặng nề quá cho con.

 Con xin Ngài dẫn dắt con từng bước mỗi ngày.”




Hoa Huệ Giữa Chông Gai – Người Chiến Sĩ Của Chúa Giê-xu Christ

Người Chiến Sĩ Của Chúa Giê-xu Christ

Tác gỉa : Danyun


Mọi người trong làng đều biết và bàn về điều đó, nhưng không có ai thực sự có thể nghĩ được rằng nó lại là sự thật: Quỳnh Lưu đã tin Chúa! Các bà ngoài chợ và cánh đàn ông trong những quán nước chè đều bàn tán và đặt câu hỏi rằng liệu Quỳnh Lưu có thể trở thành con người mới được không. Hầu hết chẳng ai tin điều đó. Vì từ xưa đến nay, mọi người vẫn biết Quỳnh Lưu là một kẻ không làm nên trò trống gì. Anh ta trông bảnh bao, cao ráo, có gương mặt đẹp trai và ăn nói văn hoa, nhưng lại không thích làm việc. Từ thời còn trai trẻ, anh ta đã chạy theo đuôi các cô gái, và cũng khá đào hoa. Không ai có thể hiểu được, anh đã thu nhập lối sống phóng đãng và sự suy đồi đạo đức này từ đâu, vì anh cũng giống như những bạn bè cùng trang lứa khác. Lớn lên trong một gia đình nông dân chất phác. Nhưng những giá trị mà gia đình anh và xã hội coi trọng đều vô nghĩa đối với anh. Anh chạy theo cách sống gấp, và mặc dù anh đã làm cho nhiều cặp vợ chồng đổ vỡ và nhiều người bị bất hạnh, nhưng anh cũng không thể chấm dứt được.

Nhưng bỗng nhiên, vào mùa giáng sinh 1971, Quỳnh Lưu trở nên một con người mới. Anh đã cắt đứt hoàn toàn với đời sống cũ và nhập cuộc hết lòng với Chúa Giê-xu. Khi anh muốn được báp-tem để bày tỏ công khai về đức tin mình, lúc đó là vào tháng mười hai. Con sông chảy qua vùng anh đã bị đóng băng. Một vài Cơ-đốc nhân lớn tuổi khuyên hoặc là làm báp-tem bằng chậu nước ở nhà, hoặc là nếu anh một mực muốn làm báp-tem trước nơi thanh thiên bạch nhật và được nhận chìm xuống nước, thì phải chờ đến mùa xuân năm sau. Nhưng Quỳnh Lưu không thể chờ được. Bây giờ Giê-xu là Chúa của đời sống anh và mọi người cần biết và thấy điều đó, anh không muốn đánh mất thời gian. Cho nên, những Cơ-đốc nhân đã đem theo chiếc cuốc và xà beng ra bờ sông và chọc một lỗ thủng xuống dưới lớp băng. Quỳnh Lưu cùng với hai mục sư khác cùng xuống nước và họ báp-tem cho anh trong danh Cha, Con và Đức Thánh Linh, như Kinh thánh đã dạy. Khi Quỳnh Lưu vừa lên khỏi nước, thì mỗi sợi tóc anh đã đóng băng và quần áo anh, sau một lúc đã đông cứng lại như áo giáp. Cố gắng lắm, những anh em mới có thể giải phóng anh ra khỏi bộ quần áo cứng như đá đó. Lúc vừa vào trong chỗ ấm áp, họ dự một buổi thờ phượng Chúa có tiệc thánh, và đây là lần đầu tiên Quỳnh Lưu được dự. Trong lúc dự tiệc thánh, Đức Thánh Linh hiện ra như lửa giáng trên Quỳnh Lưu và một số anh em. Một niềm vui đầy dẫy họ, như chưa hề lần nào như vậy. Họ nhảy múa và ca ngợi Đức Chúa Trời và bắt đầu nói tiếng mới, như Đức Chúa Trời cho họ nói.

Ba tháng sau đó, Đức Chúa Trời nói rõ ràng với Quỳnh Lưu và ủy thác cho anh trọng trách rao truyền tin lành của Chúa Giê-xu. Kể từ lúc đó, anh thường hay được mời giảng cho các nhóm tư gia, và mặc dù anh không có sự đào tạo thần học nào, nhưng những lời nói của anh đầy dẫy quyền phép và sự phục vụ của anh để lại những dấu vết lâu bền, bởi vì Đức Thánh Linh cùng làm việc và xác nhận anh. Anh sống trong sự tin tưởng vào Cha thiên thượng bằng một đức tin con trẻ và hoàn toàn lệ thuộc vào quyền năng và sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời hài lòng về điều đó và anh là một dụng cụ hữu ích trong tay Đức Chúa Trời.

Một ngày kia, trong khi anh cùng với một nhóm con cái Chúa đi thăm viếng một nhà riêng, thì công an bao vây xung quanh nhà. Họ hung hăng xông vào buổi nhóm và ngắt quảng buổi thờ phượng và đòi mỗi người phải khai trình họ tên và bị ghi biên bản. Quỳnh Lưu đứng dậy ngay và nói lớn tiếng, không sợ hãi: “Tôi là Quỳnh Lưu người ở ngôi làng bên sông, nằm dưới chân núi Đa-ly.”

Những con cái Chúa khác có vẻ sợ hình phạt, vì họ không giám ngo ngoe gì. Công an còn biết làm gì hơn là bắt nhốt tất cả những người có mặt? Họ bị trói chặt, chỉ Quỳnh Lưu là không bị trói, nhưng anh cũng phải lên đồn. Hình phạt dành cho tất cả là: Mười ngày đi học tập cải tạo. Có nghĩa là ban ngày họ phải làm việc nặng nhọc về thân thể, và ban đêm, người ta đưa cho báo và những tạp chí nói về chính sách đảng, về nền tảng, mục tiêu và phương tiện của Đảng để đọc.

Mặc dù Quỳnh Lưu trong những ngày này cũng mệt mỏi rã rời như các Cơ-đốc nhân khác, nhưng công việc nặng nhọc đó không tấn công được tinh thần anh. Anh tận dụng mỗi cơ hội để cầu nguyện và vui mừng với những người khác về Đức Chúa Trời mình. Kết quả là những Cơ-đốc nhân khác trong thời gian cải tạo này trên thực tế đã làm quen với Chúa Giê-xu một cách mới mẻ và hiến dâng hết tấm lòng cho Đức Chúa Trời. Quỳnh Lưu hăng say với Đức Chúa Trời, đến nỗi có thể truyền đạt lại những ý định của Ngài, khiến cho xung quanh anh không ai mà không bị thu hút. Sau đó, anh phát hiện ra là ở chỗ cải tạo này sự kiểm soát không nghiêm ngặt lắm. Đêm đêm, khi những người cai quản trại đã ngủ, anh trèo tường đi thăm viếng những con cái Chúa ở trong nhà mình. Anh động viên những người lúc đó bị giam chung với mình cũng hãy làm như vậy. Nên hằng đêm, những Cơ-đốc nhân sau khi làm việc và đọc xong những bài nghị quyết, đã lũ lượt kéo đi và giảng tin lành ở những ngôi nhà vùng lân cận. Lúc trời sáng thì họ trở về trại, và không ai biết gì hết.

Trong những ngày này, có nhiều mục sư và những người lãnh đạo thuộc linh từ những vùng lân cận đang ở trong nhà anh, họ phải trốn tránh vì có lệnh truy nã. Anh đã có những thời gian quí giá ban đêm với những con người anh dũng và dày dạn này, học từ nơi họ, phục vụ họ và cũng có những buổi thờ phượng Chúa kỳ diệu, nhiều niềm vui ngự trị, vì họ được nếm trải sự hiện diện của Đức Thánh Linh.

Vào ngày thứ mười, khi khóa cải tạo chấm dứt, tất cả các người tham dự đều được đặt cùng một câu hỏi: Họ đã học tập được những gì. Những người có trách nhiệm đã tập trung lại ở phòng học và tuyên bố “Tất cả những ai đã học và tiếp thu tốt được phép về nhà, còn ai chưa hiểu chính sách của nhà nước phải ở đây thêm một vài ngày nữa.” Quỳnh Lưu đứng lên và phát biểu đầu tiên: “Tôi đã học xong và hiểu hết tất cả.” Câu trả lời là được lắm, vậy xin anh hãy giải thích cho chúng tôi, anh đã học những gì.”

Quỳnh Lưu bắt đầu không hề lưỡng lự: “trong mười ngày vừa rồi được học tập và suy nghĩ, tôi đã hiểu rõ hơn, trước khi Chúa Giê-xu thay đổi tôi, tôi là một người như thế nào. Con người tự nhiên chỉ yêu được những người đàng hoàng, bạn bè, những người trông đẹp mã, có khả năng hay quyền thế và giàu sang. Chỉ Chúa Giê-xu đến trần gian để yêu những người xấu xa, hư mất và độc ác. Thậm chí, Ngài yêu cả kẻ thù mình. Tình yêu Ngài đã đạt đến mức Ngài đã chết thế cho kẻ thù mình. Bởi vì Ngài yêu mỗi người trong chúng ta, nên Ngài mong muốn mỗi chúng ta quay khỏi con đường gian ác, để Ngài có thể ban cho những kẻ yêu mến Ngài sự sống đời đời. Nhưng ai không tin Ngài, phải ởtrong sự tối tăm đời đời không có Đức Chúa Trời…” Ông cán bộ ngắt lời anh Đang nói say sưa “Được rồi, anh hãy chấm dứt cho và dọn đồ đạc mà đi đi.”

Một năm trôi qua. Trong lúc đó không những dân chúng đã thấy rằng Quỳnh Lưu thực sự là một người mới, bây giờ có một đời sống hoàn toàn khác. Cả văn phòng và những người đội trưởng thấy anh là một người làm việc tốt. Anh cởi mở, thẳng thắn, thành thật, và không thiên vị. Anh thành công trong mọi lĩnh vực, cả trong sản xuất và trong sự giao tiếp với những bạn cùng làm việc và với cấp trên. Anh luôn luôn có thể truyền đạt, dàn xếp và thúc đẩy thành tích của các công nhân cao hơn. Vì anh có nhiều khả năng như vậy, nên anh đã được đề bạt làm đội trưởng đội sản xuất. Nhưng Quỳnh Lưu xem nhiệm vụ chính của mình là đối với các Cơ-đốc nhân và Hội thánh, nên anh đã từ chối sự vinh dự đó. Ba lần anh được đề nghị như vậy. Cuối cùng anh được Đức Chúa Trời thuyết phục rằng có thể một Cơ-đốc nhân làm đội trưởng sẽ tốt hơn, bởi vì anh sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn, và anh sẽ bày tỏ cho mọi người về đời sống Cơ-đốc trong hằng ngày và cả đội sẽ được phước qua anh. Anh quyết định nhận lấy trọng trách đó.

Anh trở thành một người quản lý theo nguyên tắc Kinh thánh. Đức Chúa Trời ban ơn cho anh có thể quên mình vì công việc và những người dưới quyền mình còn hơn là để bảo vệ quyền lợi cá nhân. Tất cả mọi người đều tôn trọng anh và tất nhiên, những sự chỉ dẫn của anh đều được thi hành. Trong thời gian rãnh rỗi anh vẫn tiếp tục giảng giải cho mọi người về Kinh thánh, cùng cầu nguyện với họ, và chỉ cho tất cả những người có mối quan tâm đến Thượng đế, con đường đến với Chúa Giê-xu. Bởi vì anh đầu tư nhiều tình yêu, chăm lo cho mọi người và vận dụng hết sự sáng tạo của mình để làm tốt cho họ, nên anh đã đánh thức trong nhiều người sự quan tâm về đức tin của anh. chẳng bao lâu, tất cả hàng xóm và đa số những người trong đội anh đều tin Chúa. Quỳnh Lưu thường tổ chức những buổi nhóm để các Cơ-đốc nhân nhóm lại và thờ phượng Chúa.

Cùng lúc đó, công việc của những công nhân trong đội anh càng tốt hơn. Thành tích của họ vượt mọi năng suất và kế hoạch. Những công nhân là con cái Chúa giúp đỡ những công nhân ở ba đội khác, để cho họ hoàn thành được định mức giao phó. Trước đây, điều đó hoàn toàn khác. Các tổ sản xuất này luôn luôn tranh giành và chống chế lẫn nhau. Nhưng kể từ khi Quỳnh Lưu đã làm đội trưởng đội hai, thì tình hình hoàn toàn thay đổi. Những công nhân đã hiểu nhau và cùng nhau sản xuất nhiều hơn, và tất cả đều tuân phục dưới sự chỉ đạo của Quỳnh Lưu.

Ngoài ra, gia đình Quỳnh Lưu trong lúc đó cũng đã tin Chúa, đã được Đức Chúa Trời chúc phước một cách đặc biệt bằng sự hiếu khách. Nhà họ lúc nào cũng đầy người. Trong vùng đó, không có nhiều mục sư. Một vùng rộng lớn gồm mười tám huyện lỵ, chỉ có mười người lãnh đạo thuộc linh, họ phải lo thức ăn thuộc linh cho nhiều Hội thánh nhỏ khác nhau. Mười con người này sống một thời gian dài trong nhà Quỳnh Lưu, ở đó họ khích lệ nhau cùng cầu nguyện, trao đổi kinh nghiệm và ẩn núp, vì công an an ninh đang truy lùng họ.

Đó là một thời gian khó khăn gian khổ cho nhà thờ tư gia. Họ luôn luôn bị công an an ninh theo dõi, những buổi thờ phượng bị cấm, nhà cửa bị lục soát, các con cái Chúa bị đe dọa và bị nhụt chí bằng nhiều biện pháp. Những người lãnh đạo bị lùng bắt. Bởi vì Quỳnh Lưu là đội truỏng đã được đảng bộ nhà máy tín nhiệm, nên nhà anh là một nơi khá an toàn. Nhiều người lãnh đạo và những nhân sự nòng cốt bị công an tìm, đều đến trốn ở nhà anh. Không những họ đến từ những huyện lân cận, mà còn ở các tỉnh xa gần xung quanh đó. Cảm tạ Chúa chúng ta vì sự gìn giữ của Ngài vì những người đó ở trong nhà của Quỳnh Lưu suốt cả tháng và sau đó lại trở về địa phương mình an toàn không bị công an để ý.

Trong những tuần lễ này, lương thực rất ít ỏi. Gia đình Quỳnh Lưu chỉ ăn một bữa trongngày để còn có đồ ăn dành cho khách. Đức Chúa Trời là Đấng đã chăm sóc cho Ê-li cũng đã lo liệu cho Quỳnh Lưu. Bởi vì anh và gia đình vâng lời Đức Chúa Trời, vì họ đã thật hiếu khách và thích phục vụ người khác, nên Đức Chúa Trời cũng chú ý để họ không bị thiếu thốn gì. Có những điều kỳ lạ xảy ra trong bếp của Quỳnh Lưu trong những ngày ấy.

Một ngày kia, có hai Cơ-đốc nhân từ rất xa đến thăm nhà anh. Quỳnh Lưu rất muốn tiếp đón và thết đãi họ, nhưng nhà anh chỉ còn lại một ít bột. Anh bèn làm một ít bánh bao, loại bánh đơn giản điển hình thường hay ăn ở Trung Quốc. Nhưng anh ngạc nhiên khi lấy bột nhồi ra để nặn bánh thì có nhiều đến nỗi đủ cho tất cả mọi người ăn. Cuối cùng, vẫn còn thừa lại hai tô lớn.

Một lần, em gái Quỳnh Lưu lấy một thúng gạo để xay bột, cuối cùng cô được số bột nhiều gấp đôi lúc đầu: Hai thúng bột đầy tràn. Có nhiều phép lạ đã xảy ra trong nhà của Quỳnh Lưu theo cách đó. Ở trong nhà họ chỉ có một cái chảo duy nhất, nếu họ dùng nó để nấu, chỉ đủ cho cùng lắm sáu người ăn. Nếu họ có từ mười người trở lên là những mục sư và nhân sự đến thăm, thì nhà họ có trên hai mươi người. Và họ luôn luôn ăn no, mà vẫn còn thừa lại một ít. Đã nhiều năm mọi người thờ phượng Chúa trong nhà của Quỳnh Lưu, đôi khi có đến bốn mươi, năm mươi, thậm chí cả trên trăm người nhóm lại. Quỳnh Lưu cũng dùng cái chảo của mình để nấu cho mọi người, và bất kỳ lúc nào anh nấu mọi người cũng đều được ăn no.

Vào tháng tám, 1973, có người đến công an an ninh tại địa phương báo tin trong nhà Quỳnh Lưu có những người lãnh đạo thuộc linh đến thăm hàng ngày. Công an phản ứng ngay. Lập tức, bảy người công an chạy xe máy đến, bao vây nhà Quỳnh Lưu và lục soát tất cả. Nhưng cảm tạ Chúa, Quỳnh Lưu đã được Đức Thánh Linh báo trước và trước khi công an đến, anh đã kịp đưa những người khách đi trốn. Cuộc truy tìm không kết quả, công an phải ra về tay không.

Nhưng mối nghi ngờ đã bị giật dây. Quỳnh Lưu đã bị đưa lên công an phỏng vấn: “Ngoài gia đình anh, có những ai sống trong nhà anh nữa không?”

“Có, nếu có ai đi qua làng chúng tôi và đến đêm không có mái nhà để ngủ, thì chúng tôi không đành lòng để cho họ chịu vậy.” Anh trả lời thận trọng.

“Nhưng những người cư trú tại nhà anh là những người thuộc hạng nào, họ tên gì, họ từ đâu đến và đi đâu?”

Quỳnh Lưu tươi cười và nói “Ôi, từ lâu nay đã có rất nhiều người đến trong gia đình tôi, và làm sao tôi có thể nhớ hết tên họ được?”

Nhưng công an an ninh vặn hỏi tiếp tục: “Anh muốn cho rằng anh hoàn toàn không biết gì về những người này sao? Làm sao tôi có thể tin được?”

Quỳnh Lưu lại cười và nhún vai: “Không biết, các ông hãy đến mà tìm.”

Cuộc phỏng vấn còn kéo dài rất lâu, nhưng không dẫn đến kết quả nào. Những người bên công an giận dữ, vì Quỳnh Lưu không khai gì cả, rốt cuộc họ thả Quỳnh Lưu ra kèm theo những lời đe dọa và cảnh cáo.

Kể từ lúc đó, công an luôn luôn lảng vảng nơi nhà Quỳnh Lưu. Việc đó kéo dài bảy mươi bốn ngày. Đồng thời hàng ngày, Quỳnh Lưu bị gọi lên hỏi cung, bắt anh phải suy nghĩ và thú nhận về tội lỗi. Nhưng họ không moi được gì từ anh. Và cũng không có bằng chứng gì để chống lại anh. Sau thời gian kiểm soát đặc biệt đó, cuối cùng họ nói với anh: “Chúng tôi đã quan sát thời gian lâu, và thấy anh không phải là không trung thực. Anh không làm gì sai, không chống lại luật pháp và luôn luôn làm việc gương mẫu với tư cách là đội trưởng đội sản xuất. Sai lầm duy nhất của anh là anh thật cứng đầu cứng cổ, giữ sự mê tín dị đoan của mình.” Quỳnh Lưu tươi cười đáp lại: “Nếu như tôi không tin Chúa Giê-xu, thì tôi còn là một người cứng đầu cứng cổ, khó trị hơn nhiều, và chắc các ông cũng không hài lòng về việc làm của tôi”.

Nhưng nửa năm sau vào tháng tư, 1974, Quỳnh Lưu bị bắt. Lý do là mối liên lạc của anh với một mục sư ở một tỉnh khác đã bị lộ ra. Vào ngày trước khi anh bị bắt, trong lúc đang làm việc, Quỳnh Lưu nghe một tiếng nói bên trong nói với anh: “Con trai ta, con đường tiếp theo sẽ đưa con qua một thung lũng tối tăm, nhưng ở đó, con sẽ nhìn thấy sự vinh hiển ta”. Lập tức Quỳnh Lưu gác công việc lại, tìm một chỗ kín đáo và khóc, anh thưa với Chúa: “Chúa ơi, con sẵn sàng đi con đường đó. Con cám ơn Ngài, vì Ngài đã chịu thay cho con và bây giờ vẫn còn chịu thay cho con. Xin hãy ban cho con sức lực để con có thể bền bỉ và trung tín với Ngài.”

Quỳnh Lưu là người đầu tiên ở thành phố ‘F’ bị bắt. Ít lâu sau anh Minh cũng bị bắt. Sau khi họ bị giam ba tháng, Quỳnh Lưu có một giấc mơ: Anh thấy một người tóc râu bạc phơcầm quyển sách mở trong tay dến với anh. Ông mở hộp mực ra và chấm ngón tay Quỳnh Lưu vào đó rồi in lên quyển sách, ông nói ‘Hai mươi mốt tháng’”.

Khi vừa tỉnh lại, anh kể cho Minh giấc mơ đó nhưng anh Minh không thể tin được: “Hai mươi mốt tháng ư? Không, tôi không thể tin được, không bao giờ. Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ còn ở đây chùng ba hay bốn tháng thôi, lâu nhất là năm tháng nhưng chắc chắn không lâu hơn.” Kể từ lúc đó, Quỳnh Lưu đếm những ngày để kiểm tra giấc mơ xem. Nhưng những tháng cứ trôi qua, anh không còn hào hứng đếm nữa và sau một năm anh thôi không đếm nữa. Sau đó, án giam của anh bị tăng lên một năm. Đến khi anh được thả ra, anh đếm lại và đúng là hai mươi mốt tháng kể từ ngày có giấc mơ đó.

Tình trạng ở trại giam rất tàn bạo. Nhà tù khét tiếng trong dân chúng, nhưng trên thực tế còn tệ hơn thế nữa. Những tù nhân không những bị tra tấn đánh đập tàn bạo mà họ còn được cho ăn quá ít. Cái đói là người bạn đồng hành thường xuyên của những tù nhân. Một cảnh diễn ra hằng ngày là những tù nhân đi dạo trong sân nhà tù úa đến bãi cỏ để ăn cỏ. Thường có những tù nhân vì đói quá hóa cuồng đã ăn phân của mình, vì thế mà bị bệnh hay bị điên. Một người đàn ông bị điên vì đói, đã xé áo của mình mà ăn. Trong thời gian ngắn ông đã ăn hết nửa cái áo mình. Hậu quả là kể từ đó ông chỉ đi ngoài ra máu, và chịu đau đớn đến nỗi ông đã ngất đi. Đến tối, thường thường có trên mười tù nhân bị ngất xỉu vì đói.

Trong vòng hai mươi mốt tháng này, Quỳnh Lưu luôn luôn bị tra khảo, có khi đến hai lần trong ngày. Có nhiều cán bộ cấp cao của công an an ninh không những từ tỉnh nhà, mà còn từ các tỉnh lân cận. Mỗi lần anh bị gọi lên văn phòng của công an an ninh và phải quì gối suốt thời gian đó. Nếu anh không trả lời theo yêu cầu những kẻ hỏi cung thì anh bị tra tấn đánh đập. Nhiều tháng liền anh đã phải chịu đựng sự đau đớn thân thể như vậy mỗi ngày. Vào tháng giêng 1976, có phiên tòa xét xử chính thức đối với trường hợp của Quỳnh Lưu. Anh bị trói và bị đưa ra tòa. Lời tuyên án: Hai năm tù. Vào cùng ngày đó, ngay sau phiên tòa có một buổi ‘đấu tố’ được tổ chức. Nhiều người đã đến xem. Quân đội nhân dân bảo vệ toàn khu vực bằng vũ khí trang bị trong tay. Nhiều công an an ninh đứng vây quanh có súng lục đã lên nòng chĩa vào những tù nhân. Không thiếu những binh lính có súng máy chực sẵn.

Quỳnh Lưu bị đưa ra trước công chúng như một tên tội phạm hình sự, họ đọc lên những tội có thể của anh, để bị bêu xấu và nhạo báng làm một gương điển hình. Những khán giả cũng hùa theo. Các học sinh và sinh viên ném đá và nhổ vào người anh. Toàn bộ sự việc thật đáng sợ và kinh khiếp, cuộc đấu tố đã không bị trật mục tiêu. Ai đã từng có lần bị đứng trên khán đài này, thì sau khi được thả ra sẽ mãi mãi bị hàng xóm và bà con khinh bỉ.

Đối với những tù nhân khác, buổi đấu tố này thật là kinh khủng. Nếu họ nhận ra những gương mặt thân quen trong đám đông là họ gục đầu xuống và ước gì có thể đâm đầu xuống đất được. Nhưng súng ống chĩa vào họ, bắt họ phải bước lên khán đài. Chỉ có Quỳnh Lưu là khác thường. Anh bước lên khán đài với phong thái của một người chiến thắng, bước tiến lên phía trước, để nhận phần thưởng. Anh bước lên bực thang đầy sự bình tĩnh và tin cậy Đức Chúa Trời. Trong tay anh cầm một khẩu hiệu có hàng chữ lớn: “Quỳnh Lưu, một kẻ phản cách mạng, đội lốt tôn giáo và mê tín dị đoan”. Nhưng rõ ràng là Quỳnh Lưu hãnh diện về lời kết án mà anh đang mang lên giữa khán đài này, anh căng rộng và giương cao cho tất cả mọi người đều nhìn thấy. Anh nhìn thẳng vào mặt mọi người và mỉm cười với họ. Trong lúc đó, anh cũng phát hiện ra bố mẹ và anh chị em trong đoàn người. Nhưng anh không vì thế mà buồn và không hề xấu hổ, hơn thế nữa, nụ cười của anh đối với họ còn rạng rỡ và mật thiết hơn nhiều vì tình yêu đối với Chúa Giêxu mà chịu đau thương và bị xã hội thù ghét, đều đó đối với anh là một vinh dự. Tất nhiên gia đình anh rất bình tĩnh khi họ nhận thấy sự bình tĩnh của anh.

Mấy ngày sau đó, anh được đem đến trại cải tạo. Không lâu sau, anh Minh cũng bị đưa đến đó. Cả hai rất vui mừng vì ở nơi tối tăm xa lạ này họ lại được ở bên nhau. Họ thường cầu nguyện chung và động viên lẫn nhau. Việc hàng ngày của Quỳnh Lưu là xúc than đổ vào một lò lớn. Công việc rất nặng nhọc, nhưng tình yêu của anh đối với Đức Chúa Trời và với mọi người làm cho anh không biết mệt mỏi. Anh cũng giống như Giê-rê-mi nói: Một ngọn lửa cháy trong các chi thể tôi. Những bức tường của trại cải tạo lao động không thể kìm hãm anh được. Vào buổi tối khi anh trở về chỗ nghỉ và cởi bộ quần áo đen lao động ra, tắm rửa và mặc vào bộ thường phục, mà anh mang từ nhà theo. Sau đó, anh lẻn ra khỏi trại! Đêm đêm anh tổ chức những buổi nhóm trong những nhà ở vùng lân cận để kể cho mọi người về Chúa Giê-xu và cùng thờ phượng Chúa với họ. Thỉnh thoảng, anh đi đến những vùng cách đó mười lăm cây số. Đoạn đường này tất nhiên anh luôn luôn đi bộ. Và có nhiều người đến để nghe anh nói. Vào sáng sớm hôm sau, anh lại trở về đúng lúc trước khi những người quản lý phát hiện ra sự vắng mặt của anh. Giả sử họ có bắt được anh, thì hình phạt chắc chắn sẽ tăng lên một hay hai năm, và chắc tháng đầu tiên anh phải ở trong xà-lim cách ly. Nhưng Đức Chúa Trời đã bảo vệ anh và anh Minh, là người sau đó cũng nhập cuộc với anh.

Công an an ninh bây giờ tuy đã bắt và kết án Quỳnh Lưu, nhưng mục đích chính của họ chưa thực hiện được: Họ vẫn còn chưa biết gì về những mục sư đang bị truy nã, ở các tỉnh khác nhau, đã sống trong nhà Quỳnh Lưu. Dẫu họ có thể phỏng đoán một số điều, nhưng cho đến nay họ chưa hề moi được gì từ Quỳnh Lưu hay gia đình anh. Cho nên họ tiến hành một biện pháp không bình thường. Hai năm liền, công an an ninh đã sống trong nhà của Quỳnh Lưu, trong khi anh ở trong trại cải tạo. Gia đình có sáu người đó bị tra khảo thường xuyên. Những công an rất hung bạo và đê tiện khi đối xử với họ. Họ đem bố mẹ Quỳnh Lưu và anh chị em của anh đến đồn công an đều đặn, để đánh đập họ ở đó. Nhưng mặc dù bị sự tấn công ồ ạt đó, thì sự bảo vệ của Đức Chúa Trời trên gia đình vẫn mạnh hơn. Không ai trong số họ hé răng dù chỉ một lời.

Em gái Quỳnh Lưu lại bị đưa lên đồn tra khảo. Cô con gái vừa đi khỏi là người mẹ đã quì gối xuống và cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cầu xin Ngài ban cho cô sức mạnh và sự anh dũng để cô không khai lời nào và không cảm thấy đau đớn. Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện, Ngài ban cho cô gái trẻ nhiều sức mạnh siêu nhiên, và cô đã im lặng không hé môi một lời nào. Người cán bộ giận dữ đến nỗi dùng báng súng lục đánh vào cằm và môi cô, cho đến khi phần lớn những cái răng của cô bị gãy và rơi ra ngoài. Trong lúc đó người mẹ đang cầu nguyện không thôi cho cô. Cuối cùng, cả miệng cô là một vết thương bê bết máu. Nhưng cô không nói một tiếng. Người mẹ cầu nguyện, cho đến khi con gái được thả ra vào lúc rạng sáng.

Năm 1978, Quỳnh Lưu được thả về. Nhưng một cảnh tượng đau lòng đang chờ đợi anh: Các Hội thánh trong quê hương anh, ở phía nam tỉnh Hà-nam (Henan), ở trong tình trạng tan nát. Có nhiều người lãnh đạo lão thành và trung kiên của Hội thánh trong lúc đó đã bị đi tù. Vậy nên Hội thánh đã bị mất những cột trụ của mình. Những con cái Chúa còn lại lo sợ và không đủ can đảm để thay thế người lãnh đạo và đứng vào vị trí của họ. Những Hội thánh tư gia không còn họp nhóm nữa. Những Cơ-đốc nhân hoang mang đầy lo sợ, đến nỗi họ không thể có một đời sống bình thường được. Họ thường phải tính đến trường hợp là công an có thể ập đến, và sự sợ hãi đã làm tê liệt không những đời sống đức tin của họ mà còn cả những sinh hoạt hàng ngày của họ. Và trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó, không có ai an ủi hay khích lệ họ. Họ thật sự như bầy chiên không có người chăn, nên sự có mặt của Quỳnh Lưu rất cần thiết. Anh kinh hoàng về tình trạng của Hội thánh, và hầu như anh không thể tin được rằng mới có hai năm thôi mà Hội thánh đã phải chịu sự thất bại như vậy. Anh đau đớn khi thấy tinh thần anh chị em mình bị nhụt chí.

Nên sau khi Quỳnh Lưu được thả ra, anh lập tức lên đường thăm viếng các anh chị em và gây dựng họ. Anh đã đi bằng xe đạp đến từng nhà con cái Chúa mà anh biết, nhắc nhở và an ủi họ. Trước hết anh động viên họ hãy trở lại nhóm thờ phượng. Với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, anh tìm cách châm ngòi tình yêu của Chúa trong họ một cách mới. Anh cầu nguyện với họ để họ được mạnh mẽ và có thể tự cầu nguyện được. Anh thường đi cả đêm bằng xe đạp, trong lúc trời oi bức hay lạnh giá, dù mệt mỏi hay nguy hiểm, để đến từ nhà này sang nhà khác, làng này sang làng khác và thăm viếng tất cả các Cơ-đốc nhân.Trong khi đạp xe, anh có nhiều thời gian để suy gẫm. Ý tưởng cứ xoay quanh trong tâm trí anh về tình trạng tang thương của các Hội thánh. Sau đó, anh chạy xe sang bên lề đường, thả bộ một vài bước ra cánh đồng, quì gối xuống và kêu than với Chúa về nỗi đau mình.

Nhưng công việc đó không bao lâu đã đem lại bông trái. Hội thánh đã đáp ứng với tiếng nói của Đức Thánh Linh và họ đã tiếp nhận tất cả những gì Quỳnh Lưu nói. Những Cơđốc nhân cho phép tình yêu đối với Chúa Giê-xu được châm ngòi trở lại, và Đức Thánh Linh đã đưa dắt nhiều người đến với buổi thờ phượng, và sau một thời gian ngắn, người ta có thể nói về sự phấn hưng tràn khắp phía nam tỉnh Hà-nam. Những buổi nhóm Quỳnh Lưu mời được mọi người đến rất đông. Đức Chúa Trời đã ban cho anh sức mạnh thân thể và sự xức dầu của Đức Thánh Linh, và những bài giảng của anh luôn luôn có những tiếng khóc kèm theo của những người nghe, họ từ bỏ đời sống cũ và đến gần Đức Chúa Trời.

Vào một đêm anh ở Wanhe để giảng ở ngoài trời. Ngoài thành phố là một sườn đồi, ở đó mọi người có thể ngồi trên cỏ và tất cả đều nhìn thấy anh. Có khoảng hai nghìn người đã đến và nghe anh. Đức Thánh Linh đã vận hành mạnh mẽ, và nhiều người lần đầu tiên đã hiểu được sự nhân từ bác ái của Đức Chúa Trời. Nhiều người đã quyết định tin nhận Giêxu làm Chúa của đời sống mình và mở lòng một cách mới cho Ngài. Quỳnh Lưu đã bắt đầu giảng lúc sáu giờ chiều và đến mười một giờ. Anh muốn kết thúc buổi thờ phượng, vì anh nghĩ rằng mọi người muốn về nghỉ. Nhưng tất cả đều ngồi lại. Nên anh đã nói tiếp đến một giờ sáng. Hàng nghìn người đã ngồi im, không động đậy hàng tiếng đồng hồ ở bên sườn đồi, hầu như người ta không thể nghe được một tiếng ho. Không ai đứng dậy hay đi đi lại lại. Chỉ nghe thấy giọng của Quỳnh Lưu. Và mọi người còn muốn nghe nhiều hơn về Đức Chúa Trời nhân từ và đáng yêu này. Và Quỳnh Lưu càng hăng say khi được nói về Đức Chúa Trời mình. Trong những lúc đó, anh không khi nào mệt mỏi, và những đề tài cũng không hề cạn. Cuối cùng, buổi thờ phượng này kéo dài đến buổi sáng hôm sau.

Chẳng bao lâu, các Hội thánh trong vùng được thăm viếng. Quỳnh Lưu lần lượt thăm viếng họ và được Đức Thánh Linh soi dẫn, anh đã cử ra những người lãnh đạo thuộc linh mới. Vào đầu năm 1983, Đức Thánh Linh đã nói với Quỳnh Lưu và chỉ cho anh rằng, hãy cùng với một nhóm gồm những thanh niên Cơ-đốc đến một tỉnh nọ và để bắt đầu ở đó một công việc mới, và công việc đó sẽ gây ra sự ảnh hưởng lớn.

Chỉ sau một thời gian ngắn, anh và đội của anh đã bị công an đuổi bắt. Họ đã bị bắt cùng với những Cơ-đốc nhân khác và bị đánh đập dã man. Tổng cọng có hai trăm Cơ-đốc nhân phải tham gia khóa cải tạo đó. Tám người trong số họ bị kết án tù.

Sau đợt cải tạo, Quỳnh Lưu lại được thả ra, nhưng từ lúc đó anh phải sống trốn tránh. Anh vẫn truyền giảng khắp mọi nơi như vậy, anh phải luôn luôn đổi chỗ ở và phải chú ý để dọc đường không bị bắt, vì anh có trong danh sách truy nã.

Công an bị lúng túng. Họ không thể hiểu nổi tại sao họ lại không bắt được con người này.

Nhằm đưa anh vào tròng, chúng đã biệt phái nhiều lính chuyên nghiệp đến sống ở làng của anh dưới chân núi Đa-ly. Họ sống tại địa phương hai năm và tìm cách đánh hơi chỗ ở của người của Đức Chúa Trời này. Trong khi đó, Quỳnh Lưu cùng với một vài người trong đội và vài Cơ-đốc nhân khác, là những người có trong danh sách truy nã của công an, ngủ ở bất kỳ chỗ nào, miễn là không ở nhà. Họ đã ngủ nhiều đêm ở mương rãnh, ở rừng rậm hay ngoài đồng trống. Chỉ khi nào trời mưa, họ mới cùng lắm ngủ trong nhà dân.

Có một lần công an đoán là Quỳnh Lưu sẽ về nhà. Họ đã huy động tổng lực, nhiều sĩ quan cao cấp chỉ huy cuộc săn bắt, một lực lượng lớn quân đội nhân dân và nhiều súng ống đạn dược và roi điện, để làm sao bắt được anh. Họ đến bằng nhiều xe cộ, nhưng để xe ở đằng xa hầu không làm động tĩnh Quỳnh Lưu.

Họ bò đến nhà anh như những con mèo rình mồi. Mỗi người đều có cây đèn pin ba nấc phát sáng cực mạnh trong tay, để sau đó sẽ bật sáng lên trước nhà và trong sân. Khi họ đã đến gần thì chia thành ba toán. Toán thứ nhất kiểm soát tất cả những con đường và ngõ ngách đến ngôi nhà, toán thứ hai canh gác các bức tường xung quanh nhà và toán thứ ba xông thẳng vào cửa chính để bắt Quỳnh Lưu. Nhưng mọi nổ lực đó đều thành công cốc.

Quỳnh Lưu lúc đó đang ở trên một ngọn đồi cách không xa nhà anh, từ đó anh có thể quan sát được. Anh thấy quân lính trườn bò đến căn nhà, và anh cũng nghe thấy tiếng nói. Anh quan sát thấy gia đình anh bị hỏi cung, chúng đã lùng sục anh cả đêm, và cuối cùng giận dữ phải rút quân.

Trong những năm đó, vợ của Quỳnh Lưu không được nhẹ nhàng chút nào. Không những cô phải gánh trách nhiệm cho cả gia đình, vì không có Quỳnh Lưu ở nhà, mà còn công an vẫn đều đặn đến tìm cô. Kết quả là căn nhà bị bới tung và con cái thì khiếp sợ, bản thân cô bị đánh đập và hành hạ. Nhưng Chúa Giê-xu luôn luôn ở gần bên cô và ban cho cô nhiều sức lực và sự dạn dĩ, để chịu đựng được những sự tấn công đó. Bất kỳ khi nào những con cái Chúa gặp cô, cô không bao giờ buồn rầu, nhưng lúc nào cô cũng tuôn tràn một niềm vui kỳ lạ của Chúa ban cho. Nhu cầu của cô là an ủi và khích lệ người khác, để họ được mạnh mẽ và không lìa bỏ đức tin, mà giữ một tinh thần tỉnh thức và sống trong sự tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời. Cũng vào năm 1983 đó, chính phủ ra chỉ thị thanh trừng hàng loạt ‘tà giáo la hét’. Và tất cả các nhà thờ phải trải qua một thời gian bị bắt bớ gian khổ. Công an tuyên bố rằng Quỳnh Lưu, anh Minh chị Bài và một số những người khác là những người lãnh đạo của ‘tà giáo la hét’ và đã ra lệnh bắt giam họ. Trung ương đề ra con số những người lãnh đạo cần phải bị bắt, thì đối với chính quyền địa phương là quá ít ỏi, nên chính quyền địa phương đã tăng con số đó lên gấp đôi. Và ngoài ra họ nói rằng ở thành phố ‘F’ đã có mười bốn người bị tử hình. Đó là một thời gian rất nguy nan cho Quỳnh Lưu và nhóm thanh niên Cơ-đốc của anh. Thỉnh thoảng dường như họ không thấy mặt trời, họ luôn luôn sống chui nhủi và phải tính đến trường hợp bị bắt và bị tử hình, giống như lúc nào cũng có đám mây đen phủ trên họ vậy. Công an an ninh đã tuyên bố công khai rằng, họ sẽ không chừa một biện pháp nào để bắt Quỳnh Lưu và nhóm của anh và kết án tử hình. Nên họ đã ngày đêm phải chạy trốn, nhưng Đức Chúa Trời đã bảo vệ họ an toàn, hầu cho họ thoát khỏi công an, mặc dù họ đã nhiều lần bị phát hiện và bị bao vây.

Nhưng dưới những hoàn cảnh đó, họ cũng không ngừng thăm viếng các Cơ-đốc nhân, tổ chức những buổi nhóm giảng về nước Đức Chúa Trời và cầu nguyện với họ. Họ trải từ làng này qua làng khác, từ huyện này sang huyện khác, luôn luôn sẵn sàng loan báo về tình yêu Chúa Giê-xu, về sự chết và sự sống lại của Ngài. Trong những tuần lễ đó, họ bị túng thiếu đến nỗi họ không có tiền. Nên họ đã đi bộ, và có những đoạn đường đến hai ba trăm cây số hay còn dài hơn. Nếu họ khát, thì họ uống nước sông, nhưng nếu họ đói, thì không có nhiều khả năng. Những tuần lễ trôi qua, cái đói càng dữ dội, những bước chân họ càng trở nên nặng nề. Họ ngủ dưới những chiếc xe đậu bên đường, hoặc dưới những xe máy cày trong cánh đồng. Vào một buổi tối có một trận tuyết rơi mạnh và nhiệt độ hạ xuống nhanh chóng, họ run rẩy vì lạnh và ngủ là điều không thể nghĩ đến. Một vài chị em đã lấy tấm bạt của chiếc xe tải ở bên đường và cuộn mình vào đó. Đó là cách duy nhất để vượt qua cái đêm lạnh giá đó.

Có một thanh niên trong đội không có quần, và vì họ không có tiền để mua, anh đã phải sống thiếu quần trong năm tháng. Những người khác không có tiền để cắt tóc, một vài người đã để tóc rất dài, năm năm họ không cắt tóc. Họ thực sự là một cảnh tượng bi đát cho những ai trông thấy.

