TUYÊN ĐẠO PHÁP _ Phần 05 (MỤC SƯ ĐINH THIÊN TỨ)




TUYÊN ĐẠO PHÁP _ Phần 04 (MỤC SƯ ĐINH THIÊN TỨ)




TUYÊN ĐẠO PHÁP _ Phần 03 (MỤC SƯ ĐINH THIÊN TỨ)






TUYÊN ĐẠO PHÁP _ Phần 02 (MỤC SƯ ĐINH THIÊN TỨ






TUYÊN ĐẠO PHÁP _ Phần 01 (MỤC SƯ ĐINH THIÊN TỨ) _ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỨC VỤ GIẢNG DẠY LỜI CHÚA







CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI HƯ MẤT

Xin gioi thieu voi moi nguoi bai hat  Mot ngay co Chua

Phần lớn trong chúng ta thấy khó khi cầu nguyện cho ai đó được cứu vì chúng ta không biết phải nói gì, “Chúa ơi, xin hãy cứu người này.” Chúng ta cảm thấy thật ngu dại khi cứ cầu nguyện cùng một lời như thế lặp đi lặp lại nên chúng ta thường hay bỏ cuộc và ngưng cầu nguyện. Tuy nhiên, loại cầu nguyện này liên hệ đến bốn lĩnh vực : cá nhân, người làm chứng, lời Chúa và sự phấn hưng. Khi chúng ta học cầu nguyện cụ thể trong những lĩnh vực này, lời cầu thay của chúng ta sẽ trở nên đầy thách thức và hiệu quả.

Để bắt đầu, chúng ta cầu nguyện cho cá nhân đó bằng cách nêu tên, xin Chúa làm năm điều trong đời sống người đó. Trước hết, chúng ta xin Chúa thánh hóa người đó. Điều này nghe hơi lạ nhưng đây là cách Chúa bắt đầu công việc cứu chuộc trong đời sống của từng cá nhân. Ngài luôn luôn thánh hóa hay «biệt riêng» người đó cho sự cứu rỗi trước khi Ngài cứu rỗi người đó.

Kinh Thánh dạy rõ lẽ thật này trong 1Phi-e-rơ 1:2, “đã được chọn lựa theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha và được thánh hóa bởi Đức Thánh Linh để vâng phục và được rảy huyết của Chúa Cứu Thế Giê-su.” Chúng ta thấy cùng sự nhấn mạnh này trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-14, “Đức Chúa Trời đã chọn anh chị em từ ban đầu Ctd: như những trái đầu mùaAnchorđể được cứu rỗi nhờ Thánh Linh thánh hóa và nhờ tin chân lý. . .”

Như là Đức Chúa Trời vẽ một vòng tròn vô hình quanh người đó và rồi bắt đầu đem ảnh hưởng của Ngài tác động người đó. Thật dễ để thấy rằng bất cứ điều gì đến “bên trong” cái vòng đó đều trực tiếp ảnh hưởng đến người đó. Khi chính Đức Chúa Trời bước vào cái vòng đó, nhiều điều kì diệu bắt đầu xảy ra, như bạn thấy khi bạn đọc lời làm chứng cá nhân ở phần sau của sách này.

Lẽ thật kì diệu này là lời khích lệ lớn lao cho những ai trong chúng ta cầu nguyện cho người khác vì chúng ta có thể an tâm rằng Đức Thánh Linh là Chúa của mùa gặt lu-ôn luôn theo dõi người này, một khi Ngài thánh hóa người đó! Một sinh viên đại học, tự cho mình là vô thần, lần nọ đã viết cho C.S. Lewis giải thích rằng anh đã quen biết với một số sinh viên cơ đốc đã làm chứng sốt sắng cho anh về đức tin của họ. Một số điều họ nói đã làm cho anh phải suy nghĩ; anh đang trải qua một sự tranh chiến dữ dội. Tiến sĩ Lewis suy nghĩ gì? Lewis viết hồi âm : “Tôi nghĩ anh đã “cắn câu” rồi – Đức Thánh Linh đang theo dõi anh. Tôi đoán là anh không thể trốn thoát nổi” (Dunn 118).

Bây giờ chúng ta xin Chúa chúc phước cho người đó. Khi Chúa Giê-su sai các môn đồ vào “mùa gặt của Ngài,” Ngài ban cho họ những lời dạy cụ thể là “Trước hết hãy nói, ‘Bình anh cho nhà đó’” (Lu 10:1-5). Vì luôn luôn là chính sự tốt lành của Đức Chúa Trời dẫn người ta đến sự ăn năn (Rô 2:4). Nên bắt buộc là chúng ta xin Chúa ban phước cho họ.

Nhưng đôi khi lời cầu nguyện của chúng ta cho người khác được cứu không mang lại kết quả nhanh chóng, chúng ta có khuynh hướng thất vọng và thiếu kiên nhẫn, thầm ước ao Chúa “dùng roi hoạn nạn dạy cho họ một bài học.”

AnchorKhi dân chúng làng Samari khướt từ Chúa, các môn đồ muốn Chúa thiêu đốt họ. Ngài quở các môn đồ, rằng, “Các ngươi không biết điều gì cảm các ngươi. Vì Con Người đến không phải để tiêu diệt con người mà để cứu rỗi” (Lu 9:52-56). Nếu chúng ta muốn sánh với Cứu Chúa yêu dấu của chúng ta, chúng ta phải liên tục ước ao điều tốt nhất của Ngài dành cho mọi người. Chúng ta nên đặt biệt xin phước lành tốt nhất của Ngài đến trên những người mà chúng ta cầu nguyện.

