Đừng ngã trên bục giảng – Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura) nhắc nhở nhiều đến “mục vụ bục giảng”.

Đừng ngã trên bục giảng – Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura) nhắc nhở nhiều đến “mục vụ bục giảng”.

HTTL Hà Nội – Trong năm kỷ niệm 500 năm Tin Lành cải chính, Hội Thánh Chúa khắp nơi đã có rất nhiều sự kiện, chương trình để hướng đến lễ kỷ niệm mang tính trọng đại, toàn cầu. Nhắc đến Cải chính là nhắc về một công cuộc quay trở về với Lẽ Thật. Và với “những người chăn bầy” đang mang một trách nhiệm lớn lao hơn cả.

Nếu đặt câu hỏi quý tôi tớ Chúa có phải khai trình bài giảng của mình trước mặt Chúa hay không? Thì chắc hẳn mỗi một người sẽ thận trọng với Lời Chúa hơn nữa. Bài viết này là sự quan sát nhiều năm tại nhiều nơi hy vọng sẽ đóng góp trong sự suy ngẫm, giảng dạy, thực hành Lời Chúa. Bài viết không nhắm đến một Hội Thánh cụ thể mà là sự trình bày chung nhất về những lỗi mà chúng ta thường mắc phải khi đứng trên bục giảng, để chúng ta cảm thức về điều đó trong sự khiêm nhường, cẩn trọng. Ba vấn đề chính yếu mà chúng ta hay gặp:

Thiếu sự chuẩn bị, sự riêng tư với Chúa
Đây là lỗi lớn không chỉ với những người giảng mà cũng là lý do cho tất cả các mục vụ khác. Nan đề trong bối cảnh của cuộc sống bận rộn hiện nay là đang tồn tại rất nhiều lý do “hợp lý” cả khách quan, chủ quan để giải thích cho một người chăn bầy, giảng lời Chúa thiếu sự chuẩn bị, sửa soạn cho bài giảng, cho cách mình trình bầy trên bục giảng. Chuẩn bị ở đây trước hết với những người chăn bầy đó là đời sống thờ Chúa từng giây phút của họ. Không phải chỉ vào thời điểm họ được mời giảng luận. Nếu họ có đời sống tâm linh quá nghèo nàn với Chúa, với Lời của Chúa thì họ không thể có một bài giảng, cách trình bày như Chúa Giê-xu đang mong đợi. Nhưng nếu họ “nghèo đói trong tâm linh” với nghĩa mà Chúa Giê-xu từng dạy rằng phúc cho những người nghèo đói trong tâm linh (Ma-thi-ơ 5:3) để mô tả về một sự đói khát Thiên Chúa, khao khát chính Đức Chúa Trời; khao khát kinh nghiệm sự hiện diện, sự “xức dầu” của Chúa; sự tương giao sâu sắc cá nhân với Chúa thì chắc hẳn những bài giảng, sự trình bầy sẽ có sự lôi cuốn cũng như “có sức sống” và làm sáng danh Chúa Giê-xu là bao. Cũng như các tín hữu sẽ nhìn thấy rất rõ sự dẫn dắt của Thánh Linh trên những người chăn bầy không chỉ trong giờ họ giảng luận. Vậy đâu là điều tín hữu muốn nhìn thấy? Không phải là thần học của người chăn bầy cao bao nhiêu, giỏi bao nhiêu, giảng hay bao nhiêu, hùng hồn bao nhiêu… nhưng mà điều mà tín hữu muốn nhìn thấy là mối quan hệ cá nhân của người chăn bầy với Chúa rõ nét là bao nhiêu. Vì không ai dám khẳng định 100% chuyện mối quan hệ cá nhân của tôi với Chúa chỉ có Chúa và tôi mới biết còn người khác không thể biết. Đây là một sai lầm rất lớn nếu chúng ta khẳng định ở mức 100%, vì tín hữu sẽ chứng kiến phần nào đời sống của những người chăn bầy trong đời sống hàng ngày và sẽ có những tiêu chuẩn cơ bản theo như Kinh Thánh để nhìn nhận. Nếu một người có mối quan hệ sâu sắc với Đức Chúa Trời họ không thể sống như A, B, C… họ không thể làm điều X, Y,Z…, họ không thể phát ngôn như J,Q,K… họ không để bỏ đói dân sự như D,E,G … hay họ phải là như thế này, như thế kia v.v. Để hiểu cho đơn giản hơn, chúng ta thử đặt một câu hỏi: Điều nào tốt hơn giữa một người Đầy dẫy Đức Thánh Linh giảng về Đầy dẫy Đức Thánh Linh hay là người chưa Đầy dẫy Đức Thánh Linh giảng về Đầy dẫy Đức Thánh Linh? Thực sự rằng lối sống của những người chăn bầy có thể là cú huých cho cuộc cải chính bùng nổ, cú huých lớn góp phần cho sự tăng trưởng của đời sống tín hữu nhưng cũng có thể ảnh hưởng ngược lại.