Quỳnh Lưu và các bạn của mình đã sống hai năm như vậy. Sau đó đến một thời gian Đức Chúa Trời đã cho phép anh bị kẻ thù bắt. Quỳnh Lưu cùng với một Cơ-đốc nhân ở thành phố ‘F’ ra bến xe buýt và chờ xe. Trong lúc anh chờ, anh nhận thấy ánh mắt theo dõi của một người đi đường và người đó vội vàng tách khỏi đám đông. Quỳnh Lưu biết rằng người đàn ông đó đã nhận ra anh. Nhưng anh chỉ nói với người đi theo rằng anh hãy đi chuyến đầu, trong khi anh chờ chuyến thứ hai.

Người kia đi khỏi, mấy chốc sau đó Quỳnh Lưu đã lên chuyến xe thứ hai. Khi xe vừa chạy khỏi bến xe buýt mười cây số, có nhiều chiếc xe công an bật đèn xanh, còi báo động kêu inh ỏi, vượt chiếc xe khách và ra hiệu cho họ dừng lại. Một toán công an lên xe và bắt đầu kiểm tra chứng minh thư từng người. Khi họ đến chỗ Quỳnh Lưu, họ hỏi rằng: “Anh từ đâu đến và anh tên gì?”

Quỳnh Lưu bình tĩnh trả lời: “Tôi là Quỳnh Lưu ở vùng núi Đa-ly.”

Lập tức anh bị lôi ra khỏi xe buýt và công an đã vây xung quanh anh, thay nhau chửi bới: “Vậy là chúng tao đã bắt được mày rồi! Bây giờ thì đừng hòng mà chạy trốn. Trong suốt thời gian qua, mày đã tuột khỏi tay chúng tao, và mày đã chạy giỏi. Nhưng cuối cùng chúng tao đã dài hơi hơn. Bây giờ mày có thể tìm mọi cách, nhưng không thoát khỏi tay chúng tao nữa đâu. Lần này chúng tao sẽ khoét vài lỗ thủng tròn tròn trên người mày.”

Quỳnh Lưu không bị nao núng. Anh tươi cười đáp lại: “Các ông không cần làm cho tôi dựng tóc gáy làm gì. Vì trên thực tế, hôm nay chúng tôi có thể chạy khỏi các ông được, nếu như tôi muốn. Tôi đã biết là thế nào các ông cũng sẽ đến. Các ông không thể làm gì được ngoại trừ trường hợp Đức Chúa Trời của tôi cho phép.” chúng không nói được một lời nào. Sau khi chúng đã truy tìm anh hàng năm ròng, chúng nghĩ rằng anh sẽ giãy dụa chống cự. Nhưng chúng không ngờ được phản ứng của anh. Chúng sững sờ, rồi đột nhiên nói bằng giọng lịch sự: “Thôi được, hôm nay anh có muốn bị trói không?”

Quỳnh Lưu bình tĩnh trả lời: “Thôi thì hãy trói đi”. Chúng trói Quỳnh Lưu vào chiếc xe
máy và chạy đi. Trên đường, Quỳnh Lưu gặp một nữ tín đồ, đang đứng ở lề đường và
quan sát những xe máy chạy qua. Anh gọi với cô: “Hãy về nhà và nói với mọi người là tôi
đã bị bắt.”

Khi họ đến đồn công an trung tâm, thì đã có nhiều công an đứng dưới đường để nhìn xem
tên tội phạm khét tiếng đã bị truy nã từ lâu nay. Ngay cả người chỉ huy công an an ninh cũng có mặt dưới đường. Một sĩ quan cao cấp đã nói với Quỳnh Lưu, trong khi họ vào trong sân: “Chắc ông là một nhân vật quan trọng. Đến cả thượng cấp của chúng tôi và cục
trưởng cũng xuống dưới đường để đón anh.” Viên công an hỏi cấp trên của mình “Tôi
phải đem Quỳnh Lưu đi đâu?” Người kia trả lời rất chậm chạp, dường như muốn thưởng
thức từng lời, và trong khi đó ông đưa một ánh mắt căm thù sang Quỳnh Lưu nói: “Xin
anh hãy đưa Quỳnh Lưu đến Nan-lao.”

Khi Quỳnh Lưu nghe thấy, anh cũng hoảng. Vì đó là nhà tù khét tiếng nhất mà anh biết,
có tiếng là nơi tàn bạo nhất trong toàn tỉnh. Không ở đâu tù nhân bị tra tấn tàn bạo như ở
đó. người ta kể rằng, ở đó tù nhân bị tội nhẹ nhất cũng bị tra tấn rất kinh khủng, bị lột trần
truồng ra trói vào một khung gỗ. Nhiều công an đánh vào đầu, bàn tay và bàn chân của
nạn nhân. Cho đến khi không còn chỗ nào không bị thương, toàn thân thể bị đẫm máu.
Sau đó chúng lấy một thanh gỗ cứng đánh vào lòng bàn tay, đầu gối và ống chân. Trên
thực tế, sự tàn bạo ở Nan-lao không thể tả hết được.

Lập tức có một phiên tòa xét xử. Các bức tường của phòng tòa án đầy những dụng cụ tra
tấn. Ông chánh án cũng là người đã xét xử anh năm 1974. Những lời đầu tiên của ông là:
“Quỳnh Lưu, vậy là anh lại có mặt ở đây.”

Quỳnh Lưu thản nhiên trả lời: “Vâng, bây giờ tôi lại đến đây.”
“Anh vẫn còn tin vào Chúa Giê-xu chứ?”
“Đầu tôi có thể rơi, máu tôi có thể đổ, nhưng tôi không bao giờ từ bỏ niềm tin vào Chúa
Giê-xu!”
“Cũng được, tôi không phản đối, nhưng hôm nay chúng ta không muốn nói về tin hay
không tin. Anh đã từng là một tù nhân của một trại lao động và đã được cải tạo ở đó.
Nhưng kể từ khi anh được thả về năm 1978, rõ ràng là tư duy của anh không thay đổi gì.
Thậm tệ hơn, anh đã bắt đầu đi theo những hoạt động phản cách mạng. Chúng tôi đã điều
tra và đã thu thập một số lượng lớn những bằng chứng về anh. Hôm nay chỉ còn một cách
là anh phải thú nhận trước chính phủ về những tội phạm của mình và xin chúng tôi đối xử
khoan hồng với anh. Bằng chẳng vậy sẽ có điều không tốt đẹp chờ đợi anh.”

Sau những lời đó, những tên công an đứng lên hàng loạt, cặp mắt long sòng sọc, nhìn
Quỳnh Lưu, chỉ còn đợi một cái ra hiệu của quan tòa là xong. Quỳnh Lưu mỉm cười thắng
thế: “Ông không cần phải thử điều đó với tôi! Tôi đã một lần vào tù. Tôi biết đảng đối xử
như thế nào đối với những kẻ bị bắt. Ông khẳng định rằng chính sách của các ông là công
bình, lời tuyên án dựa trên luật pháp và bằng chứng, và công an không biết tra tấn là gì.
Nhưng ngay trước mắt chúng ta đây, những cái gì đang treo ở đó? Thưa quí ông, đáng tiếc
hôm nay tôi phải nói thẳng một điều: “Không phải tôi là người phạm pháp, nhưng các
ông là những người phạm pháp. Nếu các ông có lý do gì chống lại tôi, xin gãy chỉ ra
những bằng chứng!”

Quyền phép Đức Chúa Trời mạnh mẽ trên Quỳnh Lưu. Những lời của anh đầy quyềnnăng, được nói bởi Đức Thánh Linh, nó làm đau lỗ tai những người kết án anh. Ông quantòa không biết đáp lại lời nào. Ông im lặng hồi lâu và nhìn ra phía trước cách tư lự. Sau đó, ông hít thở sâu và giải thích bằng giọng lí nhí “Cuộc thẩm tra hôm nay đến đây là chấm dứt. Nếu ông về xà lim, hãy suy nghĩ kỹ càng, trong bảy ngày nữa, chúng tôi sẽ tiếp tục.”

Quỳnh Lưu lại bị giải đi và bị đưa vào trong khu nhà tù phía sau. Người cai ngục mở cửa ra và đẩy Quỳnh Lưu vào. Anh chưa kịp nhìn thấy gì, thì có một mùi hôi thối kinh khủng xâm chiếm anh, làm anh ngạt thở và muốn lộn mửa. Sao đó một khung cảnh khác đập vào anh, làm anh choáng váng. Xà-lim thì nhỏ mà có đến bốn mươi người ở trong đó. Đa số trước đó đã bị đánh thập tử nhất sinh, họ trông thật dễ sợ. Nhiều người bị thiếu dinh dưỡng đến nỗi không còn tỉnh táo nữa. Vài người vật lộn để sống, những người khác nhất định muốn chết. Trên các gương mặt đầy sự bỏ cuộc và sự vô vọng chiếm ngự bầu không khí. Vài người tìm cách tự sát, bằng cách đập đầu vào tường, nhưng họ chỉ bị thương, chứ họ không chết được.

Khi anh bước vào xà-lim, Đức Thánh Linh đã đặt trong lòng anh một tình yêu và sự thương xót đối với những người này. Một gánh nặng đè nặng trên anh và anh bắt đầu cầu nguyện cho những người này. Mọi cái khác đối với anh dường như không quan trọng, ngày và đêm anh kêu cầu Đức Chúa Trời, xin Ngài đổ xuống ân điển và sự giải cứu cho những con người này và để họ nhìn biết Đức Chúa Trời. Sau đó, anh bắt đầu kể cho những con người đáng thương này về Chúa Giê-xu, và tất cả họ đều thích thú khi thấy có một Đức Chúa Trời yêu thương họ. Chỉ trừ vài ba người ngoại lệ, còn tất cả bốn mươi người đó đều tiếp nhận Giê-xu làm Chúa của mình. Đức Chúa Trời đã chữa lành trái tim và thân thể của họ và niềm vui đã tràn vào xà-lim. Thậm chí, sau đó có vài người được thả ra, họ đã vào tù để thăm Quỳnh Lưu. Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ lớn lao trên đời sống những con người này và Quỳnh Lưu tạ ơn Chúa vì anh đã vào xà-lim này, dù có phải chịu nhiều sự tra tấn đánh đập.

Sau đó, có một phép lạ khác xảy ra: sau ba tháng Quỳnh Lưu được thả ra! Thật ra, anh phải bị tử hình, nhưng giờ thì thậm chí anh cũng không bị kết án nữa. Chính Đức Chúa Trời đã làm cho các kế hoạch của công an và pháp lý ra hư không, vì không có gì có thể ngăn trở họ giết con người mà họ đã truy tìm từ lâu này.

Vào ngày anh được thả ra, có hai cán bộ cấp trên của nhà tù đến trực tiếp với Quỳnh Lưu. Người cai ngục mở cửa ra, và bằng tất cả uy lực họ la to vào trong xà-lim: “Quỳnh Lưu ở đâu?” Có câu trả lời đáp lại ngay không lưỡng lự “Tôi ở đây.”

“Tại sao anh ở đây?”

“Bởi vì tôi tin Chúa Giê-xu.”

Khi người quản lý nhà tù thấy sự điềm tĩnh và vui vẻ trong giọng nói của Quỳnh Lưu, thì ông giận điên người. Dường như toàn bộ quyền lực và sự ngăm dọa đều dội ngược khỏicon người này. Ông không thể hiểu được điều đó. Ông nghiến răng nguyền rủa “Tao thật căm thù mày! Nếu tao có thể bắn mày, thì điều đó không làm vơi đi sự căm thù của tao đối với mày. Tao sẽ khoét lỗ mày bằng súng máy.”

Quỳnh Lưu bình thản nhìn thẳng vào mắt ông ta và nhẹ nhàng nói: “Thôi xin ông đừngmất bình tĩnh thế! Ông phải nên mừng mới phải, vì ông đã tìm cách bắt được tôi làm tù nhân của ông. Dẫu sao tôi cũng là cái để ông kiếm cơm.”

Hắn lồng lộn giận dữ, muốn nhảy bổ vào Quỳnh Lưu, nhưng người cấp trên của hắn đã ngăn lại. Người cấp trên bình tĩnh nói với hắn, “Thôi đủ rồi, xin ông đừng mệt người làm gì với con người này. Sự mê tín của Quỳnh Lưu đã cứng như đá. Ngay cả ông cũng không làm gì được nữa.”

Sau đó, ông quay sang với Quỳnh Lưu: “Trường hợp của anh đối với chúng tôi là kết thúc. Anh có thể trở về nhà mình.” Đối với Quỳnh Lưu, đáng lẽ là phải bị tử hình, thì đây là một phép lạ lớn của Đức Chúa Trời.

Và ở nhà có sự bất ngờ vui mừng đang chờ đợi anh: nhà anh đầy ắp những Cơ-đốc nhân. Họ đã đến hiệp một với gia đình, để cùng cầu nguyện cho anh. Thật là vui mừng biết bao, vì anh đã được thả ra nguyên vẹn sau một thời gian bị bắt ngắn như vậy! Tất cả đều sững sốt trước sự can thiệp của Đức Chúa Trời, và đã có một buổi thờ phượng Chúa bộc phát. Quỳnh Lưu giảng về sự nhân từ của Đức Chúa Trời và tường thuật lại sự vận hành của Đức Chúa Trời trong xà-lim ra sao. Sự thờ phượng Chúa trong vui mừng đó kéo dài ba ngày ở trong nhà của Quỳnh Lưu




Hoa Huệ Giữa Chông Gai – CÂY BÁCH CỦA RỪNG LI-BAN

Hoa Huệ Giữa Chông Gai

Anh Hùng Đức Tin.

Hoa Huệ Giữa Chông Gai

Nguyên tác: Danyun
Chuyển ngữ: Vô Danh

Lời Giới thiệu

Tác phẩm “Hoa Huệ Giữa Chông Gai” ghi lại 8 câu chuyện, là những lời chứng về các anh hùng đức tin tại Trung Quốc, ngay trong thời đại của chúng ta. Đức Chúa Trời đã dùng những con người tầm thường nhất (theo quan điểm của thế gian) để làm thành công việc vĩ đại của Ngài ở Trung Quốc: Công việc rao truyền ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho các dân tộc sống dưới ách cai trị độc tài vô thần của cộng sản tại Trung Quốc và thống nhất Hội Thánh của Chúa trên đất nước bao la này.

Tám câu chuyện. Tám lời chứng được đóng dấu bằng máu và nước mắt, nhưng không kém phần hùng tráng. Từ trong đáy vực tối tăm của đày đọa nhục hình, của địa ngục trần gian, những lời nguyện, những lời ca phát xuất từ những con tim đã trọn vẹn hiến dâng cho Chúa, vượt không gian, đến tận ngôi Thánh của Đức Chúa Trời, làm thức hương thơm dâng lên cho Ngài, và vượt cả thời gian, chạm đến triệu triệu con tim của mọi thánh đồ, để minh chứng rằng: “Sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jesus Christ.” (Phi líp 4:7).
Chúng tôi đọc từng dòng, từng chữ và cảm nhận được năng quyền của Thánh Linh qua từng tình tiết trong các lời chứng. Lòng chúng tôi đau đớn với những đớn đau mà anh chị em cùng đức tin của chúng ta đã và đang gánh chịu vì Danh Chúa tại Trung Quốc. Có lúc, chúng tôi dừng lại, tự hỏi: Chúa ơi! Sao con dân Chúa phải gánh chịu những đớn đau này? Nhưng rồi chúng tôi nhận biết đó là những phước hạnh còn đến đời đời mà Chúa đã ban cho những người đã tận hiến đời mình cho Chúa. Phước hạnh của sự được chia sẻ những đau đớn trong thể xác với Chúa Cứu Thế. Chính những cơn bách hại khủng khiếp, dã man đó đã tinh luyện Hội Thánh của Chúa khỏi những cặn bã của cơ hội chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, vật chất chủ nghĩa, biến Hội Thánh của Chúa trở nên tinh sạch như vàng ròng.

Ước mong rằng cuốn sách “Hoa Huệ Giữa Chông Gai” này sẽ làm thức tỉnh những con dân Chúa đang mơ màng trong những giấc mộng của cuộc đời: danh, lợi, quyền… sớm thức tỉnh để hết lòng dấn thân cho công việc rao giảng Tin Lành, là trách nhiệm của mỗi một con dân Chúa.
CHUYỆN 1:

CÂY BÁCH CỦA RỪNG LI-BAN

X. Mao ra đời năm 1916. Lúc còn trẻ tuổi anh chống đối đạo Chúa kịch liệt. Anh khinh bỉ Cơ-đốc giáo và dùng mọi cơ hội để phỉ báng những người tin Đức Chúa Trời.
Vào đầu năm 1948, anh bị một căn bệnh vô phương cứu chữa, anh đã làm tất cả những gì mình có thể làm, để tìm sự cứu giúp và sự chữa lành. Khi các bác sĩ ở quê anh không còn làm gì cho anh được nữa, anh đã lặn lội lên bệnh viện lớn nhất của tỉnh, đổ hết tiền của vào sự chữa trị. Nhưng mới vài tuần sau thì anh đã bị bệnh viện cho về, vì họ cũng không làm gì cho anh được nữa.

Anh nằm ở nhà một mình, trong lúc rất tuyệt vọng và gần kề với sự chết, thì có một người bà con đến thăm và giục lòng anh tin Chúa Giê-xu. Trong cơn hoạn nạn, Mao đã bám vào cọng rơm duy nhất còn lại này, còn có thể mang hi vọng đến cho anh. Sau vài lần nói chuyện với người bà con anh đã quyết định: nếu như Giê-xu này có thể giúp anh thực sự, thì anh sẽ từ bỏ tất cả những thái độ chống đối của mình với Cơ-đốc giáo. Bây giờ, nó liên hệ đến sự sống của anh và anh cũng chẳng mất mát gì. –

Nên anh đã quyết định làm một thử nghiệm và cầu nguyện với Giê-xu. Khi anh nói rằng, anh muốn bắt đầu một cuộc sống mới với Chúa Giê-xu là Chúa của mình thì anh đã nói bằng sự nghiêm túc và chân thành. Ngay lập tức, anh kinh nghiệm một sự bình an mới mẻ trong lòng và xua tan mọi sự sợ chết đang dày vò. Trong những ngày tiếp theo, tình trạng sức khỏe của anh tiến triển khá hơn. Bây giờ thì anh muốn biết ông Giê-xu này là ai, mà đã giúp đỡ anh quá rõ ràng, mặc dù từ trước tới giờ, anh toàn chống đối. Anh tận dụng mọi cơ hội để tìm hiểu thêm về Đức Chúa Trời và Kinh thánh. Mấy ngày sau đó, anh hoàn toàn bình phục. Kể từ lúc đó, không có gì làm anh say mê hơn là được tiếp cận với Đức Chúa Trời và với Lời của Ngài.

Chỉ bảy tuần lễ sau khi tin nhận Chúa, anh đã được người mục sư cử đi giảng ở một vùng nọ. Đó là sự bắt đầu của một cuộc đời làm mục sư và rao truyền tin lành. Anh đã phục vụ Đức Chúa Trời rất tận tụy. Anh càng nhận biết Ngài, thì càng yêu mến Ngài hơn, và càng được kinh nghiệm quyền năng và sự gần gũi bên Ngài nhiều hơn, hầu cho anh không hề sợ hãi trước những sự tấn công, bắt bớ vì cớ đức tin.
Sáu năm sau, vào mùa đông năm 1954, Mao bị mời lên chính quyền địa phương. Những người trong quân đội nhân dân và công an an ninh đả kích anh kịch liệt và tìm cách “cải tạo” anh. Người chỉ huy cuộc hỏi cung là một cán bộ đảng địa phương, giải thích cho anh về những điều then chốt của chính sách tôn giáo: “Niềm tin vào Chúa Giê-xu là nọc độc của chủ nghĩa đế quốc và là một phương tiện của phản động nước ngoài. Dân tộc chúng ta chỉ tin vào chủ nghĩa Mác-xít. Chúng tôi nghiêm cấm anh tin vào Chúa Giê-xu. Nếu anh còn tiếp tục tin, thì anh sẽ bị coi là phản cách mạng…” Sau khi người cán bộ nói xong, thì ra lệnh cho Mao phải tuyên bố từ bỏ đức tin của mình, và phải viết một tờ tuyên bố ly khai với nhà thờ.

Mao đã trả lời bằng một giọng điềm tỉnh: “Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi đời sống tôi. Nếu không có Ngài thì chắc hôm nay tôi không còn nữa. Trong khi tôi bị ốm chỉ còn chờ chết, thì Ngài đã đến và cho tôi khỏe mạnh trở lại. Tôi sẽ rất vô ơn nếu như tôi chối bỏ Ngài. Tôi không thể làm theo mệnh lệnh của các ông được.” Khi những người công an nghe điều đó thì họ trở nên giận dữ, và bắt đầu đấm đá anh túi bụi. Mao đã cầu nguyện khẩn thiết, xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình, để khỏi bị sợ hãi trước những đau đớn. Anh không khi nào muốn phản bội lại niềm tin của mình, nhưng với sức lực con người của bản thân, thì chắc anh khó có thể chịu đựng nổi cuộc tra tấn này. Và, trong khi những đòn tra tấn đổ xuống trên thân thể, anh kinh nghiệm được một niềm vui mừng siêu nhiên, càng ngày càng đầy dẫy trong anh càng thêm. Anh cảm nhận Đức Thánh Linh gần gũi mình rất đặc biệt và rất dễ chịu. Mặc dù những kẻ tra tấn dùng đủ mọi biện pháp, cũng không đạt được ý muốn là làm khuất phục ý chí của Mao. Họ gán cho anh là kẻ phản Mác-xít và nổi loạn chống lại “chủ tịch vĩ đại”. Anh bị chụp mũ là một tên phản cách mạng và bị công an canh giữ. Ít lâu sau đó, chính quyền lên án anh đã cấu kết với các tổ chức phản động nước ngoài. Mấy ngày sau đó anh bị bắt giam. Vào khoảng cuối năm 1954, anh bị kết án năm năm tù và bị đem đi cải tạo ở một trại cải tạo thuộc tỉnh H. vùng lạnh nhất của Trung Quốc. Ở đó, không những anh đã trung thành với niềm tin của mình, mà còn kể cho những bạn tù nghe về Chúa Giê-xu. Vì vậy, án tù của anh đã bị tăng lên mười năm. Vậy là anh phải chịu mười lăm năm sống trong một trại lao động và cải tạo ở miền Đông Bắc Trung quốc.

Đó không phải là một thời gian nhẹ nhàng. Anh ở trong một nhà tù vô nhân đạo, nền đất hầu như quanh năm phủ tuyết băng giá. Anh thường xuyên bị tên cai ngục đánh bằng roi da hay phải bị tra khảo không ngớt. Tại nơi quê nhà xa xôi, anh không còn bố mẹ, anh chị em hay là Hội Thánh đứng đàng sau mình. Niềm an ủi duy nhất của anh, đó là lời cầu nguyện của người vợ và những lời khích lệ trong những lá thư chung thủy và dạt dào tình cảm. –

Vào năm tù thứ hai, anh phải nói cho người vợ trẻ yêu dấu của mình là anh đã bị tăng án tù từ năm năm trở thành mười lăm năm. Anh cảm thấy lo lắng cho vợ mình, nàng sẽ chịu đựng ra sao cái hung tin này? Một thời gian lâu, anh không nhận được thư trả lời của vợ. Sau đó, lá thư đã đến. Đó là một sự chấn động kinh hoàng, sự đau đớn nhất mà anh chưa từng thấy. sau khi vợ anh nghe tin án tù của anh đã tăng lên mười lăm năm, đó là một thời gian dài của sự lạnh giá và đói khát, thì nàng đã từ bỏ niềm hi vọng được nhìn thấy chồng mình, nên đã yêu cầu Mao đồng ý cho nàng li dị.

Mao vừa đọc xong thư, anh vẫn còn chưa tin ở mắt mình. Sau khi anh đã biết chắc rằng người đề nghị li dị đó là vợ mình, thì một sự hốt hoảng và kinh khủng đã ập đến, khiến anh bị ngất đi. Về sau, anh đã suy nghĩ về hoàn cảnh của mình, anh mới cảm thấy đau đớn, vì bây giờ không còn ai ở bên cạnh anh nữa. Cùng với người vợ, anh cũng đã mất đi người duy nhất trên trần gian này, là người giúp đỡ và cầu nguyện cho anh.—————-

Anh thấy mình bị bỏ rơi và bất hạnh, không còn biết gì đến sự lạnh giá, anh đã mở toang cánh cửa phòng và chạy ra một khu rừng nhỏ, ở đó, anh đã quì gối xuống trên tuyết và khóc nước mắt dàn dụa, kêu la thống thiết lên với Chúa. Nỗi đau đớn đầy trong anh, đến nổi không thể nói bằng lời được. Anh cứ để cho nước mắt mình trào ra. Rồi bỗng nhiên anh nghe thấy tiếng êm dịu của Đức Thánh Linh nói rằng: “Con phải nhịn nhục để làm trọn ý muốn Đức Chúa Trời, sau đó con sẽ nhận được lời hứa.” Tức thì anh nhớ đến Thi Thiên 73:25 “Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa? Còn ở dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa.”

Sự hiện diện của Đức Chúa Trời dần dần an ủi anh trở lại, và nỗi đau đớn tan dần. Sau khi anh đã trút hết tấm lòng mình cho Chúa, thì anh bắt đầu hát bài hát này:
“Gia đình tôi đã ngoảnh mặt khỏi tôi
“Các bạn bè tôi chế nhạo tôi
“Ngài ban cho tôi sự nhịn nhục và kiên trì,
“Để chịu đựng sự nhục nhã.
“Chúa ơi! Con yêu Ngài với tất cả trái tim!
“Con yêu Ngài hết lòng, bây giờ và mãi mãi
“Cho dù biển cạn và đá ghềnh tan nát
“Chúa ơi! Con yêu Ngài với tất cả trái tim!

Sự gần gũi êm ái và âu yếm của Đức Thánh Linh bao phủ anh. Đức Chúa Trời của anh sẽ không bao giờ lìa bỏ anh, như Ngài đã khẳng định trong Lời Ngài. Bằng một giọng nhỏ nhẹ, anh cảm tạ Đức Chúa Trời vì tình yêu vĩnh cửu của Ngài. Ngài thật xứng đáng để phú thác và Ngài đã đáp ứng mọi nhu cầu của anh. Nếu giả sử không còn ai cầu nguyện cho anh, thì Chúa Giê-xu hàng ngày ở bên Cha để cầu nguyện cho anh. Đức Thánh Linh nhắc anh nhớ lại tất cả những lời an ủi trong Kinh thánh, để chỉ cho anh thấy tình yêu Đức Chúa Trời, dần dần, anh trở nên bình tỉnh lại. Anh có thể tha thứ cho người vợ của mình, có thể chúc phước cho cô và anh cảm tạ Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ săn sóc anh bằng những sự an ủi và động viên trong những năm tháng sắp đến đang ở trước mặt anh. Anh từ từ đứng lên và đi trở về phòng giam. Ngay trong buổi tối của ngày hôm đó, anh đã viết một bức thư cho vợ mình, tuyên bố mình đồng ý li dị.

Ở trong trại cải tạo lao động có tất cả 1,300 tù nhân, nhưng số người tin Đức Chúa Trời là thiểu số rất ít. Bởi vì Mao là một Cơ đốc nhân, nên anh thường xuyên bị theo dõi. Những công an mật, trà trộn nhan nhản mọi nơi, không rời mắt khỏi anh. Vào một ngày kia, khi anh đang kể cho những bạn tù về Chúa Giê-xu, thì có những kẻ giám sát rình nghe trộm được. Nhiều lính canh xông vào anh, trói anh lại và đem lên văn phòng quản lý nhà tù. Ở đó, chúng bắt anh quỳ trên một chiếc ghế gỗ nhỏ có chiều ngang chỉ bằng bốn ngón tay. Chúng vây quanh anh, thay phiên nhau mà đấm vào mặt anh, nhổ trên mặt anh và lấy làm thích thú: “Đấng Cứu Thế của mày ở đâu rồi hả? Hãy nói với Ngài để đến mà báo thù chúng tao!” Mao quì trên ghế gỗ và cứ để cho mọi điều đó diễn ra, mà không trả lời một câu nào. Trong lòng, anh cầu nguyện không thôi. Anh tha thứ cho những kẻ hành hạ mình và xin Đức Thánh Linh ban sức lực cần thiết cho anh. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã đưa anh qua khỏi cơn gian nguy này, trong lòng anh đầy sự bình an và anh thấy vui mừng vì kinh nghiệm được sự gần gũi của Đức Chúa Trời hơn mọi sự tấn công và đau đớn. Hàng giờ đồng hồ trôi qua, những dây trói cắn chặt vào khuỷu tay, chân anh bị tê dại, cuối cùng anh thấy mặt tối sầm, ngã qụy xuống đất và ngất đi.

Dường như những tên cai tù không thiếu những sáng kiến hành hạ tù nhân. Nhiều lần chúng đeo lên cổ anh một tấm vĩ sắt của lò sưởi bằng gang, nặng hơn 20 cân. Trên đó, chúng gắn một tấm bảng đề: “X. Mao, tên cầm đầu theo sự mê tín dị đoan, phản cách mạng”. Anh phải đeo nó đi vòng quanh ngoài nhà tù. Khi chúng thấy tất cả những cái đó không giúp ích gì, và dường như X. Mao thà chết còn hơn là phải từ bỏ niềm tin của mình, thì chúng dùng đến biện pháp cứng rắn nhất mà chúng hiện có. Chúng xiềng tay anh lại, trói chân anh vào một khúc gỗ bị chôn chặt xuống đất, và anh cứ phải ở như vậy trong một xà lim cá nhân trong mấy tháng liền, không có cửa sổ. Nhưng điều đó không thể khuất phục được đức tin của Mao, vì Đức Chúa Trời ở gần bên anh trong từng giây phút, đến nỗi những sự đày đọa bên ngoài không thể so sánh với những sự tốt lành bên trong mà anh kinh nghiệm với Đức Chúa Trời.—–

Vào một mùa đông đặc biệt buốt giá. Trong khắp tỉnh H. nhiệt độ giảm xuống 45 độ âm. Nhiều người già và yếu bị chết vì lạnh. Đồng thời có một bệnh dịch truyền nhiễm lan tràn ra trong vòng những tù nhân. Những tù nhân mắc bệnh bị sốt cao, mắt họ lồi ra và chân tay run rẫy, rồi chết. Đó là một cảnh tượng đầy tang thương. Trong vòng ít ngày đã có 1,050 người chết trong số 1,300 tù nhân. Những người có trách nhiệm đã cho đào một hố lớn, dùng xe tải chở những xác chết và vứt xuống hố chôn người tập thể đó.
Mao cũng bị căn bệnh kinh khủng đó bắt lấy. Khi người bác sĩ đã kiệt sức vì thiếu ngủ, đến khám cho anh, thì lắc đầu và nói với những kẻ đứng canh chung quanh “lại thêm một người nữa!” Chúng đem anh vào trong một phòng dành riêng cất các xác chết, trước khi chở ra hố chôn tập thể. Vậy, anh nằm ở đó, nửa sống, nửa chết, ở giữa các xác chết, nhưng tâm linh anh vẫn tỉnh táo, và anh cầu nguyện thành lời: “Chúa ơi! Con xin Ngài hãy cứu sống con, đừng để con chết ở nơi vô thần này. Hãy chữa lành con và đem con trở về nhà bình an. Con sẽ hầu việc Ngài mỗi ngày còn lại, và con muốn làm người rao truyền tin lành cho Ngài theo như sự Ngài cho phép con.” Cùng lúc đó, có một thiên sứ đến và đứng trước Mao. Thiên sứ mặc một áo trắng và gương mặt thiên sứ tỏa chiếu vinh quang của Đức Chúa Trời. Trên lưng thiên sứ đem theo một túi y tế, mang hình thập giá. bằng một giọng rất êm dịu, thiên sứ nói: “Anh là Mao phải không? Đừng sợ! Hãy tin mà thôi!” Rồi thiên sứ giơ tay phải mình ra nắm lấy tay trái Mao và đem anh ra khỏi căn nhà. Thiên sứ đem anh đến một phòng rất đẹp, căn phòng có màu trắng không thể tả được và thiên sứ đặt anh ngồi lên một chiếc ghế màu trắng. Thiên sứ cầm lấy ống nghe bệnh, đem bỏ vào đó một dịch thuốc màu trắng, và thổi qua ống nghe bệnh đó. Trong cùng lúc đó Mao có một cảm giác lành lạnh dễ chịu và bắt đầu thấy tươi tỉnh. ———————————————————–
Sau khi anh tỉnh lại, thì căn bệnh đã rời khỏi anh. Lập tức anh quì gối giữa những xác chết ngỗn ngang trên mặt đất và lớn tiếng tạ ơn Đức Chúa Trời. Anh lại hứa nguyện dâng trọn đời sống mình cho Đức Chúa Trời và để cho Ngài sử dụng vô điều kiện. Sau đó, anh nhanh chóng rời khỏi chỗ chết đó, chạy nhanh đến gặp bác sĩ và muốn xin ông ít thức ăn. Nhưng khi người bác sĩ thấy anh đi vào cửa, thì toát mồ hôi lạnh. Người bác sĩ lui lại hoảng sợ và nói ú ớ: “Anh… anh… anh… là… một… con ma?” Mao tươi cười bảo: “Xin ông đừng sợ, tôi là Mao. Đức Chúa Trời tôi đã chữa lành cho tôi. Chúa Giê-xu đã cứu tôi thoát chết. Ngài đã sai tôi để chỉ cho ông biết con đường đến với Đức Chúa Trời. Cho nên bây giờ ông hãy trở lại tin Chúa Giê-xu.”

Khi người bác sĩ nghe điều đó, ngay lập tức và rất bình tĩnh, ông đã quì gối xuống và nói: “Đức Chúa Trời của anh là thật. Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời hằng sống. Bây giờ tôi cũng muốn tin Ngài và xin Ngài tiếp nhận tôi.” —————————

Mao đã nhiều lần chứng kiến Đức Chúa Trời cứu anh khỏi nanh vuốt của tử thần ra sao. Ở một miền đất không có sự sống, đầy băng tuyết, phải chịu đưng mười lăm năm ròng rã, bị phó cho những sự tra tấn và đày đọa dã man, anh còn sống sót được, thì đó quả là một phép lạ. ———————————————–
Đa số những người bị đem đến trại cải tạo H. đều chết vào những năm đầu tiên. Nhưng trong thời gian dài bị tù đày ở H. làm thế nào mà Mao có thể sống sót được? Khu rừng nhỏ bên cạnh đó là điều bí mật của anh. Bất cứ lúc nào thuận tiện, anh đều rút vào trong khung trời tự do nhỏ bé này, hầu hết là vào ban đêm, khi tất cả đã ngủ hết, và anh đã cầu nguyện. Ở đó, anh đã nhận được sức lực mới từ Đức Chúa Trời, một sức mạnh, thậm chí vượt qua được cả sự chết và sống một đời sống đắc thắng trong những hoàn cảnh kinh khủng. ————————-

Và rồi, ngày anh được thả ra đã đến. Mười lăm năm ở trại lao động cải tạo lùi lại sau lưng, lúc anh ngồi trong toa tàu vào năm 1969, chở anh về tỉnh quê nhà. Trong suy nghĩ, anh tràn đầy sự biết ơn, khi nhớ lại những lúc đau thương, nhưng trong những lúc có cả máu và nước mắt đó, anh đã kinh nghiệm được sự gần gũi của Đức Chúa Trời và sự nương náu trong Ngài, đồng thời sự suy nghĩ của anh cũng vượt nhanh hơn chuyến tàu. Anh không ngớt nghĩ đến sự tái ngộ với các anh chị em con cái Chúa khác, và những điều mình sẽ kể cho họ. Có biết bao phép lạ anh đã kinh nghiệm trong những năm qua! Anh vui mừng vì sẽ được chia xẽ cho các bạn bè ở quê hương về những kinh nghiệm này. Nhưng anh chưa biết rằng thời kỳ hoạn nạn của anh chưa phải là chấm dứt, rằng đang còn những sự bắt bớ tiếp tục chờ đợi anh.——————————————————–

Trong khi Mao còn ở trên chuyến tàu dài ngày và cuối cùng đến trong mảnh đất quen thuộc, mà trước đây từng là quê hương mình, thì anh chưa thể hình dung hết những điều gì đã xảy ra ở dưới cuộc cách mạng văn hóa. Anh không biết rằng cuộc cách mạng văn hóa đã lan tràn khắp nơi và đến cả những nơi xa xôi hẻo lánh nhất. Những công nhân viên và quan chức của chế độ cũ bị nghi ngờ, thì bị đem giải đi công khai trên đường phố đến các cuộc đấu tố, đó là những chuyện thường ngày xảy ra ở thời kỳ đó. Họ bị tra khảo, bị mắng chửi, bị đánh đập và bị bắt ép “tự tố giác mình”. Và cuộc sống của những người xưng nhận niềm tin công khai lại càng ở trong sự nguy hiểm.————————

Và cũng như vậy, Mao vừa đặt chân đến chỗ ở mới của mình, là anh bị chính quyền địa phương mời lên. Những cán bộ hỏi anh: “Sau khi ông đã ở trong trại cải tạo mười lăm năm, ông có từ bỏ niềm tin của mình không?” ——————————————-

Mao suy nghĩ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà anh đã thường xuyên kinh nghiệm được suốt mười lăm năm qua. Dẫu anh cảm thấy yếu đuối và trong những hoàn cảnh đó, dù sự tấn công chống lại anh có điên cuồng và tàn bạo đến đâu, thì anh cũng được kinh nghiệm quyền phép của Đức Thánh Linh một cách đặc biệt. Nhưng làm sao anh có thể giải thích cho những con người này hiểu được rằng sống trong sự tương giao với Đức Chúa Trời là tuyệt vời đến dường nào. Anh cảm thấy vài cặp mắt long sòng sọc nhìn như muốn ăn tươi nuốt sống anh và anh trả lời cách quả quyết: “Mười lăm năm qua trong trại lao động đã không làm cho niềm tin tôi bị yếu đi, nhưng nó đã góp phần làm cho mối quan hệ của tôi đối với Chúa Giê-xu càng khăng khít hơn, và niềm tin tôi lại càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.”