Thứ ba, chúng ta xin Chúa cáo trách người đó, vì sự cáo trách thật cần thiết cho sự cứu rỗi. Chỉ Đức Thánh Linh mới có thể cáo trách ai đó nên chúng ta hãy nài xin Giăng 16:8-11 trong lời cầu nguyện của chúng ta. Về căn bản sự cáo trách nghĩa là cáo trách về lỗi lầm. Lỗi lầm hay nan đề của người hư mất nằm ở chổ “không tin Chúa Giê-su” và đây là TỘI mà Đức Thánh Linh cáo trách (Gi 16:9).

Người ta đều biết “tội” của họ là gì, ngoại trừ tội không tin Chúa Giê-su. Vì đây là tội duy nhất kết án người ta xuống địa ngục nên satan che mắt con người về tội này. Vì thế, Đức Thánh Linh cáo trách hay thuyết phục người hư mất về mỗi tội này, bày tỏ cho họ thấy Chúa Cứu Thế Giê-su trong sự vinh hiển của Ngài để họ có thể được cứu. Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng sự cáo trách không tự động đảm bảo sự cứu rỗi. Như Phao lô “giải thích về sự công chính, sự tiết độ và phán xét hầu đến, Phê-lít run sợ . . .” (Công vụ 24:25). Nhưng không có bằng cớ trong Kinh Thánh cho thấy ông ta được cứu.

Kế tiếp, chúng ta xin Chúa soi sáng tâm trí người đó về lẽ thật. Ngay cả sau khi một người bị thuyết phục về nhu cầu cần được cứu, một tâm trí bị che mắt khỏi Phúc âm có thể vẫn còn đóng kín với ánh sáng của Phúc âm vinh hiển của Chúa Giê-su và người đó vẫn còn sốngAnchortrong tối tăm thuộc linh (2 Cô 4:6). Một khi tấm lòng và tâm trí đã được mở ra với lẽ thật, Chúa dùng cơ đốc nhân giải thích Phúc âm cho người đó. Dù hoạn quan Ê-thi-ô-pi là người tìm kiếm chân lí, và đã đến Giê-ru-sa-lem thờ phượng Chúa cách công khai và cũng có Kinh Thánh, ông nhìn nhận rằng ông không thể hiểu “ngoại trừ có ai đó hướng dẫn tôi” (Công vụ 8:26-39).

Câu chuyện hấp dẫn nhất là câu chuyện của Cọt-nây (Công vụ 10). Ông là người “tin kính và cả nhà ông đều kính sợ Chúa, bố thí cho người ta và cầu nguyện với Chúa luôn.” Này, ông còn tốt hơn nhiều cơ đốc nhân mà chúng ta biết, tuy nhiên, ông vẫn còn hư mất – ông không hiểu con đường cứu rỗi. Ông được một thiên sứ dạy bảo hãy sai người mời Phi-e-rơ là người sẽ “cho ông biết ông nên làm gì.” Cọt-nây và người thân của ông rất mở lòng với Phúc âm nên ngay sau khi họ nghe “Đạo Chúa” thì Đức Thánh Linh giáng trên họ và họ được cứu đang khi Phi-e-rơ vẫn còn giảng!

Hãy xin Chúa mở trí mở lòng của người hư mất – Ngài sẽ làm! Sau đó, người ta sẽ được cứu cách kì diệu.

Giờ thì chúng ta sẵn sàng để xin Chúa cứu người đó. Tuy nhiên, chúng ta phải sẵn sàng để Chúa làm bất cứ điều gì cần thiết xúc tiến sự cứu rỗi của người đó, vì Đức Chúa Trời đã sắp đặt các biến cố trong đời sống người đó nhằm đem người đó đến sự ăn năn.

Khi chú giải về Luca 19:10, “Vì Con Người đến tìm và cứu kẻ bị hư mất,” Chafer có nói, “Đây còn hơn là cố gắng tìm người chưa được cứu, vì họ có mặt khắp mọi nơi. Từ ngữ này gợi ý một sự chuẩn bị của Chúa cho người chưa tin để đem họ đến sự thay đổi theo những điều kiện cần thiết để được cứu rỗi.” (Chafer 3-4).

Gia đình của Tony Fontenot đã cầu nguyện cho anhAnchortin Chúa nhiều năm. Lời cầu nguyện của họ dường như vô dụng cho đến ngày 22, tháng Năm, 1982. Vào cái ngày định mệnh đó anh bị tai nạn máy bay và súyt chết. Đức Chúa Trời đã làm anh thức tỉnh và phần còn lại thật dễ dàng!

Lần nọ có một người chuẩn bị đón nhận Phúc âm, cần ai đó chia sẻ Phúc âm cho anh ta. Điều tự nhiên phải làm là cầu nguyện xin Chúa sai ai đó làm việc này. Sự thật thì đây là điều mà Ngài bảo chúng ta làm, “Mùa gặt thật trúng, nhưng thợ gặt thìýt. Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thêm thợ gặt vào đồng lúa của Ngài.” (Mat 9:37-38).

Vì những con gặt quáýt, nghĩa là “ít về mức độ, tầm mức, số lượng, thời gian hay giá trị” (Strong’s Dictionary), chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa giúp trong lĩnh vực này. Trước hết chúng ta cầu xin Ngài sai thêm con gặt. Từ Hy-lạp “ekballo” có ý niệm dùng đến sức mạnh – đẩy ra, ném ra, quăng ra.

Hãy nhớ Chúa gặp khó khăn khi sai Giô-na đến Nin-ive giảng Lời Ngài? Ngài “buộc” ông phải đi. Một tình huống tương tự xảy ra khi hội thánh do dự trong việc phổ biến Phúc âm bên ngoài ranh giới của họ. Chúa cho phép một “Trong lúc ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị bắt bớ dữ dội.” (Công vụ 8:1), nhưng “Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri.” (Công vụ 8:4).