Vì vậy, trong vấn đề giảng luận cũng như mọi sự, sự ưu tiên trước hết luôn dành cho Chúa, điều này không thể bị đánh đổi. Sự chuẩn bị về mặt tấm lòng, sự cầu nguyện thờ phượng, tình yêu với Kinh Thánh; sự chịu khó, thời gian, sự suy ngẫm, việc học Lời Chúa, soạn bài, phân bổ thời gian hợp lý; cách thức trình bầy, sự cập nhật, tính ứng dụng của bài giảng, lời mời gọi … tất cả phải được sự đầu tư một cách cá nhân với sự hết lòng cùng những giọt nước mắt trong “phòng cầu nguyện”. Mục sư E. M. Bounds chia sẻ lỗi thông thường và nghiêm trọng hơn hết của giới Mục sư, truyền đạo là đặt để ý tưởng hơn cầu nguyện, và “đầu óc” hơn “tấm lòng” vào bài giảng. Soạn bài bằng “đầu óc” dễ hơn soạn một bài giảng bằng “tấm lòng”. Và phòng riêng cầu nguyện chính là căn phòng của tấm lòng. Những bài giảng ra từ sự cầu nguyện luôn tốt hơn những bài giảng chỉ ra từ thư viện. Trong phòng cầu nguyện, chúng ta sẽ học được cách giảng, điều phải giảng hơn là từ thư viện.[1]. Sự cầu nguyện cũng chính là chìa khóa cho sự xức dầu mà sẽ nói trong phần tiếp theo. Sự xức dầu dạy dỗ chúng ta mọi sự trong đó có điều quan trọng là dạy chúng ta ở trong Chúa (I Giăng 2:27).

Để tóm gọn phần này, Kinh Thánh cho biết sự tận cùng của mọi vật vẫn không thể so sánh với Lời Chúa rộng lớn, bao la (Thi thiên 119:96) vậy tại sao có những “bài giảng thiếu thốn” ở nhiều người? Lý do đầu tiên đó là bởi vì họ đã có một đời sống tâm linh quá nghèo nàn với Đức Chúa Trời, họ thiếu tình yêu với Kinh Thánh. Khả năng tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa dạy dỗ trong phòng kín của họ ngày càng suy giảm, họ không thể gặp Đức Chúa Trời sâu sắc thì làm sao có thể giảng? Thậm chí là dấu chấm hết cho sự giảng dạy. Họ thiếu sự chuẩn bị. Hãy thưa lên với Chúa :

“Xin mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp Chúa” (Thi thiên 119:18)

“Xin hãy ban cho tôi trí hiểu, để tôi học điều răn Chúa” (Thi thiên 119:73)

“Xin hãy khiến tôi đi trong đường điều răn Chúa, vì tôi lấy làm vui vẻ tại đó” (Thi thiên 119:35)

“Tôi ưa thích luật lệ Chúa, sẽ chẳng quên Lời Của Chúa” (Thi thiên 119:16)

Thiếu sự xức dầu, khô cứng, quá tập trung vào “kỹ thuật”.
Năm 1924, Mục sư W.Ch. Cadman – Quản nhiệm Hội Thánh Tin lành Hà Nội chúng ta đã cho dịch và xuất bản sang tiếng Việt cuốn sách “Power Through Prayer” của Mục sư E.M. Bounds mà từ xưa cho đến ngày nay nó được dịch là: “Linh lực từ Đời sống Cầu nguyện”. Cuốn sách của thế hệ đi trước đã làm thế hệ đi sau cảm thấy nhỏ bé biết chừng nào.