Ngay lập tức, Mao, tuy vừa ra tù, lại bị đánh đập túi bụi bằng đấm đá và gậy gộc. Vào năm 1970, mùa hè năm sau đó, chính quyền địa phương lại ra lệnh bắt giam anh và bắt anh phải tham gia một khóa huấn luyện cải tạo. Tham gia khóa này có phần lớn những kẻ đầu trộm, đuôi cướp, chủ chứa, chủ sòng, và những người khác, đó là những người không muốn hội nhập vào trong xã hội. Những người này hay bộc lộ sự cứng cỏi và bản lĩnh của mình. Nhưng giờ đây đối diện với bạo lực và chuyên chính của nhà nước, thì trông họ như những võ sĩ bại trận nhục nhã. Họ đi lướt thướt với đôi vai thòng xuống, và một sự bạc nhược tràn ngập trên họ. Mao phải sống chung với họ suốt 73 ngày, và dù họ có thường xuyên khiêu khích hay thậm chí đánh đập anh, nhưng anh không để bị mất tinh thần, bất cứ lúc nào thuận tiện anh đã hát và cầu nguyện nho nhỏ. Điều đó không chỉ xảy ra một lần, khi anh đang nhắm mắt trước bát cơm và tạ ơn Đức Chúa Trời về thức ăn, thì những kẻ chung quanh đã lấy mất thức ăn trước mặt anh. Nhiều cú đấm của sự điên khùng và khiêu khích, do bị dồn chứa lâu ngày, đổ lên đầu và thân thể anh gầy còm của anh. —————————————-

Một ngày kia, có một tu sĩ Phật giáo nổi tiếng bị bắt giam và bị sắp vào cùng lớp huấn luyện đó. Ông bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tột độ, hết sức tuyệt vọng và nản chí, đến nỗi ông đã nghĩ đến chuyện tự kết liễu đời mình. ————————–

Một lần nữa tất cả các tù phạm lại bị bắt buộc tham gia một cuộc diễu hành trên đường phố. Trong khi Mao đã nhiều lần tham gia, thì đối với vị tu sĩ, đây là lần đầu tiên ông phải tham gia một cuộc diễu hành như vậy. Trong những ngày đó, những cuộc đấu tố thường là phương tiện thông dụng của sự cải tạo. Một cái mũ dài thòng như mũ thằng hề được đem đội trên đầu các tù nhân, cứ như vậy họ phải đi đi lại lại trên các đường phố, từ sáng sớm đến chiều tối. Trên mũ đề tất cả những tội phạm có thể có của người đó. Dân làng, thường là những người hàng xóm và bạn thân của nạn nhân, hô lên những lời đấu tố họ. Người ta xui trẻ con ném đá vào những “kẻ tội phạm đã thú tội”. Tiếng hoan hô reo hò nổi lên khi có một đứa trẻ chạy ra giữa đường đánh vào tù nhân hay ném rác vào mặt họ. Đó là những giờ rất nhục nhã mà các tù nhân phải chịu đựng.——————

Vào buổi tối khi họ trở về nơi mình bị nhốt, thì người Phật tử bắt chuyện với Mao và hỏi: “Hôm nay tôi quan sát ông trên đường phố, trông ông bước đi dõng dạc và hiên ngang, làm sao ông có thể quên được điều đang xảy ra quanh mình?” Mao tươi cười trả lời: “Tôi là một người theo Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu của tôi đã sống lại từ cõi chết, Ngài có thật và sống, tôi đi đâu thì Ngài cùng đi với tôi. Nhờ được ở bên cạnh Ngài tôi có sự bình an lớn và sự vui mừng vô biên. Đối với ông, không như vậy sao? Vì ông là người theo Phật Thích Ca, thì chắc Phật Thích Ca phải đến và an ủi ông?” Người Phật tử không đáp lại lời đó được.————————————————————–

Vào một buổi chiều đặc biệt nóng bức. Không một làn gió, sức nóng như đè lên mọi người. Mao phải cùng với những tù nhân khác tham gia một cuộc đấu tố. Những cán bộ ra lệnh một vài tù nhân trói nhóm người được đem lên buổi mít tinh hôm nay. Số tù nhân đi trói tỏ vẻ khoái chí khi được thi thố bạo lực. Chúng siết dây trói thật chặt, đến nổi làm những người bị trói phải kêu la. Rồi họ được xe tải đem đến một chỗ gọi là D. là nơi tổ chức buổi đấu tố. ————————————————————

Bên cạnh những cuộc cổ động rầm rộ, thì đây là phương tiện thường được dùng trong cuộc cách mạng văn hóa, để chống lại tất cả các phần tử khả nghi của cách mạng văn hóa, hay đơn giản, chỉ vì họ quá giàu, hay học vấn quá cao. Nhưng các Cơ đốc nhân cũng đặc biệt hay bị lâm vào. Nếu có một cuộc đấu tố được tổ chức, thì trước đó hàng giờ đồng hồ các xe tải chạy qua các đường phố và phát loa phóng thanh, thông báo về thời gian và địa điểm của buổi họp đấu tố. ————————————

Sự tham gia là nghĩa vụ. Những bục khán đài được dựng lên tại những nơi xa xôi nhất, ở trong những làng mạc hẻo lánh nhất. Các “tội đã thú nhận” của các nạn nhân được đọc lên cho công chúng nghe. Nó có thể liên quan đến việc chứa chấp một đĩa nhạc Bết thô ven, một cái quần ngoài tiêu chuẩn, hay một thái độ mập mờ chống đối đảng. Chiếu theo những lời đó, lính hồng vệ binh hô to lời tuyên án. Những người trong công chúng được yêu cầu bước lên và vạch mặt “phần tử tội phạm”.
Có những người cha, người mẹ bị những con trai, con gái của họ tố giác; có những học sinh ném vào mặt các thầy cô giáo mình mọi tội tùy ý thích, như một sự trả thù cho bản thân, có lẽ vì thầy cô đã có lần đánh trượt chúng, hay là, trong quá khứ đã làm cho chúng bị mất mặt trước bạn bè. —————————-

Vào giờ khắc được ấn định trước, có tiếng hô từ trong đám đông: “Đủ rồi, chúng tôi muốn sự công bình!” Những người khác hùa theo. Rồi tất cả cùng la to: “Sự công bình! Sự công bình!” Một cán bộ hỏi qua loa phóng thanh đặt ở trên xe tải: “Có tội hay không có tội?” Khung cảnh giống như một sự đánh cá cược, xem ai là tội to nhất. Chính mình mà không tham gia vào, cũng đồng nghĩa với sự phải tự quì lên khán đài, trước đám đông, để tiếp nhận “sự công bình”.
Mao và những tù nhân khác được chở trên một xe thùng đến chỗ mít tinh. Anh và mọi người cùng đi có thể nhìn thấy từ xa một số đông người đang tụ tập chung quanh một khán đài được dựng gấp lên bằng những tấm ván. Theo thứ tự, Mao là người đầu tiên. Anh bị kéo xệch lên trên một cách dã man. Những cán bộ đảng, từng người một bước ra và và gán cho anh các tội phạm và là những tội hung bạo ghê tởm nhất. Sau đó, họ yêu cầu anh phải tuyên bố ly khai khỏi niềm tin của mình trước đám đông đang tập họp tại đó, và chối bỏ sự thực hữu của Chúa Giê-xu. Hơn nữa, họ còn đe dọa anh: “Nếu ông còn tiếp tục giữ niềm tin vào Chúa Giê-xu thì hôm nay chúng tôi sẽ đánh ông cho đến chết!”
X. Mao vươn thẳng người ra và nhìn vào mắt quần chúng đang chờ đợi. Anh im lặng trong giây lát, trong khi anh xin Đức Thánh Linh ban cho mình những lời cần thiết để anh nói cùng thính giả: “Thưa Đức Thánh Linh yêu dấu! Con xin Ngài hãy nhận trách nhiệm về mọi sự bây giờ sẽ diễn ra.” Đó là những lời cầu nguyện thầm của anh. sau đó, anh tập trung vào đám đông trước mình, ánh mắt anh ngời sáng và anh nói bằng một giọng dõng dạc vào mi-crô: “Kính thưa bà con cô bác, bởi vì tôi tin Chúa Giê-xu nên tôi đã phải chịu mười lăm năm trong trại cải tạo lao động ở H.. Ở đó, tôi đã thường xuyên bị đánh đập và tôi đã kinh nghiệm qua những buổi đấu tố như thế này. Dù vậy, thì đức tin tôi qua đó càng vững chắc hơn. Quý bà con cô bác muốn biết vì sao không? Chúa Giê-xu là Đấng tôi tin. Ngài là Đức Chúa Trời có thật và hằng sống. Ngài là Con Đức Chúa Trời, trời và đất do Ngài dựng nên. Ngài được sinh ra như một con người vì cớ chúng ta, và vì tội lỗi chúng ta Ngài bị giết trên thập tự giá. Qua đó, Ngài đã mở cho mỗi một người con đường đến với Thượng Đế, xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với chúng ta, bởi vì Đức Chúa Trời muốn cứu vớt mỗi một chúng ta. Quý bà con cô bác hãy quên những thần tượng của mình đi, và hãy tin vào Chúa Giê-xu, thì Ngài sẽ ban cho quý bà con cô bác sự sống đời đời.”
Khi những kẻ kết án anh thấy vậy, thì họ đâm bổ vào anh điên cuồng như dã thú. Cùng một lúc mười chín tên đấm đá anh liên hồi. Một số kẻ khác liên tục đánh vào mặt vào đầu, còn kẻ khác đánh trên thân thể anh. Những kẻ khác dùng giày mà đạp lên thân thể, lên ngực anh. Bỗng nhiên những người chung quanh nghe thấy giọng của Mao vang lên rõ ràng: “Chúa ơi! Hãy tha tội cho họ! Chúa ơi! Con xin giao linh hồn con vào trong tay Ngài.” Rồi Mao từ từ ngã gục xuống trên khán đài.—————-

Mặc dù bị chấn thương nặng nhưng Mao không chết, trong vài tuần sau, anh được hồi phục. Cha của Mao vốn ở một làng nhỏ trên núi, là nơi hầu hết những bà con anh đang sinh sống. Khi họ hàng nghe tin rằng Mao sống không xa họ lắm và chỗ anh ở thường xuyên bị công an, chính quyền tấn công, thì họ tìm mọi cách để xin cho anh được về ở cùng chỗ với cha anh. Dù được chấp thuận cho chuyển chỗ ở nhưng không phải vì vậy mà anh thoát được sự bắt bớ. Chỉ ít ngày sau khi chuyển về chỗ ở mới, anh đã bị bắt giam, bị giải đến trước mặt chính quyền địa phương và bị giam giữ, tra khảo trong nhiều ngày liền. Họ muốn biết kết quả của sự huấn luyện cải tạo anh về chính sách chính trị và tôn giáo đã đi đến đâu. Kết quả đã khiến cho cấp lãnh đạo không hài lòng. Một cuộc vận động quần chúng công khai được tổ chức ngay trong sân làng. cả làng phải đến dự từ khi sáng sớm. Những cán bộ tường thuật cho dân chúng nghe về quá khứ “phản cách mạng” của Mao. Sau đó, họ tuyên bố thời gian của cuộc đấu tố: “Vào lúc tám giờ sáng mai sẽ có buổi họp đấu tố ở D., chúng tôi muốn tất cả dân làng phải có mặt.”

Ở vùng này đã từng có nhiều Hội Thánh Cơ đốc giáo lớn mạnh và hoạt động từ nhiều năm nay. Những Cơ đốc nhân đã trải qua nhiều sự bắt bớ, dù vậy, điều đó không làm lu mờ tình yêu nhiệt thành và triệt để của họ đối với Chúa Giê-xu. Bây giờ, khi họ nghe rằng con người của Đức Chúa Trời này đang đứng trước một cuộc đấu tố, thì họ lập tức bắt đầu cầu nguyện và kiêng ăn ráo riết cho anh. Họ quyết định sáng ngày mai sẽ có mặt ở buổi đấu tố, để ủng hộ anh bằng sự cầu nguyện và sự có mặt của họ. Vậy nên, vào sáng sớm hôm sau, trước giờ khai mạc rất lâu, đã có một đám đông những con người nhóm lại chung quanh khán đài, là nơi sẽ xảy ra màn kịch, trước khi những công an đem “tù phạm” đến.—————————————————————

Sau đó, những người tổ chức màn kịch đã đến. Họ giải theo X. Mao bị trói chặt. Cùng với súng ống đã lên đạn sẵn sàng, họ đem anh lên khán đài. Khi Mao nhìn lướt qua chung quanh, anh kinh ngạc nhận ra nhiều khuôn mặt trìu mến quen thuộc đứng quanh mình. Những người chờ đợi chung quanh không phải là những người buộc tội và thanh trừng anh, mà đó là những anh chị em cùng đức tin. Vị mục sư địa phương ngồi ngay hàng ghế đầu tiên. Ông gật đầu chào anh, ánh mắt ông chan chứa sự an ủi và thông cảm. Mao cảm nhận được uy quyền và sự hiện diện của Đức Chúa Trời khi anh nhìn vào ánh mắt của vị mục sư. Dường như họ ngầm báo tin cho nhau: “Không, chúng ta không lẻ loi và vô vọng đâu, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Nếu có ai tấn công chúng ta, thì sẽ không thành công, vì nó xảy ra ngoài Đức Chúa Trời. Nếu ai tấn công chúng ta thì rơi vào sự tấn công chống lại Đức Chúa Trời. Những vũ khí chế ra chống lại chúng ta sẽ không được thành công. Chúng ta sẽ định tội mọi lưỡi dấy lên cáo kiện chúng ta (Ê sai 54). Mao nhướng thẳng người lên, anh cảm thấy năng quyền và sự xức dầu của Đức Thánh Linh đến trên mình và mạnh hơn tất cả những gì con người có thể làm hại anh. Một tên lính xô Mao lên phía trước, giơ cao tay phải hắn lên và bắt đầu hô khẩu hiệu: “Đả đảo Mao là tên phản cách mạng” Chúng ta không dung chứa một sự mê tín dị đoan tôn giáo nào.” Nhưng chỉ có vài giọng rời rạc từ trong đám đông cùng hô khẩu hiệu với hắn. Điều sau đó xảy ra giống như trong các buổi đấu tố trước mà Mao đã phải trải qua. Trước hết, một viên chỉ huy bắt đầu chửi rủa nhà thờ. Hắn kết tội Mao đội lốt tôn giáo hoạt động phản cách mạng. sau đó, hắn ra lệnh cho anh nhận tội và phải tuyên bố chối bỏ đức tin vào Chúa Giê-xu.

Những Cơ đốc nhân đứng trước khán đài kinh ngạc, vì thấy có một ánh hào quang của Đức Chúa Trời chiếu trên gương mặt của Mao. Anh từ từ bước lên mi-crô, và bắt đầu nói: “Tại sao các ông không lấy con dao và moi trái tim tôi ra, thì các ông có thể thấy được thật cái gì đã chứa đựng trong nơi sâu thẳm nhất của lòng tôi?”
Sau những lời nói đó anh bắt đầu hát lên với giọng trong trẻo. Loa phóng thanh phát đi vượt ra xa ngoài sân làng, hầu như cả làng đều nghe thấy. Những Cơ đốc nhân trước khán đài nhận thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời, ở trên sân bãi, và nhiều người bắt đầu khóc. Sau đó, tất cả đều lần lượt cùng đồng thanh hát, và như một dàn xướng ca vĩ đại họ cùng nhau hát:

“Tôi muốn trung thành với điều được giao cho tôi
“Tôi muốn trung thành với Chúa yêu dấu của tôi
“Hãy ban cho con sức mạnh để trung thành với Ngài
“Cho dù không còn ai nữa đi theo Ngài
“Và con đường tôi đi qua những sự gian khó
“Thì tôi vẫn đứng vững bên cạnh Chúa tôi
“Chúa của tôi luôn luôn muốn thấy tôi trung tín

Khi những người công an nhận định được tình hình, thì trước hết họ bối rối và không biết nên xử trí ra sao. Họ không những đã nhìn thấy và nghe lời hát của những người mà đáng lẽ sẽ nguyền rủa và lên án tù nhân, mà còn cảm thấy bầu không khí của sự bình an, sự hiệp một và tình yêu, đó là điều khiến họ không chịu đựng nổi. Những tên lính vũ trang trên khán đài chờ đợi cách vô vọng xem sẽ có ai can thiệp vào. Thật là nhục nhã! Mồ hôi tuôn đổ trên trán họ. Nếu rốt cuộc có sự gì đó xảy ra, thì điều đó cũng như một sự giải cứu, tức là khi có một vài người có trách nhiệm gạt đám đông đi lên, đẩy Mao xuống khỏi khán đài và đem anh đến văn phòng trung tâm của chính quyền địa phương. Những Cơ đốc nhân nhóm lại cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự can thiệp của Ngài, họ nghĩ rằng sự việc chắc là đã trôi qua và ai nấy trở về nhà mình.

Nhưng phòng công an an ninh vẫn chưa xong kế hoạch của họ. các cán bộ an ninh sôi sục sự giận dữ và căm thù. Dám cả gan làm mất mặt họ giữa nơi thanh thiên bạch nhật. Mao đã khiến cho họ trở thành trò hề. Bọn họ chắc chắn sẽ không chịu ngồi yên vì chuyện này. Họ nghĩ rằng dù sao đi nữa thì rốt cuộc họ cũng vẫn là những người cầm đằng chuôi. Vậy thì tên Cơ đốc nhân này đừng hòng sống sót được. Vào buổi chiều cùng ngày hôm đó, Mao bị trói chặt bằng một sợi dây ni lông mỏng tanh. Những viên công an đã dùng hết sức bình sinh mà siết những sợi dây thật chặt, đến nỗi nó cứa đứt khắp người anh. Mao bủn rủn vì đau đớn. Bây giờ sẽ diễn ra một cuộc diễu hành. Mao phải đội một cái mũ hề nhọn đấu, bị giải đi qua các đường phố, có các công an vũ trang vây chung quanh. Có nhiều kẻ hiếu kỳ tham gia vào đoàn người, nhưng không có ai trong số họ là Cơ đốc nhân. Những học sinh của trường phổ thông cơ sở và trung học đang trên đường về nhà, đều theo sau Mao và cùng tung hô khẩu hiệu: —————————————————————

“Đả đảo mọi kẻ thù giai cấp!”
“Hãy diệt trừ X. Mao, tên chống cộng!”
“Tước quyền những phần tử phản động!”
“Đảng cộng sản muôn năm!”

Mao bước đi hiên ngang và đường hoàng giữa đám đông hỗn loạn. Trong ý thức, anh biết chắc rằng mình không đơn độc. Chúa Giê-xu đi cùng với anh. Sau khi họ đã nhiều lần đi qua, đi lại trong vùng, thì những viên chỉ huy hỏi anh: “Anh có tiếp tục tin Chúa Giê-xu hay không?” Mao đã trả lời không hề lưỡng lự: “Tôi tin và tôi sẽ còn tin cho đến hết cuộc đời tôi”. Ngay khi anh nói chưa dứt câu, đã có kẻ dùng búa đập lên đầu anh. Máu chảy ra từ vết thương, chảy lên tóc và lên áo anh. Sau vài bước, bọn chúng lại hỏi anh: “Anh muốn tin đến bao giờ?” Anh trả lời sang sảng và dõng dạc: “Tôi tin, và dù các ông có đánh tôi chết, tôi vẫn tin.” Những tên lính lại đánh anh bằng búa và các bứu to tiếp tục sưng lên trên đầu anh. Trong khi anh bước đi, bọn họ đánh anh không ngừng. Chẳng mấy chốc, trên đầu anh đầy những thương tích và khối u. Sau khi đoàn người bước đi như vậy chừng nửa cây số, thì đầu anh sưng to và máu khô đọng cứng lại bởi những trận đòn, đến nỗi mắt anh hầu như không mở lên được nữa, vì mặt đã bị sưng vù.

Cứ như thế, đoàn người đi qua một quầy hàng, trước cửa quầy hàng đó là một đống đá xanh, chất cao lởm chởm. Các tên chỉ huy dùng dao nhọn bắt anh phải tiếp tục đi tới, trèo qua đống đá đó mà đi. Nhưng vì hai tay Mao bị trói chặt, nên anh bị mất thăng bằng và trượt ngã trên những hàng đá nhọn, không có gì chống đỡ, khiến anh bị gãy vài cái xương sườn. Những kẻ hành hạ anh lại lôi anh đứng dậy và bắt anh đi tiếp tục. Bây giờ khuôn mặt anh ướt đẫm mồ hôi, trở nên trắng bệch, anh thở hổn hển và máu trào ra từ miệng. Anh phải đi tiếp như vậy dưới những trận đòn. Đoàn người đi ngang qua một hố xí công cộng. Thật ra những người có trách nhiệm muốn ném anh xuống hố phân sâu hơn hai mét đó. Nhưng vì cớ đoàn người đi xem đã trở nên rất đông, nên họ không dám làm điều đó. Thay vào đó, họ ném mũ của Mao xuống hố phân. Họ dùng một gậy tre tẩm nó trong phân người, và đội nó lên đầu Mao đang đầy các thương tích. Phân người, nước tiểu chảy trên đầu, tràn trên gương mặt và trên lưng anh, cho đến khi cái áo sơ mi anh bị ướt sũng.

Trong khi tiếp tục giải anh đi như vậy, một tên công an lấy hai cây tre, gắp phân chó và tìm cách nhét vào miệng Mao. Bởi vì anh ngậm chặt miệng lại nên hắn đã bôi trét phân chó hôi thối lên trên mồm và môi của anh. Khi Mao mở miệng để thở lấy hơi, thì một ngụm máu tươi đã trào ra khỏi miệng anh. Không biết con người còn có khả năng tàn bạo đến đâu nữa!
Cuối cùng, họ đem Mao đến một gốc cổ thụ, và treo anh tít lên cao. ném đá vào anh, sỉ nhục anh, nguyền rủa anh. Nhưng lúc ấy, Mao đã bất tỉnh rồi. Khi trời gần tối, họ đem anh xuống khỏi cây, ném thân thể không còn động đậy gì nữa của anh bên vệ đường, và ai về nhà nấy. X. mao nằm đó, bất động và trơ trọi, những tia nắng cuối cùng trong ngày chiếu trên gương mặt anh, khuôn mặt đã bị hành hạ đến nỗi không còn nhận dạng được nữa, nhưng trên những đường nét của nó, vẫn còn có thể thấy sự cương quyết không thỏa hiệp còn đọng lại.
Lúc trời đã tối, những Cơ đốc nhân trong làng mới nghe tin, đã vội vã chạy đến kiếm Mao. Họ đem Mao, vẫn còn bất tỉnh, về nhà của một gia đình trong Hội Thánh. Họ cẩn thận lau rửa những vết thương cho anh và đặt anh trên chiếc giường êm nhất của họ. Có nhiều tín đồ đã đến và đứng khóc trong phòng. Họ cùng nhau cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài cứu sống con người lão thành và bất khuất này. Đến khoảng nửa đêm, Mao dần dần tỉnh lại. Tuy anh không mở mắt lên được, nhưng anh nghe thấy tiếng khóc và cầu nguyện của những người vây quanh mình. Anh cố gắng nói một cách khó nhọc: “Anh chị em thân yêu, xin đừng khóc cho tôi, nhưng hãy khóc vì sự chống nghịch của nhân dân ta. Hãy khóc cho đồng bào của chúng ta còn vô tín, khóc cho những người lãnh đạo của chúng ta còn vô thần.” Những lời nói của anh làm cho các tín đồ xúc động sâu sắc, khiến họ càng cầu nguyện khẩn thiết hơn nữa
Trong những tuần lễ tiếp theo, Mao được phòng công an để cho yên, cộng với những lời cầu nguyện và những sự chăm sóc ân cần của các con cái Chúa mà anh được bình phục trở lại. Còn mười tám năm nữa đang chờ anh. Trong những năm sau đó, anh đi hầu việc Chúa không mệt mỏi. Anh đến thăm các Hội Thánh, khích lệ các Cơ đốc nhân và đem những con người chưa biết Chúa Giê-xu đến với tình yêu của Ngài.
Cuộc đời của X. Mao không những chỉ đánh dấu bằng những biến cố đau thương, những chịu đựng gian khổ, nhưng trước hết còn được đánh dấu bằng sự kính sợ của ông trước Đức Chúa Trời Hằng Sống, qua sự trung tín và niềm vui dạt dào bên trong. Kể từ thời gian ông ở trong trại khổ sai lao động ở miền Bắc Trung Quốc, ông đã có thói quen thức dậy sớm mỗi sáng để cầu nguyện cho đất nước, cho đồng bào, và cho Hội Thánh mình. Ngay cả trong những năm sau ở quê nhà, khi phải chịu đựng nhiều sự bắt bớ, ông vẫn trung tín với thói quen này. Cho tới lúc chết, người ta có thể thấy ông mỗi ngày cầu nguyện trước khi mặt trời mọc. Sau giờ cầu thay, ông dành nhiều thời gian, từ buổi sáng này, qua buổi sáng khác để đọc Kinh thánh dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu. Nhiều đêm, ông không muốn đi nằm. Ông thường bỏ những buổi ăn để có thể đọc Kinh thánh. Vì ông đã dành nhiều thời gian cho việc học lời Chúa nên ông đã rất thông thạo và thuộc lòng rất nhiều đoạn Kinh thánh dài. Dầu vậy, ông không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đã biết từ Kinh thánh, ông còn lợi dụng mọi cơ hội để học hỏi nơi các Cơ đốc nhân khác bằng sự hạ mình.

Thỉnh thoảng, nếu trong khi học Kinh thánh có một chương đoạn đặc biệt cảm động ông, Đức Thánh Linh giải thích lời Ngài cho ông và làm cho lời đó trở nên sống, thì ông mừng rỡ đến nỗi nhảy tung lên và bắt giọng một bài hát, nhảy múa vòng quanh phòng. Mặc dù ông không lấy vợ sau lần li dị và chưa hề có con, và mặc dù đời sống ông trong những năm tháng ở trại lao động khổ sai không phải là nhẹ nhàng, và sau đó ông cũng hay đi công tác khắp nơi trong nước như một người rao giảng Tin Lành, mặc dù nhiều lần mọi sự đe dọa bị bắt giam lại và mọi sự bắt bớ gian nguy luôn rình rập ông, mặc dù vậy cuộc đời ông vẫn được đánh dấu bằng một niềm vui mừng lớn. Nếu ông là khách ở bất kỳ đâu, thì những người hàng xóm ở đó có thể nghe thấy tiếng ông hát, khi ông càng già, giọng ông càng dõng dạc hơn. Ông là một con người có thể hát, cười và khóc bằng cả trái tim. Cùng với một người bà con cũng là Cơ đốc nhân, và là một người bạn thân của ông, cả hai có thể thức thâu đêm đến sáng. sau đó, họ kể cho nhau nghe những gì mình đã kinh nghiệm được từ Đức Chúa Trời, khích lệ lẫn nhau và cùng nhau đọc Kinh thánh, cùng nhau hát ngợi khen Chúa. Bài hát mà họ yêu thích, thường cùng nhau hát đi hát lại hàng tiếng đồng hồ, có những lời như sau:

“Khi tôi đắm chìm trong biển đời tội lỗi
“Trong sóng cuồng khổ đau, mưa tuôn buồn bã
“Những đêm đầy tiếng hú chó rừng
“Thì trái tim tôi đầy sợ hãi
“Tôi tê dại vì nỗi kinh hoàng
“Đầy bụi gai khô, những rừng núi hoang vu
“Thung lũng ngàn heo hút
“Tôi mong mỏi trở về đàn
“Tình Yêu Diệu Kỳ đã tìm và gặp tôi
“Huyết Báu Diệu Kỳ đã rửa sạch tôi
“Ân Điển Diệu Kỳ đã đem tôi trở về đàn
“Ân Điển Diệu Kỳ đã đem tôi trở về đàn

Những Chúa Nhật đối với X. Mao là những ngày hội. Ông thường dùng những ngày này cho sự tự do để thưởng thức sự tương giao với Đức Chúa Trời, với Lời Ngài, và với những Cơ Đốc Nhân khác. Trong toàn bộ cuộc đời theo Chúa của ông chỉ có bốn lần ông không đi thờ phượng Chúa. Tất nhiên ngoại trừ thời gian mười lăm năm ông ở trong trại khổ sai.
Trong vòng mười tám năm cuối đời, cuộc sống của Mao trở nên bớt căng thẳng hơn nên ông có thể dành nhiều thời gian và sức lực vào sự truyền bá Tin Lành. Trong tất cả mọi việc, ông được mọi người tín nhiệm. Ông thường xuyên đặt mình dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh và sự vâng phục Hội Thánh. Nếu Đức Chúa Trời bảo ông đi đến một vùng nào đó, thì ông luôn luôn lên đường ngay, cho dù đó là những vùng rất xa xôi hiểm trở.

Nhiều năm liền, ông đã đi đến các địa phương vùng núi V., là nơi không chỉ khó đi lại thôi, mà còn nguy hiểm nữa, nhất là vào mùa đông những con đường nhỏ, cheo leo trên dốc núi, bị phủ băng tuyết. Nhưng ông không quản ngại gian khổ, lúc bão tuyết ông cũng lên đường thăm viếng các Cơ Đốc Nhân và giảng cho họ về Chúa Giê-xu; nên Tin Lành về Chúa Giê-xu lan rộng trên khắp vùng núi V., và có nhiều Hội Thánh mới mọc lên khắp nơi.

Ông rất kỷ luật và cẩn thận về những điều ông nói và làm. Ông ghét mọi loại tội lỗi và ông là một tấm gương trong mọi việc cho các Cơ Đốc Nhân. Lối sống của ông rất bình dị, ông không bao giờ thích sự nhàn rỗi hoặc sự tán gẫu. Ông ăn uống đơn giản, khoai lang và rau quả, ông ăn mặc không cầu kỳ và sống trong một túp nhà nhỏ, đơn sơ. Dù vậy, ông vẫn cho cách sống của mình như vậy là “lãng phí” (khi so với sự đói khổ của bao người dân Trung Quốc).
Ông mang một tình yêu sâu đậm đối với các con cái Chúa trong Hội Thánh. Ông quan tâm đến gia đình họ, sự lớn lên về thuộc linh của họ trong đời sống hàng ngày, ông nhắc nhở họ bằng tình yêu thương, ông săn sóc họ và thấy mình có trách nhiệm đối với họ.

Trước khi Mao qua đời, ông nằm liệt giường tám mươi ngày. Hàng ngày, nhiều Cơ Đốc Nhân từ mọi nơi đến thăm ông. Mặc dù ông không có con theo xác thịt, nhưng ông là người cha thuộc linh của nhiều con trai và con gái. Những đứa con đó đã khiến cho đời sống ông đầy sự vui mừng. Ông chết vào ngày mười bảy tháng mười năm 1989. Một cuộc đời hạnh phúc đầy đủ và rất thành công. Hơn nghìn người đã đến dự lễ an táng ông. Tất cả họ đều yêu mến ông già này và đều muốn noi theo tấm gương của ông.

Khi họ thả chiếc hòm xuống huyệt, thì tất cả cùng đồng thanh hát bài:
“Chúng ta vui mừng đón Chúa Giê-xu đến, cuộc hội ngộ long trọng thay!” Tiếng hát của những người yêu mến con người của Đức Chúa Trời này vang vọng toàn thung lũng.

“Khi các môn đệ của Chúa Giê-xu rời khỏi đất, thì họ về nhà
“Bạn bè họ thương khóc, còn họ sung sướng nhất
“Chúa Giê-xu gánh tội lỗi họ, Ngài đổ huyết mình
“Và Ngài sẽ trở lại, ôi sự hội ngộ thật long trọng thay
“Chúng ta chỉ chia ly giờ đây, không phải là mãi mãi
“Rồi chúng ta sẽ ở cùng nhau! ./.




BÀI CHAT TRẢ LỜI CÂU HỎI GIÚP NGƯỜI NGOẠI ĐẠO TIN CHÚA. (BÀI SỐ 2)

BÀI CHAT TRẢ LỜI CÂU HỎI GIÚP NGƯỜI NGOẠI ĐẠO TIN CHÚA. (BÀI SỐ 2)

CHAT VỚI CÔ B.B. MÔT NGƯỜI NGỌAI ĐẠO NHIỀU TÔI LỖI, ĂN NĂN, ĐƯỢC CHA THA THỨ VÀ CHẤP NHẬN CHO TRỠ THÀNH CON CỦA NGÀI. (BÀI SỐ 112)
*
Anhue Doan
cháu cần chát với cô không?
*
B.B.
dạ cháu chào cô
cháu làm quen với cô được ko?
*
Anhue Doan
được chứ!
*
B.B.
cô không nghỉ trưa ah?
*
Anhue Doan
cô đang ở Mỹ đây
11:30 khuya
*
B.B.
cháu xin lỗi vì làm phiền cô vào buổi trưa
ah. hihi cháu không biết ah.
*
Anhue Doan
Có sắp đi ngủ nhưng đang giúp một cô
Đuổi tà linh giúp một cô đây
cháu có đọc những bài chát cô chưa?
*
B.B.
cháu đang buồn nên ngồi online thôi. cháu nhìn thấy hình của cô nhân hậu nên đang nhớ mẹ cháu quá
*
Anhue Doan
cô có ân tứ chữa lành đuổi tà linh trong danh Chúa Jesus đây
*
B.B.
cháu đọc qua rồi ah
nhưng cháu chưa hiểu sâu sắc cô ah
*
Anhue Doan
ngày mai lên chát có giúp đuổi tà linh buồn cho
*
B.B.
cô ơi vậy cô là người Việt Nam ah?
*
Anhue Doan
Người Mỹ gốc Việt
*
B.B.
ah thế ah.thế nào cô nói tiếng Việt giỏi qúa..cháu rất vui khi được nói chuyện với cô ah
cháu nhìn thấy rất nhiều trẻ con trên ảnh bìa của cô..cháu có nhiều tò mò quá..
*
Anhue Doan
hình cô chụp lúc còn bé, cha mẹ cô Muc Sư nhà thờ tin lành bên Campuchea
cô là dược sỉ Mỹ, không phải nhà truyền giáo
Chúa Jesus đến kêu gọi cô trong giấc chiêm bao bảo cô đi chữa lành đuổi tà linh cứu người
Chúa Jesus cho cô bàn tay chữa lành đuổi tà linh
*
B.B.
cháu chưa hiểu sâu xa về vấn đề này lắm..nhưng nếu có cơ hội cháu rất mong được biết về những điều này..
*
Anhue Doan
Chúa Jesus có thật
cha mẹ cô tin Chúa giảng đạo Tin Lành nhưng cô biết Chúa Jesus lúc 15 tuổi nhưng sa ngã và nguội lạnh dần cho đến khi gặp Chúa Jesus đến trong giấc ngủ gọi cô trở về hơn hai năm nay rồi
Chúa dắt cô xuống địa ngục ghê lắm
bởi vậy theo Chúa Jesus không phải theo đạo giáo hay tôn giáo nào hết
có uy quyền đuổi tà linh, trừ mọi bệnh tật
bác sĩ Chúa Jesus rất hay, Ngài là đấng tạo hóa, biết con người nên chữa bệnh rất hay
những bệnh bác sĩ bó tay Chúa cũng chữa lành được
cháu hãy vào trang www.bible.is xem những phim của Chúa Jesus để tìm hiểu về Chúa đi.
*
B.B.
cô ơi theo Chúa Jesus như vậy có phải là theo đạo không?
*
Anhue Doan
Ngài tháp tim gan, thay đầu gối trong nháy mắt là xong
không phải theo đạo, đạo không cứu được ai. Chỉ có Chúa Jesus mới cứu được người mà thôi
cô theo Chúa Jesus và Kinh Thánh
Cô gốc đạo Tin Lành
theo đạo Chúa mà có Chúa Thánh Linh ngự trong lòng thì đúng. Theo đạo Chúa mà không có Chúa trong lòng thì theo vô ích thôi. Chúa Thánh Linh ngự trong lòng mới là điều mà Chúa Jesus muốn giảng dạy. Đó là được vé vào nước thiên đàng.
*
B.B.
cháu vẫn chưa hiểu rỏ lắm cô ah..nhà cháu không theo đạo nên cháu cũng chưa biết nhiều về Người
*
Anhue Doan
cô đang giúp những người theo đạo Chúa được trở về với Chúa Jesus đây
có Chúa Jesus mới có uy quyền
theo đạo chỉ là cái vỏ bề ngoài
*
B.B.
mẹ cháu ngày trước ở bên malaisia.cháu từng nghe mẹ nói có một người bạn kể về Chúa Jesus..mẹ cháu cũng hay kêu Chúa trời lắm
*
Anhue Doan
đó là theo đạo tin lành. Theo Chúa Jesus thật sự được Chúa ngự vào lòng có sự tái sanh, và nếu có đức tin bằng hạt cải, sẽ được Chúa ban cho uy quyền chữa lành đuổi quỉ
*
B.B.
vâng ah..cháu cảm ơn cô đã nói chuyện với cháu
vâng ah.cháu chúc cô ngủ ngon!