Vì những con gặt không chỉ ít về số lượng mà cònýt về thời gian và giá trị, chúng ta xin Chúa trang bị cho họ những phẩm chất nhằm khiến họ thành chứng nhân hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng tất cả sự trang bị đến qua Đức Thánh Linh. Samuel Chadwick nói, “Quyền năng của Đức Thánh Linh không thể phân cách khỏi thân vị của Ngài . . . Đức Chúa Trời không để thất thoát thuộc tính của Ngài. Quyền năng của Ngài không thể cho mượn.AnchorNó không thể tách khỏi sự hiện diện của Ngài . . . Ngài không chỉ là Đấng ban cho quyền năng, Ngài dùng tới quyền năng. Không ai có thể làm điều đó” (Chadwick 89).

Đây là lí do Chúa Giê-su truyền lệnh cho các môn đồ hãy chờ đợi ở thành Giê-ru-sa-lem cho đến chừng «các ngươi sẽ chịu báp tem trong Đức Thánh Linh» (Công vụ 1:4-5). Rồi Ngài phán với họ, «Nhưng các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con, và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.” (Công vụ 1:8).

Dù sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là quyền thừa kế của chúng ta (Công vụ 2:38-39), hội thánh biết rấtýt về “quyền năng vĩ đại lớn lao dành cho chúng ta là kẻ tin” (Êph 1:19). Hậu quả là những linh hồn quanh chúng ta đang lao xuống địa ngục vì chúng ta bất lực không giúp gì được họ nếu không mặc lấy quyền năng của Đức Thánh Linh. Vì thế, chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa đầy dẫy các công nhân của Ngài bằng Đức Thánh Linh, trang bị họ bằng quyền năng (khả năng và sức mạnh), sự can đảm (Công vụ 4:31), sự khôn ngoan (Châm 11:30), sự nhiệt thành (Cô 4:12-13), lòng trắc ẩn (Giu-đe 22-23) và sự hiểu biết thiên thượng (Giê 33:3). Và kết quả là nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi!

Sau khi chúng ta đã cầu nguyện cho những người được cứu và để các nhân sự làm chứng cho họ, bấy giờ chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho họ. Lí do làm việc này gồm hai điều : trước hết, không ai được cứu nếu không nghe lời Chúa (Rô 10:14) và thứ hai, satan ghét lời Chúa, liên tục tấn công lời Chúa, dùng mọi nỗ lực quỷ quyệt của nó ngăn cản người ta không nhận lời Chúa. Vì cần lời Chúa để cáo trách (Công vụ 2:37), để giải phóng (Gi 8:32), và để cứu rỗi (1Phi 1:23) người hư mất, satan cựcAnchorlực chống đối lời Chúa qua sự xao lãng (Lu 8:11-15), dựng các đồn lũy (2Cô 10:4-5), và dùng sự giả trá (2Cô 11:3-4).

Lời Chúa đối với satan như thuốc tê đối với siêu nhân – nó làm cho hắn yếu ớt và bất lực. Nó cũng làm cho nước của nó thu hẹp khi giải phóng các nô lệ của nó vì “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (Gi 8:32). Nhưng hãy để ý, không phải lẽ thật giải phóng bạn mà lẽ thật mà bạn biết. Nên satan làm mọi cách có thể để giữ không cho người ta biết lẽ thật.

Khi giải thích dụ ngôn của người gieo giống cho các môn đồ Ngài, Chúa Giê-su phán satan đến lập tức và cướp đi lời Chúa trước khi người đó hiểu được (Mác 4:15). Đây là lí do thật cần thiết chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho người hư mất.

Khi cầu nguyện để Chúa dùng lời Ngài cứu rỗi người hư mất, chúng ta sẽ trình dâng năm nhu cầu cụ thể. Trước hết, Lời Ngài được “tự do” (2 Tê 3:1). Điều này đơn giản có nghĩa rằng lời Chúa không bị ngăn trở; rằng satan không cách nào ngăn cản sự vận hành của lời Đức Chúa Trời. Nó sẽ tìm cách ngăn cản lời Chúa bằng mọi cách nó nghĩ ra, cản ngăn và kiềm hãm không cho sứ điệp lời Chúa giảng ra, bóp méo lời Chúa, tiêu diệt Kinh Thánh, gieo rắc nghi ngờ về lời Chúa . . . và vân vân.

Kế đến, chúng ta cầu nguyện cho lời Chúa được tôn vinh (2Tê 3:1). Điều này có nghĩa là lời Chúa được tôn trọng và đánh giá cao giữa vòng những người nghe. Chúng ta sẽ có một sự tôn kính đối với lời Ngài khi chúng ta thấy rằng Ngài “tôn cao lời Ngài trên cả danh Ngài” (Thi 138:20. Thật ra, Đức Chúa Trời là lời Ngài hiện thân. “Ban đầu có Ngôi lời và Ngôi lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi là Đức Chúa Trời. . . Và Ngôi lời trở nên xác thịt và ngự giữa chúng ta. . .” (Gi 1:1,14).

AnchorChúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được gia tăng (Công vụ 12:24), vì một trong những quy luật của mùa gặt là, “Ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (2Cô 9:6).

Chúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được thắng thế hay phô bày sức mạnh (Công vụ 19:20). Giống như một hạt giống nhỏ có thể phá vỡ một lớp đất để đâm chồi nẩy lộc thì hạt giống lời Chúa được trồng trong tấm lòng cũng vậy.

Lời cầu nguyện tôi thích nhất đối với lời Chúa là lời Chúa sẽ kết quả. Công vụ 14:1 nói rằng các môn đồ “giảng, và vô số người cả do thái lẫn dân ngoại đều tin.”Chúng ta có thể nài xin Ê-sai 55:11, “Này, lời đã ra từ miệng Ta, sẽ không trở về cùng Ta vô hiệu quả, nhưng sẽ làm điều Ta đã định và hoàn thành việc Ta đã sai khiến nó.” Đức Chúa Trời muốn lời Ngài được kết quả; hãy xin Ngài biến lời Ngài kết quả thì bạn đang cầu nguyện theo ý muốn của Ngài và lời cầu nguyện của bạn sẽ được đáp lời!