Khái quát và tóm lược theo quan điểm của Mục sư E.M. Bounds, sự xức dầu tức là sự xức dầu bằng Đức Thánh Linh để biệt riêng ra cho công việc của Chúa và ban cho đủ tư cách để làm công việc ấy. Theo ông, không có sự xức dầu thì diễn đàn trần tục cũng có sức mạng ngang bằng bục giảng Tin lành. Người chăn bầy nếu đánh mất sự xức dầu thì cũng mất luôn nghệ thuật giảng dạy thiên thượng dù họ vẫn có thể giữ được những kỹ thuật giảng, hùng biện, làm hài lòng người nghe… nhưng không thể làm hài lòng Chúa Giê-xu, Đấng đang dõi theo bài giảng của họ. Sự xức dầu thiên thượng làm Lẽ Thật của Chúa có quyền năng, sự lôi cuốn, gây dựng, cáo trách và cứu vớt người ta. Có một điều chúng ta không thể cắt nghĩa cho thông suốt về “sự xức dầu ở đây” nghĩa là gì? Nhà thuyết giáo nổi tiếng C.H. Spurgeon chỉ mô tả một ơn sáng láng mà sự cầu nguyện đem lại cho chức vụ mục sư chính là một cái gì đó không thể mô tả, không thể bắt chước được đó là sự xức dầu từ Đấng Thánh. Ông cho rằng không thể hiểu rõ nổi sự giảng dạy có sự xức dầu kèm theo có nghĩa là gì, tuy nhiên người giảng dạy sẽ biết mình có được xức dầu hay không và người nghe ngồi ở dưới thì nhận thấy người giảng thiếu xức dầu hay không?[2]

Sự xức dầu thiên thượng trên những người chăn bầy do Lời Đức Chúa Trời sinh ra kết quả, có thể tạo nên những ấn tượng. Nhưng E.M. Bounds cũng lưu ý có những cái có vẻ giống như sự xức dầu này được bao với vẻ bề ngoài như sự nhiệt thành, lòng sốt sắng được khuấy động bởi một bài giảng, sự êm dịu, sự gây cảm động, cảm xúc có vẻ giống với sự xức dầu thiên thượng nhưng nó không có sức mạnh làm đau xót, thấm thía và tan vỡ tấm lòng. Trong những hành động bề mặt, cảm xúc đó nó không triệt để, không dò xét và cứu chữa tình trạng tội lỗi. Còn sự xức dầu thiên thượng nó dầm thấm Lẽ Thật với sức mạnh của Chúa. Nó soi sáng Lời Kinh Thánh, làm trí tuệ mở mang, phong phú để hiểu biết Lời Chúa. Nó nâng tấm lòng của người chăn bầy lên đúng tiêu chuẩn của sự mềm mại, tinh sạch, mạnh mẽ, nhẹ nhàng… sự xức dầu giúp cho lời giảng được tự do, đầy trọn. [3]

Sự giảng dạy suy sụp là vì yếu tố thiếu sự xức dầu này. Người giảng có thể có học thức, tài khéo, sự hùng biện xuất sắc, có thể làm người nghe thích thú và say mê… nhưng thiếu sự xức dầu thì giống như sự vắng mặt của Đức Chúa Trời và những điều mang tính kỹ thuật chỉ như gợn nước hung hăng, bọt nước có thể phủ trắng xóa ghềnh đá nhưng các ghềnh đá vẫn cứ trơ trơ, lặng lẽ, không sao lay chuyển được. Lòng cứng cỏi của con người vẫn đầy những điều dơ bẩn. [3] Mục sư E.M . Bounds một lần nữa nhấn mạnh: “

“Sự sốt sắng là tốt và cảm động; thiên tài là quý giá và cao trọng; tư tưởng khuyến khích và soi dẫn; nhưng phải có một khả năng thiên phú hơn, một năng lực mạnh mẽ hơn sự sốt sắng, hoặc thiên tài, hoặc tư tưởng, thì mới đập tan được xiềng xích của tội lỗi, mới chinh phục được những tấm lòng xa cách hoặc hư hoại trở về cùng Đức Chúa Trời, mới sửa chữa được những chỗ nứt rạn và phục hồi được Hội Thánh vào địa vị thánh khiết và quyền năng như trước. Trừ sự xức dầu [của Chúa] ra không chi làm được việc này” [4]