NGÀY HÔM SAU:
*
B.B.
cô ơi.đêm hôm qua cháu không ngủ được.cháu đã cứ mơ màng về điều cô nói
sắp đến giờ cháu phải đi làm rồi.
Hôm nay cháu bận nhiều việc quá.cháu thấy tiếc vì không được gặp cô trực tiếp để nói chuyện.
chúc cô luôn vui vẽ nhé.cháu phải đi làm rồi.
*
Anhue Doan
cô đây
chau khước từ tà linh mất ngủ đi
cô đuổi đi được
TRONG DANH CHÚA JESUS TA RA LỆNH CHO TẤT CẢ TÀ LINH NÀO ĐANG PHÁ CÔ B.B. CHÚNG BÂY PHẢI LUI RA KHỎI CÔ VÀ TRẢ LẠI SỰ TỰ DO CHO CÔ ĐỂ TÌM CHÚA THỜ PHƯỢNG NGÀI. NHỨT LÀ TÀ LINH MẤT NGỦ CHÚNG BÂY KHÔNG CÓ QUYỀN PHÁ CÔ HÃY LUI RA VÀ ĐI XUỐNG NƠI VỰC SÂU NGAY BÂY GIỜ TRẢ LẠI CHO CÔ MỘT GIẤC NGỦ AN LÀNH NHƯ EM BÉ TRONG DANH CHÚA JESUS AMEN!
*
B.B.
cô ah…hôm nay cháu xin nghỉ làm sớm rồi.cháu muốn nói chuyện với cô.
*
Anhue Doan
Tại sao xin nghỉ làm vậy?
*
B.B.
cháu có việc riêng nên cháu xin về sớm..nhưng cháu muốn nói chuyện với cô..muốn nói về Chúa Jesus
*
Anhue Doan
Cháu muốn tìm và tin Chúa Jesus không?
*
B.B.
cháu đang xem dở dang bộ phim về Chúa Jesus.
cháu cứ nghĩ liệu có khi nào đó chỉ là phim ảnh không hả cô?
*
Anhue Doan
Phim đóng theo sự thật 100%
Kinh thánh có thật!
Chúa Jesus có thật!
*
B.B.
những gì cháu đang nói với cô là rất thật
*
Anhue Doan
Ma qui có thật
Cô được Chúa cho ân tứ chữa lành đuổi quỷ đây
Cô giúp được hơn 500 người rồi
*
B.B.
cháu muốn có nhiều thứ nhưng may mắn không bao giờ mỉm cười với cháu
*
Anhue Doan
Chúa Jesus kêu gọi cô đi giúp người theo Chúa
*
B.B.
cháu xem phim và đọc những ghi chép về Chúa Jesus..cháu ước gì cháu được gặp Người một lần và cầu xin Người hiểu cháu
*
Anhue Doan
Cháu nhận Chúa vào lòng đi Chúa ở trong lòng chứ không ở trong đạo giáo hay nhà thở
*
B.B.
nhưng cháu vẫn chưa biết phải làm như thế nào cô ah. đêm hôm qua cháu chỉ ngủ được 2 tiếng. 2h đêm là cháu thức và thấy người rất khó tính..cháu cứ nghĩ và miệng cháu cứ lắp bắp nhắc đến Chúa..cháu chưa biết cháu có bị gì sao không cô ah?
*
Anhue Doan
Chua Jesus kêu cháu phải không?
Cháu hãy tin Chúa Jesus đi
Biết mình là tôi nhận bị kết án tử hình Chúa Jesus chết thế cho cháu và hôm nay cháu được trắng án
Cháu tìm Chúa Jesus và mời Chúa vào lòng đi Chúa Jesus sẽ giúp cháu.
Có Chúa là có tất cả
*
B.B.
cô ơi. nhà cháu không có ai theo đạo nên từ trước tôi giờ cháu chưa bao giờ cầu nguyện..nhưng cháu muốn đựơc cầu nguyện vì tâm thần cháu luôn bất an
*
Anhue Doan
Cô sẽ giúp cháu theo Chúa Jesus
*
B.B.
cô gíup được không?
cháu sợ cháu không làm được? cháu sợ Chúa không đón nhận cháu..
*
Anhue Doan
Theo đạo không có Chúa Jesus trong lòng cũng vô ích thôi
Đợi cô chút
*
B.B.
cô ơi.cháu nói chuyện này cô phải tin cháu nhé! khi nghĩ đến Chúa và hình ảnh của Chúa..cháu cảm thấy có gì đó rất lạ..cháu thấy yên bình và muốn nhắm nghiền mắt lại.
*
Anhue Doan
Chúa rất yêu cháu
cô không giúp cháu theo đạo
có giúp cháu có được có Chúa trong lòng
có được người Cha, người bạn trong lòng
cháu phải biết cháu là một người tội lỗi đáng bị đóng đinh trên thập tự giá
tội lớn tội nhỏ đều bị án tử hình trước mặt đấng tạo hóa là Chúa Cha
*
B.B.
cô ơi..nhưng cháu đã từng làm nhiều điều không tốt..nhiều điều có lỗi lầm to lớn lắm..bản thân cháu rất sợ và chưa bao giờ tha thứ ..
*
Anhue Doan
Chúa Jesus đã đứng ra chết thể cho cháu rồi
hôm nay cháu có bằng lòng chấp nhận có một người vô tội bằng lòng chết thế cho cháu không?
nếu cháu chấp nhận Chúa Jesus chết thế cho tội lỗi của cháu thì Chúa Cha sẽ không nhìn thấy tội lỗi của cháu nữa và đương nhiên cháu trở nên một người tội nhân được tha bổng
không còn tội lỗi nữa
*
B. B.
không. cháu sợ lắm..cháu muốn được trả giá cho những lổi lầm đó bằng chính bản thân cháu.
nhưng cháu không đủ can đảm
*
Anhue Doan
không
ma quỷ nói như vậy đó
*
B.B.
cháu còn ba mẹ và 2 em trai..cháu chưa muốn chết
*
Anhue Doan
chương trình của Chúa là khác
đừng nghe theo lời ma quỷ
*
B.B.
cháu không muốn ai gánh tội thay cho cháu cả.kể cả là Chúa..
*
Anhue Doan
Đừng nói vậy Chúa buồn
cô đuổi tà linh tự tử muốn giết cháu đấy
TRONG DANH CHÚA JESUS TA RA LỆNH CHO TÀ LINH GIẾT NGƯỜI TÀ LINH NGHI NGỜ CHÚA TÀ LINH KHÔNG CHẤP NHẬN CHÚA CHÚNG BAY PHẢI LUI RA VÀ ĐI XUỐNG NƠI VỰC SÂU NGAY BÂY GIỜ TRẢ LẠI SỰ TỰ DO CHO B.B. AMEN!
QUĨ SATAN PHẢI TRẢ LẠI SỰ TỰ DO CHO CHÁU B.B. NGAY BÂY GIỜ TRONG DANH CHÚA JESUS AMEN!
Chúa không bắt tội cháu nếu cháu biết ăn năn và không muốn sống một đời sống tội lỗi nữa
*
B.B.
cháu muốn cầu xin Chúa đến với cháu bằng cách nào đây cô?
*
Anhue Doan
cháu muốn làm lại cuộc đời mới Chúa Jesus sẽ tha thứ mỗi tội lỗi cho cháu
cháu thật lòng quì gối xuống cầu nguyện bài cầu nguyện có cho cháu nha
*
B.B.
cháu rất muốn..
cháu chưa biết cầu nguyện..
*
Anhue Doan
TRONG DANH ĐỨC CHÚA JESUS, HÔM NAY CON BIẾT CON LÀ MÔT TÔI NHÂN ĐÁNG BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ NHƯNG CHÚA JESUS YÊU THƯƠNG CON VÀ CON CHẤP NHẬN CHÚA JESUS ĐÃ BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP TỰ GIÁ ĐỂ CHẾT THẾ TỘI LỔI CHO CON RỒI HẦU CHO CON ĐƯỢC TRẮNG ÁN TRƯỚC MẶT ĐỨC CHÚA CHA Ở TRÊN TRỜI. XIN CHA CHẤP NHẬN CON LÀ ĐỨA CON HOANG ĐÀNG HÔM NAY CÒN BẰNG LÒNG QUAY TRỞ VỀ NHÀ CHA VÀ XIN CHA GHI TÊN CON TRÊN SÁCH SỰ SỐNG TRÊN NƯỚC THIÊN ĐÀNG NGAY GIỜ NẦY.
XIN CHA BAN CHO CON THÁNH LINH NGỰ VÀO LÒNG CON, ĐỔI MỚI ĐỜI CON THÀNH MỘT NGƯỜI MỚI SỐNG ĐẸP LÒNG CHA. XIN THÁNH LINH GÌN GIỮ CON KHỎI MỌI SỰ CÁM DỖ CỦA ĐỜI NẦY VÀ DẠY DỖ CON ĐI THEO Ý CHA.
XIN CHA BẺ GÃY NHỮNG ÁCH CỦA SỰ RŨA XẢ TRÊN GIA DÌNH CON VỀ TỘI THỜ THẦN TƯỢNG TỪ ĐỜI ADAM CHO ĐẾN BÂY GIỜ. CÒN XIN HUYẾT CHÚA JESUS BAO PHỦ CON TỪ ĐẦU ĐẾN CHÂN ĐỂ MA QUÌ KHÔNG LÀM HẠI CON ĐƯỢC.
CON CẦU NGUYỆN TRONG DANH ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST AMEN!
XIN CHA ĐÁNH ĐUỔI TÀ LINH NÀO ĐANG CHIẾM NGỰ TRONG THÂN THỂ CON: TÀ LINH BỆNH TẬT, TÀ LINH DÂM DỤC, TÀ LINH KIÊU NGẠO, TÀ LINH GIAN DỐI, TÀ LINH RỰU CHÈ, VÀ NHỮNG UẾ LINH NÀO KHÁC KHÔNG ĐƯỢC KỂ LÊN NỬA ĐI XUỐNG NƠI VỰC SÂU NGAY BÂY GIỜ TRONG DANH CHÚA JESUS AMEN!
*
Anhue Doan
đây là bài cầu nguyện mẩu
cháu từ tận đáy lòng quì gối xuống ăn năn khóc lóc với CHúa mời Chúa thánh linh ngự vào lòng cháu sẽ thấy Chúa chấp nhận đổi mới cháu thành một con người khác hẳn hôm nay
nếu cháu thật lòng ăn năn và hứa quay đầu ngược lại với tội lỗi 180 độ
từ bỏ con đường tà
quay về nhà Chúa Cha
cháu sẽ thấy Chúa tha thứ mọi tội lỗi cháu biến cháu thành một con người mới
Chúa Jesus sẽ ngự vào lòng cháu dưới dạng Chúa Thánh Linh
gìn giữ bảo vệ dạy dỗ sửa đổi cháu trở nên một người tâm linh không còn xác thịt nữa. cháu sẽ được tái tạo thành con người mới xứng đáng hơn với con người cháu hiện tại bây giờ.
cháu bắt đầu cầu nguyện đi
*
B.B.
vâng ah.
*
Anhue Doan
cháu cầu nguyện Chúa xong chưa?
nói cô biết cháu có sự vui vẻ bình an trong tâm hồn chưa?
nếu chưa cô sẽ giúp thêm
*
Anhue Doan
Cô xin Chúa giúp cháu trong bài cầu nguyện nầy nhé:
TRONG DANH CHÚA JESUS XIN CHA THƯƠNG XÓT CÔ B.B. CHẤP NHẬN CHO CÔ TRỞ VỀ NHÀ CHA LÀM LẠI CUỘC ĐỜI VỚI CHA LÀM ĐỨA CON CỦA CHA HÔM NAY. XIN CHA THA THỨ TÔI LỖI CHO CÔ VÀ BAN CHO CÔ THÁNH LINH NGỰ VÀO LÒNG CÔ ĐỔI MỚI CÔ THÀNH MỘT NGƯỜI TÂM LINH SỐNG ĐẸP LÒNG CHA AMEN!
cô đi ngủ đây. Ngày mai cho cô biết kết quả. Chúa ỡ cùng cháu.
*
NGÀY HÔM SAU:
Anhue Doan
Cháu có đó không?
CHÁU ĐÂU RỒI?
SAO KHÔNG THẤY TRẢ LỜI?
*
B.B.
cô ơi cháu hôm nay đi làm bận quá bây giờ mới nói chuyện lại được cho cô
cháu làm như lời cô dặn rồi nhưng cháu vẫn chưa hiểu làm thế nào Chúa mới đón nhận cháu..
cô ơi tay của cháu bị run run..cháu đã đi khám bệnh ở nhiều nơi rồi nhưng không bị bệnh gì cả
nhưng 2 ban tay của cháu cứ run nhè nhẹ
cô có thể chữa cho cháu được không? không hiểu sao cháu có linh cảm về cô có thể làm được điều đó
đêm hôm qua cháu ngủ rất ngon….
*
B.B.
cô đừng giận cháu..thật sự cháu nhiều việc quá..cháu online fbook 2 lần 1 ngày thôi .cô thông cảm cho cháu
*
Anhue Doan
cháu có ăn năn tội lỗi với Chúa và thấy lòng bình an chưa?
Chúa đã tha tôi cho cháu đừng nghi ngờ Chúa
tà linh làm tay cháu run đó
*
B.B.
cháu đọc bài mà cô gửi cho cháu ấy..
*
Anhue Doan
Chúa Jesus sẽ chữa lành cháu nếu cháu hứa với Chúa không trở về đường cũ nữa nha cháu nói với tất cả tấm lòng thành
*
B.B.
cháu không biết tay run vì sao nhưng tay của cháu bị run từ nhỏ cô ah
run nhè nhẹ thôi
nhưng không ai tìm ra nguyên nhân
*
Anhue Doan
hay chỉ nói qua loa bằng miệng lưỡi thôi
cô hỏi cháu có sự vui vẻ bình an người nghe thoải mái nhẹ nhàng chưa?
nếu không cô phải giúp cháu trở lại nữa
*
B.B.
cháu cảm thấy chỉ hơi khác một chút thôi cô ah
vì trong đầu cháu rất hay nghĩ đến Chúa
*
Anhue Doan
cháu có quì gối xuống ăn năn biết mình là một tội nhân đáng bị đóng đinh trên cây thập tự không?
*
B.B.
dạ có ah
*
Anhue Doan
nhưng Chúa Jesus đã chết thay tội cho Cháu rồi
Cháu phải chấp nhận sự chết của Chúa Jesus như là sự chết của cháu đó
ngày hôm qua cháu nói cháu không chấp nhận
Chúa Cha không thấy tội lỗi của cháu nữa và sẽ chấp nhận cho cháu được trở về nhà Cha
dù tội đỏ như hồng điều cũng sẽ trở nên trắng như tuyết
*
B.B.
hôm qua cháu nói không.vì cháu nghĩ Chúa không có tội lỗi gì mà phải chết thay cháu
*
Anhue Doan
dầu đỏ như son sẽ trở nên trắng như lông chiên
*
B.B.
cháu sợ khi Chúa chết thay cháu thì tội lỗi của cháu càng thêm nặng nề hơn
*
Anhue Doan
Ngài chết một lần cho tất cả mọi người
mình phải chấp nhận là Chúa Jesus chết thế cho mình
thì Cha mới tha tội cho mình được
không chấp nhận là khinh dễ con của Chúa Cha
cháu cầu nguyện có khóc lóc không?
*
B.B.
cháu không khóc cô ah..cháu chỉ biết là cháu rất muốn Chúa nghe thấy những điều trong suy nghĩ của cháu
*
Anhue Doan
một kẻ đi ra pháp trường bị án tử hình bị đóng đinh trên cây thập tự mà có người chịu chết thế cháu mà cháu không cầm lòng rơi nước mắt là chưa hiểu được tình thương của Chúa
nên cô thấy cháu chưa có sự thay đổi thật sự
cháu hình dung cảnh rùng rợn ấy sẽ thấy được tình thương của Chúa Cha thế nào?
*
B.B.
cháu đang ở cùng với một người bạn nữa..bạn cháu không tin vào Chúa và không muốn cháu nhắc đến..mỗi khi cháu cầu nguyện cháu phải trốn ở trong phòng
hoặc ở đâu đó khi không có ai..
*
Anhue Doan
Chúa Jesus là con một của Chúa Cha đưa xuống thế gian để chết thay cho nhân loại
bởi vậy khi không có ai cháu hãy vào phòng riêng ăn năn thống hối khóc lóc về tội lỗi của mình cháu sẽ thấy cuộc đời thay đổi 180 độ
đây là quyền phép của Đức Chúa trời cho mọi kể tin đến danh Chúa Jesus
Chúa tha tội lỗi và còn ban Thánh Lính ở trong mình. Thân thể mình sẽ trở nên đền thở của Chúa
một thân thể được tái sanh
mọi sự cũ qua đi, tất cả mọi sự đều trở nên mới
đây là phần tâm linh
*
B.B.
vậy tối nay cháu sẽ thu xếp và an năn những tôi lỗi với Chúa..
*
Anhue Doan
mỗi người tự lo liệu về phần tâm linh của mình. không ai giúp được ai hết
như vậy mới là ấn chứng mình được vé vào nước thiên đàng
không phải có tiền mà mua được
nhiều người theo đạo suốt đời không hiểu về lẽ đạo thật sự được sanh lại thành người tâm linh
*
B.B.
vâng cháu biết rồi ah..
cháu sẽ cố gắng
*
Anhue Doan
Chúa Thánh Linh ngự vào lòng mình trở nên con người tâm linh
tấm lòng ăn năn thống hối thành thật
Chúa nhìn xét lòng dạ loài người
có ma quỷ ngăn chận không cho mình đến gần Chúa
phải xin Chúa đuổi tà lính đi
chúng phá mình dữ lắm
ok cô sẽ cầu xin cho cháu hết run tay bây giờ
hai tay hay một bên thôi
*
B.B.
cháu bị cả 2 tay cô ah
cháu đi các bệnh viện lớn rồi nhưng họ không chữa được và không tìm ra nguyên nhân
cháu không biết nói gì cả những cháu cảm ơn cô..
*
Anhue Doan
đó là bệnh tật cháu làm ra tà linh phá như vậy
cháu quay lưng với tội lỗi đi
phải trả giá
cái gì cũng có cái giá phải trả hết
nhưng hôm nay cháu hứa với Chúa sẽ không đi đường cũ nữa đi đường mới 180 độ
theo Chúa Ngài sẽ chữa lành cho cháu
cháu có bị tà linh tà dâm, thủ dâm phá cháu không?
*
B.B.
cháu rất hay nóng tính những khi nghĩ đến Chúa cháu thấy cháu khác đi một chút
cháu bị như thế từ lớp 5 cô ah
*
Anhue Doan
lúc đó có người nào trong gia đình rờ mó hãm hiếp không?
tà linh xâm nhập từ lúc đó
*
B.B.
có một người anh nhà bác. những ngày đó cháu chưa hiểu gì cả..
vì mẹ anh ấy là chị gái của bố cháu nên cháu đã im lặng đến bây giờ…
*
Anhue Doan
cháu có giận anh ấy không?
*
B.B.
chau không biết…nhưng hình như là cháu không trách giận cô ah…
*
Anhue Doan
bây giờ còn gặp anh ấy không?
*
B.B.
hồi đó cháu học lớp 5.ba me cháu đi làm miền nam.cháu và em trai ở nhà bà nội..anh ấy cũng ở nhà bà rồi anh ấy làm mọi chuyện như thế..nhưng cháu không biết đó là quan hệ tình cảm.bây giờ lớn lên rồi cháu mới biết..
Anh ấy hơn cháu 5 tuổi. anh ấy bây giờ là bộ đội rồi..thỉnh thoảng về cháu vẫn gặp anh ấy cô ah
*
Anhue Doan
anh ấy còn nhìn cháu với cặp mắt đặt biệt gì không?
anh ấy sờ mó thôi hay làm gì nữa?
*
B.B.
Vì là anh em trong nhà nên những ngày tết,ngày giỗ. .là cả nhà lại sum họp. Cháu vẫn gặp anh nhưng như không có chuyện gì xảy ra.
bây giờ anh ấy có người yêu rồi..anh ấy không có ý gì đặc biệt cả..chắc anh ấy cũng muốn quên đi
anh ấy đã làm tất cả..
*
Anhue Doan
cháu phải khước từ tà linh sờ mó của anh ấy vì tà linh sờ mó chuyển sang cho cháu
sau đó cháu đã phạm tội tà dâm với nhiều người nữa không?
*
B.B.
cô ơi sao 2 ngày nay cháu cảm thấy đầu óc như bị mê muội và người không tỉnh táo..cháu đi làm nhưng cứ buồn ngủ,và người thấy mệt mỏi..
*
Anhue Doan
tà linh phá đó
*
B.B.
cháu đã làm chuyện đó với người bạn trai cũ và một người bạn trai hiện tại
*
Anhue Doan
mấy ngày nay cháu suy nghĩ về Chúa phải không?
bây giờ còn ăn nằm với người bạn trai hiện tại không?
không ăn ngủ với trai họ phải cưới hỏi đang hoàng
*
B.B.
vâng cháu cứ nghĩ đến Chúa..nhưng không phải nghi ngờ..mà chỉ nghĩ đến như là cháu nhớ và muốn được nhìn thấy Chúa..
*
Anhue Doan
ăn ngủ với họ họ chơi qua đường không cưới hỏi đầu nha
Ma quĩ trong cháu không muốn cháu theo Chúa nên làm vậy đó
*
B.B.
Anh ấy và cháu yêu nhau 3 năm rồi cô ah
*
Anhue Doan
đừng lo Chúa sẽ giúp cháu chiến đấu với ma quỉ
có bao nhiêu chàng trai trẻ lợi dụng thân xác nhưng cô gái mà không cưới hỏi
bảo họ cưới họ không cưới
vi không xứng đáng làm mẹ của bầy con của họ
phải biết tâm lý mới sống được
*
B.B.
cô ah…những chuyện bị mật nhất của cháu…cháu giấu giếm tất cả mọi người..kể cả mẹ cháu..nhưng cháu đã không giấu cô một điều gì..có giúp cháu được không?
*
Anhue Doan
có giữ bị mật nhiều người lắm
*
B.B.
cháu biết..bây giờ cho cháu quay lại chắc cháu ko yêu ai nữa..
*
Anhue Doan
nếu cô có đăng lên đổi hết tên họ và bỏ phần nào có liên quan đến người đó
Yêu là khác
ăn ngủ với trai là khác
người trai không yêu như mình tưởng đâu
nhưng nếu không cho họ ăn ngũ với họ, họ mới yêu mình thật sự và cưới mình làm vợ.
*
B.B.
nhưng cô ơi,nhà cháu ba mẹ ở nông thôn..chu cấp cho cháu được ít tiền ăn học thời..bây giờ cháu học xong rồi phải tự đi kiếm sống..
*
Anhue Doan
nhưng Chúa sẽ ban lại cho cháu giá trị con người trở lại. cháu kiếm sống bằng nghề bán thân hay sao?
*
B.B.
Anh ấy là người nuôi cháu học năm cuối cùng..là người chu cấp tất cả cho cháu đến bây giờ..
cháu đã yêu anh ấy và thấy anh ấy rất yêu cháu..
*
Anhue Doan
nuôi mà thương. ngưng không cho họ ăn ngủ với mình họ mới thương thật
*
B.B.
chúng cháu đã sống cùng một nhà với nhau hơn một năm rồi…
*
Anhue Doan
họ ăn ngủ với mình là lợi dụng thể xác mình thôi
bây giờ hỏi anh cưới cháu đàng hoàng không?
hỏi thử biết liền
*
B.B.
chuyện này cháu không cho ai biết hết..
gia đình anh ấy muốn cháu có được một công việc ổn định rồi mới cưới..
*
Anhue Doan
cô giúp cháu
bây giờ cháu học xong rồi?
đi làm
*
B.B.
cháu rất hay khóc..vì bạn bè cháu rất ít chơi
*
Anhue Doan
nói anh ngưng không lạm dụng thể xác em nữa cho đến khi anh cưới em đàng hoàng
cháu có con với anh ta không?
thi ngưng không cho anh ấy lạm dụng thể xác còn hy vọng anh cưới
*
B.B.
cháu nói ra..Chúa có chấp nhận cho cháu nữa không?
vì bản thân cháu chưa bao giờ tha thứ cho cháu cả…
*
Anhue Doan
CHúa không bắt tội con người có tội biết ăn năn
CHúa nhìn thấy tất cả rồi
không giấu gì được với CHúa
nhưng phải không ăn ngủ với người đó mà không cưới hỏi
*
B.B.
cháu yêu nhưng cháu hận người đó lắm..
*
Anhue Doan
cháu làm vậy cháu sẽ tăng giá trị của cháu lên
vì người ta đâu có yêu cháu
người ta lạm dụng thể xác để thỏa mãn tình dục mà khỏi sợ bị lây bệnh
*
B.B.
nhưng anh ấy rất quan tâm châu..anh ấy đưa cháu về nhà rồi..bố mẹ a ấy thì muốn cháu xin được công việc ổn định rồi mới được cưới
*
Anhue Doan
nếu anh ấy thương thiệt cháu anh sẽ chờ đợi
giá trị cháu sẽ tăng lên
một là đi tới hai là đi lui
nếu hai người không quan hệ thể xác nữa thì cháu sẽ tăng phần giá trị cháu lên
học bài học tốt cho cháu thôi
nói anh ấy chờ đợi có công việc ổn định sẽ cưới anh ấy giựt mình luôn
*
B.B.
nhưng chúng cháu ở chung một nhà rồi cô ah..cháu ko biết phải làm sao..cháu đã phá thai 3 lần..cháu cũng không biết phải làm gì nữa
*
Anhue Doan
không biết sự khôn ngoan cháu đến từ đâu?
càng ở thêm nữa càng lún trong vũng bùn tội lỗi
cháu sẽ cứ phá thai hoài hoài mà anh khinh dễ cháu nữa
cả gia đình anh ấy cũng khinh dễ cháu hết luôn
có ở với nhau sau này anh cũng khinh dễ cả đời làm sau ở nỗi
cháu sẽ khổ sở cả cuộc đời
bây giờ nếu cháu theo CHúa cô nghĩ rằng Chúa sẽ ban phước cho cháu và cháu sẽ có công việc làm tốt
con của CHúa trên trời là đấng giàu có
không để cho con chiên Ngài chịu khổ đâu
nhưng phải sống trong sạch
tội lỗi cũ CHúa bỏ qua hết
những ngày tương lai phai quay đầu lại với tội lỗi
hỏi anh bằng lòng cưới cháu không?
*
B.B.
nhưng bây giờ bà mẹ cháu phải nuôi em nhỏ..không thể chu cấp cho cháu nữa..mà cháu đã ký kết làm việc 6 tháng không lương…cháu đang phụ thuộc anh ấy về mặt kinh tế cô ah..cháu rất yêu người đó..cháu yêu đến mức rất hay ghen và rất đau khổ..
*
Anhue Doan
bây giờ không ngủ với anh được nữa vì không muốn anh lợi dụng và gây ra tội giết người 3 đứa con vô tội
bởi vậy anh không yêu cháu nên cháu ghen là đúng
người ta lạm dụng thể xác mình thôi rồi muốn cưới vợ anh sẽ tìm một cô nào không cho anh ăn ngũ trước khi làm đám cưới
nếu anh thương cháu yêu cháu làm gì cháu ghen?
cháu làm việc được mấy tháng rồi?
*
B.B.
nhưng từ khi yêu cháu ạ ấy đã không quan tâm tới một người nào hết..
anh ấy không có người con gái nào ngoài công việc
*
Anhue Doan
nếu cháu đã xem anh ấy là như vợ chồng thì hợp thức hóa là vợ chồng đi
hỏi anh xem ảnh chịu làm đám cưới không? tại sao anh chưa chịu?
nói với anh không sex nữa đến khi làm đám cưới với nhau
như vậy anh sẽ cưới sớm hơn
cô biết tại cháu muốn thỏa mãn tình dục của mình
*
B.B.
anh ấy chưa được gia đình đồng ý và cháu chưa có công việc ổn định
*
Anhue Doan
tà linh dâm dục phá nếu cháu theo CHúa thật sự tà linh sẽ bị cô đuổi ra khỏi cháu trở lại như thời xưa
không còn ham muốn tình dục nữa
*
B.B.
nhà anh ấy cũng không giàu có nên anh ấy chưa muốn cưới cô ah
*
Anhue Doan
kéo dài càng lâu cháu càng lổ
*
B.B.
cháu sẽ theo Chúa!
*
Anhue Doan
anh ấy bỏ cháu không ai cưới cháu hết vì mang tiếng với người ta
*
B.B.
cô gíup cho cháu theo Chúa!
*
Anhue Doan
ok
*
B.B.
cháu biết điều đó
*
Anhue Doan
Chúa sẽ cho cháu sự khôn ngoan đương đầu với tội lỗi nha
*
B.B.
cháu chấp nhận.
*
Anhue Doan
cháu khước từ tà linh tà dâm, thú dâm tà linh giết người phá thai, tà linh nóng tánh tà linh ghen ghét v.v
cháu nói hôm nay ta không chơi với chúng bay nữa ta trở về nhà Cha ta trên nước thiên đàng
*
B.B.
chau khước từ tà dâm,thủ dạ,tả lĩnh gíết người phá thai tà linh nóng tính tà linh ghen ghét..
cháu sẽ làm theo cô.
cháu thực sự cũng chưa muốn cưới..vì gia đình cháu còn nghèo khổ quá cô ah..
*
Anhue Doan
TRONG DANH CHÚA JESUS XIN CHA THƯƠNG XÓT CHÁU B.B. HÔM NAY CHÁU BIẾT CHÁU LÀ NGƯỜI TỘI LỖI MUỐN TRỞ VỀ NHÀ CHA XIN CHA MỞ RỘNG VÒNG TAY CHẤP NHẬN CHÁU TRỞ VỀ. XIN HUYẾT CHUA JESUS CHẾT TRÊN CÂY THẬP TỰ BAO PHỦ CHÁU TRÊN NHỮNG TỘI TÀ DÂM, THỦ DÂM PHÁ THAI GIẾT NGƯỜI NÓNG TÁNH V.V
CHÚA CHA KHÔNG NHÌN THẤY TỘI LỖI CHÁU NỮA NHƯNG THẤY MỘT ĐỨA CON TỘI LỖI QUAY ĐẦU TRỞ VỀ NHÀ CHA LÀM LẠI CUỘC ĐỜI VỚI CHA
XIN CHẢ MỞ RỘNG VÒNG TAY CHẤP NHẬN MỘT ĐỨA CON TỘI LỜI ĐƯỢC MUA CHUỘC BẰNG DÒNG HUYẾT CHIÊN CON
TRÊN THIÊN ĐÀNG SẼ VUI MỪNG VÌ CÓ MỘT LINH HỒN CÓ TỘI BIẾT ĂN NĂN
XIN CHA GHI TÊN CHÁU B.B. TRÊN SÁCH SỰ SỐNG TRÊN NƯỚC THIÊN ĐÀNG HÔM NAY
MA QUỶ KHÔNG CÓ QUYỀN HÀNH TRÊN THÂN THẾ CHÁU NỮA
HÔM NAY CHÁU CHÍNH THỨC ĐƯỢC TRỞ VỀ NHÀ CHA
XIN CHA BAN THÁNH LINH CHO CHÁU NGỰ VÀO LÒNG CHÁU ĐỔI MỚI CON NGƯỜI XẤU XA TỘI LỖI ĐƯỢC TRỞ NÊN CON NGƯỜI MỚI
ĐƯỢC SANH LẠI TRONG THÁNH LINH
XIN THÁNH LINH GÌN GIỮ CHÁU DẠY DỖ CHÁU BẺ TRÁCH SỬA DẠY CHÁU BIẾT ĐI TRONG Ý CHỈ THÁNH CỦA CHA
LÀM MỘT CON CỦA VUA MUÔN VUA CHÚA MUÔN CHÚA TRÊN TRỜI
TA RA LỆNH ĐUỔI TẤT CẢ TÀ LINH TÀ DÂM THỦ DÂM GIẾT NGƯỜI PHÁ THAI NÓNG TÁNH CHÚNG BAY PHẢI LUI RA KHỎI B. B. NGAY BÂY GIỜ TRẢ LẠI SỰ TỰ DO CHO CÔ THỜ PHƯỢNG CHA CÔ TRÊN NƯỚC THIÊN ĐÀNG
TRONG DANH CHÚA JESUS AMEN!
*
B.B.
cháu rất ân hận..cháu sẽ thường xuyên ăn năn những tội lỗi của cháu với Chúa!
*
Anhue Doan
hay mở một trang sách mới
hôm nay Cha lấy huyết chiên con rưới lên thân thể cháu
không nhìn thấy tội lỗi cháu nữa
đừng nhớ lại chuyện xưa nữa
trang sách mới được bắt đầu
lấy đức tin chấp nhận mọi tội lỗi cháu được Chúa tha thứ hết
*
B.B.
cháu muốn nói amen! nhưng cháu ko dám nói; cháu chưa hiểu amen có nghĩa là gì? cháu sợ cháu không đủ tư cách để nói từ ngữ ấy
*
Anhue Doan
bắt đầu một quyển sách mới trắng tinh
amen có nghĩa là mọi sự sẽ như vậy
*
B. B.
vâng ah
*
Anhue Doan
cháu nghe người nhẹ nhàng không?
*
B.B.
amen!

Anhue Doan
TA RA LỆNH ĐUỔI TẤT CẢ TÀ LINH TẢ DÂM THỦ DÂM GIẾT NGƯỜI PHÁ THAI, TÀ LINH NÓNG TÁNH CHÚNG BAY PHẢI LUI RA KHỎI B.B. NGAY BÂY GIỜ TRẢ LẠI SỰ TỰ DO CHO CÔ THỞ PHƯỢNG CHA CÔ TRÊN THIÊN ĐÀNG TRONG DANH CHÚA JESUS AMEN!
*
B.B.
cô ơi cháu thấy người cháu như vừa ngủ dậy..tỉnh táo..không u mê như lúc trước nữa…lúc nãy cháu nhìn chứ còn không rõ nữa..nhưng bây giờ nhìn mọi thứ đều rõ ràng
*
Anhue Doan
cháu nói cảm ơn CHúa đi
cháu phải có cảm giác như vậy mới biết rõ CHúa chấp nhận cháu trở về làm con của Cha
*
B.B.
con cảm ơn CHÚA
*
Anhue Doan
con mắt thuộc linh cháu được mở ra
*
B.B.
nhưng có ơi cháu không thấy rợn tóc gáy..
*
B.B. Anhue Doan
con mắt tâm linh không còn bị đui mù nữa
cháu được đi từ trong bóng tối bước sang cõi sáng láng
hallelujah!
Cảm ơn CHúa Cha
*
B.B.
Cảm ơn CHÚA CHA!
*
Anhue Doan
Cảm ơn Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của con mà cho cháu B.B. được trở về nhà Cha mặc dù cháu rất có nhiều tội lỗi
cô khóc đấy
vì Chúa Cha chấp nhận cháu rồi đó
hôm nay cháu có vé vào nước thiên đàng
nước thiên đàng miễn phí đang dành sẵn cho cháu mặc dầu biết bao nhiêu người không nhiều tội lỗi như cháu nhưng họ kiêu ngạo không ăn năn
*
B.B.
cháu vừa khóc..cháu vừa cầu xin Chúa tha thứ cho cháu và chấp nhận cháu
nhưng cháu không nói ra miệng cháu chỉ nhắm mắt và nghĩ ở trong đầu thôi ah
*
Anhue Doan
Cha hứa gì Cha sẽ làm nấy cháu lấy đức tin chờ mong cháu được sanh lại hôm nay trong Chúa Thánh Linh
cháu thấy người nhẹ nhàng như trút đi một gánh nặng trên vai
Chúa Jesus gánh hết cho cháu rồi đó
tội lỗi cháu đáng chết mà nay được sống
tưởng mất mà nay Cha tìm lại được
cháu có sự vui vẻ bình an trong tâm hồn chưa?
*
B.B.
cháu vẫn đang cầu xin Chúa tha thứ cho cháu..cháu muốn khóc..cháu đang khóc..
*
Anhue Doan
mà qui sẽ theo kiện cáo dĩ vãng xấu của mày Chúa không tha mày đâu
hãy khóc đi
dốc lòng ra với người CHa bao nhiêu năm chờ mong đứa con trở về
*
B.B.
cháu cảm ơn cô.
cô ơi.bay giờ cháu sắp đi có việc rồi..để tối cháu vào và nói chuyện tiếp với cô được không?
cháu cảm ơn có.tối cháu sẽ vào thăm và đọc bài ah
*
Anhue Doan
Chúa ở cùng cháu
*
B.B.
vâng..trong lòng cháu có Chúa..và cháu sẽ luôn nghĩ tới Chúa..
amen!
*
Anhue Doan
Amen!
http://vietbible.com/
www.kinhthanh.net
vào đọc kinh thánh trong link cô cho đó nha
nhớ vào chát thêm nha

NGÀY HÔM SAU:
*
B.B.
cô ơi cô có ở đó k?
*
Anhue Doan
cô đây
*
B.B.
cháu thấy người cháu đang dần dần thay đổi cô ah
*
Anhue Doan
cháu ra sao rồi?
hôm nay có đi làm không?
*
B.B.
cháu thấy tính cách cháu trở nên nhẹ nhàng hơn…
*
Anhue Doan
cảm ơn CHúa
*
B.B.
hôm nay cháu xin nghỉ vì cháu cứ buồn ngủ ko muốn dậy
*
Anhue Doan
tà lính đang phá làm buồn ngủ đó
cháu còn gì nữa để trong nhà? có tượng gì không?
thần tượng?
trên cổ đồ đeo tượng phật không?
*
B.B.
nhưng khi cháu ko làm được chuyện gì đó cháu rất hay bức bối và khó tính.
.nhưng hôm nay đã thấy bản thân rất nữ tính và nhẹ nhàng..
chau ko deo tượng phật nhưng trong phòng cháu có một vài đồ vật,dây vòng mà cháu xin ở chùa
*
Anhue Doan
có cái gì trong phòng mà cháu nghĩ đem lại hên là có tà linh
đúng rồi chúng làm cháu buồn ngủ đó
chắc chắn chúng phá cháu 100% đó
*
B.B.
vậy cháu sẽ làm gì?
*
Anhue Doan
cháu thấy cái gì không giá trị đem đốt chúng đi trong danh CHúa Jesus khước từ chúng và đốt đi
còn nếu có giá trị bằng vàng thì đem bán lấy tiền
*
B.B.
Cô ah,hôm qua khi đang làm việc lúc giải lao cháu đã ngồi cầu nguyện.
cháu cầu xin chúa cho cháu về nhà và cầu xjn chúa ngự ở trong cháu
lúc đó người cháu như lẳng lặng..có cảm giác gì đó vừa sợ,vừa run,rất khó tả
*
Anhue Doan
ta lính trong những thần tượng vẫn còn theo pha cháu được
CHúa thường ngự trong lòng cháu rồi đó nhưng chúng ảnh hưởng bên ngoài
làm buồn ngủ được
*
B.B.
chau ko còn ham muốn tình dục và cháu đã nói chuyện với người yêu..những anh ấy ko tin về Chúa..cháu sợ cãi nhau nên cháu k nói thêm nữa..
*
Anhue Doan
bây giờ cháu có ở trong nhà không? đem ra nói trong danh CHúa Jesus ta khuoc từ chúng bay và đốt bỏ hết đi
chúng rất sợ Chúa Jesus
tà linh dâm dục đi ra cháu sẽ trở nên như đứa trẻ
từ từ anh sẽ thấy tánh tình cháu thay đổi
*
B.B.
Bây giờ cháu đang ở ngoài.cháu ko ở nhà.để chiều cháu sẽ làm.
*
Anhue Doan
nhớ nói trong danh Chúa Jesus ta khước từ chúng bây không chơi với chúng bây nữa
rồi đốt bỏ hết những gì đốt được. tượng thì đập bỏ hết đi
*
B.B.
vâng ah.
*
Anhue Doan
cháu cảm thấy sự vui vẻ bình an tràn ngập trong lòng
đó là ấn chứng của CHúa Thánh Linh ngự trong lòng mình
có vé vào cửa nước thiên đàng
cháu có thấy bà cụ chết 18 tiếng đồng hồ sống dậy kể bà được CHúa rước về thiên đàng chưa?
*
B.B.
cháu mới đọc qua câu chuyện đó.nhưng cháu chưa xem clip.lát cháu sẽ xem
*
Anhue Doan
cháu có kinh thánh Tân Ước không?
mua một quyển bỏ túi để đọc
hay download vào DT cầm tay đọc
*
B.B.
cháu muốn học một bài hát về Chúa..cháu muốn nhưng khi nào cháu yếu lòng,nhưng khi cháu buồn đau..cháu sẽ hát để được vui hơn..nhưng cháu k biết học hát ở đâu
*
Anhue Doan
cháu vào you tube được không có sẽ gửi cho cháu
*
B.B.
vang..khi cháu ranh cháu sẽ đi mua.kinh thánh tân ước hả cô
*
Anhue Doan

*
B.B.
thôi để cháu tìm trên you tube rồi copy ra dt cũng được ah.
*
Anhue Doan
chau download cũng được
bible.is
cháu có smart phone
*
B.B.
vâng vậy cháu download về máy
*
Anhue Doan
miễn phí
tìm TIẾNG VIỆT
nó có 50 thứ tiếng
*
B.B.
vâng.cháu dùng sim sv nên down về không mất tiền.hi
*
Anhue Doan
sẽ có tiếng việt
*
B.B.
vâng ah
*
Anhue Doan
họ có đọc cho mình nghe nữa cháu bắt đầu đọc sách tân ước
Cháu vào download 800 bài hát ca ngợi CHúa MP3 trong www.nguonsusong.com
bỏ hết nhạc đời đi nha
*
B.B.
cô ơi..tôn thờ Chúa Jesus không có nghĩa là theo đạo phải k cô?
*
Anhue Doan
không
đạo Chúa người ta làm ra đạo giáo và tôn giáo
Tin Lành là tin tức tốt lành của Chúa Cha nói về CHúa Jesus xuống thế gian để chết thế cho nhân loại.
phải có CHúa Thanh Linh ngự trong lòng mới được vé vào nước thiên đàng
bao nhiêu người theo đạo không có CHúa ngự trong lòng uổng công
tôn giáo hay đạo giáo ru ngủ còn người
CHua Jesus giãi phóng con người
*
B.B.
vâng ah..cháu sẽ đi theo tiếng nói và lời dạy của Chúa Jesus.
*
Anhue Doan
được tự do khỏi mọi xiềng xích của tôi mọi cho thể xác và ma quĩ
tin lành là tin tức tốt lành
không phải là một tôn giáo
người ta làm ra tôn giáo
CHua Jesus rất buồn
bởi vậy hôm nay cô cầu nguyện chữa lành cho một ông mục sư
ông bị đau cột sống nhiều năm không đi nỗi
vợ ông tin phép lạ
ông theo đạo tin lành
làm mục sư
nhưng không tin Chúa chữa lành liền tại chỗ
vì đau quá nên nhờ cô cầu Chúa chữa lành
cô cầu xin giúp ông hết bệnh rồi đó 100% luôn B.B.
cháu tin là ông ấy sẽ khỏi bệnh…cháu tin Chúa sẽ cứu gjup cho con người
*
Anhue Doan
Cô cầu xong ông giận bỏ vào phòng đóng cửa lại vì cô nói ông được Chúa chữa lành 100% hôm nay liền tại chỗ
ông vào phòng giận rồi check lại hết bệnh luôn
trở ra khỏi phòng ra sân làm việc bình thường
*
B.B.
vâng..cảm ơn Chúa!
*
Anhue Doan
ông mắc cỡ thôi
cháu ơi cô sẽ lấy bài cháu đổi tên họ lấy ra phần nào có tính cách cá nhân rồi đăng lên trang nhà CHúa nhé
bài này có thể giúp nhiều người khác tin Chúa nữa
đổi tên và họ hết
cô để tên B.B.
*
B.B.
cô cứ giữ tên của cháu..
*
Anhue Doan
không để vậy nhiều người sẽ gọi lại phá cháu
*
B.B.
tất cả những gì cháu nói với cô đều là những gì cháu cảm nhận được..rất thật tâm
*
Anhue Doan
cô bị rồi
*
B.B.
cô không cần đổi tên đâu.
*
Anhue Doan
nhiều người nói cô bịa đặt ra những chuyện chat bán đứng Chúa để được danh tiếng
*
B.B.
nếu có ai hỏi cháu: có tin về Chua Jesus không?cháu sẽ nói châu tin hơn bất cứ niềm tin nào hết.
*
Anhue Doan
nhưng nếu cô để tên cháu trên FB thì rất tốt nhưng có sợ cháu không chịu nổi những tên tà lính vào phá cháu dữ dội lắm
vậy tốt rồi.
Cô sẽ đối tên. Cảm ơn cháu nhiều.
*
B.B.
trong danh Chúa Jesus cháu tin sẽ ko có ai phá cháu được.
*
Anhue Doan
có sẽ để tên B.B.
Cảm ơn Chúa cho cháu có lòng tin mãnh liệt nơi Chúa
ráng đọc Kinh Thánh để lớn lên
vì cháu đang là em bé
không bú sữa sẽ không lớn lên được
Đọc Tân Uoc bắt đầu bằng Mathio, Mac Luca Giang
cháu bỏ 3 sách đầu bớt nha
sau đó đọc lại
Bắt đầu tu Giăng trở đi đến cuối sách
hay lắm
tai 4 sach đó lặp đi lặp lại giống nhau thành ra nhiều người chán
*
B.B.
cháu sẽ cố gắng..cháu ko muốn Chúa Jesus buồn vì cháu..cháu muốn người tự hào và luôn vui vẽ..cuộc đời của Chúa đã chịu quá nhiều đau khổ để cứu rỗi loài người chúng ta..
*
Anhue Doan
cháu vào xem phim Chúa Jesus hết cuốn phim chưa?
*
B.B.
cháu sẽ làm điều đó..Amen!
*
Anhue Doan
THE PASSION OF CHRIST
*
B.B.
cháu xem hết rồi cô ah
châu xem bộ phim cuộc đời của Chúa rồi.xem hết rồi
*
Anhue Doan
chúa nói vì lằn rơi CHúa chịu mình được lành bệnh
máu ngài đồ ra để mua chuộc tội lỗi loài người
có hai phần riêng biệt
nhiều nhà thờ chưa biết phần một
lằn roi của Chúa mình đựoc lành bệnh
ma quĩ giấu hơn 2000 năm nay
thành ra nhiều người tin CHúa vẫn còn bị nhiều bệnh tật
bây giờ nhiều người cũng vẫn chưa chịu tin
Chua Jesus kêu gọi dắt cô trở về
bảo cô làm chuyện này
nhiều người không biết nói cô là tà giáo
sau 2 năm họ biết rồi
thấy công việc có làm không giống ai hết nhưng kết quả tốt
*
B.B.
cháu muốn được nghe thấy tiếng của gọi của Chúa..2 đêm nầy trước khi ngủ cháu đều cầu nguyện được gặp hoặc dc nghe thấy tiếng Chúa Jesus một lần..
*
Anhue Doan
chúa phán với người bằng lời Kinh Thánh
cháu đọc KT và chép ra những lời cháu nghe nói hai lần là Chúa nói chuyện với cháu đó
chúa nói với cô bằng lời kinh thánh
cháu lấy quyển sổ tay biên ra những lời Chúa cháu nghe như hai lần
học thuộc lòng
rất hay
*
B. B.
vang ah..
*
Anhue Doan
bức tâm thư người Cha gửi cho mọi đứa con của mình đó
*
B.B.
chau out đây có ah.cháu muốn nghe một bài hát về chúa..nhưng khi buồn cháu sẽ hát…
có luôn vui về nhé!cảm ơn có đã nc với cháu.
*
Anhue Doan
cô cho link một bài hát trên rồi đó
cháu không thấy sao?
*
B.B.
vâng ah. Cháu sẻ nghe bài hát đó trước khi cháu tìm những bài hát khác.

Anhue Doan

Kế bên có nhiều bài hát khác nửa.
*
B.B.
vâng ah.cháu cảm ơn cô…lạy ơn Chúa Jesus đã cho cháu noi chuyện với cô..Amen!
*
Anhue Doan
Chúa ở cũng cháu
nhớ cầu nguyện trước khi đi ngủ
nói chuyện như có Cha mình đứng trước mặt
bắt đầu bằng TRONG DANH CHÚA JESUS XIN CHA ______- xong nói AMEN
*
B.B.
vâng ah.
*
NGÀY HÔM SAU:

B.B.
cô ơi..sao những khi cháu nghỉ về Chúa..cháu cứ muốn khóc..cảm gíac rất muốn òa lên khóc..nhưng vì có mọi người ngồi bên cạnh nên cháu kim nên không cho nước mắt chãy ra..
*
Anhue Doan
Cám ơn Chúa!
Có Chúa Thánh linh ở trong lòng làm con người cảm nhận mình không xứng đáng nhận lãnh món quà lớn lao là Chúa Jesus chết thay cho mình
Về nơi vắng vẽ khóc đi
Những giọt nước mắt đó Chúa thương
Vơi hết những tội lỗi của mình
Những người tin Chúa Jesus thật sự đều khóc nhiều lắm vì Chúa Thánh Linh cảm động tấm lòng cứng cõi và họ khóc lóc ăn năn mọi tội lổi được biến đổi để trở nên mềm mại, nhu mì, khiêm nhường, yêu thương, bình an, vui vẻ, trung tín, tiếc độ.
Bông trái Chúa Thánh linh là có Ngài ngự trong lòng.
Hallelujah!




Làm sao tôi biết, kinh thánh là Lời Đức Chúa Trời ?

Làm sao tôi biết, kinh thánh là Lời Đức Chúa Trời ?


BẰNG CHỨNG BÊN NGOÀI:

Bằng chứng bên ngoài có nghĩa là những thực tế bên ngoài Kinh Thánh bày tỏ rằng Kinh Thánh là một nguồn cung cấp những dữ kiện giá trị đáng tin cậy.

Bằng chứng về khoa học:

Không có bằng chứng khoa học nào chứng minh được Kinh Thánh là sai. Nhiều người sẽ nói rằng, “Kinh Thánh không phải là một quyển sách thuộc về khoa học mà chỉ nhằm cung cấp một cái nhìn tôn giáo hay tâm linh trong vũ trụ nầy mà thôi.” Lời tuyên bố trên hàm ý rằng sự mô tả mang tính khoa học tự nhiên chỉ nhắm đến mục tiêu phục vụ cho tôn giáo nên không thể mong đợi sự chính xác tuyệt đối nơi những mô tả nầy. Vì thế, chúng ta được bảo đừng tin cậy vào những chi tiết mang tính khoa học mà chỉ tìm kiếm những lời dạy dỗ mang tính đạo đức hoặc tôn giáo mà thôi.

Sự suy nghĩ nầy là sai lầm bởi vì nó vô lý. Làm sao chúng ta có thể khẳng định được phần nào đúng và phần nào không đúng. Nếu chúng ta không thể tin cậy một vài phần nào đó trong Kinh Thánh thì chúng ta cũng không thể tin cậy vào những sứ điệp về đạo đức hay thuộc linh mà Kinh Thánh mang lại. Lý do chúng ta không thể tin cậy vào những sứ điệp thuộc linh là vì chúng ta không có một nền tảng căn bản để biết điều nào là đúng và xác đáng cho đời sống của chúng ta và điều nào là không chính xác để không phải tuân theo một cách nghiêm túc.