Hãy để tôi nhắc bạn rằng Giu-đaých-ca-ri-ốt đã sống liên tục tiếp xúc với Lời hằng sống của Đức Chúa Trời nhưng ông đã chết và xuống địa ngục vì Chúa Giê-su phán, “Tốt hơn là người đó thà không sinh ra thì hơn” (Mác 14;21). Những người Pharisi – những con người sùng đạo nhất thời đó – thuộc lòng lời Chúa và có thể trích nhiều đoạn Kinh Thánh, nhưng họ xa cách Nước Đức Chúa Trời như bất cứ người nào.

Chúng ta phải hiểu rằng chỉ có Đức Thánh Linh mới làm sống động lời Chúa trong lòng người nghe thì người đó mới được cứu. Đây là lí do chúng ta phải cầu nguyện cho lời Chúa kết quả trong đời sống của những kẻ nghe!

Nếu chúng ta thật sự muốn nhìn thấy vô số được cứu thì chúng ta phải cầu nguyện cho sự phấn hưng. Câu Kinh Thánh kinh điển về sự phấn hưng bắt đầu cách này, “NếuAnchordân sự Ta, là dân gọi bằng danh Ta hạ mình xuống và cầu nguyện . . .” (2 Sử 7:14). Loại cầu nguyện được nói đến ở đây là cầu thay – cầu nguyện cho người khác. Chỉ sau khi Gióp cầu nguyện (cùng một từ trong tiếng Hê-bơ-rơ ở trên) cho các bạn ông mà Chúa thay đổi tình huống của ông (Gióp 42:10).

Trong thời gian phấn hưng, tất cả lời cầu nguyện là nhắm vào người khác. Duncan Campbell mô tả sự phấn hưng là “một sự bão hòa Đức Chúa Trời” (Edwards 26). Khi người ta bão hòa Đức Chúa Trời, họ quan tâm đến người khác hơn là bản thân. Lòng trắc ẩn của Chúa cho các linh hồn trở thành lòng trắc ẩn của họ.

Hãy nghe Finney mô tả ưu thế của sự cầu nguyện trong thời gian phấn hưng : “Tôi đã nói nhiều lần chính linh cầu nguyện đã chiếm ưu thế trong các cuộc phấn hưng này là một đặt điểm nổi bật trong các buổi nhóm này. Thông thường những người mới tin Chúa hay cầu nguyện, và trong một số trường hợp, họ thường ở lại cầu nguyện suốt đêm, và cho đến khi thể xác mệt nhoài, vì nhiều linh hồn tin Chúa xung quanh họ. Đức Thánh Linh tác động rất mạnh lên tâm trí của cơ đốc nhân; và họ dường như cùng mang gánh nặng về những linh hồn đời đời, thay vì nói chuyện, họ quì gối cầu nguyện.

“Không chỉ các buổi nhóm cầu nguyện được nhiều người tham gia … nhưng có tinh thần cầu nguyện mạnh mẽ. Cơ đốc nhân cầu nguyện rất nhiều, nhiều người để nhiều giờ cầu nguyện riêng. Trong trường hợp có hai người trở lên thì hãy nhận lời hứa này: ‘Nếu hai người trong các ngươi hiệp một cầu xin bất cứ điều gì họ cầu xin, Cha ta trên trời sẽ làm cho họ’ và xem ai đó thành đối tượng cầu nguyện; và thật kì diệu tầm mức mà những lời cầu nguyện hướng tới. Sự đáp lời cầu nguyện được bày tỏ trong nhiều phương diện, không ai thoát khỏi sự cáo trách mà Đức Chúa TrờiAnchorđáp lời cầu nguyện mỗi giờ, mỗi ngày” (Finney 141-42).

Đọc qua các cuộc phấn hưng sẽ thấy ngay hàng trăm, hàng ngàn và thậm chí hàng triệu linh hồn tin Chúa trong những thời điểm này. Jonathan Edwards xem phấn hưng là phương cách chính Chúa dùng mở mang nước Ngài (Edwards 26). Vậy nếu bạn muốn thấy những linh hồn được cứu, hãy cầu nguyện xin phấn hưng!




Đừng ngã trên bục giảng – Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura) nhắc nhở nhiều đến “mục vụ bục giảng”.

Đừng ngã trên bục giảng – Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura) nhắc nhở nhiều đến “mục vụ bục giảng”.

HTTL Hà Nội – Trong năm kỷ niệm 500 năm Tin Lành cải chính, Hội Thánh Chúa khắp nơi đã có rất nhiều sự kiện, chương trình để hướng đến lễ kỷ niệm mang tính trọng đại, toàn cầu. Nhắc đến Cải chính là nhắc về một công cuộc quay trở về với Lẽ Thật. Và với “những người chăn bầy” đang mang một trách nhiệm lớn lao hơn cả.

Nếu đặt câu hỏi quý tôi tớ Chúa có phải khai trình bài giảng của mình trước mặt Chúa hay không? Thì chắc hẳn mỗi một người sẽ thận trọng với Lời Chúa hơn nữa. Bài viết này là sự quan sát nhiều năm tại nhiều nơi hy vọng sẽ đóng góp trong sự suy ngẫm, giảng dạy, thực hành Lời Chúa. Bài viết không nhắm đến một Hội Thánh cụ thể mà là sự trình bày chung nhất về những lỗi mà chúng ta thường mắc phải khi đứng trên bục giảng, để chúng ta cảm thức về điều đó trong sự khiêm nhường, cẩn trọng. Ba vấn đề chính yếu mà chúng ta hay gặp:

Thiếu sự chuẩn bị, sự riêng tư với Chúa
Đây là lỗi lớn không chỉ với những người giảng mà cũng là lý do cho tất cả các mục vụ khác. Nan đề trong bối cảnh của cuộc sống bận rộn hiện nay là đang tồn tại rất nhiều lý do “hợp lý” cả khách quan, chủ quan để giải thích cho một người chăn bầy, giảng lời Chúa thiếu sự chuẩn bị, sửa soạn cho bài giảng, cho cách mình trình bầy trên bục giảng. Chuẩn bị ở đây trước hết với những người chăn bầy đó là đời sống thờ Chúa từng giây phút của họ. Không phải chỉ vào thời điểm họ được mời giảng luận. Nếu họ có đời sống tâm linh quá nghèo nàn với Chúa, với Lời của Chúa thì họ không thể có một bài giảng, cách trình bày như Chúa Giê-xu đang mong đợi. Nhưng nếu họ “nghèo đói trong tâm linh” với nghĩa mà Chúa Giê-xu từng dạy rằng phúc cho những người nghèo đói trong tâm linh (Ma-thi-ơ 5:3) để mô tả về một sự đói khát Thiên Chúa, khao khát chính Đức Chúa Trời; khao khát kinh nghiệm sự hiện diện, sự “xức dầu” của Chúa; sự tương giao sâu sắc cá nhân với Chúa thì chắc hẳn những bài giảng, sự trình bầy sẽ có sự lôi cuốn cũng như “có sức sống” và làm sáng danh Chúa Giê-xu là bao. Cũng như các tín hữu sẽ nhìn thấy rất rõ sự dẫn dắt của Thánh Linh trên những người chăn bầy không chỉ trong giờ họ giảng luận. Vậy đâu là điều tín hữu muốn nhìn thấy? Không phải là thần học của người chăn bầy cao bao nhiêu, giỏi bao nhiêu, giảng hay bao nhiêu, hùng hồn bao nhiêu… nhưng mà điều mà tín hữu muốn nhìn thấy là mối quan hệ cá nhân của người chăn bầy với Chúa rõ nét là bao nhiêu. Vì không ai dám khẳng định 100% chuyện mối quan hệ cá nhân của tôi với Chúa chỉ có Chúa và tôi mới biết còn người khác không thể biết. Đây là một sai lầm rất lớn nếu chúng ta khẳng định ở mức 100%, vì tín hữu sẽ chứng kiến phần nào đời sống của những người chăn bầy trong đời sống hàng ngày và sẽ có những tiêu chuẩn cơ bản theo như Kinh Thánh để nhìn nhận. Nếu một người có mối quan hệ sâu sắc với Đức Chúa Trời họ không thể sống như A, B, C… họ không thể làm điều X, Y,Z…, họ không thể phát ngôn như J,Q,K… họ không để bỏ đói dân sự như D,E,G … hay họ phải là như thế này, như thế kia v.v. Để hiểu cho đơn giản hơn, chúng ta thử đặt một câu hỏi: Điều nào tốt hơn giữa một người Đầy dẫy Đức Thánh Linh giảng về Đầy dẫy Đức Thánh Linh hay là người chưa Đầy dẫy Đức Thánh Linh giảng về Đầy dẫy Đức Thánh Linh? Thực sự rằng lối sống của những người chăn bầy có thể là cú huých cho cuộc cải chính bùng nổ, cú huých lớn góp phần cho sự tăng trưởng của đời sống tín hữu nhưng cũng có thể ảnh hưởng ngược lại.

Vì vậy, trong vấn đề giảng luận cũng như mọi sự, sự ưu tiên trước hết luôn dành cho Chúa, điều này không thể bị đánh đổi. Sự chuẩn bị về mặt tấm lòng, sự cầu nguyện thờ phượng, tình yêu với Kinh Thánh; sự chịu khó, thời gian, sự suy ngẫm, việc học Lời Chúa, soạn bài, phân bổ thời gian hợp lý; cách thức trình bầy, sự cập nhật, tính ứng dụng của bài giảng, lời mời gọi … tất cả phải được sự đầu tư một cách cá nhân với sự hết lòng cùng những giọt nước mắt trong “phòng cầu nguyện”. Mục sư E. M. Bounds chia sẻ lỗi thông thường và nghiêm trọng hơn hết của giới Mục sư, truyền đạo là đặt để ý tưởng hơn cầu nguyện, và “đầu óc” hơn “tấm lòng” vào bài giảng. Soạn bài bằng “đầu óc” dễ hơn soạn một bài giảng bằng “tấm lòng”. Và phòng riêng cầu nguyện chính là căn phòng của tấm lòng. Những bài giảng ra từ sự cầu nguyện luôn tốt hơn những bài giảng chỉ ra từ thư viện. Trong phòng cầu nguyện, chúng ta sẽ học được cách giảng, điều phải giảng hơn là từ thư viện.[1]. Sự cầu nguyện cũng chính là chìa khóa cho sự xức dầu mà sẽ nói trong phần tiếp theo. Sự xức dầu dạy dỗ chúng ta mọi sự trong đó có điều quan trọng là dạy chúng ta ở trong Chúa (I Giăng 2:27).