Mục sư E.M. Bounds cũng khuyên răn các Mục sư, truyền đạo rằng sự xức dầu không phải là khả năng thiên phú, cũng không thể tìm thấy ở lâu đài TRI THỨC, không tài hùng biện nào chinh phục được nó, không có sự siêng năng nào có thể chiếm lấy nó. Không bàn tay lãnh đạo Giáo hội nào có thể ban phát nó. Đây là món quà của Chúa đóng ấn vào các sứ giả của Ngài, là những người đã được tuyển lựa và tìm kiếm sự xức dầu thiên thượng này qua biết bao giờ đồng hồ đổ nước mắt CẦU NGUYỆN. Sự xức dầu còn được mô tả qua kinh nghiệm từng trải của những người đi trước như họ như nhận thấy chữ của Kinh Thánh [văn tự] được Thánh Linh đốt nóng và người ta cảm thấy sự ”chuyển bụng” của một phong trào mạnh mẽ, chính là sự xức dầu dầm thấm, thức tỉnh lương tâm, làm tan vỡ tấm lòng. [5]

Cần phải nói rằng, sự xức dầu không phải là một kỷ niệm chỉ thuộc về quá khứ mà con là một thực tại hiển nhiên. Nó là yếu tố biến cải các Mục sư, truyền đạo trở nên giống hình ảnh của Chúa và cũng là yếu tố để họ công bố các chân lý của Chúa Giê-xu một cách đầy quyền năng. Sự xức dầu này có điều kiện chứ không phải là ân tứ cố định. Nó bền vững và gia tăng do chuyên tâm CẦU NGUYỆN, khao khát Đức Chúa Trời, trân quí, khao khát tìm kiếm, và coi là sự thất bại nếu không có được sự xức dầu đó. Chỉ có tấm lòng Cầu nguyện mới là tấm lòng đầy dẫy dầu thánh. Và đời sống cầu nguyện nhiều đó là giá phải trả để được xức dầu, cũng như giữ được sự xức dầu trong sự giảng dạy. Nếu không có sự xức dầu thì giống như Ma-na sinh sâu bọ vì để quá hạn[6]. Vị Thầy Lễ Richard Cecil chia sẽ mạnh mẽ:

“Nếu Mục sư không được xức dầu, thì tất cả những cố gắng của ông chỉ là hư không, hoặc còn tệ hại hơn sự hư không nữa. Sự xức dầu phải giáng xuống từ trời, và rải một mùi hương, một cảm giác, một hứng thú trên chức vụ của ông, và trong số những phương pháp khác giúp cho ông có đủ tư cách thi hành chức vụ, Kinh Thánh phải đứng hàng đầu và hàng cuối cũng phải dành cho Lời Đức Chúa Trời và sự Cầu nguyện” [7]

Từ kinh nghiệm của những bậc tiền bối đi trước, chúng ta đã thấy những tấm gương trong lịch sử Hội Thánh được tái hiện như lần Mục sư Tống Thượng Tiết, Mục sư Lê Văn Thái giảng lời Chúa. Bà Đốc học Homera Dixon của chúng ta từng chia sẻ về một con người của sự Cầu nguyện đó là Mục sư Lê Văn Thái, người Mục sư chuyên tâm lo cho truyền giáo và “cái lò sửa – Cầu nguyện của Hội Thánh”. Trong một lần bà Giáo sĩ Dixon chứng kiến Mục sư Lê Văn Thái giảng Lời Chúa, bà nhận xét bài giảng không có gì đặc biệt [kỹ thuật, phương pháp], nhưng Thánh Linh hành động trên Mục sư Lê Văn Thái qua những lời giảng đã khiến con dân Chúa tan vỡ với Chúa. Và không chỉ một lần mà Lịch sử Hội Thánh đã ghi lại những thời khắc con dân Chúa tan vỡ thể nào sau những bài giảng của vị Mục sư đáng kính này. Đó là sự xức dầu. Vậy nếu bạn lo lắng rằng về chuyện sẽ phải dùng “những kỹ thuật” nào cho bài giảng thì hãy chuyên tâm cho câu hỏi về sự xức dầu hơn. Chúng ta không vứt bỏ kỹ thuật, phương pháp nhưng quan trọng là Chúa phải trên hết, hãy thể hiện điều đó bằng sự kính sợ, bằng tình yêu, sự CẦU NGUYỆN sâu sắc với Chúa. Phải làm điều này hơn hết cả. Hội Thánh Hà Nội đã có lịch sử về “sự xức dầu thiên thượng này” từ tấm gương của quý đầy tớ Chúa là những người đi trước.