Quan niệm nầy là sai lầm bởi thiếu đức tin và xúc phạm đến Thượng Đế là tác giả của Kinh Thánh. Sự chính xác của những câu chuyện, những nhân vật và những địa danh trong Kinh Thánh phản ảnh bản tánh chính trực của Thượng Đế. Khi xem xét về giá trị bề mặt của những lời tuyên bố Ngài đưa ra chúng ta thấy được năng quyền của Thượng Đế đã gìn giữ những lời Kinh Thánh được hiệu nghiệm hằng nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể nào tìm đâu ra dữ kiện chính xác về sự kỳ diệu của vũ trụ nầy hơn là những gì đã được trình bày trong Kinh Thánh vì Kinh Thánh phản ảnh Thượng Đế là Đấng đã viết nên nó.

Một thí dụ từ Địa lý:

Trong khi Kinh Thánh không cố ý dạy người học một cách kỹ lưỡng về những nguyên tắc và dữ kiện khoa học, nhưng bất cứ những vấn đề nào mà Kinh Thánh bàn về công cuộc sáng tạo của Thượng Đế là chính xác và có thật. Chúng ta thấy một trường hợp trong sách Gióp 26:7, tại đây chúng ta đọc thấy sự mô tả theo cách hiện đại về trái đất khi nó quay trong khoảng không. Điều nầy đã được viết ra vào khoảng 3.000 năm trước Chúa Cứu Thế. Sự mô tả nầy là một sự tương phản hoàn toàn trái ngược với những quan điểm tưởng tượng quái dị mà cả thế giới được dạy dỗ hay tin tưởng vào lúc đó. Để ủng hộ Gióp 26:7, Êsai 40:22 chỉ ra rằng Thượng Đế ngồi trên “vòng tròn của trái đất.” Trái đất trông giống như một vòng tròn đối với những người sống trên nó chỉ khi nào nó là một hình cầu. Êsai chương 40 xứng hợp với Gióp 26 và ủng hộ sự chính xác của lời tuyên bố nầy, đó là điều chúng ta mong đợi ở Kinh Thánh. Rốt lại thì đâu ai hiểu biết hơn Đấng Tạo Hóa đã thiết kế và dựng nên vũ trụ này.

Một thí dụ từ Khảo cổ học:

Những bản sao cổ nhất hiện có của những bài thơ và văn chương tiếng Hy Lạp thì mới hơn những bản gốc viết tay từ 800 đến 1.000 năm. Dầu vậy, không một học giả nào chấp nhận lập luận rằng những bản văn Hy Lạp cổ không xác thực so với bản gốc và cần nên bỏ đi. Ngược lại, những bản sao của nhiều sách trong Cựu Ước thì mới hơn nguyên bản chỉ có 200 năm. Những bản sao cũ nhất của vài sách trong Tân Ước có ghi ngày chỉ cách nguyên bản viết tay từ 50 đến 80 năm mà thôi. Dựa vào những dữ kiện căn bản đó, Kinh Thánh đáng được tin cậy ít nhất như những bản văn chương Hy Lạp, nhưng điều đó thì trái ngược lại trong thời nầy.

Kinh Thánh được dịch ra tất cả mọi thứ tiếng

Sự khám phá mới đây đã củng cố tính trung thực về lịch sử của Kinh Thánh khiến cho nhiều nhà khảo cổ học từng coi thường Kinh Thánh trở lại từ chỗ chống đối thành ra tôn trọng Kinh Thánh. Thí dụ, trong Sáng Thế Ký 15:20 đã nhắc đến một dân tộc được gọi là Hêtít. Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cười nhạo Kinh Thánh đã bịa đặt ra nhóm người nầy. Nhưng cách nay vài thập niên, tàn tích của một thành phố nằm tại quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc của nước Do Thái hiện nay, được khám phá và chứng minh là một thành phố lớn của dân tộc Hêtít.

Bằng chứng về lịch sử:

Kinh Thánh nói về những điều trước khi xảy đến. Tiên tri Êsai nói về vua của nước Ba Tư là Siru (Êsai 45:1), là người mà cuối cùng sẽ khôi phục nước Giuđa. Ba Tư là một vương quốc lớn, nằm tại vùng đất mà hiện nay thuộc quốc gia Iran. Êsai viết điều nầy trong thời cai trị của vua nước Giuđa là Êxêchia, vua nầy qua đời vào năm 687 trước Chúa Cứu Thế, nhưng Siru đã không bắt đầu lên làm vua cai trị đế quốc Ba Tư mãi cho đến sau năm 600 trước Chúa Cứu Thế. Đó là hơn 80 năm sau khi Êsai qua đời. Chỉ có Thượng Đế mới biết tên của người sẽ làm vua nước Ba Tư trước khi người đó lên ngôi. Nhiều lời dự ngôn trong lịch sử chép về Chúa Cứu Thế Giêxu đã được ban cho trước khi Ngài ra đời. Mỗi sách của Cựu Ước trong Kinh Thánh đều nhắc đến Chúa Giêxu một cách rõ ràng. Thí dụ, hãy chú ý đến chi tiết của Thi Thiên 22, Êsai 53, và Michê 5:2.

Đối diện với bằng chứng lịch sử nầy, chúng ta chỉ có những sự lựa chọn sau đây. Hoặc Kinh Thánh đã được viết bởi Đấng ở bên ngoài thời gian, hoặc Kinh Thánh chỉ là một câu chuyện đùa, một sự đánh lừa rồi sau đó người ta viết thêm vào những lời tiên tri để làm cho Kinh Thánh có vẻ tốt, hay là chỉ là một sự lường gạt xấu xa. Sự lựa chọn đúng đó là, Kinh Thánh duy nhất là lời chân thật và thánh khiết của Thượng Đế.

Bằng chứng từ những kinh nghiệm cá nhân:

Một nguồn khác về bằng chứng bên ngoài đó là kinh nghiệm cá nhân của những người được thay đổi bởi Kinh Thánh. Có nhiều sự khác biệt rất rõ rệt trong đời sống của một người sau khi đặt lòng tin vào Chúa Cứu Thế Giêxu và bước đi theo Lời Ngài là Kinh Thánh. Nói cách khác, Kinh Thánh có thể làm cho những tín hữu những gì mà Kinh Thánh xác nhận là sẽ làm được.

Mỗi người đọc KT đều có kinh nghiệm riêng..

Kinh Thánh hứa sẽ cất khỏi hình phạt của sự đoán xét và bảo đảm không có sự định tội cho ai đặt lòng tin vào những gì Kinh Thánh nói (Giăng 5:24, Rôma 8:1,16, I Giăng 4:18). Kinh Thánh hứa có thể rửa sạch tấm lòng Cơ Đốc Nhân (Thi Thiên 119:9,11, Giăng 15:3). Kinh Thánh hứa sự giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi cũng như sự khôn ngoan và quyền năng để chiến thắng tội lỗi một cách thành công (Giăng 8:34-36, Rôma 6:18, Côlôse 3:1-2). Kinh Thánh ban ý nghĩa và mục đích cho đời sống, thúc đẩy những Cơ Đốc Nhân phục vụ Chúa của mình (I Phierơ 2:9). Tất cả những điều nầy là một phần trong kinh nghiệm của một tín hữu. Nhiều tín hữu kinh nghiệm một đời sống mà họ chưa từng có trước kia, một đời sống mới được chứng minh bằng thực tế rằng họ không còn đầy cay đắng và hối tiếc về quá khứ của họ từ khi họ đọc được sự tha thứ của Thượng Đế (Hêbơrơ 10:16-17). Nhiều Cơ Đốc Nhân kinh nghiệm một sự sống mới bởi thực tế rằng họ có thể hi sinh cho người khác. Nhiều tín hữu kinh nghiệm đời sống mới minh chứng bởi thực sự rằng họ có thể chiến thắng sự sợ hãi bởi vì họ thà nương dựa vào Chúa hơn là hy vọng hão huyền về những điều êm đẹp sẽ xảy ra. Một người đặt lòng tin vào Kinh Thánh có kinh nghiệm thuộc linh cách cá nhân để biết rằng những lời hứa của Kinh Thánh không phải chỉ là những bài thơ suông mà là sự thật và làm chứng cho lòng của người đó rằng sự tin cậy của người đó đặt vào Kinh Thánh không phải là không đúng chỗ.

BẰNG CHỨNG BÊN TRONG:

Thêm vào những bằng chứng bên ngoài, có những bằng chứng bên trong cho chúng ta lý do thuyết phục để tin cậy vào Kinh Thánh. Nói cách khác, có những điều thực tế bên trong Kinh Thánh bày tỏ rằng Kinh Thánh là một nguồn cung cấp những dữ kiện giá trị đáng tin cậy.

Lời chứng của Kinh Thánh:

Kinh Thánh tự xác nhận là đến từ Thượng Đế. Thí dụ, trong II Samuên 23:2 Đavít, là người viết nhiều thi thiên, tuyên bố rằng những gì ông viết là đến từ Thượng Đế. Giêrêmi tuyên bố cũng giống như vậy (Giêrêmi 1:4), cũng như sứ đồ Phaolô (I Têsalônica 2:13). Phierơ nói những điều Phaolô viết là Thánh Kinh (II Phierơ 3:16). Chính Chúa Giê-xu tuyên bố nhiều lần về đặc tính đáng tin cậy của Kinh Thánh (Luca 16:17, 24:44, Giăng 17:17). Thí dụ, Chúa Giêxu thường thường xem tất cả những câu chuyện trong Kinh Thánh Cựu Ước là nguồn đáng tin cậy (Luca 11:51, 17:26-33).

Sự hợp nhất của Kinh Thánh:

Kinh Thánh được viết trong khoảng thời gian hơn 1.500 năm, từ thời Môise (1.400 trước Chúa Cứu Thế) đến thời của sứ đồ Giăng (khoảng 100 năm sau Chúa Cứu Thế). Tổng cộng số người viết ít nhất là 40 người. Nhưng cho dù những người khác biệt nầy cũng viết vào những thời điểm khác nhau thì sứ điệp mà họ viết luôn luôn giống nhau mà không hề sự mâu thuẫn trong bất cứ chi tiết nào. Nguyên nhân là vì Thượng Đế là tác giả của Kinh Thánh và Ngài đã dùng con người ghi chép những gì Ngài muốn nói. Những người viết sống và chết vào những thời điểm khác nhau nhưng chỉ có một Thượng Đế đời đời phán bảo với từng người những gì phải viết. Vì lý do đó, chúng ta có thể so sánh những phần khác nhau của Kinh Thánh và thấy rằng chúng đều thống nhất với nhau, ủng hộ và làm sáng tỏ cho nhau (I Côrinhtô 2:13). Chúng ta có thể đến với bất cứ phần nào trong Kinh Thánh và biết rằng trước sau như một Kinh Thánh thật đáng tin cậy.

Những điều chứa đựng trong Kinh Thánh:

Những chủ đề mà Kinh Thánh bàn luận đến là bằng chứng lạ lùng bên trong về sự đáng tin cậy của Kinh Thánh. Những điều chứa đựng trong Kinh Thánh là những điều mà Kinh Thánh có thể nói chỉ khi Kinh Thánh được viết bởi Thượng Đế. Thí dụ, Kinh Thánh tuyên bố Đức Chúa Giêxu nhận rằng Ngài là Thượng Đế (Giăng 10:30); Kinh Thánh tuyên bố rằng các môn đồ của Chúa Giêxu xưng Ngài là Thượng Đế (Giăng 20:28); Kinh Thánh nói rằng Cha tuyên bố Chúa Giêxu là Thượng Đế (Hêbơrơ 1:8). Kết luận của lời làm chứng nầy rằng, hoặc sứ điệp của Kinh Thánh là một điều điên rồ và lường gạt quỉ quyệt, hay sứ điệp của Kinh Thánh là thật và Kinh Thánh là quyển sách duy nhất như thế.

Một thí dụ quan trọng khác là chỉ có Kinh Thánh nói về tội lỗi (I Giăng 3:14). Không có một con người nào can đảm viết chính xác và đánh giá về loài người như Kinh Thánh mô tả. Kinh Thánh trình bày một bức tranh khủng khiếp. Nó làm chúng ta bực mình, và chúng ta không lấy làm vui vẻ gì khi đọc nó. Điều nầy giải thích tại sao chúng ta gặp khó khăn khi muốn tin rằng Kinh Thánh là chân lý. Vấn đề không phải là ở bằng chứng mà là ở tấm lòng của chúng ta. Có ai muốn biết rằng mình là một tội nhân tồi bại, sa đọa? Có ai vui mừng khi được cho biết rằng mình đang tiến về vào địa ngục, nơi mà mình phải chịu khổ sở dưới cơn thạnh nộ của Thượng Đế đời đời? Có ai hoan nghênh một sự hiểu biết để biết rằng không có điều gì tốt nơi mình cả và mình là một con người phản loạn chống nghịch lại Thượng Đế, Đấng đã tạo dựng nên mình?

Chỉ có Thượng Đế mới thành thật với chúng ta bởi vì chỉ có Ngài biết được sự thật. Chỉ có Thượng Đế sẵn sàng thành thật với chúng ta và điều đó bày tỏ tình yêu của Ngài. Tình yêu thật không biểu lộ bởi những lời nói của con người cố làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu bởi những lời dua nịnh hư không, rồi bỏ mặc chúng ta lại trong tình trạng tuyệt vọng của mình bởi họ không có sự hy vọng thật để ban cho. Tình yêu thật được bày tỏ bằng sự thật, đó là điều duy nhất có thể giúp chúng ta. Sự chân thật của Kinh Thánh vẽ ra bằng lời số phận con người thì không mấy gì thu hút. Tuy nhiên, Kinh Thánh chứa đựng những lời của một người bạn thật. Thượng Đế biết rằng chúng ta đang đi trên bờ của một mõm đá và có thể rơi vào địa ngục bất cứ lúc nào. Ngài bảo cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cần biết để tránh khỏi hiểm họa nầy. Mặc dù Kinh Thánh không được liệt kê trong danh sách của mười quyển sách được ưa chuộng nhất trong năm, nhưng chỉ Kinh Thánh mới có thể ban cho lời hứa và giữ lời hứa rằng, “Hỡi những kẻ mệt mõi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Mathiơ 11:28-30).

Sứ Điệp của Kinh Thánh:

Cuối cùng có một ý kiến nữa mầ chúng ta phải đối diện khi chúng ta suy nghĩ có nên tin cậy Kinh Thánh hay không. Hầu hết người ta tin rằng có một Thượng Đế. Nhưng nếu Thượng Đế thật sự là Thượng Đế thì Ngài sẽ phán hoàn toàn bằng uy quyền và chúng ta phải vâng theo Lời của Ngài. Nói cách khác, những gì chúng ta suy nghĩ về Lời của Thượng Đế và phản ứng của chúng ta đối với nó phản ảnh những gì chúng ta nghĩ về chính Thượng Đế. Chúng ta không thể tách rời Thượng Đế và Lời Ngài là Kinh Thánh. Chúng ta không buộc phải tin Kinh Thánh, nhưng chúng ta phải đối diện với hậu quả. Nếu ai đã không tin vào Thượng Đế của Kinh Thánh thì sẽ hành động theo cách đó, và kết quả cay đắng của đời sống ích kỷ của họ sẽ đến vào mùa gặt, như Kinh Thánh đã nói. Đây là bằng chứng đáng sợ hơn cả. Thêm vào điều đó, họ sẽ đối diện với cơn thạnh nộ của Thượng Đế là Đấng sẽ tìm gặp họ phía bên kia phần mộ và buộc họ tuân theo Lời Ngài vào Ngày phán xét như Kinh Thánh đã nói trước.

Hãy tự chính bạn nghiên cứu KT

Có một điều tốt cho chúng ta khi hỏi rằng chúng ta có nên tin cậy Kinh Thánh hay không. Kinh Thánh có thể cất đi những thắc mắc khỏi chúng ta bằng những bằng chứng về tính chất xác đáng của nó. Giacơ 1:6 chép rằng chúng ta không nên ngần ngại màcầu xin Thượng Đế ban cho chúng ta khả năng để tin cậy vào Lời của Ngài và sự khôn ngoan cần có để có thể hiểu được Kinh Thánh nhiều hơn. Tuy nhiên, học Kinh Thánh là một sự học hỏi thánh. Chỉ khi nào chúng ta đến với Kinh Thánh một cách khiêm nhường và một tâm trí cởi mở hướng về lẽ thật thì chúng ta mới tìm thấy những câu trả lời cho mình.

“Lời Cha tức là lẽ thật” Giăng 17:17
Có những lý do xác đáng để tin cậy vào Kinh Thánh.
Cả hai, bằng chứng bên ngoài và bên trong đều ủng hộ lời tuyên bố rằng, Kinh Thánh là
“Chân thật, thảy đều công bình cả” Thi Thiên 19:9

Source: TinLanh.com




Chân Giả Luận (Bản Hiệu Đính 2011)

Chân Giả Luận (Bản Hiệu Đính 2011)

 

Lời Nói Đầu

Kính thưa quý bạn đọc,

Chân Giả Luận là một tác phẩm đã được biên soạn và lưu hành cách đây khoảng năm mươi năm. Chúng tôi không biết danh tính của tác giả, và cũng không được biết tác giả hiện còn đang sống hay đã về nước Chúa. Nhưng chúng tôi tin rằng vì tình thương trong Chúa, tác giả đã bỏ công biên soạn ra tác phẩm này với mục đích giúp chúng ta có một nhận thức đúng đắn về Đấng Chân Thần, là Đấng chúng ta phải thờ, để chúng ta không đi lầm đường lạc lối.

Vì nguyên tác đã được biên soạn cách đây nhiều năm, do đó lời văn đã xưa cổ; có nhiều từ ngữ hiện nay không còn thông dụng nữa.

Vì vậy chúng tôi xin mạn phép được làm mới lại tác phẩm: Chúng tôi không thay đổi ý chính của nguyên tác, mà chỉ thay thế một số từ ngữ cổ, và sửa lại lời văn theo tiếng Việt hiện đại. Với ý định đó, chúng tôi hy vọng tác phẩm này tiếp tục phục vụ cho công tác rao truyền đạo Đức Chúa Trời cho dân tộc Việt Nam.

Chúng tôi ước mong quý vị bỏ chút thời gian tìm hiểu điều “Chân” và “Giả” được trình bày trong tác phẩm này, để quý vị có sự lựa chọn đúng đắn cho con đường còn lại của đời mình.

01. Xem Địa Lý

Hỏi: Những việc người đời thường làm như xem địa lý, chọn ngày, xem số, xem quẻ, xin xăm có hợp lý không?

Đáp: Không. Vì đó đều là những việc mê tín, dị đoan mê hoặc lòng người, có ảnh hưởng xấu, và gây nhiều tai hại cho nhân quần xã hội. Chúng tôi xin biện giải như sau:

Người xưa xây nhà, làm mồ mả, cũng xem địa lý, nhưng chỉ là để chọn nơi đất cao ráo, không ứ nước (thủy), và chọn hướng xây để tránh ngọn gió (phong) quá nóng hoặc quá lạnh. Vì vậy thuật xem địa lý cũng còn được gọi là “thuật phong thủy.”

Về sau người ta tin rằng con cháu hiền, ngu, giàu hay nghèo đều do nhà cửa, và mồ mả có được xây dựng trên khu vực đất tốt hay không. Từ đó, ý nghĩa ban đầu của việc xem địa lý đã bị thay đổi. Ngày nay, người ta xem địa lý là để chọn được mảnh đất mà họ tin là tốt, với mong muốn là con cháu được giàu sang phú quí. Thuật này do ông Quách Phát đời nhà Tấn bày ra. Trước tiên là người Trung Quốc tin theo; sau lan tràn sang Việt Nam. Đa số dân chúng vốn sẵn tính ham mê giàu sang nên bị thuật này mê hoặc; do đó tệ trạng này được lưu truyền cho đến ngày nay.

Chúng ta thử nghĩ: Tổ tiên của chúng ta khi còn sống, chưa chắc đã có thể che chở cho con cháu, huống chi khi đã là người chết rồi thì có quyền phép gì mà phù hộ cho con cháu được giàu có sang trọng? Vả lại, nếu thuật phong thủy là thật, thì trước đời nhà Tấn, khi chưa có nó, chẳng lẽ không có người giàu sang hay sao?

Người xưa có bài thơ chế giễu thầy địa lý như sau:

Thầy địa? Sao thầy nói viễn vong?

Chỉ nam, chỉ bắc, chỉ tây, đông.

Thế gian bằng có đất vua chúa,

Sao chẳng đem chôn tổ phụ ông?

Bài thơ ấy chắc hẳn đã làm cho các thầy địa lý phải ngậm miệng.

Thuật xem địa lý có hại cho sự tiến bộ của xã hội vì người ta chỉ trông chờ vào dương cơ, âm phần để mưu cầu phú quý mà không lo đến những việc thực tế hơn. Người làm phong thủy còn mang tội bất hiếu, và phạm vào luân thường đạo lý vì dùng hài cốt của tổ tiên làm môi giới để cầu phú quý cho mình.

02. Chọn Ngày, Định Hướng, Xem Tuổi

Thời xưa bên Trung Quốc, có một người họ Việt thường đến triều cống vua Thành Vương nhà Châu. Vì người họ Việt hay bị lạc đường khi về, Châu Công sáng chế một chiếc xe chỉ nam để đưa ông về. Cái địa bàn ngày nay được chế tạo theo chiếc xe chỉ nam ấy.

Còn Giáp Tý thì do vua Hoàng đế truyền cho ông Đại Náo đặt ra: lấy giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí làm thiên can; lấy tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi làm địa chí; hai bên hợp lại thành Giáp Tý.

Như vậy, việc sáng chế ra xe chỉ nam là để chỉ đường; còn việc sáng lập ra Giáp Tý là để ghi chép năm và tháng, chứ không phải vì việc xây nhà hay làm mồ mả. Người xưa làm việc gì cũng không cần chọn ngày, chọn giờ hay xem phương hướng. Ngày nay, các nước Tây phương cũng vậy. Vậy mà công việc của họ cũng vẫn thuận lợi, không có hại gì cả. Người Việt Nam bắt chước những tập tục của người Trung Quốc, cứ làm việc gì hay đi đâu đều phải xem lịch để chọn ngày, hoặc rước thầy chọn hướng. Thật là phí công vô ích vì không hiệu nghiệm gì cả.

Có hai đám cưới cùng tổ chức một ngày, một giờ, nhưng về sau kết cuộc khác nhau. Hoặc hai cửa hàng khai trương cùng ngày, cùng giờ, nhưng về sau việc kinh doanh thành, bại cũng không như nhau. Vậy thì chọn ngày mà làm gì? Quyền giáng họa, ban phước đều thuộc về Đức Chúa Trời. Làm lành được phước, làm dữ mang họa, đều do mình cả, không can hệ gì đến ngày, giờ và phương hướng.

Trong thời thượng cổ, không ai xem tuổi, chọn ngày cho việc cưới xin.

Hễ trai và gái xứng đôi, tâm đầu ý hợp thì ấy là thiên duyên Trời định, ngày nào thuận tiện thì tiến hành hôn lễ.

Đời nhà Hán, rợ Hung nô cường thịnh ở phương Bắc, luôn lăm le muốn cưới công chúa của vua Trung Quốc cho đông cung thái tử của họ. Ông Lữ Tài bày mưu lập kế, diễn trò Bát Sơn Giao Chiến để ngăn trở việc cầu hôn này, rồi lấy con gái của thường dân thế vào. Vậy mà từ đó về sau, người đời cứ tưởng là việc thật nên mỗi khi dựng vợ gả chồng cho con cháu đều tránh cái tuổi nằm về cung bát sơn tuyệt mạng, và cầu cho được lục hiệp trường sinh.

Việc mê tín xem tuổi ấy đã tạo ra không biết bao nhiêu là thảm trạng trong gia đình! Nhiều gia đình tan nát, để bỏ nhau, thậm chí có nhiều người phải tự tử để tránh sự ép uổng của gia đình hủ lậu vì không lấy được người mình yêu mà phải lấy người mình không yêu.

Người tin Chúa không xem tuổi khi kết hôn. Nam nữ kết hôn với nhau đều vâng phục ý Chúa. Xưa có câu: “Lương duyên do túc đế, giai ngẫu tự Thiên thành.”

03. Đoán Số

Thuật đoán số do ông Quỉ Cốc Tử, là người đời Chiến quốc nước Trung Quốc đặt ra. Thuật đoán số của ông lấy năm, tháng, ngày, giờ sinh kết hợp với thiên can, địa chỉ của một người theo ngũ hành sinh khắc, rồi suy đoán người ấy sẽ trường thọ hay chết yểu, giàu sang hay nghèo hèn. Thuật này chỉ có thể lừa gạt kẻ nông cạn, còn người khôn ngoan, có sự hiểu biết chắc không ai tin.

Đó là vì trong cùng một năm, một tháng, một ngày, một giờ, khắp cả thế giới chắc có rất nhiều người được sinh ra. Trong số những người ấy ắt hẳn giàu sang, nghèo hèn không giống nhau; thậm chí hai đứa con sinh đôi về sau nên, hư cũng khác.

Vậy thì việc xem số lấy gì làm chắc chắn? Phải biết rằng họa, phước do quyền của Đức Chúa Trời. Ngài lấy họa, phước mà thưởng người hiền, phạt kẻ dữ, hoặc thử cả hai. Nếu người mới sinh ra mà số mạng đã được định sẳn cho sự giàu sang, hay nghèo hèn, sống lâu hay chết yểu mà không chờ đợi xem việc làm của họ như thế nào, thì cũng như cha mẹ độc đoán yêu đứa con này, ghét đứa kia, mà không căn cứ vào việc nó ngỗ nghịch hay vâng lời. Chúng tôi thiết nghĩ ở thế gian này không có cha mẹ nào như thế cả. Đức Chúa Trời rất công bình, há chẳng tùy theo việc làm của mỗi người mà thưởng, phạt công minh sao?

04. Xem Tướng

Từ xưa đến nay, loài người được Đức Chúa Trời tạo dựng ra, bên trong có lục phủ ngũ tạng, ngoài có lông, thịt, xương, da, tay, chân, mắt, mũi. Từ bậc vua quan đến kẻ thường dân, tựu chung đều giống nhau, chỉ khác nhau nơi các hình thức thấp, cao, gầy, mập, cùng các màu da trắng, đỏ, đen, vàng. Kẻ nghèo ăn cơm gạo lứt, canh rau, ở nhà tranh vách đất, kẻ giàu ăn cao lương mỹ vị, ở nhà rộng lầu cao, Vì thế khí sắc không giống nhau. Như vậy có lý nào căn cứ vào hình thể bên ngoài mà đoán định tương lai cho được?

Xưa kia, vua Võ Đế đời nhà Hán đọc câu sách tướng rằng: “Bất cứ ai nhân trung dài một tấc, thì sống được 100 tuổi.” Ông Đông Phương Sóc đứng cạnh bên nghe được liền cười xòa. Vua hỏi: “Ngươi cười ai?” Ông trả lời: “Tôi cười ông Bành Tổ đời xưa, vì ông ấy sống đến 800 tuổi, ắt hẳn nhân trung dài đến tám tấc, thế thì mặt ông ấy dài biết bao nhiêu!” Câu nói ấy dù chỉ là một câu nói khôi hài, nhưng cũng đủ nêu ra sự sai lầm của sách ma y thần tướng.

Trên thế gian có nhiều người ngoại hình giống nhau như khuôn, nhưng tâm tính khác nhau một trời một vực. Ví dụ như vua Thuấn và Hạng Võ đều trùng đồng (đồng tử), nhưng tại sao một người nhân đức, còn một người thì bạo ngược? Gương mặt Dương Hổ và Khổng Tử giống nhau như khuôn đúc, thì tại sao một người gian ác, một người lại là thánh nhân? Khổng Tử nói rằng:

“Nếu lấy tướng mạo mà xét đoán người, thì ta đây đã mất Tư Võ.” Sao quí vị không tin lời Khổng Tử mà lại tin lời thầy tướng?

Người ta có thể xem tướng như xem cách ăn nói, đi đứng mà biết qua tâm tính một người. Ấy cũng như bác sĩ quan sát thần sắc bên ngoài của bệnh nhân thì biết đại khái bịnh nặng hay nhẹ, hàn hay nhiệt. Còn như nói rằng xem tướng mà đoán được lành, dữ, họa, phúc về sau là điều vô lý.

05. Bói quẻ, Xin Xăm Và Đoán Chữ

Bói quẻ, xin xăm, đoán chữ (hoặc chiết tự) là những trò chơi, không khác gì các trò chơi như thò lò, bông vụ; may thì trúng, rủi thì sai, không có gì đảm bảo. Có khi bói ra tốt nhưng sự việc lại xảy ra xấu, có khi đoán việc lành mà thành ra dữ. Khi nào tình cờ không ứng nghiệm thì đổ lỗi cho thần không giáng. Tại sao chúng ta không nghĩ rằng bói một trăm lần, chắc cũng có vài lần trúng? Cũng như người chưa biết bắn, tập bắn cả ngày, thế nào cũng bắn trúng một vài phát. Đó không phải là bắn giỏi mà đó chỉ là sự ngẫu nhiên mà thôi.

Xưa kia, Khuất Nguyên đến xin Thiềm Doãn một quẻ bói. Ông Thiềm Doãn liền nói rằng: “Cái thước có chỗ ngắn, cái tấc có chỗ dài, vật có chỗ không đủ, trí có chỗ không sáng, số có chỗ không kịp, thần có chỗ không thông. Cứ dùng theo lòng ông, làm theo theo đạo của ông, rùa và thỏ không biết việc ấy.”

Xem như thế, người xưa vốn biết bói quẻ là vô ích. Việc xin xăm cũng như thế. Xin xăm có khi linh, cũng có khi không linh. Đấy là do tình cờ, không phải do ông tiên, ông thần nào cả. Người nào tin điều ấy, chẳng những không ích lợi gì mà lại còn có hại nữa. Còn đa số những kẻ đoán chữ đều nghèo, không có sinh kế, nên sa vào nghề lừa gạt người. Họ mưu lợi cho người khác mà không mưu lợi được cho bản thân mình. Nếu có ai gạn hỏi cho đến khi họ không giải thích được nữa, thì họ nói rằng: “Tôi vẫn biết là thuật lừa dối, nhưng vì nhà nghèo, không dừng được mà phải mưu sinh bằng nghề này.” Ôi! Người đời sao không nghe lời ấy mà tỉnh ngộ?

06. Các Thần Giả

Hỏi: Chúng tôi vẫn nên tin theo Đạo Tin Lành của Đức Chúa Giê-xu Christ, nhưng từ xưa đến nay, từ nước Trung Quốc cho đến nước ta, người dân trên thờ các vị nhật, nguyệt, tinh tú, dưới thờ sơn xuyên xã tắc cùng các vị thiên thần, nhân thần; trong số những vị ấy, không có được vị nào là chân thần hay sao, mà các ông lại nói không đáng thờ?

Đáp: Dân ta từ xưa đến nay nhiễm thói tục mê tín đa thần của người Trung Quốc. Bất cứ họ thờ vị nào, thì chúng ta cũng bắt chước thờ vị ấy. Tóm lại, có hai loại thờ:

Thứ nhất là thờ vật thọ tạo như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, v.v. Vả lại, Đức Chúa Trời đã dựng nên trời, đất để che chở cho loài người.

Ngài dựng nên mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao để soi sáng cho loài người.

Ngài cũng tạo ra muôn vật để loài người dùng hoặc ăn, cũng như cha mẹ mua sắm nhà cửa, trang bị bàn ghế, vật dụng v.v. để cho con cái vậy. Bây giờ con cái không hiếu kính cha mẹ, mà lại hiếu kính nhà cửa, bàn ghế, không phải lỗi đạo lắm hay sao? Chúng ta đã biết trời, đất, muôn vật có một Đấng Chủ Tể, và chúng ta luôn chịu ơn Ngài, thì chúng ta nên thờ Đấng Tạo Hóa chứ không nên thờ các vật thọ tạo kia.

Thứ hai là họ tôn thờ người chết làm thần, như Ngọc Hoàng, Lão Quân, Quan Công, Thành Hoàng, Thổ Địa, Diêm Vương, cùng các thần khác nữa. Tiếp theo đây, chúng tôi xin lược kể lai lịch và sự tích các thần ấy để quí độc giả thử suy xét có nên thờ các thần ấy không.

07. Ngọc Hoàng

Lịch sử nhà Tống cho biết Ngọc Hoàng tên là Trương Nghi, người huyện Hành Đường, phủ Chân Định, được sinh ra vào cuối đời nhà Hán. Trương Nghi học đạo Lão Tử, ở ẩn trong núi Võ Dương, hái cây cỏ luyện thuốc, chữa người bệnh. Đến đời vua Huy Tôn nhà Tống, có thuật sĩ tên Lâm Linh Tố, học đạo Lão Tử, lừa gạt vua để vua phong Trương Nghi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, và giáng chiếu bắt dân chúng thờ phụng. Vua làm như thế, vì có ý cầu mong Ngọc Hoàng phù hộ cho đất nước được bền vững lâu dài. Không ngờ Trương Nghi được phong chức chẳng bao lâu, cả gia đình vua Huy Tôn bị người nước Kim bắt mang đi, về sau chết tại thành Ngũ Quốc.

Dân nước ta học sách của Trung Quốc, cứ thấy họ thờ ai thì chúng ta cứ theo như vậy mà thờ, không truy xét cẩn thận vì chúng ta có tập quán không dám cưỡng lại sách vở nên để hậu quả cho đến ngày hôm nay. Vì thế có nhiều người lầm tưởng rằng thờ Ngọc Hoàng tức là thờ Thượng Đế, là Đức Chúa Trời vậy.

Chúng ta thử xem xét trước các đời Tiền Hán, Tam Đại, Đường, Ngu, ai làm chủ tể trời, đất muôn vật? Ai đã cầm quyền trên chính sự sinh, tử của Trương Nghi? Câu trả lời chắc hẳn là Đức Thượng Đế. Vả lại, Đức Thượng Đế chẳng liên quan gì với Ngọc Hoàng, là tước hiệu của Trương Nghi mà vua Huy

Tôn đã phong cho ông. Xin xem lại mấy chữ: “Hoàng Mỹ Thượng Đế” trong Kinh Thi. Chẳng phải Đức Chúa Trời, là Chúa của trời đất, muôn vật, là Đấng dựng nên loài người, đáng thờ phượng, tôn vinh hay sao? Chúng ta đừng lầm tưởng mà nói rằng tôi cũng có thờ Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là Ngọc Hoàng Thượng Đế.

08. Lão Quân

Sách Cương Giám viết Lão Quân, họ Lý, tên Nhĩ sinh vào cuối đời nhà Châu, thuở Xuân thu. Ông làm sử quan lúc tuổi đã già nên gọi là Lão Tử. Lúc Khổng Tử đi chu du các nước, có sang nhà Châu, đàm luận về lễ với Lão Tử. Về sau, có người viết truyện Lão Quân, hư cấu rằng Lão Quân sinh ra thời nhà Ân (trước nhà Châu 400 năm), ở trong thai đến 82 năm, rồi phá hông bên phải của mẹ mà ra, râu tóc đều bạc, vì vậy mà có tên là Lão Tử.

Đến đời Cao Tông nhà Đường, vua lấy lý do mình họ Lý, thuộc dòng dõi của Lão Tử, sắc phong cho Lão Tử làm Huyền Nguyên Hoàng Đế. Đến đời vua

Chân Tôn nhà Tống, vua lại gia hiệu cho ông là Thái Thượng Lão Quân. Và cũng có nơi khác tôn xưng Lão Tử là Nguyên Thủy Thượng Đế, Nguyên Thủy Thiên Tôn nữa.

Lão Tử vốn là người, được sinh ra trong trời đất bình thường như bao nhiêu người khác. Thật là vô lý khi người đời tôn xưng ông là Nguyên Thủy Thượng Đế.

09. Tiên Thuật

Sử ngoại ký là nghi sử thời đại của Trung Quốc, có ghi lại câu chuyện phỏng đoán như sau: Vua Hoàng Đế đắc đạo, cỡi rồng bay lên trời trường sinh bất tử. Và trong truyện Phong Thần viết: Ông Khương Thái Công đắc đạo thành tiên, điều khiển các thiên tiên và địa tiên.

Đến thời Tiền Hán, ông Trương Lương nhận thấy vua Cao Tổ hay nghi kỵ công thần, sợ họa đến mình nên lập kế ẩn tu nơi am cốc theo tiên. Các học giả thời đó nghĩ tình ông là bậc cố tri, lại thêm người đời đơm đặt chuyện Hoài Nam Tử luyện thuốc thành tiên, nên họ cùng viết ra truyện bát tiên lấy tên của tám người là: Hà Tiên Cô, Lý Thái Bạch, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cựu, Lý Thiết Quái, Hàn Tương Tử, Lữ Đồng Tân, Hàn Chúng Ly. Những nhân vật này đều là người như chúng ta, cũng ăn, cũng làm, cũng sống, cũng chết, không có người nào trường sinh bất tử cả.

Có người hỏi rằng: Nếu không có tiên thì tại sao khi người ta cầu cơ, ông Lý Bạch giáng bút làm thơ với họ suốt đêm ngày?

Đáp: Chúng ta suy xét rộng một chút thì rõ việc người phụ đồng ứng cơ, hoặc giáng bút. Như tại vùng thôn quê, trong những đêm nhàn rỗi, có kẻ lớn người nhỏ, tụm ba tụm bảy lại mà sai roi, sai chổi, sai quạt, sai vung; có đồng tử đội khăn ngồi giữa, tứ phía có kẻ cầm hương, còn những người ngồi chung quanh đọc bài có vần, có nhịp, khi bổng, khi trầm, mùi hương phảng phất hòa quyện với tiếng ngâm nga lảnh lót lúc đêm vắng canh khuya. Cảnh vật này làm cho người ngồi đồng kinh khiếp, tinh thần mơ màng, rồi cử động khác thường một chút và hát lên một câu mà bình thường chưa từng hát.

Chúng ta thử nghĩ xem, vì Lý Bạch là người có linh hồn, nên họ cho rằng hồn ông ứng cơ. Còn những vật vô tri như cái quạt, cái vung, cái roi, cái chổi làm gì có linh hồn mà nhập xác phụ cơ? Thiết tưởng, việc cầu cơ chẳng qua chỉ là tà thuật lừa người chứ không có tiên, thánh nào áp phụ cho ai cả.

10. Quan Công

Quan Công nguyên họ là Thi, tên Thọ Xương, người làng Giải Lương, Châu Bồ tỉnh Sơn Tây nước Trung Quốc. Về sau ông đổi họ là Quan, tên Võ, hiệu là Vân Trường, làm tướng của vua Chiêu Liệt nhà Hậu Hán. Xem ông là trung thần của nhà Hậu Hán thì chính xác, còn như tôn xưng ông là một vị thần hộ quốc thì quá đáng. Đó là vì lúc Khổng Minh cử Quan Võ trấn giữ Kinh Châu, ông không thể giữ được, đã để mất Kinh Châu, còn bản thân mình thì bị giết chết. Như vậy, ông là người đã chết thì còn bảo hộ cho ai được nữa?

Về sau có người viết ra sách có tên là “Minh thánh kinh” và nói rằng sách này là của Quan Công giáng bút. Họ còn vẽ ra chuyện Quan Công hiện đang canh giữ cửa trời, có quyền giáng họa, ban phước. Tại sao chúng ta không suy nghĩ: Trương Phi là anh em kết nghĩa của Quan Công, thân hơn ruột thịt, mà vì báo thù cho Quan Công nên phải chết, và nhà Hậu Hán về sau cũng mất nước. Nếu thật sự Quan Công hiển linh, sao không hiển thánh mà giải cứu cho anh em mình và giúp nhà Hậu Hán giữ nước? Người đời thường nói Quan Công là thần giúp nước, cứu dân, tại sao lầm lẫn lớn như vậy?

Có kẻ biện luận rằng: Việc người anh em kết nghĩa của Quan Công chết và nhà Hậu hán bị diệt vong là do thiên số, không nên trách Quan Công.

Nếu nói rằng do thiên số, thì chúng ta phải biết thờ kính Đức Chúa Trời, là Đấng định thiên số ấy. Tại sao chúng ta lại thờ Quan Công, là người đã phải bó tay trước thiên số?

Chúng ta nhìn nhận Quan Công là người trung nghĩa, vì vậy chúng ta chỉ nên kính trọng và noi gương anh kiệt của ông. Còn như giết heo, giết gà, đồt vàng mã, đốt hương thờ cúng để mong nhờ Quan Công phù hộ là điều sai trái.

Hơn nữa, Quan Công là người chính trực, lúc ở với Tào Tháo ông còn chẳng màng đến việc lên ngựa thưởng bạc, xuống ngựa thưởng vàng, ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một yến lớn. Vì vậy, nếu thật sự ông có hiển linh thì chắc gì ông để mắt đến những lễ vật tầm thường của người trần vì lòng gian tham cầu cạnh? Vậy, Quan công là bậc trung nghĩa đáng học hỏi và làm theo chứ không nên thờ phụng, vì ông không có quyền phép bảo hộ cho ai được.

11. Thành Hoàng

Thành Hoàng nghĩa là cái hào ờ ngoài thành, vốn không có nghĩa gì là thần cả.

Xưa kia, vua nhà Tấn là Tư Mã Diêm nhận thấy quần thần thờ vua không trung, trị dân không nhân đức, nên cho vẽ tượng một người trung-thần của vua Cao Tổ nhà Hán, tên Quán Anh, để mang treo nơi các công sở cho các quan viên noi gương học hỏi. Không ngờ về sau, câu chuyện truyền khẩu sai lạc, người ta tôn xưng tượng ấy là vị thần giữ thành. Sau đó, các tỉnh, phủ, châu, huyện đều lập miếu thờ Thành-Hoàng. Lại có người đặt điều nói rằng Thành- Hoàng mỗi ba năm thay đổi một lần. Họ còn bịa chuyện có người chết đi làm Thành-Hoàng xứ này, có người chết đi làm Thành-Hoàng xứ kia. Một người nói ra, trăm người nghe và tin lấy được, không xem xét thực hư.