Để tóm gọn phần này, Kinh Thánh cho biết sự tận cùng của mọi vật vẫn không thể so sánh với Lời Chúa rộng lớn, bao la (Thi thiên 119:96) vậy tại sao có những “bài giảng thiếu thốn” ở nhiều người? Lý do đầu tiên đó là bởi vì họ đã có một đời sống tâm linh quá nghèo nàn với Đức Chúa Trời, họ thiếu tình yêu với Kinh Thánh. Khả năng tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa dạy dỗ trong phòng kín của họ ngày càng suy giảm, họ không thể gặp Đức Chúa Trời sâu sắc thì làm sao có thể giảng? Thậm chí là dấu chấm hết cho sự giảng dạy. Họ thiếu sự chuẩn bị. Hãy thưa lên với Chúa :

“Xin mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp Chúa” (Thi thiên 119:18)

“Xin hãy ban cho tôi trí hiểu, để tôi học điều răn Chúa” (Thi thiên 119:73)

“Xin hãy khiến tôi đi trong đường điều răn Chúa, vì tôi lấy làm vui vẻ tại đó” (Thi thiên 119:35)

“Tôi ưa thích luật lệ Chúa, sẽ chẳng quên Lời Của Chúa” (Thi thiên 119:16)

Thiếu sự xức dầu, khô cứng, quá tập trung vào “kỹ thuật”.
Năm 1924, Mục sư W.Ch. Cadman – Quản nhiệm Hội Thánh Tin lành Hà Nội chúng ta đã cho dịch và xuất bản sang tiếng Việt cuốn sách “Power Through Prayer” của Mục sư E.M. Bounds mà từ xưa cho đến ngày nay nó được dịch là: “Linh lực từ Đời sống Cầu nguyện”. Cuốn sách của thế hệ đi trước đã làm thế hệ đi sau cảm thấy nhỏ bé biết chừng nào.

Khái quát và tóm lược theo quan điểm của Mục sư E.M. Bounds, sự xức dầu tức là sự xức dầu bằng Đức Thánh Linh để biệt riêng ra cho công việc của Chúa và ban cho đủ tư cách để làm công việc ấy. Theo ông, không có sự xức dầu thì diễn đàn trần tục cũng có sức mạng ngang bằng bục giảng Tin lành. Người chăn bầy nếu đánh mất sự xức dầu thì cũng mất luôn nghệ thuật giảng dạy thiên thượng dù họ vẫn có thể giữ được những kỹ thuật giảng, hùng biện, làm hài lòng người nghe… nhưng không thể làm hài lòng Chúa Giê-xu, Đấng đang dõi theo bài giảng của họ. Sự xức dầu thiên thượng làm Lẽ Thật của Chúa có quyền năng, sự lôi cuốn, gây dựng, cáo trách và cứu vớt người ta. Có một điều chúng ta không thể cắt nghĩa cho thông suốt về “sự xức dầu ở đây” nghĩa là gì? Nhà thuyết giáo nổi tiếng C.H. Spurgeon chỉ mô tả một ơn sáng láng mà sự cầu nguyện đem lại cho chức vụ mục sư chính là một cái gì đó không thể mô tả, không thể bắt chước được đó là sự xức dầu từ Đấng Thánh. Ông cho rằng không thể hiểu rõ nổi sự giảng dạy có sự xức dầu kèm theo có nghĩa là gì, tuy nhiên người giảng dạy sẽ biết mình có được xức dầu hay không và người nghe ngồi ở dưới thì nhận thấy người giảng thiếu xức dầu hay không?[2]

Sự xức dầu thiên thượng trên những người chăn bầy do Lời Đức Chúa Trời sinh ra kết quả, có thể tạo nên những ấn tượng. Nhưng E.M. Bounds cũng lưu ý có những cái có vẻ giống như sự xức dầu này được bao với vẻ bề ngoài như sự nhiệt thành, lòng sốt sắng được khuấy động bởi một bài giảng, sự êm dịu, sự gây cảm động, cảm xúc có vẻ giống với sự xức dầu thiên thượng nhưng nó không có sức mạnh làm đau xót, thấm thía và tan vỡ tấm lòng. Trong những hành động bề mặt, cảm xúc đó nó không triệt để, không dò xét và cứu chữa tình trạng tội lỗi. Còn sự xức dầu thiên thượng nó dầm thấm Lẽ Thật với sức mạnh của Chúa. Nó soi sáng Lời Kinh Thánh, làm trí tuệ mở mang, phong phú để hiểu biết Lời Chúa. Nó nâng tấm lòng của người chăn bầy lên đúng tiêu chuẩn của sự mềm mại, tinh sạch, mạnh mẽ, nhẹ nhàng… sự xức dầu giúp cho lời giảng được tự do, đầy trọn. [3]

Sự giảng dạy suy sụp là vì yếu tố thiếu sự xức dầu này. Người giảng có thể có học thức, tài khéo, sự hùng biện xuất sắc, có thể làm người nghe thích thú và say mê… nhưng thiếu sự xức dầu thì giống như sự vắng mặt của Đức Chúa Trời và những điều mang tính kỹ thuật chỉ như gợn nước hung hăng, bọt nước có thể phủ trắng xóa ghềnh đá nhưng các ghềnh đá vẫn cứ trơ trơ, lặng lẽ, không sao lay chuyển được. Lòng cứng cỏi của con người vẫn đầy những điều dơ bẩn. [3] Mục sư E.M . Bounds một lần nữa nhấn mạnh: “

“Sự sốt sắng là tốt và cảm động; thiên tài là quý giá và cao trọng; tư tưởng khuyến khích và soi dẫn; nhưng phải có một khả năng thiên phú hơn, một năng lực mạnh mẽ hơn sự sốt sắng, hoặc thiên tài, hoặc tư tưởng, thì mới đập tan được xiềng xích của tội lỗi, mới chinh phục được những tấm lòng xa cách hoặc hư hoại trở về cùng Đức Chúa Trời, mới sửa chữa được những chỗ nứt rạn và phục hồi được Hội Thánh vào địa vị thánh khiết và quyền năng như trước. Trừ sự xức dầu [của Chúa] ra không chi làm được việc này” [4]

Mục sư E.M. Bounds cũng khuyên răn các Mục sư, truyền đạo rằng sự xức dầu không phải là khả năng thiên phú, cũng không thể tìm thấy ở lâu đài TRI THỨC, không tài hùng biện nào chinh phục được nó, không có sự siêng năng nào có thể chiếm lấy nó. Không bàn tay lãnh đạo Giáo hội nào có thể ban phát nó. Đây là món quà của Chúa đóng ấn vào các sứ giả của Ngài, là những người đã được tuyển lựa và tìm kiếm sự xức dầu thiên thượng này qua biết bao giờ đồng hồ đổ nước mắt CẦU NGUYỆN. Sự xức dầu còn được mô tả qua kinh nghiệm từng trải của những người đi trước như họ như nhận thấy chữ của Kinh Thánh [văn tự] được Thánh Linh đốt nóng và người ta cảm thấy sự ”chuyển bụng” của một phong trào mạnh mẽ, chính là sự xức dầu dầm thấm, thức tỉnh lương tâm, làm tan vỡ tấm lòng. [5]