Sai mục đích; Thiếu sự kêu gọi, thiếu tính áp dụng Kinh Thánh.
Đây là lỗi cũng thường xảy ra. Mục đích của sự giảng dạy không phải là chỉ để “truyền thông tin Kinh Thánh” mà là “thực hành Kinh Thánh”; không phải diễn thuyết mà đích đến cuối cùng là sự nhờ cậy Thánh Linh thực hành Kinh Thánh. Có như vậy chúng ta mới có thể làm sáng danh Chúa Giê-xu. Có như vậy, mới có thể trở thành người làm theo lòng Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể xem lại clip các bài giảng ở các Hội Thánh tại Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này, ví dụ :

Bài giảng quá dài dòng, thiếu tính cân đối, quá nhiều chủ đề, dùng quá nhiều giáo lý thần học trong một bài giảng.

Đối ngược với lỗi “quá cơ bản”, là trình bày quá dài dòng, lê thê hoặc mất tính cân đối như phần 1 nói rất dài, phần 2 lại trình bầy cụt ngủ. Hay trình bày Quá nhiều chủ đề trong một bài giảng, mất trọng tâm, người nghe không biết hay phải cô đọng thế nào, thực hành thế nào?

Đi quá xa với bản văn Kinh Thánh dẫn đến sai mục đích: Do cách soạn bài giảng theo chủ đề, theo câu gốc khiến người soạn bỏ quên văn mạch, bối cảnh lịch sử, ý nghĩa nguyên sơ ban đầu của trước giả Kinh Thánh muốn dành cho độc giả ban đầu vào thời xưa đó nghe là gì rồi từ đó mới đưa ra sự liên hệ, áp dụng tới bối cảnh hiện tại. Cách soạn theo chủ đề, câu gốc thường tập trung vào ý tưởng con người hơn là tập trung vào bản văn Kinh Thánh, ý tưởng của Chúa. Nếu mục đích chúng ta là khiến con dân Chúa yêu mến, tập trung vào Lời Ngài thì Giải kinh là hợp lý hơn cả. Nếu chúng ta muốn nhân một sự kiện, cần truyền cảm hứng cho tín hữu trong việc thúc đẩy một vấn đề thuộc linh nào đó của Hội Thánh thì có thể sử dụng theo chủ đề, câu gốc nhưng nó chỉ phù hợp với những hoàn cảnh, sự kiện nào đó và không phải là phương pháp mang tính lâu dài. Giảng theo chủ đề nếu bị lạm dụng có thể biến các buổi Chúa Nhật trở thành một buổi “Hội thảo một chiều”.

Kể chuyện, ví dụ minh họa, chuyện “cười”, diễn thuyết quá nhiều mà quên SỰ KÊU GỌI. Ví dụ minh họa, hay câu chuyện đức tin là cần thiết có thể khiến bài giảng sinh động và giúp đi vào lòng người hơn. Tuy nhiên sự lạm dụng nó là một sự bất ổn. Đã có nhiều tôi tớ Chúa biến buổi giảng Lời Chúa thành buổi nghe kể chuyện, hay thành một buổi pha trò cười và cuối cùng đọng lại bài giảng là gì? Và thậm chí những câu chuyện thay vì hậu thuẫn cho Kinh Thánh thì lại lấy Kinh Thánh để hậu thuẫn cho những câu chuyện. Tín hữu có thể sẽ rơi vào tình trạng không biết phải nhớ Lời Chúa hay câu chuyện kể cho đời sống đạo hàng ngày của mình. Rất dễ thấy những bài giảng kể chuyện, diễn thuyết rất hay nhưng sự kêu gọi đâu? Sự đáp ứng của tín hữu đâu? Chúa muốn 01 người đáp ứng lời Chúa hay cả Hội chúng đáp ứng Lời Chúa. Lạm dụng câu chuyện nhiều có thể khiến người nghe tập trung vào bản thân, giá trị người giảng hơn là Chúa Giê-xu. Mục đích của chúng ta không phải là câu chuyện, chuyện cười mà đằng sau câu chuyện cười, sau bài giảng là sự thực hành của tín hữu ra sao? Họ đáp ứng với Chúa Giê-xu thế nào? Sự kêu gọi có thể nói như cú trái phá làm tấm lòng tan vỡ và quyết định dấn thân theo sự mời gọi. Và để làm điều này lại là sự xức dầu.

Thay lời kết

Một Mục sư chia sẻ hai lý do cho sự chuyển Hội Thánh địa phương này để đến nhóm với Hội Thánh địa phương khác thì sự giảng dạy và hát thờ phượng là hai lý do chủ yếu. Trong đó yếu tố hát thờ phượng là ưu thế (xin không trình bầy vấn đề này tại đây).