Không hiểu tại sao người ta có thể dễ tin điều dị đoan quái gỡ, còn Đấng Chân Thần Thượng Đế hay ban ơn xuống phước, thì họ không chịu tin kính, thờ phượng. Thật đáng thương!

12. Thổ Địa

Sách Tả truyện viết: “Xã là chủ thổ địa, phong làm Thổ công, xưng là Thổ thần.” Nhân việc đó về sau người ta thờ thần Thổ địa. Chúng ta thử suy xét: Xã là tên một chức quan có nhiệm vụ bình trị và cai quản đất nước. Vậy người cai quản đất nước là ai? Chính là ông Câu Long. Sách xưa viết rằng:

“Ông Câu Long ở đời vua Xuyên Húc, làm quan cai quản đất đai, bình trị đất nước, rất có công trạng.”

Vả lại, khi người chết đi thì chức vị phải giao lại cho người khác. Ông Câu Long có phải là người trường sinh bất tử đâu để sống đời cai quản đất đai được? Người đời không phân biện đúng sai, đắp tượng thổ địa đầu hói, bụng to, lại chọn ngày 23 tháng 3 làm ngày sinh thổ địa. Thật là một việc làm vô nghĩa và rất sai lạc.

Người ta thờ Thổ địa là cũng vì ý nghĩa trả ơn cho đất. Nhưng sao họ lại không nghĩ rằng dù từ đất sinh ra mọi vật cần dùng cho con người, nhưng tất cả đều do ân huệ và quyền phép của Đức Chúa Trời cả. Vậy mà họ không biết trả ơn Chúa mà trả ơn đất. Điều đó có khác nào có người được cha mình chia phần ruộng cho, lại không cảm ơn cha mà đi cảm ơn ruộng; thật là một việc làm phi lý.

13. Phật Thích Ca

Phật Thích Ca tên Siddattha Gotama, thuộc dòng dõi bộ tộc Sakya, sinh vào khoảng tháng 4 hoặc tháng 5 dl năm 624 trước Công Nguyên (có thuyết cho rằng năm sinh của Phật là 563), tại Lâm-tỳ-ni thuộc miền nam xứ Népal, có kinh đô là Kapilavastu. Ông là con một tiểu vương Ấn Độ tên là Suddhodana và bà Maha-Maya. Thái tử là một người thông minh, xuất chúng, học một biết mười, và là một người văn võ song toàn.

Năm 17 tuổi thái tử kết hôn với công chúa Yasodhara và có một con trai với bà. Dù vậy, ông vẫn nuôi trong lòng ý muốn xuất gia sau khi chứng kiến những cảnh tranh đấu giết hại lẫn nhau để tìm sự sống. Thái tử nghĩ rằng nguồn gốc của mọi đau khổ đều xuất phát từ lòng dục vọng của con người; từ đó phát sinh ra những phiền muộn, hung ác, xích mích và giết chóc lẫn nhau.

Qua những lần dạo chơi các cửa thành, thái tử chứng kiến cảnh một ông lão già nghèo, bệnh hoạn, chống gậy run rẩy khập khiễng đi ngang đầu xe của thái tử; một người bệnh nằm rên rỉ thảm thiết trong đau đớn bên lề đường trên phân và nước tiểu của mình; một xác chết bên vệ đường, thân xác trong tình trạng đang phân hủy rất hôi thúi, trông rất ghê tởm. Thái tử buồn rầu quay trở về cung suy nghĩ, tìm phương cách giải thoát cho bản thân mình và cho cả chúng sinh khỏi viễn cảnh sinh , lão, bệnh, tử của đời người. Năm 19 tuổi, thái tử quyết định rời bỏ cung điện tìm đường tu luyện.

Khởi đầu, thái tử đi sâu vào rừng, cắt tóc, mặc nâu sòng và trở thành một đạo sĩ dấn thân tìm đạo. Thái tử tìm đến các vị đạo sĩ Bà La Môn học hỏi phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, không thỏa lòng với phương pháp tu luyện của các đạo sĩ Bà La Môn, thái tử vào rừng thực hành tu ép xác trong sáu năm. Sau cùng, nhận thấy, lối tu khổ hạnh cũng chưa phải là con đường giải thoát, thái tử quay trở lại bờ sông Ni-liên. Sau khi uống một bát sữa dê của một tín nữ dâng cúng, thái tử ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề. Sau 49 ngày, thái tử nhận thấy mình đã hoàn toàn giác ngộ và tuyên bố đắc đạo.

Phật Thích Ca đắc đạo lấy hiệu là Như Lai. Sau đó Phật đến vườn Lộc Uyển nói pháp tứ độ cho năm ông Tỳ kheo (Kiều Trần Như, Ac Bê, Thập Lục Ca Diếp, Ma Ha Nam Câu Ly và Bạc Đề). Từ đó đạo Phật được rao truyền ra khắp thế giới có nhiều người tin theo.

Phật Thích Ca mất (nhập diệt) năm 81 tuổi.

Đời Minh Đế nhà Hán, đạo Phật đã khá phổ thông bên Trung Quốc. Đến đời nhà Đường, từ vua quan cho đến dân thường đều mê tín đạo Phật. Ông Hàn Dũ có lòng lo lắng cho hậu vận nước nhà, bèn dâng tấu sớ khuyên can vua rằng: “Đại chi đại nguyên xuất ư thiên; cớ sao không thờ Trời mà lại thờ Phật, để hại cho đời sau?” Thật đáng tiếc! Lời thật mất lòng, buổi sáng dâng tấu sớ, buổi chiều ông bị đưa đi lưu đày; chân lý đã không thắng nỗi cường quyền.

Nước ta vào đời nhà Đinh, vua mới sai sứ sang Trung Quốc thỉnh kinh Phật về thờ. Từ đó cho đến nay, dân chúng tin theo càng ngày càng nhiều. Họ quyên góp tiền bạc để xây chùa dựng miểu, tô tượng, đúc chuông để cầu phúc cầu lộc. Nhưng Phật Thích Ca không nói là Phật có quyền giáng họa, ban phúc cho ai được cả. Làm như thế chỉ góp phần làm sai lạc giáo lý của Phật mà thôi.

Phật Thích Ca vốn là một thái tử con vua, đã vì chúng sinh mà bỏ mình tìm đạo, tâm chí rất cao quý, rất đáng cho chúng ta cảm phục! Nhưng suy cho cùng Phật cũng chỉ là một con người trong thiên hạ, vẫn phải phục mệnh dưới quyền thiên số. Phật không thể tự cứu mình thoát khỏi sự tử thì sao có khả năng tế độ được cho người khác?

Kinh Phật cũng có chép: Lúc Phật lên 8, vua cha dẫn đến thiên miếu lạy Trời. Như thế đấy, sao chúng ta không noi gương Phật mà thờ lạy Đức Chúa Trời cho hợp lẽ đạo?

Vả lại, căn cứ theo giáo lý nhà Phật, thì loài người có ba điều xấu gọi là “Tam Độc.” Bất luận ai, muốn đạt đến Niết Bàn đều phải tự mình giải thoát khỏi ba cái độc ấy, chứ Phật không tế độ cho ai, vì Phật không phải là đấng cứu thế, mà chỉ là giáo chủ của một tôn giáo dạy đạo đức và luân lý mà thôi. Như vậy có khác nào bác sĩ, sau khi khám cho bệnh nhân thì cho biết: “Anh mắc phải ba chứng bịnh có thể chết là đau tim, đau gan và đau phổi.” Bệnh nhân lo lắng xin được cứu giúp, nhưng bác sĩ lại nói rằng: “Tôi không có cách gì cứu chữa anh được, tự anh phải điều trị sao cho dứt ba chứng bệnh ấy, tất nhiên

anh sẽ được mạnh khỏe trở lại và bình an.” Nghe như thế, ắt hẳn bệnh nhân sẽ phải rất đau khổ và thất vọng lắm.

Hoặc là có một người kia đang vỡ nợ, nhận được trát của tòa gia hạn trong vòng một thời gian ngắn phải hoàn trả đủ cả tiền vốn lẫn lời mới được bình yên vô sự; nếu không, sẽ chiếu theo luật mà định tội. Than ôi! Làm thế nào người ấy có thể trả được tất nợ? vì số nợ rất lớn mà tiền dành dụm lại quá ít? Chắc là người ấy sẽ vô cùng tuyệt vọng khi nhận được giấy báo.

Cũng như thế, việc lành người ta tạo được rất hiếm, mà việc dữ thì lại có dư. Nay làm sao người đời có thể mang số vốn lành ít ỏi ấy để trừ cấn qua số nợ tội lỗi quá nhiều? Người nào có trí biết suy xét chắc cũng hiểu là không thể được. Như vậy, giáo lý nhà Phật dạy một điều mà trọn một đời người cũng không thể nào thực hiện xong được.

Chỉ duy nhất Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của nhân loại. Ngài có quyền giáng họa, ban phước và cũng có quyền cứu vớt mọi kẻ có tội. Ngài rất yêu thương nhân loại, hơn cả người cha yêu thương con cái mình, Ngài không muốn người nào phải chết mất. Nhận thấy loài người không có cách gì để chuộc tội cho mình Ngài bèn lập ra một phương án cứu rỗi, vừa hợp lẽ công bình, vừa thể hiện lòng yêu thương. Ấy là Đức Chúa Giê-su Christ đã đổ huyết trên Thập tự giá chuộc tội cho loài người, hầu cho bất cứ người nào xưng nhận tội mình trước Đức Chúa Trời, và tin nhận Đức Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa, sẽ được tha thứ tất cả tội lỗi. Ấy cũng như kẻ mắc nợ được chủ nợ tha nợ, bệnh nhân gặp được bác sĩ giỏi, người đang đắm chìm giữa biển gặp được thuyền cứu vớt.

Xin quý độc giả kiên nhẫn đọc hết sách này sẽ biết rõ phương pháp cứu rỗi duy nhất ấy.

Tài liệu tham khảo:

– “Sự tích Đức Phật Thích Ca Mâu Ni” của tác giả Minh-Thiện Trần Hữu Danh

– “Sự tích Đức Phật Thích Ca Mâu Ni” của Ban Tu Thư Phật học

14. Thuyết Luân Hồi

Con giả nhân là loài thú chạy; con anh vũ là loài chim bay. Loài vật không thể sánh với loài người được, vì chúng khác nhau như trời với vực. Có câu rằng: “Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh.” Thế mà giáo lý nhà Phật lại đề xướng thuyết luân hồi, thật không hợp lý.

Đức Chúa Trời đã lấy đất tạo ra loài người; Ngài hà sinh khí vào lỗ mũi và người trở nên một loài sinh linh, tức là có linh hồn. Từ đó trở đi, loài người theo quy luật thiên nhiên: cha mẹ sinh con, con sinh cháu, có thể xác và linh hồn. Khi lìa trần, thể xác tan ra thành tro bụi, còn linh hồn thì trường tồn và phải ứng hầu trước Đấng Tạo Hóa để nhận chịu sự thưởng, phạt đời đời. Loài vật không như thế, vì chúng không có linh hồn, nên sau khi chết, thể xác tan rã, giác hồn cũng tiêu tan chứ không có việc đầu thai hay chuyển kiếp của loài vật.

Vả lại, Đức Chúa Trời đã định cho muôn vật, loài nào sinh sản theo loài ấy. Ngài cũng chúc phúc cho loài người sinh sản thêm nhiều đầy dẫy trên đất.

Như thế đó, không thể nào có việc luân hồi, chuyển kiếp được.

Nhà Phật còn dạy: “Một người lành khi chết đi sẽ được đầu thai làm người, còn kẻ ác phải sinh lại làm súc vật.” Như vậy, theo lập luận này, e rằng trong vòng 100 năm, chắc loài người không còn tồn tại trên đất này nữa vì trên thế gian người hiền lành lương thiện thì ít, mà người ác thì đầy dẫy! Nhà Phật cũng nói: “Đời này ăn bốn lạng thịt, kiếp sau phải đền thịt nửa cân.” Trên đời này, có ít người không ăn thịt, còn người ăn thịt thì nhiều, và trong đời đã ăn không biết bao nhiêu là thịt. Nếu phải trả nợ ăn thịt, thì họ phải trả đến kiếp nào mới xong? Các thánh hiền đời xưa cũng đã ăn thịt, như vậy họ phải đầu thai làm súc vật để trả nợ hay sao? Nếu như vậy, chắc hẳn loài người phải bị tuyệt diệt!

Có người hỏi: Nếu không có luân hồi, thì tại sao có kẻ giàu, người nghèo, kẻ sang, người hèn.

Đáp: Chúng ta phải biết rằng, trong xã hội mỗi người đều có một hoàn cảnh, thân phận khác nhau. Ông Mạnh Tử có nói: “Không có người làm quan, lấy ai cai trị người làm ruộng? Không có người làm ruộng, lấy ai nuôi người làm quan?” Đó là ý nghĩa thường tình trong thiên hạ, không quan hệ gì đến việc luân hồi. Người nào tin cậy Cứu Chúa, làm điều thiện, dù gặp hoàn cảnh nghèo hèn, nhưng linh hồn vẫn được lên Thiên Đàng. Người nào nghịch mạng Chúa, làm điều hung ác, dù được sống trong cảnh phú quý giàu sang, nhưng sau khi chết linh hồn phải sa vào hỏa ngục. Sự giàu sang hay nghèo hèn trong đời tạm này có chi đáng trọng, đáng khinh? Chúng tôi mong rằng một khi biết được cội rễ của loài người và muôn vật, thì quý vị sẽ không bị thuyết luân hồi làm sai lạc nữa.

15. Quan Âm

Kinh Quan Âm viết con gái thứ ba của vua nước Diệu Trang là Diệu Thiện, xuất gia đi tu ở chùa Bạch Tước. Khi vua cha biết tin, liền nổi lửa đốt chùa. Bà Quan Âm, tức Diệu Thiện, tay cầm cành dương tưới nước, ngồi chết trên tòa sen. Người ta nói rằng bà đã hóa thân thành Phật.

Nhưng, khi xem địa lý các nước hiện nay, ta không thấy có nước Diệu Trang. Nhà Phật nghĩ đàn bà dễ tin nên đúc tượng Quan Âm, phao tin rằng có phép cứu khổ cứu nạn, để mọi người cúng bái cầu phúc cầu lợi. Hậu quả là nhiều người tin theo mà không biết đó chỉ là một thông tin vô văn cứ. Người không con thì cầu Quan Âm bồng con, còn người khổ não thì cầu Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt. Than ôi! Chỉ có một Đấng có đủ quyền cứu khổ cứu nạn.

Ấy là Chúa của trời, đất, muôn vật. Tại sao chúng ta không tìm cầu Ngài mà lại đi cầu khẩn Quan Âm hữu danh vô thực?

16. Diêm Vương

Đức Chúa Trời dựng nên Thiên Đàng để tiếp nhận người lành, tạo ra hỏa ngục để giam chứa kẻ dữ. Việc thưởng, phạt đều tùy theo ý chỉ công minh của Ngài, không ai can thiệp được. Luận thuyết nhà Phật cho rằng địa ngục có mười tám trùng, có mười Diêm vương cai quản. Họ là: họ Tào, họ Ma, họ Vu, họ Tiết, họ Xương, họ Tiêu, họ Bao, họ Khấu, họ Hàn, v.v. Như vậy, mười vị chỉ cai quản mười trùng, còn lại tám trùng lấy ai cai quản?

Họ Bao vừa kể trên là ông Bao Chửng, còn gọi là Bao Công, làm quan phủ Khai Phong triều vua Nhân Tôn nhà Tống. Ông xử án rất công minh, không thiên vị ai. Dù phạm nhân là hoàng thân quốc thích, ông cũng trừng trị thẳng tay, không kiêng dè kẻ quyền thế. Dung mạo ông rất uy nghiêm. Thời đó người ta rất sợ ông nên đặt cho ông biệt hiệu là Diêm la Bao lão. Khi ông chết, có người đặt điều nói rằng ông ấy xuống làm Diêm Vương dưới địa ngục, cai quản sự chết và sự sống trên dương thế. Nói như thế là vô lý! Chúng ta thử đặt vấn đề: Trước khi chưa có Bao Công, ai cai quản địa ngục? Cho rằng Bao Công cai quản sự sống và sự chết của kẻ khác, vậy ai cai quản sự chết và sự sống của Bao Công?

Kinh Thi có chép rằng: “Sợ oai Trời,” lại cũng viết rằng: “Lớn thay Thượng Đế!” Vậy, xin quý vị hãy kính sợ duy nhất Đức Chúa Trời, là Đấng cai quản sự sống và sự chết của loài người.

17. Bà Chúa Ngọc và Bà Liễu Hạnh

Tại nước Việt Nam, nhiều người miền Bắc thờ bà Liễu Hạnh Công Chúa; người miền Nam thờ bà Chúa Ngọc.

Có tục truyền về bà Chúa Ngọc, rằng: Ở vùng biển, sát chân núi Khánh Hòa, có hai ông bà không con. Họ làm nghề trồng dưa. Có một buổi sáng nọ, ông ra thăm vườn, thấy một cô gái đẹp đang xách nước tưới rẫy dưa, liền bắt đem về làm con. Được vài năm, trong nhà xảy ra chuyện bất hòa, cô gái nhảy xuống giếng tự vận và biến hóa thành khúc gỗ kỳ nam trôi ra sông Bắc Hải.

Thái tử ở Bắc Hải vớt khúc gỗ mang về. Khúc gỗ lại biến hóa thành người con gái, kết làm vợ chồng cùng thái tử. Khi được mấy con, cô gái nhớ quê xưa nên rời bỏ chồng để trở về chốn cũ và hiển thánh tại đó. Nhiều phụ nữ mê tín tôn xưng nàng là Thiên Y Thần nữ và lập trang thờ phụng.

Bà Liễu Hạnh là con gái ông Lê Thái Công, người tỉnh Nam Định. Khi bà được sinh ra, người cha nằm mộng thấy con gái vốn là một công chúa trên trời đầu thai thành, nên đặt tên cho con là Giáng Tiên. Về sau cô gái kết hôn, sinh được một con. và chết năm 21 tuổi. Sau khi cô gái mất, có tin đồn rằng: Giáng Tiên rất linh thiêng, hiển hiện về nhiều nơi. Người làng xóm bèn lập miếu thờ phụng đặt tên hiệu là: Liễu Hạnh Công Chúa.

Chuyện tích của hai bà này rất hoang đường. Như bà Chúa Ngọc lúc được tìm thấy cũng chỉ là người bình thường, làm sao có thể biến hóa thành khúc gỗ? Từ khúc gỗ tại sao có thể trở thành người? Ấy chẳng qua chỉ là câu chuyện đồng bóng mơ hồ ở vùng thôn quê gần biển.

Còn đời sống bà Liễu Hạnh cũng giống như của bao nhiêu phụ nữ bình thường khác, không có công chúa nào ở trên trời xuống đầu thai? Đó chỉ do thân phụ của bà là người mê tín thuyết luân hồi, hoặc do ông nằm mộng thấy viễn vong, hoặc do ông cố ý thêu dệt ra câu chuyện để tăng giá trị cho con gái mình.

Như thế mà đa số phụ nữ miền Bắc mê tín tôn xưng bà Liễu Hạnh là chúa tiên độ mạng. Còn phụ nữ miền Nam nhận bà Chúa Ngọc làm mẹ sanh.

Thật là rất sai lầm! Tại sao các bà không thờ Đức Chúa Trời, là Đấng cầm quyền sinh tử, và nhờ ơn Ngài độ mạng và cứu vớt linh hồn cho?

18. Đạo Nho Và Đạo Tin Lành

Hỏi: Chúng tôi đã nghe những lời biện luận như trên, và đã biết Tin Lành là đạo chính, nhưng đạo Nho cũng là đạo chính, không xứng đáng tin theo hay sao mà phải theo đạo Tin lành?

Đáp: Ông Khổng Tử là người sáng lập đạo Nho, khi bàn luận về đạo có nói rằng: “Trời mạng gọi là tánh, noi tánh gọi là đạo.” Khi ông dạy thầy Tử Hạ về Đức Chúa Trời là Đấng Chủ Tể của muôn loài thì nói rằng: “Chết sống có mạng, giàu sang tại Trời.” Về cương thường, luân lý, ông dạy nhiều điều đáng làm chuẩn mực cho nhân quyền, xã hội; nhưng khi có kẻ bội thiên nghịch lý, ông không có quyền biến cải họ thành người tốt để thực hành những lời dạy dỗ quý báu ấy.

Còn Đức Chúa Giê-xu là Con Một của Đức Chúa Trời. Sự dạy dỗ của Ngài vượt trên các bậc thánh hiền. Lời của Ngài là Lời Sống và linh nghiệm, có quyền thay đổi lòng người, khiến họ từ kẻ xấu biến cải thành người tốt. Hơn hết, Ngài đã hy sinh thân mình trên cây Thập tự là giá chuộc tội cho loài người.

Ngài cũng đã từ kẻ chết sống lại nên có đủ quyền phép để cứu tất cả những người nào có lòng tin cậy nơi Ngài.

Suy cho cùng, Khổng Tử chỉ là một nhà hiền triết dạy luân thường đạo lý, còn Đức Chúa Giê-xu là Cứu Chúa của cả nhân loại. Như vậy, bất kể người nào đã học đạo Nho để biết cách sống ở đời, thì hôm nay cũng cần phải tin Đức Chúa Giê-xu để linh hồn được cứu.

Vả lại, nếu muốn hiểu thấu đáo lý lẽ này, thì chúng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa của chữ Nho là gì. Chữ Nho viết theo chữ trung Quốc là một từ ghép từ hai chữ : “Nhơn” và chữ “Nhu”; Nhơn là người; nhu là cần, vậy Nho là dùng để chỉ về những người có học lễ nghĩa biết phép tắc trong đối nhân xử thế, am hiểu nhiều vấn đề cổ kim và biết phân biệt chính, tà. Khổng tử, Mạnh Tử cùng các bậc thánh đế, minh vương đời xưa, là những Nho gia, cũng chỉ thờ có mỗi Đức Thượng Đế mà thôi, không thờ tà thần nào cả. Đấy là đạo Nho thật. Còn đa số người đời nay cho rằng mình theo đạo Nho, miệng tuy có đọc sách thánh hiền, mà tâm không thực hiện theo, phát ngôn thì tùy tiện không cần biết phép tắc lễ nghĩa, gặp gì cũng tin không phân biệt “Chân”, “Giả”, không suy xét chính hay tà, xu hướng theo thế tục, đốt nhang đèn, giấy tiền vàng bạc, làm ma chay cầu phước cầu lộc trước các tà thần. Như thế có thể nào gọi là đạo Nho được không? Những người xưng mình là đạo Nho như vậy chỉ làm mất giá trị đạo Nho của thánh hiền ngày xưa mà thôi.

Chúng tôi theo đạo Tin Lành thì không như thế. Chúng tôi được Chúa làm biến cải tấm lòng, không tin những điều dị đoan, mê tín, bác bỏ những tà thuyết. Chúng tôi vâng theo Lời Chúa đi theo đường chính đáng, xem người trong bốn bể như anh em một nhà, yêu thương, hòa thuận, đồng kính thờ một Chúa, một thần, điều gì tốt thì khuyên bảo nhau, điều sai quấy thì can ngăn nhau, sống ở đời nầy có được sự bình an thiên thượng, vui thỏa trong lòng, khi lìa trần linh hồn sẽ được lên Thiên Đàng, hưởng ân phước vĩnh viễn.

Vậy, chúng tôi mong quý vị hãy nhanh chóng tỉnh ngộ mà quay về cùng Chúa Thánh, tiếp nhận đạo Tin lành, chắc chắn, quý vị sẽ nhận được ơn cứu rỗi.

19. Thờ Lạy Ông Khổng Tử

Hỏi: Chúng tôi đã được nghe các ông biện luận, và biết các ông có học sách Khổng Tử. Các ông lại tự nhận mình là đạo Nho thật, vậy tại sao các ông không thờ lạy Khổng Tử?

Đáp: Ông Khổng Tử viết sách để dạy người đời sau. Ông cũng chỉ khuyên răn người ta lấy lòng kính sợ Đức Thượng Đế, chứ ông không hề bảo chúng ta phải thờ lạy ông. Như ông đã có viết: “Giao xã chi lễ, sở dĩ tự Thượng Đế dã,” có nghĩa là: “Lễ tế giao, tế xã để thờ Đức Thượng Đế,” chứ ông không nói: “Để mà thờ ta.” Lại cũng có nói: “Hoạch tội ư Thiên, vô sở đảo dã”. Xem như vậy, ông ấy vẫn kính sợ Đức Chúa Trời biết bao! Ông cũng đã nói: “Thiên sanh đức ư dư.” Ông Khổng Tử cũng do Trời sanh, sao quý vị không thờ lạy Trời (tức là Đức Chúa Trời), mà lại đi thờ lạy ông Khổng Tử?

Có người nói rằng: Khổng Tử là thầy của muôn đời, do đó chúng ta phải thờ lạy ông. Nếu quý vị nói như vậy thì trên Khổng Tử cũng còn có thầy nữa, như trong sách Tam Tự Kinh viết rằng: ”Trích Trọng Ni, sư Hạng Thác.” Nếu chúng ta thờ lạy Khổng Tử thì cũng phải thờ lạy cả thầy của ông nữa. Cứ như thế mà truyền mãi lên thì làm sao biết còn phải thờ lạy bao nhiêu thầy nữa? Do đó, chúng ta chỉ cần thờ lạy một Thầy Cao Cả vượt trên muôn vạn thầy khác, Đó là Đức Chúa Trời.

Nếu ông Khổng Tử còn sống, có lẽ ông cũng phải đồng thanh với Thánh Phao Lô mà la lên, khi thấy người ta cùng nhau thờ lạy mình rằng: “Hỡi các bạn sao làm điều đó? Chúng ta chỉ là loài người, chúng ta giảng Tin Lành cho các bạn, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia mà trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó.” (Công vụ 14:15)

Chúng tôi tôn trọng những lời dạy dỗ của ông Khổng Tử và thờ lạy Đức Thượng Đế. Còn đối với ông Khổng Tử, chúng tôi chỉ tôn kính mà thôi. Vì ai thờ lạy Khổng Tử, chẳng những mắc tội với Đức Chúa Trời, mà còn mắc lỗi với cả chính ông nữa.

20. Thờ Lạy Tổ Tông

Hỏi: Chúng tôi biết Đức Chúa Trời vẫn đáng để chúng ta thờ lạy, nhưng tổ tông là những người đã sanh thành ra chúng ta. Vì thế, chúng ta cũng không nên quên, như lời thầy Tăng Tử có nói: “Thận chung truy viễn, dân đức quí hậu hĩ.” Bây giờ các ông không thờ tổ tông vì lý do gì?

Đáp: Chúng ta muốn hiểu rõ lý do ấy, trước hết, phải hiểu nghĩa chữ tổ tông là gì? Chữ tổ là “bổn” (hay cội), tông là “côn” (hay rễ); cội rễ của loải người gọi là tổ tông. Chúng ta hãy bắt đầu từ bản thân mình mà tính lên cho đến nguyên tổ, rồi tự hỏi xem ai đã sinh ra nguyên tổ của loài người? Câu trả lời phải là: Trời sinh ra. Như vậy, nếu chúng ta đã biết Đức Chúa Trời là Cội Rễ, và là Tổ Tông của loài người thì, thờ kính Đức Chúa Trời là thờ kính tổ tông vậy, không thờ kính Đức Chúa Trời là đã quên bỏ tổ tông.

Sách Nho có câu: “Mộc hữu bổn, thủy hữu nguyên.” Nếu không có rễ thì sẽ không có cây, không có nhánh và lá. Nếu không có nguồn, thì sông sẽ cạn dòng. Nếu không có nguyên tổ thì cũng sẽ không có loài người ngày hôm nay.

Quý vị thờ lạy tổ tông được bao nhiêu đời? Thờ cúng trong gia đình thì cũng chỉ được hai ba đời, thờ trong dòng họ thì cùng lắm cũng chỉ được đôi mươi đời, không lẽ không còn tổ tông xa hơn nữa hay sao? Nếu không có tổ tông xa thì ai sinh ra tổ tông gần? Thế mà quý vị chỉ thờ tổ tông gần mà bỏ qua tổ tông xa thì có hợp với lẽ đạo hay không?

Chúng ta không thể nào thờ được đủ tất cà các đời tổ tông của loài người. Và cũng căn cứ theo điều răn của Đức Chúa Trời, chúng ta chỉ được thờ duy nhất có Ngài mà thôi. Ngoài Ngài ra, chúng ta không được thờ ai cả. Vì thế, chúng tôi chỉ thờ duy nhất Đức Chúa Trời, là Tổ Tông của tổ tông chúng ta.

Chúng tôi xin được giải nghĩa câu chữ: “Thận chung truy viễn” là thế nào. Thận chung có nghĩa: khi cha mẹ sắp qua đời, đạo nghĩa làm con là phải hết lòng cẩn thận chăm sóc cho họ qua đời êm ái. Sau đó, phải lo tang lễ cho chu đáo. Truy viễn nghĩa là tưởng nhớ công ơn nuôi dưỡng và noi theo sự dạy dỗ của tổ tông và cha mẹ. Quý vị chỉ thờ tổ tông đôi mươi đời, không thể gọi là truy viễn được. Muốn truy viễn, phải truy đến Cội Rễ của loài người. Cội Rễ ấy là Ai? Là Đức Chúa Trời vậy.

Vả lại, quý vị xem việc cúng giỗ như để bày tỏ tấm lòng hiếu kính tổ tông. Nhưng thật đáng tiếc, lúc ông bà cha mẹ còn đang sống, nhiều người vì bận việc làm ăn, mua bán, hoặc đắm chìm trong tửu, sắc, bài bạc, đã bỏ quên cha mẹ già yếu ở nhà, mưa mai không biết, nắng chiều không hay, đồ ăn ngon ngọt không cho ăn, lễ lạc viếng thăm cũng thiếu! Đến khi cha mẹ lìa trần, thân xác bị khâm liệm cứng vào trong quan tài, quý vị đến thắp hương, đốt vàng mã và mang heo, bò cúng tế trước quan tài rồi van vái ông bà cha mẹ về ăn. Quý vị nghĩ rằng làm như thế là thể hiện tấm lòng hiếu thảo. Thật ra việc làm đó không phải là hiếu thảo. Vì đồ cúng được bày ra chỉ để ruồi bu, kiến đậu, bụi bặm và tàn hương rơi rớt bám vào, đồ ăn để lâu bị thiu vữa mà chúng ta có thấy ông bà nào về ăn không? Đó là những việc làm vô ích. Nếu như có tổ tông về ăn thật, mỗi năm quý vị cũng chỉ cúng tế được một lần, còn những ngày khác không cúng thì tổ tông ăn gì? Hơn nữa, chỉ cúng tế tổ tông gần, còn tổ tông xa thì bỏ đói hay sao?

Chúng tôi theo đạo Tin Lành, trên chỉ thờ Đức Chúa Trời, dưới hiếu kính cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống, chúng tôi chu cấp nhu cầu hằng ngày cho người, chăm nom sức khỏe và lo thang thuốc những khi cha mẹ đau yếu. Đến khi cha mẹ qua đời, chúng tôi lo tang lễ đàng hoàng, và luôn luôn ghi nhớ công ơn. Đó là chúng tôi thực hành câu “Thận chung truy viễn” vậy.

21. Mộc Chủ, Bài Vị

Hỏi: Các ông nói các ông thờ Đức Chúa Trời tức là thờ kính tổ tông, nhưng tại sao các ông không lập mộc chủ, bài vị? Như vậy sao có thể gọi là thờ kính tổ tông được?

Đáp: Thờ kính tổ tông không phải do nơi việc lập mộc chủ, bài vị, vì bài vị là theo tập tục của người Trung Quốc xưa bày đặt ra chứ không phải do mạng lịnh của Chúa truyền dạy. Người xưa, khi cúng tế tổ tiên, dùng cháu làm thần thi. Người đứng tế phải cúng lạy thần thi như cúng tổ tiên. Về sau người ta cho rằng lập thần thi thì nhiều khi cha mẹ phải lạy con, anh phải lạy em, như vậy luân thường đạo lý bị đảo ngược. Do đó người ta thay thế bằng việc lập mộc chủ, bài vị. Như vậy, chúng ta biết rằng: lễ nghi do con người đặt ra, vì vậy con người cũng có thể thay đổi khi cần.

Cả hai việc lập thần thi, và lập mộc chủ, bài vị đều không nên. Nhưng nếu so sánh chúng với nhau, thì việc lập thần thi còn có ý nghĩa một chút, vì là huyết mạch của tổ tông, chứ còn mộc chủ, và bài vị chỉ là một khúc gỗ, là vật vô tri, vô giác mà đại diện cho tổ tiên mình thì có ý nghĩa gì không?

Chúng ta không nên lập mộc chủ, bài vị, vì việc làm đó có khi còn xúc phạm đến tổ tiên của chúng ta. Chúng tôi cũng đã chứng kiến nhiều gia đình trưng bày mộc chủ, bài vị giữa bàn thờ, theo thời gian, bụi bậm bám vào, mạng nhện giăng bủa, bài vị trở màu đen bẩn, trông rất gớm ghê. Chúng tôi cũng thấy có những gia đình trước kia giàu có, mua sắm khảm thờ thật đẹp, thật quí, để trưng mộc chủ, bài vị; đến lúc nghèo khổ nhà cửa sa sút phải bán cả khảm thờ, mộc chủ, bài vị đành phải mang đi gửi nhờ nhà họ hàng thân tộc.

Chúng tôi là những người có đạo thật, xem những vật ấy là những mảnh gỗ vô tri, không phải là nơi nương náu của vong linh tổ tiên cho nên không xem đó là quan trọng. Còn nếu quý vị xem chúng là nơi nương tựa của vong linh tổ tiên mình, khi thấy quang cảnh ấy, không phải quí vị thương tâm lắm hay sao?

Tổ tông chúng ta vẫn nên nhớ, nên kính, nhưng chỉ nên kỷ niệm trong lòng mình, không nên lập mộc chủ, bài vị mà thờ.

22. Đốt Giấy Tiền Vàng Bạc

Hỏi: Chúng tôi vẫn biết tiền vàng mã đốt đi không thể biến hóa thành tiền và vàng, bạc thật được. Tuy nhiên, làm vậy để bày tỏ tấm lòng hiếu thảo của chúng tôi đối với tổ tiên thì có hại gì?

Đáp: Như thế, quý vị xem việc đốt giấy tiền là có hiếu, và cho rằng chúng tôi không đốt giấy tiền là bất hiếu. Chẳng trách là tại sao thiên hạ phê bình chúng tôi là “theo đạo Tin lành không biết đạo hiếu là gì; cha mẹ qua đời mà con cháu không đốt được cho một ít giấy tiền vàng bạc.” Thật sự, việc đốt giấy tiền vàng, bạc của quý vị mới thật sự là bất hiếu.

Trước khi người ta đặt ra việc đốt giấy tiền, vàng, bạc thì ông bà ta lấy gì mà đốt? Không lẽ các bậc thánh hiền như Nghiêu, Thuấn, Khổng, Mạnh, đều bất hiếu cả hay sao? Theo Mạnh Tử, có năm tội bất hiếu:

1- Không nuôi nỗi cha mẹ vì lười biếng

2- Không nuôi nỗi cha mẹ vì cờ bạc, rượu chè

3- Không nuôi nỗi cha mẹ vì chỉ quan tâm đến của cải và vợ con mình

4- Làm nhục cha mẹ vì mê đắm sắc dục

5- Gây nguy hại đến cha mẹ vì hay gây sự đánh nhau với người khác.

Ông không hề nói không đốt giấy tiền vàng bạc là bất hiếu. Bất hiếu là chúng ta không vâng giữ đạo thánh hiền, không noi gương tiên vương, theo ý riêng bày đặt ra việc đốt giấy tiền vàng, bạc để lừa gạt cha mẹ và tổ tiên.

Chúng ta nên biết khi người ta chết, mỗi linh hồn đều phải nhận chịu sự thưởng, phạt trước Đức Chúa Trời: Nếu ai tin nhận Đức Chúa Giê-xu Christ, thì sẽ được lên Thiên đàng; ai không tin nhận Chúa và làm ác, phải sa xuống hỏa ngục. Trên Thiên đàng hưởng phúc vô tận, tro giấy vàng mã đốt lên, ông bà ta cũng chẳng dùng được việc gì. Còn dưới hỏa ngục chỉ có sự khóc lóc, rên xiết đau đớn mãi mãi, tro giấy gửi xuống chỉ là thứ vô dụng. Vả lại, người sống có thể xác, nên phải sử dụng những vật hữu hình, và cần dùng tiền để trao đổi hoặc mua thức ăn, thức uống để duy trì mạng sống. Sau khi đã chết rồi, thể xác đó được chôn xuống đất, sau này tan thành tro bụi, chỉ còn lại linh hồn là thể vô hình, ăn uống cưới gả gì được nữa, mà phải cần tiền? Vậy thì đốt giấy tiền vàng bạc chỉ là một việc làm gây lãng phí tiền của vô ích.

Có nhiều người đốt giấy tiền không phải vì tấm lòng hiếu thảo, nhưng mục đích là để cầu phúc, cầu lộc từ những người đã chết, vì họ muốn tổ tiên phù hộ cho mình làm ăn phát đạt, con cháu giàu sang, vinh hiển. Đó là ước muốn của người đời, nhưng cách thực hiện thì rất sai. Chúng ta thử nghĩ, khi ông cha ta còn sống, mong muốn cho con cháu được giàu sang thịnh vượng, nhưng không chắc có thực hiện được ý muốn hay không. Cũng có những bậc cha mẹ phải chứng kiến cảnh con cháu đau ốm sắp chết, lòng rất đau xót, nhưng không có phương cách gì cứu giúp cho được. Khi họ còn sống, mắt còn thấy, tai còn nghe, miệng còn nói được mà còn không cứu giúp gì được cho con cháu, huống hồ gì khi đã là người chết thì làm thế nào phù hộ được?

Sách Luận ngữ có câu: “Chết sống có mạng, giàu sang ở Trời,” chúng tôi chưa từng nghe ai nói chết sống, giàu sang là do việc đốt giấy tiền vàng bạc bao giờ.

Thật là cạn nghĩ khi chúng ta còn sống trên đời, mà không tin nhận Đức Chúa Giê-su Christ, không siêng năng làm việc mà chỉ lo xu hướng theo thế tục, làm những việc giả dối để cầu phúc cầu lộc.

23. Thế Nào Là Hiếu Thật

Hỏi: Nói ngắn gọn, việc thờ cúng tổ tiên là một việc làm thể hiện tấm lòng hiếu đạo, tại sao chúng ta phải bỏ đi?

Đáp: Thầy Tăng Tử nói rằng: “Giết trâu tế mộ không bằng giết con gà, con heo lúc cha mẹ còn sống.” Không có gì bằng tấm lòng hiếu thảo lúc cha mẹ còn sống vì chỉ làm con gà cho họ ăn cũng đủ làm họ vui lòng. Còn khi họ qua đời rồi, chúng ta có làm lễ tế trâu, cha mẹ cũng không ăn được. Như thế mà vẫn có những người đối xử tệ bạc với cha mẹ khi họ còn sống, nhưng lại rất hậu đãi khi cha mẹ qua đời như tục ngữ có câu: “Sống, một miếng chẳng cho ăn, chết làm văn tế ruồi.” Thật là một việc lạ!

Chữ hiếu của người theo đạo Tin Lành không phải do nơi việc cúng tế, mà do nơi những hành động cụ thể của họ. Khi cha mẹ còn tại thế, người theo đạo Tin Lành làm những việc làm thiết thực như: phụng dưỡng chu đáo, hiếu thảo cho vừa ý song thân. Nếu cha mẹ chưa biết Đức Chúa Trời, chưa tin nhận

Đức Chúa Giê-su, thì việc trước tiên, và thiết yếu nhất là chúng tôi làm chứng về Chúa, và khuyên giải song thân tin nhận Cứu Chúa để linh hồn được cứu rỗi.

Khi cha mẹ lìa trần, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, tài chánh và gia cảnh của mỗi gia đình mà chúng tôi tổ chức việc tang lễ trong tinh thần tiết kiệm cho hợp lý. Chúng tôi không mời những thầy xem quẻ, thầy địa lý, xem ngày giờ hoặc tìm long điểm huyệt cùng với các nghi lễ rườm ra, giả dối vô ích. Chúng tôi cũng thường xuyên chăm sóc mộ phần để phát hiện những hư hỏng mà sửa chữa kịp thời.

Vả lại, như thế nào mới gọi là hiếu thật? Nếu cha mẹ là người hiền đức, chúng ta phải noi theo tấm gương ấy; đó là “đạt hiếu” như Võ Vương ngày xưa.

Nếu cha mẹ không phải là những người hiền, chúng ta phải tránh phạm theo những sai lầm của người; đó là “đại hiếu” như vua Thuấn thuở xưa. Vì tấm lòng hiếu để ấy mà chúng ta đối xử tử tế với anh em mình, làm ơn cho họ hàng thân tộc. Rồi từ tấm lòng yêu quý trong phạm vi gia đình sẽ nảy sinh trong chúng ta một thứ tình yêu bao la hơn. Đó là tình yêu chủng tộc giống nòi, yêu đồng loại, yêu quê hương đất nước mình. Nhờ đó, chúng ta làm nên sự nghiệp lớn để thành người hữu ích cho xã hội và đất nước.

Nếu chúng ta so sánh chữ “hiếu” mà chúng tôi vừa phân tích, với chữ “hiếu” là cúng tế tổ tiên, thì chúng ta sẽ nhận thấy chân, và giả khác nhau như trời với vực.

24. Không Lạy Xác Chết

Hỏi: Sau khi nghe những biện luận bên trên, chúng tôi nhận thấy không nên lập mộc chủ, bài vị để thờ, không đốt giấy tiền vàng bạc. Nhưng khi cha mẹ qua đời, việc khâm liệm đã chu tất, con cháu phải lạy để bày tỏ lòng thương tiếc mới phải lẽ. Các ông không lạy là vì sao?