Cần phải nói rằng, sự xức dầu không phải là một kỷ niệm chỉ thuộc về quá khứ mà con là một thực tại hiển nhiên. Nó là yếu tố biến cải các Mục sư, truyền đạo trở nên giống hình ảnh của Chúa và cũng là yếu tố để họ công bố các chân lý của Chúa Giê-xu một cách đầy quyền năng. Sự xức dầu này có điều kiện chứ không phải là ân tứ cố định. Nó bền vững và gia tăng do chuyên tâm CẦU NGUYỆN, khao khát Đức Chúa Trời, trân quí, khao khát tìm kiếm, và coi là sự thất bại nếu không có được sự xức dầu đó. Chỉ có tấm lòng Cầu nguyện mới là tấm lòng đầy dẫy dầu thánh. Và đời sống cầu nguyện nhiều đó là giá phải trả để được xức dầu, cũng như giữ được sự xức dầu trong sự giảng dạy. Nếu không có sự xức dầu thì giống như Ma-na sinh sâu bọ vì để quá hạn[6]. Vị Thầy Lễ Richard Cecil chia sẽ mạnh mẽ:

“Nếu Mục sư không được xức dầu, thì tất cả những cố gắng của ông chỉ là hư không, hoặc còn tệ hại hơn sự hư không nữa. Sự xức dầu phải giáng xuống từ trời, và rải một mùi hương, một cảm giác, một hứng thú trên chức vụ của ông, và trong số những phương pháp khác giúp cho ông có đủ tư cách thi hành chức vụ, Kinh Thánh phải đứng hàng đầu và hàng cuối cũng phải dành cho Lời Đức Chúa Trời và sự Cầu nguyện” [7]

Từ kinh nghiệm của những bậc tiền bối đi trước, chúng ta đã thấy những tấm gương trong lịch sử Hội Thánh được tái hiện như lần Mục sư Tống Thượng Tiết, Mục sư Lê Văn Thái giảng lời Chúa. Bà Đốc học Homera Dixon của chúng ta từng chia sẻ về một con người của sự Cầu nguyện đó là Mục sư Lê Văn Thái, người Mục sư chuyên tâm lo cho truyền giáo và “cái lò sửa – Cầu nguyện của Hội Thánh”. Trong một lần bà Giáo sĩ Dixon chứng kiến Mục sư Lê Văn Thái giảng Lời Chúa, bà nhận xét bài giảng không có gì đặc biệt [kỹ thuật, phương pháp], nhưng Thánh Linh hành động trên Mục sư Lê Văn Thái qua những lời giảng đã khiến con dân Chúa tan vỡ với Chúa. Và không chỉ một lần mà Lịch sử Hội Thánh đã ghi lại những thời khắc con dân Chúa tan vỡ thể nào sau những bài giảng của vị Mục sư đáng kính này. Đó là sự xức dầu. Vậy nếu bạn lo lắng rằng về chuyện sẽ phải dùng “những kỹ thuật” nào cho bài giảng thì hãy chuyên tâm cho câu hỏi về sự xức dầu hơn. Chúng ta không vứt bỏ kỹ thuật, phương pháp nhưng quan trọng là Chúa phải trên hết, hãy thể hiện điều đó bằng sự kính sợ, bằng tình yêu, sự CẦU NGUYỆN sâu sắc với Chúa. Phải làm điều này hơn hết cả. Hội Thánh Hà Nội đã có lịch sử về “sự xức dầu thiên thượng này” từ tấm gương của quý đầy tớ Chúa là những người đi trước.

Sai mục đích; Thiếu sự kêu gọi, thiếu tính áp dụng Kinh Thánh.
Đây là lỗi cũng thường xảy ra. Mục đích của sự giảng dạy không phải là chỉ để “truyền thông tin Kinh Thánh” mà là “thực hành Kinh Thánh”; không phải diễn thuyết mà đích đến cuối cùng là sự nhờ cậy Thánh Linh thực hành Kinh Thánh. Có như vậy chúng ta mới có thể làm sáng danh Chúa Giê-xu. Có như vậy, mới có thể trở thành người làm theo lòng Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể xem lại clip các bài giảng ở các Hội Thánh tại Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này, ví dụ :

Bài giảng quá dài dòng, thiếu tính cân đối, quá nhiều chủ đề, dùng quá nhiều giáo lý thần học trong một bài giảng.

Đối ngược với lỗi “quá cơ bản”, là trình bày quá dài dòng, lê thê hoặc mất tính cân đối như phần 1 nói rất dài, phần 2 lại trình bầy cụt ngủ. Hay trình bày Quá nhiều chủ đề trong một bài giảng, mất trọng tâm, người nghe không biết hay phải cô đọng thế nào, thực hành thế nào?

Đi quá xa với bản văn Kinh Thánh dẫn đến sai mục đích: Do cách soạn bài giảng theo chủ đề, theo câu gốc khiến người soạn bỏ quên văn mạch, bối cảnh lịch sử, ý nghĩa nguyên sơ ban đầu của trước giả Kinh Thánh muốn dành cho độc giả ban đầu vào thời xưa đó nghe là gì rồi từ đó mới đưa ra sự liên hệ, áp dụng tới bối cảnh hiện tại. Cách soạn theo chủ đề, câu gốc thường tập trung vào ý tưởng con người hơn là tập trung vào bản văn Kinh Thánh, ý tưởng của Chúa. Nếu mục đích chúng ta là khiến con dân Chúa yêu mến, tập trung vào Lời Ngài thì Giải kinh là hợp lý hơn cả. Nếu chúng ta muốn nhân một sự kiện, cần truyền cảm hứng cho tín hữu trong việc thúc đẩy một vấn đề thuộc linh nào đó của Hội Thánh thì có thể sử dụng theo chủ đề, câu gốc nhưng nó chỉ phù hợp với những hoàn cảnh, sự kiện nào đó và không phải là phương pháp mang tính lâu dài. Giảng theo chủ đề nếu bị lạm dụng có thể biến các buổi Chúa Nhật trở thành một buổi “Hội thảo một chiều”.

Kể chuyện, ví dụ minh họa, chuyện “cười”, diễn thuyết quá nhiều mà quên SỰ KÊU GỌI. Ví dụ minh họa, hay câu chuyện đức tin là cần thiết có thể khiến bài giảng sinh động và giúp đi vào lòng người hơn. Tuy nhiên sự lạm dụng nó là một sự bất ổn. Đã có nhiều tôi tớ Chúa biến buổi giảng Lời Chúa thành buổi nghe kể chuyện, hay thành một buổi pha trò cười và cuối cùng đọng lại bài giảng là gì? Và thậm chí những câu chuyện thay vì hậu thuẫn cho Kinh Thánh thì lại lấy Kinh Thánh để hậu thuẫn cho những câu chuyện. Tín hữu có thể sẽ rơi vào tình trạng không biết phải nhớ Lời Chúa hay câu chuyện kể cho đời sống đạo hàng ngày của mình. Rất dễ thấy những bài giảng kể chuyện, diễn thuyết rất hay nhưng sự kêu gọi đâu? Sự đáp ứng của tín hữu đâu? Chúa muốn 01 người đáp ứng lời Chúa hay cả Hội chúng đáp ứng Lời Chúa. Lạm dụng câu chuyện nhiều có thể khiến người nghe tập trung vào bản thân, giá trị người giảng hơn là Chúa Giê-xu. Mục đích của chúng ta không phải là câu chuyện, chuyện cười mà đằng sau câu chuyện cười, sau bài giảng là sự thực hành của tín hữu ra sao? Họ đáp ứng với Chúa Giê-xu thế nào? Sự kêu gọi có thể nói như cú trái phá làm tấm lòng tan vỡ và quyết định dấn thân theo sự mời gọi. Và để làm điều này lại là sự xức dầu.

Thay lời kết

Một Mục sư chia sẻ hai lý do cho sự chuyển Hội Thánh địa phương này để đến nhóm với Hội Thánh địa phương khác thì sự giảng dạy và hát thờ phượng là hai lý do chủ yếu. Trong đó yếu tố hát thờ phượng là ưu thế (xin không trình bầy vấn đề này tại đây).

Chúng ta thấy rằng “mục vụ bục giảng” là mục vụ rất quan trọng, giống như một người cầm chìa khóa cho đời sống tâm linh của cả tập thể. Nó là một trong những kênh giáo dục có yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng thuộc linh của từng tín hữu. Nó cũng là chỗ để mọi tín đồ đến gặp gỡ Chúa, để gần Chúa hơn. Nó thật ra không phải là chỗ của chúng ta mà phải là chỗ của Chúa, thuộc về Chúa, cho vinh hiển của Chúa. Đừng giảng cái gì mà Chúa không muốn mình giảng. Đừng “nói tiên tri” cái gì mà Chúa không bảo. Nếu chúng ta không làm mọi cách để thu hút tín đồ đi sát với Lời Chúa thì làm sao có sự tăng trưởng? Nếu chúng ta không nuôi dưỡng được đời sống tâm linh của tín hữu bằng Lời Chúa thì làm sao Cải chính xảy đến? Và nếu không có Lời Chúa thì không có cái gì được gọi là thánh cả.

Có thể nói rằng, cuộc Cải chính nhắc nhở chúng ta về công cuộc của những thánh đồ sẵn sàng đứng lên trả giá vì Lẽ Thật mà ngày nay chúng ta được thửa hưởng di sản thuộc linh là những cột trụ của đức tin mang bản sắc Tin Lành: Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura), Duy Ân điển (Sola Gratia), Duy Đức tin (Sola Fide), Duy Đức Chúa Giê-xu Christ (Solus Christus), Duy Đức Chúa Trời được vinh hiển (Soli Deo gloria). Trong đó Duy Kinh Thánh được xem là nên tảng, một giá trị vô cùng lớn lao làm nên bản sắc của người Tin Lành như Nhà văn Phan Khôi từng nói: “Cái giáo nghĩa của đạo Tin lành không có vẽ vời ra nhiều nghi thức … mà chỉ lấy Kinh Thánh làm gốc..”. Hãy làm tất cả những gì để Lời Chúa được yêu mến hơn hết trong đời sống mỗi người. Hãy cầu nguyện cho sự yếu đuối của chúng ta.

Bài viết Chấp sự Nguyễn Trọng Bình

_____________________

Chú thích:

[1] E.M. Bounds, Linh Lực Từ Đời Sống Cầu Nguyện. (Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2013), p 80-82

[2] E.M. Bounds, Linh Lực Từ Đời Sống Cầu Nguyện, p83-98

[3] E.M. Bounds, ibid

[4] ibid

[5] ibid

[6] ibid

[7] ibid

[8] Phan Khôi, “Giới Thiệu và Phê Bình Thánh Kinh Báo”, Phụ Nữ Tân Văn. (Sài Gòn Số 74, ngày 16/10/1930), http://vibiwebsite.com/VIBI_WV/?p=1129




God Entered My Room After Watching This Video!




Buddhist woman converts to Jesus after Heavenly encounter.




THẦN HỌC TINH TUYỄN 16-30