Đáp: Khi cha mẹ đã lìa trần, linh hồn không còn ở trong thể xác, hoặc đã được rước vào nước Thiên Đàng hưởng phúc, hoặc phải sa xuống địa ngục để nhận chịu án phạt. Thi thể còn lại chỉ là một cái xác vô tri, bất động, quý vị lạy lục để làm gì? Dù con cháu có lạy đến mòn đầu gối, xác chết cũng không có chút xao động nào để đáp trả lại tình cảm thương yêu của quý vị dành cho.

Vả lại, khi cha mẹ còn sống, nếu quý vị có muốn lạy, quý vị cũng không lạy người khi người còn ngủ. Vì lúc ngủ, linh hồn vẫn còn trong thân thể, mà quý vị còn không lạy nữa. Huống gì khi người chết, linh hồn đã lìa khỏi thể xác, còn thi hài chỉ là một thể vô tri, vô giác thì quí vị lạy có ích gì không?

25. Đức Chúa Trời

Hỏi: Các ông theo đạo Tin Lành, thờ kính Đức Chúa Trời; vậy Đức Chúa Trời là Ai?

Đáp: Đức Chúa Trời không phải là trời, không phải là đất, không phải lý, không phải khí, không phải tánh, không phải người, không phải vật, không phải quỷ thần mà là Đấng Chủ Tể tạo nên trời, đất, muôn vật và loài người.

Ngài là Chúa của mọi dân tộc, là Vua của muôn vua, Ngài không có sự đầu tiên, không có cuối cùng. Ngài trọn tài, trọn trí, trọn lành, Ngài là Đấng Chí Tôn không ai sánh bằng.

Chúng ta thử nghĩ: Con có cha, nhà có chủ, nước có vua, sông có nguồn, thân thể có đầu, cây có rễ. Nếu con không có cha, thì ai là người sinh dưỡng?

Nếu nhà không có chủ thì ai là người bảo quản chăm sóc? Nước không có vua sẽ không có người cai trị, và nước loạn. Sông không có nguồn, sông sẽ cạn dòng. Thân thể không có đầu sẽ chết. Cây không có rễ, cây sẽ phải khô héo.

Cũng như vậy, nếu không có Đức Chúa Trời, tất sẽ không có vũ trụ và vạn vật như ngày hôm nay. Người quân tử xem thấy ngọn thì biết gốc, xét lý lẽ biết rõ nguồn cơn. Cho nên, chúng ta nhìn thấy trời, đất, muôn vật và loài người thì tất nhiên phải biết rằng có một Đấng Tạo Hóa.

26. Đức Chúa Trời Trọn Tài, Trọn Trí, Trọn Lành

Hỏi: Tại sao các ông cho rằng Đức Chúa Trời trọn tài, trọn trí, trọn lành?

Đáp: Đức Chúa Trời từ trong hư không mà tạo nên trời, đất, muôn vật.

Ngài không sử dụng tài liệu, không phí công, nhọc sức. Ngài phán điều gì thì có điều đó. Ngài phán sanh ra thì có sanh ra. Ngài phán bảo chết thì có sự chết. Vì thế chúng tôi tôn xưng Ngài trọn tài.

Không những Đức Chúa Trời chỉ tạo dựng nên trời, đất, muôn vật, mà Ngài còn am hiểu tất cà những đặc tính của muôn vật trong trời đất. Vì thế, Ngài mới có thể đặt để muôn vật vào đúng vị trí, đồng thời bảo toàn mọi vật bền vững lâu dài. Ngài nhìn thấu rõ tất cả các việc lành, dữ trong nhân gian kể cả những ý tưởng kín giấu trong lòng của mỗi người. Do đó, chúng tôi tôn xưng Ngài là trọn trí.

Đức Chúa Trời là Gốc của tất cả các điều lành, là Nguồn của mọi điều tốt đẹp, không kém, không thiếu chút nào cả. Tất cả những cái đẹp đẽ trong trời, đất và muôn vật đều từ Đức Chúa Trời mà đến. Vì thế chúng tôi tôn xưng Ngài là trọn lành.

27. Đức Chúa Trời Dựng Nên Người Dữ

Hỏi: Các ông nói Đức Chúa Trời là Đấng trọn lành, tại sao lại tạo dựng ra kẻ ác?

Đáp: Đức Chúa Trời là Đấng Chân Thần. Ngài phú cho loài người vốn có bản tính tốt. Ấy như thầy Mạnh Tử nói rằng: “Tính người vốn lành, cũng như tính chất của nước thường chảy xuống chổ thấp, không có người nào là người không lành, không có nước nào là nước không chảy xuống chổ thấp.”

Đức Chúa Trời ban cho loài người quyền tự chủ, nghĩa là chọn điều lành hay điều dữ là tùy ý mỗi người. Vì có sự tự chủ nên người ta vẫn biết điều lành là tốt, và điều ác là xấu; nếu không, thì người ta đâu màn đến việc tu tâm dưỡng tánh để lập công đức? Người ta làm ác là vì tự họ muốn làm ác chứ không phải do Đức Chúa Trời dựng nên như vậy. Cũng như cha mẹ, ai cũng muốn con mình là người hiền lành tử tế. Nhưng nếu có đứa ngổ nghịch, không vâng lời dạy dỗ của cha mẹ, là tại nó chứ không có cha mẹ nào muốn con mình như vậy.

Có người lại hỏi: Vì cha mẹ là những người trần thế không có quyền phép, cho nên dù có muốn con mình nên người tốt, cũng không làm được. Còn Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, Ngài làm được mọi việc, tại sao Ngài không khiến cho tất cả mọi người đều tốt lành, đúng theo ý chỉ trọn vẹn của Ngài?

Đáp: Dù Đức Chúa Trời có quyền phép làm được mọi việc, nhưng Ngài không xem chúng ta như nô lệ. Ngài không bắt buộc chúng ta phải làm điều này hay điều kia. Ngài cũng không đối xử với chúng ta như với loài thảo mộc vô tri, đặt đâu thì ở yên nơi đó, bảo sao hay vậy. Nhưng Ngài xem loài người

cao quý hơn vạn vật, vì đã ban cho chúng ta linh tánh, ý chí, lương tâm biết phân biệt điều thiện và điều ác và quyền tự chủ để chúng ta có tự do lựa chọn con đường của riêng mình. Trả lại cho sự ban cho đó, trong ngày cuối cùng, mỗi người sẽ phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời cho sự chọn lựa của mình lúc còn sống.

28. Chân Thần Sinh Ra Thú Dữ

Hỏi: Các ông nói Chân Thần là Đấng trọn lành, sinh ra muôn vật để nuôi dưỡng loài người, tại sao Ngài lại còn sinh ra những loài thú dữ, loài rắn rít, sâu bọ để làm hại con người vậy?

Đáp: Những loài thú dữ, loài rắn và các loài sâu tuy có gây hại cho người, nhưng cũng hữu ích cho người. Vì sự hiểu biết của chúng ta còn nông cạn, chưa thông suốt đặc tính của các loài nên không hiểu rõ sự ích lợi của chúng. Thí dụ như xương cọp, mật gấu, rắn rít, bò cạp, cũng có khi được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Đấng Chân Thần đã tạo ra chúng và những cảnh vật tốt tươi xinh đẹp trong trời đất để tõ rõ quyền năng siêu phàm của Ngài.

Cũng như có ánh sáng mà không có bóng tối, thì làm sao có ngày và đêm? Có màu trắng, không có màu đen, thì sao ta có thể phối hợp được năm sắc màu?

Có vị ngọt, không có vị đắng thì làm sao ra được năm mùi vị?

Vì thế cho nên, vạn vật, không phân biệt lớn, nhỏ, tốt, xấu, tất cả đều hữu ích cho chúng ta. Có những loài thú hiền lành để giúp chúng ta làm điều lành để được thưởng. Có loài thú hung dữ để răn đe chúng ta không làm điều ác mà phải bị phạt. Chỉ tại chúng ta không suy xét lý lẽ ấy mà thôi.

Kinh Thánh có chép rằng: “Vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài, vinh hiển cho Ngài đời đời vô cùng!” (Rô-ma 11:36)

Vả lại, thuở ban đầu, tất cả các loài thú đều phục tùng con người. Về sau, vì loài người phạm tội không tuân phục Đức Chúa Trời, bị xa cách khỏi Ngài, nên một số loài thú biến đổi thành hung dữ và gây hại cho loài người.

Sau này, trong nước Hòa Bình do Đức Chúa Giê-su thành lập trên mặt đất, các loài thú dữ sẽ biến cải trở lại thành hiền lành và phục tùng loài người.

29. Một Chúa Cai Quản Cả Trời Đất Muôn Vật

Hỏi: Nhờ các ông giải thích, chúng tôi đã biết chỉ có một Đức Chúa Trời.

Nhưng, trời đất rộng bao la, muôn vật nhiều như thế. Chỉ có mỗi mình Chúa thì làm sao cai quản cho xiết?

Đáp: Cả vủ trụ này chỉ có một Chúa mà thôi, cũng như quốc gia chỉ có một người đứng đầu, gia đình chỉ có một người làm chủ, thân thể chỉ có một cái đầu. Nếu một nước mà có hai vua, thì nước ấy sẽ loạn; gia đình có hai chủ thì gia đình phải chia rẽ; thân thể có hai đầu, thì thành ra quái nhân.

Thầy Mạnh Tử có nói rằng: “Trời không có hai mặt, dân không hai vua.”

Từ đó chúng ta suy ra, trời đất chỉ có một Chúa Chí Tôn mà thôi, không thể có hai được.

Có người lại nói rằng: Trong nước chỉ có một vua thì đúng rồi, nhưng cũng cần phải có các quan lại dưới quyền để giúp vua cai trị nước. Như vậy, dù chỉ có một Đức Chúa Trời nhưng cũng cần có các thần khác để giúp Ngài cai quản vũ trụ này chứ!

Xin Đáp: Chúng ta không thể so sánh vua dưới trần với Chúa của vũ trụ được, vì vua cũng là người, nên không thể đồng một lúc chia thân ra để hiện diện khắp mọi nơi. Vua cũng không thể thông hiểu và làm được mọi việc, do đó vua phải cần có các quan lại dưới quyền làm tai, mắt, vi, cánh để giúp vua cai trị đất nước.

Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, là Chúa Cao Cả, là Đấng Toàn Năng, thông suốt hết mọi việc trên trời dưới đất. Ngài làm được tất cả, hiện diện cùng lúc ở khắp mọi nơi, mọi chốn. Ngài nghe và thấy tất cả những việc lớn nhỏ, kể cả những việc kín giấu trong tận đáy lòng của một người, như thánh hiền đã nói: “Đức Chúa Trời nhìn người, người đừng hai lòng” và cũng có câu: “Người đời nói riêng, Trời nghe như sấm.” Như vậy, Đức Chúa Trời cần gì phải có các thần khác làm tai, mắt cho Ngài để cai quản vũ trụ? Với quyền phép thiên thượng, duy nhất chỉ mình Ngài cai quản và bảo tồn vũ trụ cho đến ngày hôm nay.

Đức Chúa Trời rất xứng đáng để chúng ta thờ phượng, và chúng ta chỉ nên thờ duy nhất chỉ mỗi mình Ngài mà thôi. Ngoài ra chúng ta không cần thờ bất cứ thần nào khác cả.

30. Chân Thần Bởi Đâu Sinh Ra?

Hỏi: Các ông nói tất cả vũ trụ này đều do Đấng Chân Thần tạo nên, như vậy chỉ có một Chúa. Lý lẽ này chúng tôi đã thông hiểu. Vậy chúng tôi xin hỏi:

Đấng Chân Thần từ đâu sinh ra?

Đáp: Chân Thần là Nguồn Gốc của muôn loài, nhưng về phần mình thì không có nguồn gốc, vì Ngài là Đầu Tiên của muôn vật, nhưng tự mình Ngài thì không có đầu tiên. Nếu Chân Thần còn phải sinh ra từ một Đấng nào khác, thì Ngài không còn là Chân Thần độc nhất vô nhị nữa.

Vả lại, Đức Chúa Trời sanh ra muôn vật. Khởi sự từ muôn vật mà kể lên đến Đức Chúa Trời là tột bậc rồi, không còn chổ để kể lên nữa. Như vậy, quý vị hỏi ai sanh ra Đức Chúa Trời là một câu hỏi rất vô lý! Chúng ta thử quan sát loài cây cỏ: hoa lá mọc ra từ nhánh, nhánh mọc ra từ thân cây, thân cây ra từ rễ cây, rễ là cội của cây. Chúng ta không thể hỏi dưới rễ cây còn có gì nữa, vì nó là tột cùng rồi. Cũng như thế, Đức Chúa Trời là rễ của cả cây. Có lý nào chúng ta lại còn hỏi: “Ai sinh ra Đức Chúa Trời?”

Chúng ta thử truy xét phả hệ của loài người. Người ta được sinh ra từ cha mẹ, cha mẹ sinh ra từ ông bà, ông bà sinh ra từ ông bà cố, cứ như thế mà kể mãi lên đến ông kỵ, ông cao, ông cao cao tổ, ông viễn viễn tổ ở đời thượng cổ, có lẽ không thể kể sao cho hết được. Cuối cùng, chúng ta phải chấp nhận rằng: Kể từ khi trời đất được tạo dựng nên, chắc chắn phải có một người nam và một người nữ, rồi từ đó sinh sãn ra dòng dõi loài người đông đúc cho đến ngày hôm nay. Người nam và người nữ ấy là nguyên tổ của loài người. Vậy nguyên tổ của loài người do ai sinh ra? Chúng tôi xin thưa rằng: Ấy là do Đức Chúa Trời tạo nên. Như vậy, chẳng những Chân Thần là Cội Rễ của trời, đất, muôn vật, mà còn là Tổ Tông của loài người. Như thế đó, loài người không thờ kính Ngài mà được sao?

31. Chân Thần Không Có Cuối Cùng

Hỏi: Chúng tôi hiểu rõ Chân Thần không có đầu tiên, và Ngài là Đầu Tiên của muôn vật. Nhưng chúng tôi xin hỏi thêm: Các ông nói Chân Thần không có cuối cùng nghĩa là gì?

Đáp: Bất cứ vật gì đã có cuối cùng, tất phải có đầu tiên, như xác thịt của loài người và của loài thú, có sinh ra, thì có chết. Nhưng Chân Thần là Đấng vô hình, vô tượng, đã không có đầu tiên thì làm sao có cuối cùng. Vậy nên chúng ta xưng Ngài là Đấng trọn tài, trọn trí, vô thủy, vô chung, là Đấng hằng sống đời đời vô cùng.

32. Không Nhìn Thấy Chân Thần Được

Hỏi: Xin các ông cho biết có người nào đã thấy Đức Chúa Trời chưa?

Đáp: Chúng ta nên biết Đức Chúa Trời mà chúng tôi thờ lạy chính là Đức Thượng Đế mà các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh thường đề cập đến. Đức Chúa Trời là đấng vô hình, vô tượng như trong Kinh Thi đã viết: “Các việc trên trời không tiếng, không hơi.” Sách Trung Dung cũng có viết: “Xem mà không thấy, lắng mà không nghe, cho nên người quân tử răn giữ chổ mình không thấy, e sợ chổ mình không nghe.”

Nếu không có một Đấng Chân Thần vô hình, vô tượng, vậy việc người quân tử răn giữ, e sợ đó là việc gì? Vả lại, nếu dùng lý trí mà phán đoán, dù không nhìn thấy, chúng ta vẫn phải tin có Đấng Chân Thần Chủ Tể vạn vật; cũng như dù chúng ta không nhìn thấy tổ tông các đời trước, nhưng có ai dám cho rằng đời trước không có tổ tông sao?

Người sáng suốt chỉ cần suy lý lẽ mà biết đến nguồn cơn. Cũng như khi chúng ta nhìn thấy ngôi nhà thì biết có người thợ xây dựng; nhìn thấy ánh sáng thì biết có mặt trời; thấy khói thì biết có lửa; thấy quốc gia có luật pháp thì biết có chính phủ; thấy vũ trụ và vạn vật thì biết có Đức Chúa Trời. Giả sử không có tổ tông, làm sao có con cháu? Không có thợ xây dựng thì sao có cái nhà? Không có mặt trời thì không có ánh sáng; không có lửa sẽ không có khói; không có chính phủ thì không có luật pháp. Cũng như vậy, nếu không có Đức Chúa Trời, thì vũ trụ và vạn vật này từ đâu mà có?

Kinh Thánh chép rằng: “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời” (Thi-Thiên 14:1). Người khôn ngoan dùng lý trí mà suy xét, nếu hợp lý thì tin, vô lý thì không tin.

Cũng như người Việt Nam tin rằng Hùng Vương là tổ của nước mình, nhưng đã có ai từng thấy mặt Hùng Vương chưa? Vậy, khi nghe chúng tôi nói rằng có một Chân Thần, tức là Đức Chúa Trời đang tể trị vũ trụ và vạn vật, quý vị hãy dùng lý trí mà suy xét, lấy Kinh Thánh chứng minh để đến kết luận rằng phải có Đức Chúa Trời. Có thể nào người khôn ngoan không tin được hay sao?

33. Đức Chúa Trời Tức Là Thượng Đế

Hỏi: Dân Việt Nam từ xưa đến nay vẫn sùng bái đạo Nho, nhưng trong Nho học, chúng tôi không thấy nói đến Đức Chúa Trời là Chân Thần, tại sao các ông lại đặt điều như thế?

Đáp: Như chúng tôi đã nói trong các bài trước, Đức Chúa Trời mà chúng tôi thờ lạy đây tức là Thượng Đế mà trong các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh thường nói đến. Còn về danh xưng Chân Thần thì ý nghĩa của nó cũng không khác với danh xưng Thượng Đế. Vì trong nhân gian có quá nhiều thần giả hiệu, nên chúng tôi thêm chữ “Chân” vào chữ “Thần” (tức Chân Thần) để phân biệt với giả thần. Vua các nước lớn được gọi là Đế, vì thế, chúng tôi thêm chữ “Thượng” vào (tức là “Thượng Đế”) để tôn Ngài lên trên tất cả các vua.

Kinh Thi có câu: “Khắc phối Thượng Đế.” Thầy Chu Tử giải nghĩa như sau: “Thượng Đế là Đấng Chủ Tể trên trời.” và cũng trong Kinh Thi viết: “Hữu Hoàng Thượng Đế.” Thầy Trình giải nghĩa: “Nói về hình thể, thì gọi là Trời; nói về quyền chủ tể, thì gọi là Thượng Đế.” Cả hai lời giải thích trên đều có cùng một ý nghĩa với danh hiệu Chân Thần. Vì vậy Đấng Chân Thần mà hiện nay chúng tôi đang thờ kính chính là Đức Thượng Đế mà các thánh hiền đời xưa kính thờ.

Thật đáng tiếc! Người đời thường vi phạm điều răn thứ ba, trong số mười điều răn của Chúa là, lấy danh Ngài làm chơi; đây là một trọng tội. Có người xưng Ngọc Hoàng là Thượng Đế, lại có kẻ xưng Chân Vũ là Thượng Đế, cũng có kẻ xưng Lão Quân và Hiệp Thiên là Thượng Đế. Do đó, chúng tôi phải dùng danh hiệu Chân Thần để phân biệt với các tà thần. Vả lại, Lão Quân sinh vào đời nhà Châu, Ngọc Hoàng sinh vào đời nhà Hán. Hiệp Thiên sinh vào đời Hậu Hán, Chân Vũ thì đến triều Minh mới được phong. Những nhân vật ấy là những người thường như chúng ta, có sống, có chết. Trước khi các ông ấy được sinh ra, thì đã có trời, đất và muôn vật, thì tại sao các ông ấy có thể làm chủ tể trời, đất, muôn vật này được? Tôn xưng họ là Thượng Đế là điều vô lý.

Khi đọc Ngũ Kinh và Tứ Thư, chúng ta chỉ thấy các bậc thánh hiền thờ kính Đức Thượng Đế, chứ không thấy ai thờ Lão Quân, Ngọc Hoàng, là các tà thần. Trong Kinh Thi có chép lời vua Thang, rằng: “Ta sợ Đức Thượng Đế,” và lời của Võ Vương rằng: “Ta kính vâng Đức Thượng Đế để ngăn loạn lạc.” Còn ông Khổng Tử thì nói: “Lễ Tế giao, tế xã để thờ Đức Thượng Đế.” Cũng còn nhiều câu chữ đề cập đến Thượng Đế nữa, nhưng không thể nào kể hết được.

Chúng tôi chỉ nêu ra vài câu điển hình để chứng minh rằng các bậc thánh hiền ấy chỉ kính thờ và tin cậy một Đấng Chân Thần Thượng Đế mà thôi, và cũng để chứng tỏ chúng tôi tin đạo thật, thờ Đức Thượng Đế, tức là Đức Chúa Trời, là hợp theo lời dạy của thánh hiền vậy.

Chú thích của người hiệu đính:

Ngày nay, người ta không dùng danh xưng “Thượng Đế” để xưng gọi Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của muôn loài muôn vật, mà chỉ dùng để gọi nhiều tà thần của các ngoại giáo. Trong Đạo Giáo Trung Quốc, Thượng đế là một vị thần cai quản trên cao, điều hành cõi thần linh, còn được gọi là Ngọc Hoàng. Trong Hồi Giáo, Thượng đế là Allah. Trong Ấn Độ Giáo, Thượng Đế là Brahma. Trong đạo Cao Đài, Thượng Đế là Cao Đài Tiên Ông. Trong Phật Giáo, Thượng Đế là Đế Thích.

34. Thiên Đàng, Hỏa Ngục

Hỏi: Các ông tin có Thiên Đàng là nơi hạnh phúc đời đời để ban thưởng cho người hiền, có Hỏa Ngục là nơi khổ hình để trừng phạt kẻ dữ, nhưng trong các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh không thấy có nói đến hai nơi đó. Vậy, tại sao các ông lại tin?

Đáp: Người đời bây giờ, đọc sách xưa không thông hiểu cho tường tận ý nghĩa, rồi cho rằng người xưa chưa hề nói đến Thiên Đàng, hỏa ngục. Đấy là lầm lớn. Chúng ta hãy xem Kinh Thi nói rằng: “Tam hậu tại Thiên,” (nghĩa là “Ba vua ở trên trời”) và “Văn vương trắc, giáng tại Đế tả hữu” (nghĩa là “Văn

Vương lên xuống ở bên trái và bên phải của Thượng Đế.” Ấy là nói về Thiên Đàng đó. Quý vị xem các câu trích dẫn trên đủ biết người xưa cũng đã công nhận có Thiên Đàng rồi. Vì nó rất xinh đẹp và vui thỏa, không có từ nào diễn tả cho được nên chúng ta gọi nơi chốn đó là Thiên Đàng.

Có Thiên Đàng thì cũng phải có hỏa ngục, vì có ban thưởng, tất nhiên phải có trừng phạt. Những người tôn thờ Đức Chúa Trời và tin nhận Đức Chúa Giê-su đã được lên Thiên Đàng rồi, còn những kẻ gian ác, vô đạo cũng lên Thiên Đàng được sao? Chắc chắn phải xuống hỏa ngục. Hỏa ngục là nơi ma quỷ và linh hồn những tội nhân bị hình phạt đời đời không suy giảm và không bao giờ chấm dứt.

35. Linh Hồn Bất Diệt

Hỏi: Người ta chết thì cũng như ngọn đèn đã tắt, còn đâu có linh hồn để được thưởng hay chịu phạt?

Đáp: Loài người khác với loài cầm thú, vì loài người được Đấng Chân Thần phú ban cho linh hồn. Nhờ đó loài người có cảm xúc và biết phân biệt điều thiện và điều ác. Linh hồn trú ngụ trong thân thể cũng như người ta ở trong cái nhà. Khi linh hồn lìa khỏi thể xác, thân xác bị hư hoại và phân hủy nhưng linh hồn thì trường tồn. Nếu linh hồn của một người tiêu tan sau khi người ấy chết đi, vậy thì làm điều thiện lúc còn sống có lợi ích gì và làm ác có hại gì? Nếu làm việc lành khó hơn làm việc ác chi bằng ta chọn việc làm ác cho dễ hơn không?

Thuở xưa, ông Nhan Hồi là người làm việc thiện mà lại yểu mạng, còn Đạo Chích chuyên làm điều ác mà sống lâu. Nếu quý vị cho rằng con người không có linh hồn, vậy có ai còn nghĩ đến làm việc thiện như Nhan Hồi? Có người cho rằng: làm việc thiện không phải vì linh hồn mà là vì muốn lưu danh muôn đời. Nếu vậy, dù cho danh tiếng có được lưu lại ngàn đời đi chăng nữa, nhưng một khi thể xác đã tan theo bụi đất, thì danh tiếng ngàn thu ấy có đủ để bù đắp lại những chịu đựng, khổ ải lúc chúng ta còn tại thế hay không? Chúng ta thường chứng kiến cảnh người lương thiện bị hoạn nạn, kẻ hung ác được sung sướng. Nếu chúng ta cho rằng không có linh hồn, vậy sau khi chết sẽ không có báo ứng. Nếu vậy chẳng phải con người được tự do làm điều ác hay sao? Vậy, chúng ta phải tin rằng có linh hồn bất diệt, và lưới Trời không để một ai thoát khỏi cả.

Người đời vì không biết có sự báo trả cho linh hồn sau cái chết, nên khi làm việc thiện, mong muốn bản thân mình được đền đáp ngay lúc còn trên dương thế, hoặc con cháu mình sẽ được báo đền. Nếu không đạt được điều mong muốn, ý chí làm lành của họ sẽ nguội lạnh dần dần, và về sau có thể họ sẽ đổi thành kẻ ác. Đó là lỗi vì không biết rằng mình có linh hồn.

36. Thiên Sứ, Ma quỉ, Và Linh Hồn Người Ta

Hỏi: Người ta chết thành ma quỉ, như vậy ma quỉ cũng có thể chuyển đổi làm kiếp con người; lý luận này có đúng không?

Đáp: Thiên sứ, loài người và ma quỉ là ba loài khác nhau. Vì nhiều người không hiểu rõ căn nguyên nên thường lẫn lộn, Thiên sứ và ma quỉ đều vô hình, vô tượng. Trước khi Đức Chúa Trời tạo nên loài người, Ngài đã tạo ra các Thiên sứ để phục vụ Ngài. Trong số các Thiên sứ mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên, có một vị tên Satan. Vị này ỷ thế mình tài giỏi, quyền phép cao cường nên sinh lòng kiêu căng. Satan kết đảng với một số thiên sứ phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời bèn trừng phạt đám thiên sứ phản loạn ấy và giam vào hỏa ngục để chịu hình phạt đời đời; đó là ma quỉ. Còn các thiên sứ khác không nhập bọn với bầy thiên sứ phản loạn ấy được ở lại với Đức Chúa Trời nơi Thiên quốc.

Sau khi Đức Chúa Trời trừng phạt đám thiên sứ phản nghịch đó, Ngài mới tạo dựng nên loài người giống hình ảnh của Ngài. Ngài tạo ra một người đàn ông tên A-đam, và một người đàn bà tên Ê-va. Từ bụi đất, Ngài đã tạo ra thể xác loài người và hà linh khí vào. Do đó người trở nên một loài sinh linh, tức là giống loài có linh hồn. Đức Chúa Trời truyền dạy loài người phải biết kính mến và vâng lời Ngài thì sẽ được hưởng phúc vô tận. Nếu người nào rời bỏ Chúa và làm điều ác, sau khi chết phần xác, linh hồn phải sa xuống hỏa ngục, là nơi Đức Chúa Trời dành sẵn cho ma quỉ, để nhận chịu hình phạt đời đời.

Không còn có việc đầu thai chuyển kiếp đi đâu khác nữa cả.

Đấy là nguồn gốc, lai lịch của thiên sứ, ma quỉ, và linh hồn người ta.

37. Ma Quỉ Ở Thế Gian

Hỏi: Có những người có tà thuật thường làm được những việc quái lạ trên thế gian. Nếu không có sự giúp sức của ma quỉ, chắc họ không thể làm được những điều như thế. Nếu Chúa biết ma quỉ ở thế gian này vẫn theo cám dỗ loài người, tại sao Ngài không nghiêm cấm chúng và biệt giam luôn dưới hỏa ngục?

Đáp: Mục đích của ma quỉ là hãm hại loài người cùng chịu chung số phận về sau với chúng. Vì kỳ hạn để trừng phạt ma quỉ chưa đến, do đó Đức Chúa Trời để chúng tạm trú trên thế gian. Ngài cho phép chúng đi đây đi đó để lôi kéo những người ác, hoặc rèn thử người hiền. Đức Chúa Trời, là Đấng Toàn Năng, Ngài tận dụng cơ hội này để làm ích lợi cho loài người. Chúng tôi xin đưa ra những thí dụ như sau:

1. Có nhiều người không tin có ma quỉ, cho đến khi chúng nhập vào thân xác họ và điều khiển họ làm những việc kỳ quái. Và, một khi đã nhận có ma quỉ, tất nhiên phải tin có Đấng Chân Thần. Nhờ vậy mà họ sẽ tỉnh ngộ và lánh xa ma quỉ để tìm kiếm Đức Chúa Trời.

2. Đức Chúa Trời đã không tiếc gì các thiên sứ nghịch mạng mà ấn định chúng phải nhận chịu án khổ hình đời đời nơi hỏa ngục, thì không có lý nào Ngài lại bỏ qua không trừng phạt những kẻ trái nghịch mạng Ngài. Do đó, người đời biết ăn năn hối hận mà trở lại quy phục Ngài.

3. Ma quỉ cũng được sử dụng để rèn luyện người tốt, như lửa luyện vàng, càng luyện, tuổi vàng càng cao. Nếu không có ma quỉ cám dỗ thì làm sao xác định được người trung thành với Chúa?

Vả lại, dù cho ma quỉ được quyền cám dỗ loài người phạm tội, nhưng chúng không có quyền bắt ép loài người làm ác. Nghe theo chúng hay không là tùy ở sự quyết định của mỗi người. Hơn nữa, Đức Chúa Trời luôn giúp sức cho loài người đối địch cùng ma quỉ. Ngài ban cho người ta lẽ thật Tin Lành và dạy cho họ cách thức để chiến thắng chúng nó.

Chúng ta là những chiến sĩ của Chúa, cần phải chiến thắng ma quỉ ở thế gian để thẳng tiến lên Thiên Đàng. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức mà cầu nguyện, nhờ vào sức toàn năng của Đức Chúa Trời để khỏi rơi vào mưu chước cám dỗ của ma quỉ, và đánh trận tốt lành mà lĩnh mão triều thiên của sự sống.

38. Sự Công Bình Của Đức Chúa Trời

Hỏi: Các ông nói Đức Chúa Trời rất công bình, cứ làm việc lành thì được thưởng, làm điều ác thì chịu phạt; nhưng tại sao có những người lương thiện lại ở trong hoàn cảnh khổ sở, kẻ hung ác thì sống trong sung sướng? Như thế sự công bình của Đức Chúa Trời ở đâu?

Đáp: Làm lành được thưởng, làm ác phải chịu phạt, đó là điều chắc chắn, không còn gì để nghi ngờ. Kinh Thi có chép rằng: “Noi lành thì được lành, theo nghịch thì mắc dữ, như bóng và vong.” Và cũng nói: “Đạo Trời xuống phước cho kẻ lành, xuống họa cho kẻ dữ.” Luật thưởng việc thiện, phạt điều ác thời nào cũng như thế, không hề thay đổi. Nhưng chúng ta cũng phải biết rằng Đức Chúa Trời giáng họa không phải chỉ trong đời này mà còn hình phạt ở đời sau nữa.

Vả lại, chúng ta không thể nhận biết một cách tuyệt đối điều gì gọi là thiện. Thiện thật tức là không vi phạm bất cứ một điều răn nào của Chúa; từ tư tưởng cho đến lời nói, hành động đều tuân phục hoàn toàn ý chỉ của Chúa. Nếu có một chút gì không hợp thì chưa phải là thiện. Vì vậy, có những việc chúng ta nhận thấy là thiện, nhưng đối với Đức Chúa Trời thì lại là ác, vì Ngài thấy được tận đáy lòng của chúng ta. Chúng ta đã không có khả năng nhận biết chính xác được thiện và ác, thì sao chúng ta có thể phán đoán được việc thưởng ấy, phạt ấy là đúng hay sai?

Và cũng còn điều này nữa: Thế gian này chỉ là cỏi tạm, vì thế vinh hoa, phú quý, hoạn nạn và bần cùng trên đời cũng chỉ là tạm chứ chưa hẳn là phúc hay họa thật; phúc thật và họa thật chỉ có sau khi linh hồn rời khỏi thân xác.

Có người gian ác, nhưng cũng làm được một vài việc thiện; Đức Chúa Trời mang vinh hoa, phú quý, là phúc tạm của đời này mà ban cho, để tưởng thưởng những việc thiện ấy. Chỉ đến lúc người ấy lìa trần, Ngài mới lấy hình phạt đời đời nơi hỏa ngục mà báo trả cho những việc ác mà người ấy đã làm.

Còn những người tin theo Chúa, tuy sống đời sống chân chính, hiền lành, nhưng cũng khó tránh khỏi vấp phạm đôi chút tội lỗi. Chúa lấy hoạn nạn, bần cùng là họa tạm của đời này mà trừng phạt cho chút tội lỗi ấy để người tỉnh ngộ. Sau khi người ấy lìa trần Chúa mới mang phúc thật đời đời nơi Thiên đàng mà ban cho để thưởng cho người. Như vậy, không phải là Đức Chúa Trời rất công bình hay sao? Vì thế cho nên mói có chuyện người ác sống trên dương thế lại hưởng sung sướng, vì đến khi lìa trần họ mới phải chịu khổ hình nơi hỏa ngục. Do đó mà có những người theo Chúa đã phải cam chịu khổ nạn nơi dương thế để khi chết sẽ được hưởng phúc vô tận.

Người đời không thông suốt lý lẽ thưởng, phạt như thế nào, không biết thế nào là phúc thật, họa thật nên oán trách Đức Chúa Trời không công bình.

Nhưng chúng ta nên biết: Ngọc có dồi mài mới nên của quý, người có cùng khốn, vất vả mới tìm đến Đức Chúa Trời và tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-su để được hưởng phúc trọn vẹn nơi Thiên Quốc. Có thể như người bất tài mà muốn nên danh phận hay sao?

Chúng tôi là những môn đệ thật của Chúa Giê-su. Lúc còn sống trên dương thế thì chúng tôi lo việc rao truyền đạo thật. Mặc dù bị bắt bớ, vu cáo, khổ sở muôn điều, nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm nhịn nhục cho đến ngày cuối cùng, hầu mong hưởng được phúc thật mãi mãi nơi Thiên Đàng.

39. Sự Nhân Từ Của Đức Chúa Trời

Hỏi: Chúng tôi nhận thấy kẻ ác trên đời thường hãm hại người lương thiện. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng công bình, tại sao Ngài không tiêu diệt hết kẻ ác để báo thù cho người lương thiện?

Đáp: Đức Chúa Trời rất công bình, nhưng Ngài cũng rất nhân từ. Vì công bình Ngài muốn trừng phạt kẻ ác, nhưng vì nhân từ Ngài cũng muốn tha thứ.

Đức Chúa Trời lại rất hiếu sinh, do vậy mà trời, đất, muôn vật và loài người đã được dựng nên nhờ sự nhân từ của Ngài. Đức Chúa Trời cũng có quyền thưởng, phạt, và linh hồn của mỗi người đều phải nhận chịu sự phán xét ấy. Ngài thể hiện sự công bình trên chính linh hồn của mỗi người. Chúa lấy sự nhân từ đối xử với loài người, vì thế kẻ gian ác vẫn được Ngài vẫn khoan dung. Ngài làm vậy với mục đích là cho họ cơ hội để ăn năn, cải hối, tin nhận Cứu Chúa Giêsu, từ bỏ việc làm ác và làm điều thiện hầu cho linh hồn của họ được cứu.

Nhưng có nhiều người bị tội ác bám rễ quá sâu. Dù đã được đạo thật dạy dỗ nhưng cho đến chết họ cũng vẫn không thể từ bỏ cái ác được. Sau khi họ lìa trần Chúa mới thực hiện sự công bình mà trừng phạt họ, vì nếu Ngài xử phạt kẻ gian ác lúc họ còn tại thế, sợ rằng người lương thiện sẽ bị liên lụy. Tỉ dụ như có một người cha gian ác mà sinh được con hiền (hoặc ngược lại), phạt cha thì con sẽ đơn chiếc. Cũng như vậy, chúng ta thử liên kết các trường hợp khác như anh em, vợ chồng. Vì nhổ cỏ thì hại đến lúa, lễ gai thì chạm đến thịt, chi bằng cứ chờ cho đến lúc cỏ và lúa cùng lớn lên, lúa sẽ được “thâu trữ vào kho, còn cỏ lùng thì đốt trong lữa chẳng hề tắt”.

Như vậy, chúng ta biết Đức Chúa Trời ở cả hai khía cạnh: nhân và nghĩa.

Chúng ta phải cảm tạ ơn Ngài, e sợ sự trừng phạt của Ngài, nhanh chóng tỉnh ngộ, ăn năn, thờ kính Đức Chúa Trời, và tin cậy Đấng Cứu Thế để linh hồn được cứu đời đời.

40. Chúa Sinh Người Có Thứ Bậc

Hỏi: Các ông nói Đức Chúa Trời rất công bình, nếu Ngài mang tất cả những của cải trên đất này chia đều cho mỗi người, để người nào cũng có được phần như nhau, không có kẻ giàu, người nghèo, như vậy chẳng tốt hơn hay sao?

Đáp: Đức Chúa Trời tạo dựng ra loài người, có kẻ giàu, người nghèo, mới thành ra một xã hội được. Ngài thường dùng sự giàu và nghèo mà báo trả cho cách sống và đối xử của con người: Nếu làm người mà giữ gìn được lòng thành, làm nhiều việc thiện, biết sống tiết kiệm không xa hoa lãng phí, không ngại sự khó nhọc, ắt hẳn có thể trở nên giàu có được. Còn nếu người giàu mà đối xử hung ác, hãm hại người lương thiện, sống nếp sống xa xỉ, hoang dâm vô độ, vẫn có thể trở thành nghèo khổ. Sự giàu và nghèo của đời người thường luân chuyển như thế đó.

Đức Chúa Trời tạo ra chúng ta, mỗi người đều có đầy đủ tứ chi, nội tạng và trí óc để làm ăn sinh sống. Trong xã hội có bốn loại nghề nghiệp: sĩ, nông, công, thương. Nếu Đức Chúa Trời sinh ra tất cả mọi người đều giàu cả, vậy ai là người làm thợ và ai làm nghề nông? Không có người làm thợ thì các vật dụng sinh hoạt lấy ở đâu ra để chúng ta sử dụng? Không có nông dân thì ai là người cày ruộng để chúng ta có thóc lúa mà ăn? Không có các vật dụng cho sinh hoạt, không có gạo ăn, chúng ta sẽ chỉ như là loài cầm thú. Còn nếu Đức Chúa Trời tạo ra tất cả loài người đều nghèo cả thì ai sẽ là người có tiền để thuê thợ? Không có người bỏ tiền kinh doanh, người nghèo chắc sẽ rất khốn khổ vì không ai có thể nhờ được ai cả. Do vậy mà Chúa khiến có kẻ nghèo, người giàu, người giàu có của, kẻ nghèo có công, mọi người nương nhờ nhau mà sống. Người xưa có câu: “Quân tử nhọc lòng, tiểu nhân nhọc sức.” Xã hội mà không có kẻ giàu người nghèo thì không còn là xã hội của loài người nữa, và chúng ta cũng giống như một loài trong số các loài cầm thú mà Chúa đã dựng nên.

Vả lại, Đức Chúa Trời dựng nên loài người cũng như người thợ gốm nắn nên những cái chậu có lớn, có nhỏ, hình thức khác nhau tùy nhu cầu sử dụng.

Cái chậu không thể trách người thợ gốm: “Sao đã làm nên tôi như vậy?” Vậy thì chúng ta có thể oán trách Đức Chúa Trời được sao khi Ngài dựng nên người ta có giàu, có nghèo? Hiểu được như thế, dù chúng ta rơi vào hoàn cảnh nào, giàu hay nghèo cũng nên giữ tấm lòng vui vẽ mà thuận theo ý Chúa. Sách Luận ngữ chép rằng: “Người quân tử lo đạo, chẳng lo nghèo.” Đó là một tư tưởng rất hay chúng ta nên học theo để tiếp nhận đạo của Đức Chúa Giê-xu.

41. Thờ Lạy Đức Chúa Trời Cách Nào?

Hỏi: Nếu muốn thờ lạy Đức Chúa Trời thì chúng tôi phải làm như thế nào?

Đáp: Để thờ lạy Đức Chúa Trời, quý vị không cần phải xây cất đền, đài hay đúc tượng, vì Ngài hiện diện khắp mọi nơi. Quý vị cũng không cần phải dùng vật tế lễ hoặc các lễ vật khác như nhang, đèn, hoa quả, v.v. vì Đức Chúa Trời rất giàu có. Ngài không ngụ trong đền đài do tay người làm nên. Ngài lấy trời làm ngai, lấy đất làm bệ chân. Ngài không cần dùng những vật thực mà con người cần dùng. Ngài có muôn vật để ban cho loài người. Do đó Đức Chúa Trời chỉ muốn người ta lấy tâm thần mà thờ lạy Ngài, tại bất cứ nơi đâu, vào lúc nào cũng đều được cả.

Nhưng vì trong cõi lòng của mỗi con người tự nhiên đều mang mầm mống của tội lỗi, nhơ nhớp, không xứng đáng làm nơi để thờ phụng Đức Chúa Trời, cho nên việc đầu tiên là mỗi người chúng ta phải tự nhận biết mình là một tội nhân đáng gớm ghiếc. Chúng ta phải thật lòng hối cải ăn năn tội, và nhờ vào ơn cứu chuộc của Đức Chúa Giê-su Christ vì Ngài đã phải chịu đổ huyết trên thập tự giá để trả thay cho món nợ tội lỗi của chúng ta. Như vậy, lòng chúng ta mới được tẩy sạch, nhờ đó chúng ta mới có thể lấy đức tin mà tiếp cận với Đức Chúa Trời và hòa hợp với Ngài được. Chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Giê-su, là Đấng đưa dẫn con người đến với Đức Chúa Trời, như Ngài đã phán: “Ta là Đướng Đi, Lẽ Thật, và Sự sống; chẳng bởi ta, thì không ai được đến cùng cha” (Giăng 14:6).

Trước mỗi bữa ăn, chúng ta phải cảm tạ Chúa đã nuôi dưỡng mình, cầu xin Chúa ban phước cho những vật thực chúng ta đưa vào cơ thể, để khi chúng ta ăn vào thì thân thể và tâm linh được mạnh mẽ, sức lực gia tăng để hầu việc Chúa cho tròn bổn phận.

Chúng ta có thể ở một mình trong phòng riêng, hoặc tại nơi thanh vắng, quỳ gối mà cầu nguyện. Hoặc cùng với gia đình tổ chức sinh hoạt nhóm mỗi ngày hai buổi, có thể vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối tùy theo điều kiện và hoàn cảnh riêng của mỗi gia đình. Chúng ta hát những bài thánh ca tôn vinh Chúa, đọc vài đoạn Kinh thánh, cầu nguyện trình dâng những vấn đề của mình lên cho Chúa. Sau cùng, để kết thúc buổi lễ, một người sẽ cầu nguyện chung cho cả gia đình, còn những người khác phải đồng lòng hiệp ý với người cầu nguyện.

Vào ngày Chúa nhật (ngày thứ 7 trong tuần lễ), chúng ta đến nhà thờ hợp chung với các anh chị em tín hữu để thờ phượng Chúa. Chúng ta cùng hát những bài thánh ca và cùng nhau cầu nguyện trình dâng lên Chúa mọi nan đề trong đời sống. Sau đó, chúng ta nghe mục sư giảng luận và cùng nhau học hỏi

Lời Chúa để cùng tỉnh thức trong Chúa và được sự yên ủi.

Tóm lại, việc thờ phượng Đức Chúa Trời chỉ như thế.

42. Đức Chúa Giê-su Cao Trọng Hơn Các Thánh Hiền

Hỏi: Đức Chúa Giê-su có phải là một vị thánh hiền ở ngoại quốc không?

Đáp: Danh hiệu Giê-su có ý nghĩa là “Cứu Thế.” Ngài có tên là Giê-su vì có nguồn gốc từ trên trời và là Con Đức Chúa Trời giáng thế để chuộc tội cho nhân loại. Nếu so sánh với các thánh hiền, chúng ta sẽ thấy Ngài cao trọng hơn bội phần, xét về tài năng, sự dạy dỗ và công ơn của Ngài đối với con người.

Tài năng: Mặc dù các thánh hiền tài đức vượt trội hơn người khác rất nhiều, nhưng họ cũng chỉ là những người trần thế, sự khôn ngoan và kiến thức có giới hạn, còn rất nhiều lẽ nhiệm mầu trong trời đất họ chưa biết rõ ràng.

Hơn nữa, tất cả các thánh hiền đều phải trải qua một quá trình học tập gian khó mới có được kiến thức hơn người, chứ không phải những hiểu biết đã sẳn có từ trong lòng mẹ, sanh ra là đã biết rồi. Duy nhất chỉ có Đức Chúa Giê-su, là Đấng có sự khôn ngoan, thông sáng của Đức Chúa Trời; Ngài vốn biết sự mầu nhiệm của trời đất mà không cần học hỏi từ nơi nào cả.

Sự dạy dỗ: Các thánh hiền đời xưa dạy người tu sửa mình, chăm lo việc nhà, việc nước, cùng cương thường, lễ nghĩa, v.v. Tất cả đều chỉ là những việc thuộc đời này, những việc đối nhân xử thế. Còn việc thờ phượng Đấng Tạo Hóa, sự chuộc tội lỗi, sự sống lại, sư phán xét thế gian, là những việc thuộc về

Chúa và đời sau, họ không hề nói đến. Cho nên chúng ta không thể xem họ là toàn tri được. Như vậy chúng ta không thể so sánh Đức Chúa Giê-su với các thanh hiền được, vì những gì các thánh hiền nói đến, Đức Chúa Giê-su cũng đã nói, nhưng những điều các thánh hiền không nói đến, Đức Chúa Giê-su đã tỏ ra cho chúng ta rồi.

Công lao: Các thánh hiền đời xưa chỉ lấy lẽ đạo dạy dân, lấy con người mình dẫn dắt người làm thiện chứ không thể hy sinh thân mình để chuộc tội cho loài người. Đức Chúa Giê-su lấy lẽ đạo dạy dỗ muôn dân, dùng thân mình dạy người làm thiện, và Ngài cũng hy sinh thân mình để chuộc tội cho loài người khiến họ nên thánh và linh hồn được cứu. Ngài chỉ phán một lời mà người mù được sáng mắt, người đau được lành, người đã chết được sống lại.

Ngay cả biển đang dậy sóng mà bị Ngài quở cũng phải lặng yên. Đức Chúa Giê-su làm được những việc lạ lùng ấy, còn các thánh hiền có làm được không? Đức Chúa Giê-su làm những phép lạ ấy không phải như người ta dùng tà thuật. Ngài không thực hiện các phép lạ ấy trong bóng tối không ai chứng kiến, mà đã làm giữa công chúng và giữa nơi thanh thiên bạch nhựt, không phải bằng phù phép mà bằng quyền năng của Đức Chúa Trời. Ngài làm những việc ấy không phải để đạt được danh tiếng cho mình, nhưng vì Ngài thương xót loài người và muốn qua những việc làm ấy người ta tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế để linh hồn được cứu.

Những sự việc chúng tôi vừa nêu trên cũng đủ để quý vị biết Đức Chúa Giê-su cao trọng hơn tất cả các thánh hiền trong thiên hạ.

43. Đức Chúa Giê-su Chuộc Tội Loài Người

Hỏi: Đức Chúa Giê-su đã là Con Đức Chúa Trời, tại sao lại bị người ta đóng đinh trên cây thập tự?

Đáp: Tất cả mọi người trên thế gian này đều là tội nhân, đáng bị trừng phạt. Có người ý thức được điều đó nên ra sức lập công đức để chuộc lại tội lỗi, nhưng không thể nào được, vì tội trước chồng chất đã nhiều chưa có cách gì trả được, tội sau lại cứ gia thêm mãi lên. Một người dù cho để cả cuộc đời làm công đức cũng không có chút công đức dư thừa nào để đền cho những tội lỗi đã phạm. Cũng ví như người mắc số nợ quá lớn, về sau dù có mua bằng tiền mặt cũng không thoát khỏi mắc nợ. Vì vậy Đức Chúa Giê-su chịu chết trên cây thập tự là để chuộc tội cho loài người.

Có người nói rằng: “Loài người phạm tội, Chúa muốn tha thì tha, còn không tha thì phạt, sao lại khiến Đức Chúa Giê-su chuộc thay làm gì?”

Xin Đáp: Đức Chúa Trời vừa công bình, vừa có tình yêu thương. Nếu vì loài người phạm tội mà trừng phạt tất cả thì Ngài không có lòng yêu thương; còn nếu tha hết không phạt thì Ngài không công bình. Vì vậy Ngài khiến Đức

Chúa Giê-su giáng thế trả án thay cho nhân loại. Như thế Ngài đã thể hiện được tình thương yêu của Ngài đối với nhân loại, vừa thực hiện được lẽ công bình.

Đời xưa có câu chuyện: Vua nước Hy lạp trách mắng thái tử rằng: “Ta đã ra lệnh người nào trái luật mà hành dâm sẽ bị móc mắt. Nay con vi phạm lịnh ấy, nếu theo luật xử tội con thì ta không đành lòng, còn nếu vị tình riêng mà tha cho con thì ta còn ra lệnh cấm được ai nữa? Nếu con biết hối cải, ta sẽ tự móc một mắt mình thế cho con.” Vua bèn móc một con mắt của mình và truyền lệnh móc một con mắt của thái tử. Thái tử cảm tạ ơn cha và kể từ đó ông trở nên một minh quân.

Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta cũng như vậy. Nhưng thật đáng tiếc vì có nhiều người không biết ăn năn hối lỗi, nhận ơn cứu chuộc như vị thái tử kia.

Từ xưa đến nay, nhiều trung thần, nghĩa sĩ chịu chết vì nước đều được thiên hạ ca tụng. Huống hồ Đức Chúa Giê-su chịu chết cho toàn thể nhân loại; chúng ta nên cảm tạ Ngài về ơn nghĩa ấy, tin cậy và thờ kính Ngài. Làm vậy mới phải lẽ.

44. Câu Chuyện Đức Chúa Giê-xu Là Thật

Hỏi: Các ông nói rẳng Đức Chúa Giê-xu đã chết và sống lại sau ba ngày, nhưng sự việc ấy có thật không?

Đáp: Sự tích Đức Chúa Giê-xu là thật vì có nhiều bằng chứng rõ ràng và thuyết phục:

1- Các nhà tiên tri, có người sống trước Đức Chúa Giê-xu vài trăm năm, có người cả ngàn năm, được Đức Chúa Trời soi dẫn viết nên Kinh Thánh Cựu Ước. Được sự mạc khải của Ngài, họ đã báo trước Đấng Cứu Thế sẽ giáng sinh tại đâu, thuộc dòng dõi ai, chịu nhục hình ra sao, sống lại và thăng thiên như thể nào. Tất cả đều ứng nghiệm nơi Đức Chúa Giê-xu.

2- Từ buổi ban đầu, Đức Chúa Trời e sợ loài người không hiểu rõ giáo lý của sự chuộc tội, nên Ngài đã truyền lịnh dâng bò, chiên làm tế lễ để ám chỉ về ơn chuộc tội. Về sau, Đức Chúa Giê-xu hy sinh mạng sống trên thập tự giá để làm ứng nghiệm sự dạy dỗ ấy; nghĩa là chính mình Ngài trở nên của lễ chuộc tội cho loài người.

3- Khi Đức Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết và lên trời, Ngài truyền dạy các môn đồ làm chứng về sự sống lại và thăng thiên của Ngài. Họ đã nghiêm túc thực hiện lệnh truyền của Ngài, đã tận lực đi rao truyền về sự mắt thấy tai nghe cho dù bị khổ hình, tra khảo, thậm chí bị giết, cũng không từ nan. Nếu chẳng phải chính mắt mình đã xem thấy Chúa sống lại, các môn đồ của Ngài đã chẳng tội gì hy sinh thân mình để làm chứng nhân cho sự việc này.

4- Các môn đồ thường tố cáo tội của người Do Thái vì lòng đố kỵ và ganh ghét mà giết Đức Chúa Giê-xu. Vì tội ấy mà dòng dõi dân Do Thái bị tản lạc khắp trên đất, chịu biết bao hoạn nạn, bắt bớ, tàn sát, đúng như lời tổ phụ họ đã thề nguyền: “Xin huyết Người [Đức Chúa Giê-xu] lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!” (Ma-thi-ơ 27:25). (Tuy nhiên, ngày nay một phần Do Thái đã trở về khôi phục tổ quốc, lấy quốc hiệu là “quốc gia Do Thái.” Điều này chứng minh lời tiên tri trong Kinh Thánh là thật và ngày Đức Chúa Giê-xu tái lâm không còn xa nữa.)

5- Có nhiều nơi trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước ghi chép những biến cố liên quan đến các nước. Ngày nay, nếu chúng ta đối chiếu các biến cố này với lịch sử các nước, thì thấy tất cả đều phù hợp.

6- Ngày nay, có nhiều người đến nước Do Thái nghiên cứu lịch sử về truyện tích Đức Chúa Giê-xu, rồi đối chiếu với Kinh Thánh, thì thấy các chi tiết đều phù hợp.

7- Con người văn mình ngày nay có thể đi vòng quanh thế giới dễ dàng.

Vì thế, họ có thể sưu tra để minh xác các sự việc được ghi chép trong Kinh thánh. Nếu đạo Đức Chúa Giê-xu không phải là đạo thật, sẽ chẳng có ai tin theo.

8- Các nhà bác học rất cẩn trọng trong việc nghiên cứu kinh sách. Thế nhưng họ không tìm thấy điều gì mâu thuẫn cả khi xem xét Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, mặc dù các sách ấy cách nhau hơn một ngàn năm và do nhiều tác giả ghi chép.

9- Khởi đầu, môn đồ của Chúa chỉ có độ vài trăm người. Họ là những người thấp kém; nhiều người bị bắt bớ, tàn sát. Nếu không có Đức Chúa Giê-xu trên trời giúp sức, hẳn là họ đã bị tận diệt rồi. Nếu vậy, làm sao đạo Tin Lành còn tồn tại và phát triển khắp cả thế giới như ngày hôm nay?

10- Người thời nay tin Chúa đều tôn trọng Kinh Thánh; không có điều gì trong cách sống của họ có thể bị phê phán được. Họ còn khuyên răn con cháu tin theo Ngài. Vả lại, các nước theo Tin Lành của Đức Chúa Giê-xu đều biết rằng đạo lý của Ngài rất có quyền.

Còn có nhiều bằng chứng khác ghi chép trong Kinh Thánh Tân Ước, khiến người ta không thể không tin.

45. Ai Tin Chúa Phải Chịu Lễ Báp Têm Và Gia Nhập Hội Thánh

Hỏi: Chúng tôi tin nhận Đức Chúa Giê-xu là đủ rồi tại sao còn phải chịu lễ báp têm và gia nhập Hội Thánh?

Đáp: Người có tội tin nhận Cứu Chúa Giê-xu thì tuân lời Ngài mà chịu lễ báp têm để tỏ ra mình là môn đồ Ngài. Ấy cũng như kẻ nhập tịch làm công dân nước nào phải vâng theo luật lệ nước ấy. Đức Chúa Giê-xu có phán rằng: “Ai tin và chịu lễ báp têm sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” (Mác 16:16). Cho nên hễ ai đã tin Đức Chúa Giê-xu phải chịu lễ báp têm và gia nhập Hội Thánh.

Chịu lễ báp têm là chịu dìm mình trong nước, rồi lên khỏi nước. Chúng ta làm vậy để tỏ rằng bởi đức tin, đã đồng chết, đồng chôn và đồng sống lại với Đức Chúa Giê-xu.

Gia nhập Hội Thánh có nghĩa là những tín đồ của Đức Chúa Giê-xu nhập lại thành một Hội. Đó chẳng phải là kết bè đảng, cầu danh lợi nhưng chỉ để làm ích cho linh hồn mình và truyền đạo Chúa rộng ra mà thôi. Việc Đức Chúa Giêxu dạy người ta gia nhập Hội Thánh mang nhiều ý nghĩa:

 Một là có thêm kiến thức về đạo. Người mới tin Chúa như con trẻ mới sinh, còn yếu ớt chưa có khả năng tự dưỡng, do đó dễ bị cám dỗ. Vào Hội Thánh có mục sư, giáo sư giải nghĩa Kinh Thánh cho, qua đó, sự hiểu biết tăng thêm, đức tin được mạnh mẽ, thắng được ma quỉ cám dỗ.

 Hai là đức tin được vững vàng. Người ta dầu đã ăn năn trở lại cùng Chúa, song lòng tin có thể nguội lạnh và thoái lui đi. Vào Hội Thánh sẽ có mục sư, tín hữu giúp đỡ, khuyên răn, an ủi những khi cần, nhân đó đức tin mạnh mẽ vững bền.

 Ba là lập Nước Đức Chúa Trời trên thế gian. Người ta nếu chưa loại trừ hết tánh ác thì dầu lên trời lòng cũng chẳng vui. Cho nên phải ở trong Hội Thánh, học tập chân lý, làm theo mạng lệnh của Chúa, giữ lòng thánh sạch để mai sau về Nước Chúa, chẳng những được cứu rỗi song còn được phần thưởng vinh hiển. Hội Thánh lại có quyền thay mặt Chúa tiếp kẻ tin vào Hội, truất kẻ giả dối ra khỏi Hội, khiến các tín đồ vâng giữ điều đáng vâng, làm sự phải làm, để biệt riêng khỏi thế tục và treo gương sáng cho người đời cùng soi.

 Bốn là hợp sức truyền đạo. Người tin Chúa đã được cứu, ắt có lòng yêu thương, muốn thấy đồng hương được cứu. Nhưng nếu từng người làm riêng lẽ thì khả năng không đủ, của cải có giới hạn, không làm việc lớn được. Gia nhập Hội Thánh để góp sức góp của với nhiều người, thì chúng ta có thể truyền Tin Lành đến các nơi xa.

Vì các điều trên nên ai tin Đức Chúa Giê-xu phải chịu lễ báp têm và gia nhập Hội Thánh.

46. Cả Nam Lẫn Nữ Đều Phải Tin Chúa

Hỏi : Người nam tin Chúa đã đành, sao người nữ cũng tin Chúa làm gì?

Đáp: Đạo giả thì dù nam, hay nữ cũng phải tránh xa, nhưng đạo thật thì cả nam lẫn nữ nên vâng giữ. Nếu chúng ta đã biết đạo Đức Chúa Giê-xu là thật, mà còn cho là người nam nên theo, còn người nữ không cần theo, thế có khác gì nói rằng người nam nên ăn cơm Trời mà sống, còn người nữ nên nhịn đói mà chết sao?

Chẳng phải người nữ cũng thuộc về nhân loại sao, mà chúng ta bảo rằng không cần đạo Tin Lành, không cần tin nhận Cứu Chúa Giê-xu Christ?

47. Đạo Chúa Có Mười Điều Răn

Hỏi: Đạo Chúa có mấy điều răn?

Đáp: Có Mười Điều Răn như sau nầy:

1. Chớ có thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời.

2. Chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời, dưới đất, hoặc trong nước dưới đất; chớ quì lạy trước những hình tượng đó.

3. Chớ lấy Danh Đức Chúa Trời mà làm chơi.

4. Phải nhớ ngày yên nghỉ để làm nên ngày thánh.

5. Phải hiếu kính cha mẹ.

6. Chớ giết người.

7. Chớ phạm tội tà dâm.

8. Chớ trộm cướp.

9. Chớ làm chứng dối nghịch cùng kẻ lân cận.

10. Chớ tham nhà của kẻ lân cận, cũng đừng tham vợ người, hoặc nô tỳ, bò lừa hay là vật gì thuộc về kẻ lân cận.

Chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã thay chúng ta làm trọn Mười Điều Răn này; và Ngài đã tóm gọn chúng thành hai điều là: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra.” (Ma-thi-ơ 22:37-40)

48. Tín Đồ Ăn Ở Không Hợp Đạo

Hỏi: Chúng tôi từng thấy có người tự xưng là theo Chúa mà làm nhiều điều tội lỗi, gian ác như kẻ chưa tin. Nếu những người ấy mà được gọi là thánh đồ, thì người thế gian ai chẳng phải là thánh?

Đáp: Trong cuốn sách này chúng tôi chỉ bàn về đạo thật hay giả, chứ không luận về người theo đạo đó là thiện hay ác. Đạo thật vốn dạy người ăn năn tội, tin theo Chúa, bỏ điều ác, làm điều lành, cải tà qui chính, để linh hồn được cứu rỗi. Tiếc thay! Có một số người vì lòng tư dục, mượn danh thánh đồ, lạm dụng sự tin tưởng của người khác, hầu dễ bề thi hành các thủ đoạn gian dối. Những hạng ấy thật không đáng gọi là thánh đồ.

Tuy nhiên việc đó cũng không làm hại đạo Tin Lành. Tỉ dụ như chính phủ lập ra hình pháp để răn dân, muốn cho mọi người làm lành, tránh dữ. Vậy mà vẫn có những kẻ bất lương, không xem pháp luật ra gì, cứ giết người cướp của, làm những điều ác. Chúng ta cũng không thể vì đó mà cho rằng hình pháp của chính phủ đặt ra là bất thiện.

Vậy, nếu có người xưng mình là tín đồ mà việc làm không hợp với đạo Chúa, thì đó là kẻ giả hình, không đáng kể. Còn mọi người cần phải tự xét lòng mình, ăn năn, đầu phục Đức Chúa Trời, kính sợ vâng lời Ngài, để được cứu rỗi, hưởng phước vĩnh sinh.

49. Đạo Thật Bất Kể Có Gốc Từ Đâu

Hỏi : Đạo của Đức Chúa Giê-xu dù thật, nhưng là đạo ngoại quốc, chúng tôi theo mà làm gì?

Đáp: Vàng không cần chọn đất, hễ ròng là quí. Đạo chẳng cần chọn gốc, hễ thật là chúng ta nên theo. Tỉ dụ như Khổng Tử được sinh ra bên Trung hoa mà giáo lý của ông truyền đến nước ta. Thầy Mạnh Tử nói vua Thuấn là người Đồng Di, vua Văn là người Tây Di, thế mà người Trung Hoa đều tôn làm thánh nhân, chẳng có ai dị nghị.

Đạo Phật xuất phát từ Ấn Độ, dạy triết lý của sự hư vô tịch diệt, thế mà cũng có nhiều người theo. Còn đạo Tin Lành có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, câu nào cũng chân thật, chỉ dẫn con đường cứu rỗi, biến cải kẻ ác ra người thiện, mà lại cho là đạo ngoại quốc, không nên theo, là nguyên do gì?

Vả lại, đạo của Đức Chúa Giê-xu gốc từ Đức Chúa Trời, xuất phát từ phương Đông, truyền sang phương Tây, và hiện nay được truyền bá khắp thế giới, là đạo chung cho muôn dân. Các đạo khác cũng có điều hay, lẽ phải, nhưng tất cả đều từ trong ý tưởng của loài người mà thôi. Các đạo ấy như cây đèn, chỉ soi sáng một vùng. Còn Đạo Chúa như mặt trời soi khắp mọi chốn.

Thế thì chúng ta không nên cho là đạo ngoại quốc mà không tin theo.

50. Đừng Xem Việc Theo Đạo Tin Lành Là Khó

Hỏi : Để được cứu rỗi linh hồn, chúng tôi nên theo đạo Chúa nhưng thấy khó quá. Chúng tôi phải làm thể nào?

Đáp: Khó tin hay khó giữ, hai điều ấy không gọi là khó được.

Đạo Chúa có nguồn gốc, có chứng cứ rõ ràng. Chúng ta thử quan sát sự chuyển vận của thiên nhiên thì biết chắc có một Đấng Chủ Tể: Trời cao đất rộng, ngày đêm vận hành, ngôi sao mọc lặn, gió thổi, mây bay, mưa tuôn, nước động, bốn mùa thay đổi, muôn vật phát sinh, nước biển khi lên khi xuống, khí trời khi nóng khi lạnh, v.v. Ấy là điều dễ tin.

Vả lại, người ta linh hơn vạn vật, nhưng cũng không thoát khỏi cái chết.

Khi đó xác thịt mục nát, linh hồn không tan, được thưởng hay chịu phạt, vui hay khổ đời đời không hề thay đổi. Khổ hình ở thế gian còn nhẹ hơn khổ hình ở hoả ngục, vì chết là thân xác hết đau; còn hình phạt nơi hỏa ngục thì đau đớn cả ngày lẫn đêm cho riêng mình mà không thể nào thoát được. Nước biển tiêu đi mỗi năm một giọt, còn có ngày tiêu hết; nhưng khổ hình nơi hỏa ngục thì vẫn còn đời đời. Như vậy mà chúng ta còn cho rằng tin Chúa là khó, để đành chịu khổ hình đời đời hay sao?

Chúng tôi thấy người thế gian cầu danh, cầu lợi, chịu khổ rất nhiều. Có kẻ muốn thi đậu, đã phải cố công dùi mài kinh sách bao nhiêu năm. Có kẻ mong được nhiều thóc lúa, phải khó nhọc cày sâu cuốc bẫm. Có kẻ buôn bán muốn thu lợi phải dầm sương phơi nắng, lội suối qua đèo, sao chẳng lấy làm khổ, mà lại lấy tin đạo làm khổ? Chúng ta nên biết rằng không tin Đức Chúa Giê-xu thì sẽ khổ muôn phần. Hãy xem có người cậy nhiều của không biết kiêng sợ ai, sống buông lung gian ác cho đến nỗi tan nát nghiệp nhà. Còn có những kẻ nghèo không giữ thân phận, trộm cướp làm càn, đến nỗi bị tù đày.

Người ta chỉ cần hết lòng thờ phượng Đức Chúa Trời, nhờ cậy công ơn cứu chuộc của Đức Chúa Giê-xu thì được tha tội, linh hồn được rỗi, được vui vẻ, bình an, gia đình được trên thuận dưới hòa, cuối cùng hưởng phước Thiên Đàng mãi mãi. Ngoài cách ấy, không còn phương pháp nào khác.

51. Phải Tin Theo Chúa Mới Được Phước

Hỏi: Trong số những người không tin theo Đức Chúa Giê-xu, cũng có nhiều người lương thiện. Dù họ không thờ lạy Đức Chúa Trời, không cậy nhờ sự chết chuộc tội của Đức Chúa Giê-xu, nhưng tính nết hiền lành, làm nhiều việc từ thiện, những người ấy sẽ hưởng phước Thiên Đàng được chăng?

Đáp: Xin thưa không được! Xin hãy nghe lời thí dụ này: Ai muốn được chính phủ ban thưởng, phải trung thành với chính phủ, vâng giữ luật pháp nhà nước; còn muốn được cha mẹ yêu mến, phải vâng lời và thảo kính với cha mẹ.

Còn nếu bất trung với Tổ quốc, bất hiếu với cha mẹ, thì không những không được thưởng, được yêu, mà lại bị hình phạt, ghét bỏ nữa.

Vậy, có người công dân không hề làm điều dữ, được hàng xóm láng giềng khen ngợi, yêu mến nhưng bất trung với chính phủ, thì có được khen thưởng không? Lại có một người con ăn ở hiền lành, bạn bè đều mến, nhưng không thảo kính với cha mẹ, thì cha mẹ có yêu được không? Chắc là chính phủ và cha mẹ không thương những người ấy.

Đức Chúa Trời đối với kẻ vô tín cũng vậy. Ai không thờ lạy Đức Chúa Trời, không nhờ cậy công ơn cứu chuộc của Đức Chúa Giê-xu, thì dù có làm nhiều điều lành đi chăng nữa, cũng không thể nào được hưởng phước Thiên Đàng. Người đời nay làm việc thiện không phải vì tấm lòng hối cải mà làm, nhưng có người chỉ vì muốn đạt được danh tiếng. Muốn danh tiếng mà được danh tiếng, ấy là đã được người đời báo đền rồi, không thể mong được Chúa đền bù cho nữa. Ai hiểu thấu lẽ ấy, nên vội tìm vào cửa ân Điển của Chúa Cứu Thế, là Đức Chúa Giê-xu.

52. Phải Tin Theo Chúa Ngay

Hỏi: Tôi nghe biện luận đã nhiều, biết rằng đạo Tin Lành của Đức Chúa Trời là thật, không chỗ bài bác được, có thể làm cho những kẻ ngủ hoá thức, kẻ dữ nên lành, ai tin và làm theo, lúc sống được an vui, chết sẽ được hưởng phước đời đời, nhưng bây giờ chưa thuận tiện để tôi tin theo ngay, có thể chờ qua sang năm có được không?

Đáp: Bạn nói thế là chưa nghĩ kỹ. Nếu hôm nay bạn nghe và hiểu, bạn nên tin ngay đi. Giờ nầy bạn đã tỉnh ngộ thì bạn nên theo ngay đi, sao bạn lại kỳ hạn đến sang năm?

Tỉ dụ như một người giàu có từ thiện kia rao rằng sẽ bố thí trong ba ngày; ai đến trong kỳ đó, thì được phần; ai đến trễ thì không được gì. Người không được là tại mình đến chậm, chứ chẳng phải người hứa không cho. Cũng một thể ấy, “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của

Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất, mà được sống đời đời.” Ai tin thì được cứu chắc chắn, còn ai không tin thì bị định tội. Đó là tại mình, không phải vì Chúa không cứu.

Thương thay, có người đã thông hiểu đạo lý mà không quyết định tin theo ngay, để thời gian dần trôi, tội lỗi chồng chất, ngày chết cận kề, không còn trông mong gì được nữa! Nếu thế, sao bạn lại đợi đến sang năm? Huống chi điều thiết yếu và quan trọng nhất cho cuộc đời chúng ta không gì bằng sự cứu rỗi linh hồn. Kẻ được cứu rỗi đời đời vui vẻ, ca hát ngợi khen Chúa; còn kẻ hư mất mãi mãi phải chịu đau đớn, nghiến răng, khóc lóc trong lửa hỏa ngục.

Nếu thế sao bạn còn hẹn đến sang năm? Làm nguời ai cũng phải chết, mà không biết cái chết đến lúc nào. Vậy tại sao bạn còn chờ đợi qua năm sau?

Sinh mạng người ta rất mỏng manh, như chuông đồng treo sợi chỉ, một mai chỉ đứt, chuông rơi xuống vực sâu vô vọng, mãi mãi không bao giờ lên được! Vậy sao bạn lại còn chờ đợi đến sang năm?

Có câu phong dao rằng: “Người đời ví thể phù du Sớm còn, tối mất, công phu lỡ làng!”

Trong một khắc, một giờ đồng hồ, Trên khắp thế giới nầy có không biết bao nhiêu người chết. Biết đâu chính mình ta lại không ở trong số ấy? Thế thì tại sao lại kỳ hạn đến sang năm?

Vậy xin quí bạn hãy tin theo Đức Chúa Giê-xu Christ và để Đức Thánh Linh ngự trị lòng bạn, cảm hóa bạn để bạn từ bỏ ác dục thế gian, ra khỏi nơi tối tăm mà vào nơi sáng láng, bỏ đường tà, theo đường chánh, sớm chiều cầu nguyện, thờ lạy Đức Chúa Trời, nhờ cậy công lao Đức Chúa Giê-xu trên Thập tự giá để được cứu rỗi, kẻo đến lúc chết, không còn cơ hội ăn năn!

Hết sách

Lời Cuối

Kính thưa quý bạn đọc,

Chúng tôi hy vọng sau khi đã đọc xong 52 bài viết trong Chân Giả Luận, quý vị có một nhận thức đúng đắn và một quyết định sáng suốt để lựa chọn cho mình một con đường đi đúng, để không phải hối tiếc ân hận về sau.

Mong rằng tác phẩm này sẽ giúp quý vị quay trở về với Cội Nguồn là Đấng Chân Thần, là Đấng Tạo Hóa của muôn loài muôn vật mà quí vị thường xưng là Đấng Hóa Công, là Đấng mà chúng tôi, là những người Tin lành, tôn xưng là Đức Chúa Trời. Nếu quí vị nhận biết được mình là người có tội, xin hãy tiếp nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Giê-xu. Quí vị hãy cầu nguyện với Ngài, như một người con thưa chuyện với cha mình, để xin Ngài đón nhận quí vị trở về với gia đình sau một thời gian dài đi xa lạc. Sau đó, xin quí vị tìm kiếm các Cơ-đốc nhân khác để thờ phượng Chúa theo như sự chỉ dẫn trong

Người Hiệu Đính

Trần Thị Huỳnh Hoa
Năm 2011
http://hoptinhhoply.net/?q=node/171

Mục Lục

TỰA ĐỀ TRANG

Lời nói đầu cho ấn bản hiệu đính 2011

01. Xem Địa Lý………………………………………… ………………1

 

02. Chọn Ngày, Định Hướng, Xem Tuổi ……………………….. 1

03. Đoán Số …………………………………………………………..  2

04. Xem Tướng ……………………………………………………….. 3

05. Bói Quẻ, Xin Xăm Và Đoán Chữ ………………………………3

06. Các Thần Giả ……………………………………………………… 4

07. Ngọc Hoàng ………………………………………. ……………….4

08. Lão Quân ………………………………………….. ……………….5

09. Tiên Thuật ………………………………………………………….. 5

10. Quan Công ………………………………………… ……………….5

11. Thành Hoàng ………………………………………………………..6

12. Thổ Địa ………………………………………………………………..6

13. Phật Thích Ca ………………………………………………………. 7

14. Thuyết Luân Hồi …………………………………………………… 9

15. Quan Âm …………………………………………………………….. 9

16. Diêm Vương ………………………………………………………….10

17. Bà Chúa Ngọc và Bà Liễu Hạnh ………………………………..10

18. Đạo Nho và Đạo Tin Lành ………………………………………..11

19. Thờ Lạy Ông Khổng Tử…………………………………………….12

20. Thờ Lạy Tổ Tông …………………………………………………….12

21. Mộc Chủ, Bài Vị ………………………………………………………13

22. Đốt Giấy Tiền, Vàng Bạc……………………………………………14

23. Thế Nào Là Hiếu Thật ………………………………………………15

24. Không Lạy Xác Chết ………………………………………………..16

25. Đức Chúa Trời …………………………………………………………16

26. Đức Chúa Trời Trọn Tài, Trọn Trí, Trọn Lành …………………16

27. Đức Chúa Trời Dựng Nên Người Dữ …………………………….17

28. Chân Thần Sinh Ra Thú Dữ ……………………………………….17

29. Một Chúa Cai Quản Cả Trời Đất Muôn Vật …………………..18

30. Chân Thần Bởi Đâu Sanh Ra? ……………………………………18

31. Chân Thần Không Có Cuối Cùng ……………………………….19

32. Không Nhìn Thấy Chân Thần Ðược……………                    19

33. Đức Chúa Trời Tức Là Thượng Đế ……………..                    20

34. Thiên Đàng, Hỏa Ngục …………………………..                     21

35. Linh Hồn Bất Diệt ………………………………….                     21

36. Thiên Sứ, Ma Quỉ, Và Linh Hồn Người Ta ……                     22

37. Ma Quỉ Ở Thế Gian ………………………………..                      22

38. Sự Công Bình Của Đức Chúa Trời ……………….                   23

39. Sự Nhân Từ Của Đức Chúa Trời …………………..                  24

40. Chúa Sinh Người Có Thứ Bậc ………………………..                24

41. Thờ Lạy Đức Chúa Trời Cách Nào? …………………..              25

42. Đức Chúa Giê-xu Cao Trọng Hơn Các Thánh Hiền               26

43. Đức Chúa Giê-xu Chuộc Tội Loài Người ……………………..    27

44. Câu Chuyện Đức Chúa Giê-xu Là Thật ………………………   .27

45. Ai Tin Chúa Phải Chịu Lễ Báp Têm Và Gia Nhập Hội Thánh 29

46. Người Nam Người Nữ Đều Phải Tin Chúa ………………………29

47. Đạo Chúa Có Mười Điều Răn ………………………………………30

48. Tín Đồ Ăn Ở Không Hợp Đạo ………………………………………30

49. Đạo Thật Bất Kể Có Gốc Từ Đâu ………………………………….31

50. Đừng Xem Việc Theo Đạo Tinh Lành Là Khó ………………….31

51. Phải Tin Theo Chúa Mới Được Phước ……………………………32

52. Phải Tin Theo Chúa Ngay……………………………………………32

Lời Cuối




Không Có Sự Sống Lại Thì Không Có Ý Nghĩa

Không Có Sự Sống Lại Thì Không Có Ý Nghĩa


     MP3

Pisa.jpgPhao-lô biết rằng vấn đề mà mọi người thật sự phải giải quyết, đó là vấn đề sự sống lại. Nếu Jê-sus là người chết, thì cơ-đốc giáo chỉ đơn thuần là một tôn giáo tầm thường với một nhà tiên tri đã chết. Không có lý nào chờ đợi phép lạ, nếu Jê-sus không từng sống lại từ kẻ chết.

Không có lý nào chờ đợi người ta từ bỏ quyển sách thánh của họ và tiếp nhận quyển sách thánh của bạn, nếu như Đức Chúa Trời của quyển sách bạn không thể chứng minh được là Ngài khác với chúa trời của quyển sách họ.

Không có lý nào để rao giảng sự giải phóng khỏi tội lỗi, nếu Jêsus không từng gánh chịu tội lỗi chúng ta và không từng chiến thắng vinh quang tội lỗi và cái chết. Khải hoàn chiến thắng cái chết nghĩa là phải có sự sống lại.

Không có lý nào chờ đợi Đức Chúa Trời sẽ chữa lành người bệnh, nếu không có quyền năng sự sống lại còn trội hơi mọi tật bệnh.

Không có lý nào chờ đợi cuộc sống của người ta sẽ thay đổi, nếu điều khẳng định rằng Jê-sus hằng sống đến để sống trong họ là giả dối.

Tất cả các tôn giáo đều đề ra những tiêu chuẩn luân lý và quy tắc kiềm chế bản thân, nhưng chỉ có Jê-sus đã chịu hiến dâng Mình để được sống trong chúng ta và ban cho chúng ta nội lực để làm được những điều đúng đắn.

Một nhà tiên tri đã chết thì không có năng lực, nhưng nếu sự sống lại đã xảy ra, thì nó là bằng chứng về Đức Chúa Trời không nhìn thấy được đã ở trong một thân thể, và thấu hiểu được chúng ta.

Sự sống lại nói về điều gì?
Nó nói về sự sống sau cái chết.
Nó nói rằng Jê-sus đã được lòng Đấng Tạo hoá.
Nó nói về tương lai chúng ta trong sự sống mới.Đó là nền tảng của đức tin chúng ta.

Những chân lý tuyệt đối

Mỗi một người vô thần trong thế gian đều bám vào ý tưởng cho rằng không có các chân lý tuyệt đối. Đa số các đại học tổng hợp trong thế gian dạy người ta tin rằng không có các chân lý tuyệt đối, nhưng họ sẽ phải ngạc nhiên vô cùng khi rời khỏi căn nhà nhỏ bé bằng xác thịt là thân thể của mình mà họ đang sống trong đó.

Khi chúng ta tiếp nhận một chân lý tuyệt đối là có Đức Chúa Trời thì điều đó sẽ dẫn chúng ta đến với những chân lý tuyệt đối khác. Như Phao-lô đã nói: nếu không có sự sống lại thì hãy ăn, uống và vui chơi vì ngày mai chúng ta sẽ chết, và mọi ý tưởng của anh và của tôi về tương lai cũng tốt như nhau.

Khi chúng ta biết là có Đức Chúa Trời, thì chúng ta có thể nói với sự tin tưởng hoàn toàn rằng Đức Chúa Trời có một chương trình. Đấng Tạo hoá có một chương trình cho tạo vật của mình. Ngài rất khôn ngoan.

Chúng ta cũng có thể nói với sự tin tưởng hoàn toàn rằng chương trình của Ngài luôn hành động. Có đôi lúc cảm tưởng như nó không hành động, nhưng Ngài nhìn với tầm nhìn lớn, và Ngài làm mọi sự cho sự vinh hiển của Mình, thậm chí ngay khi tuần vừa rồi bạn chỉ thấy ma quỉ hoạt động bên cạnh mình. Đức Chúa Trời có một câu trả lời hoàn chỉnh cho chúng ta, và cuối cùng sẽ là chiến thắng. Ngài đã chép cho chúng ta quyển sách để mỗi một người trong chúng ta biết được cuối cùng mọi việc sẽ ra như thế nào.

Điều thứ tư, mà chúng ta có thể biết được với lòng tin tuyệt đối, đó là chương trình của Ngài có tính đến bạn. Ngài không thờ ơ với bạn. Ngài sử dụng chúng ta để đạt đến mục đích của Mình. Chúng ta là cộng tác viên trong chương trình của Ngài. Chúng ta làm việc cùng nhau để hoàn tất chương trình vĩ đại cứu chuộc và phục hồi con người về trạng thái mà Đức Chúa Trời muốn thấy họ từ thuở ban đầu.

Duy nhất có một lần Đức Chúa Trời không sử dụng con người trực tiếp vào thực hiện chương trình của Mình – đó là trong quá trình tạo hoá. Nhưng từ khi đó đến nay chúng ta đã xuất hiện, và Đức Chúa Trời xử dụng đức tin, lời cầu nguyện và sự bền bỉ của con người để hoàn thành ý muốn của Mình.

Hoặc là bạn, hoặc là không ai cả.

Helsinki.jpg“Cứ để cho các giáo sĩ chăm lo về thế gian. Cứ để cho các mục sư chăm lo về Hội thánh. Cứ để cho ai đó rao giảng về Chúa, vì tôi không được kêu gọi làm việc đó.” Nhiều người suy nghĩ như vậy, nhưng Đức Chúa Trời không nghĩ như vậy. Công việc Vĩ đại nhất Ngài đã để dành cho bạn và tôi: trở thành sứ giả mang Tin lành của Ngài. Ngài không dành việc này cho các thiên sứ, Ngài không bảo Jê-sus quay lại và làm cho xong công việc này. Không ai có thể làm công việc mà bạn đã được kêu gọi làm. Không ai có thể chia sẻ điều mà bạn phải chia sẻ. Đức Chúa Trời không có phương án dự trữ.

Ngài đã giao Tin lành vào tay bạn, và nếu bạn không mang nó đến cho mọi người, thì sứ mạng của chúng ta sẽ thất bại. Chúng ta là Thân thể của Đấng Christ, và Jê-sus không thể làm được gì trên đất mà không có Thân thể của Mình.

Có hai điều cần thiết để cho một con người cảm thấy mình là thành đạt. Thứ nhất, anh ta phải cảm thấy mình được an toàn, và thứ hai, anh ta phải cảm thấy giá trị của mình. Sự an toàn của chúng ta phụ thuộc vào mối quan hệ của chúng ta với Jê-sus. Ngài đã ban cho chúng ta sự bình an. Giá trị của chúng ta phụ thuộc vào cách mà chúng ta tác động lên thế gian. Chúng ta thay đổi đời sống như thế nào? Mục đích đời đời của sự chúng ta còn ở trên đất này là gì?

Khi chúng ta nhận thức ra được rằng có những con người mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị để chúng ta nói với họ về Chúa, và mỗi một con người đều đáng giá đối với Ngài, thì chúng ta cảm thấy giá trị của mình. Những gì chúng ta làm sẽ ảnh hưởng đến đời đời.

(Trích sách “Vàng của Đức Chúa Trời” ghi lời T.L. Osborn truyền giảng tại Liên-xô cũ. Ảnh – truyền giáo ở Kazakhstan 3-2007)