Chúng ta thấy rằng “mục vụ bục giảng” là mục vụ rất quan trọng, giống như một người cầm chìa khóa cho đời sống tâm linh của cả tập thể. Nó là một trong những kênh giáo dục có yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng thuộc linh của từng tín hữu. Nó cũng là chỗ để mọi tín đồ đến gặp gỡ Chúa, để gần Chúa hơn. Nó thật ra không phải là chỗ của chúng ta mà phải là chỗ của Chúa, thuộc về Chúa, cho vinh hiển của Chúa. Đừng giảng cái gì mà Chúa không muốn mình giảng. Đừng “nói tiên tri” cái gì mà Chúa không bảo. Nếu chúng ta không làm mọi cách để thu hút tín đồ đi sát với Lời Chúa thì làm sao có sự tăng trưởng? Nếu chúng ta không nuôi dưỡng được đời sống tâm linh của tín hữu bằng Lời Chúa thì làm sao Cải chính xảy đến? Và nếu không có Lời Chúa thì không có cái gì được gọi là thánh cả.

Có thể nói rằng, cuộc Cải chính nhắc nhở chúng ta về công cuộc của những thánh đồ sẵn sàng đứng lên trả giá vì Lẽ Thật mà ngày nay chúng ta được thửa hưởng di sản thuộc linh là những cột trụ của đức tin mang bản sắc Tin Lành: Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura), Duy Ân điển (Sola Gratia), Duy Đức tin (Sola Fide), Duy Đức Chúa Giê-xu Christ (Solus Christus), Duy Đức Chúa Trời được vinh hiển (Soli Deo gloria). Trong đó Duy Kinh Thánh được xem là nên tảng, một giá trị vô cùng lớn lao làm nên bản sắc của người Tin Lành như Nhà văn Phan Khôi từng nói: “Cái giáo nghĩa của đạo Tin lành không có vẽ vời ra nhiều nghi thức … mà chỉ lấy Kinh Thánh làm gốc..”. Hãy làm tất cả những gì để Lời Chúa được yêu mến hơn hết trong đời sống mỗi người. Hãy cầu nguyện cho sự yếu đuối của chúng ta.

Bài viết Chấp sự Nguyễn Trọng Bình

_____________________

Chú thích:

[1] E.M. Bounds, Linh Lực Từ Đời Sống Cầu Nguyện. (Sài Gòn: NXB Tôn Giáo, 2013), p 80-82

[2] E.M. Bounds, Linh Lực Từ Đời Sống Cầu Nguyện, p83-98

[3] E.M. Bounds, ibid

[4] ibid

[5] ibid

[6] ibid

[7] ibid

[8] Phan Khôi, “Giới Thiệu và Phê Bình Thánh Kinh Báo”, Phụ Nữ Tân Văn. (Sài Gòn Số 74, ngày 16/10/1930), http://vibiwebsite.com/VIBI_WV/?p=1129




God Entered My Room After Watching This Video!




Buddhist woman converts to Jesus after Heavenly encounter.




THẦN HỌC TINH TUYỄN 16-30




THẦN HỌC TINH TUYỂN 1-15




Bạn cần bao nhiêu dấu hiệu nữa?




Bạn cần bao nhiêu dấu hiệu nữa?

Ngày tái lâm của Chúa Giê-su đang ở ngay trước cửa. Trong thời gian qua, những lời tiên tri trong Kinh Thánh đã liên tục ứng nghiệm rất rõ ràng. Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự hỏi rằng chúng ta cần bao nhiêu dấu hiệu nữa để thức tỉnh. Vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, Ngài đã cảnh báo chúng ta đúng lúc để chúng ta có thể chuẩn bị cho ngày tái lâm của Chúa Giê-su.




TỔNG THỐNG DONALD TRUMP VÀ VUA CYRUS

Vào ngày 28/02/2018 vừa qua, tổ chức Đền Thờ (Temple Institue) của Israel đã đúc đồng xu có hình của tổng thống Donald Trump và vua Cyrus của Ba Tư. Vua Cyrus trị vì 2500 năm trước, đã cho phép người Do Thái trở về lại Jerusalem sau khi họ bị lưu đày sang Babylon. Họ đúc đồng xu này để tỏ lòng biết ơn vì ông Trump đã công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel trong tháng 12/2017. Tại sao người Do Thái lại ví ông như vua Cyrus?

Chúng ta hãy đến với sách tiên tri Ê-sai (được viết cách đây khoảng 2700 năm) của Kinh Thánh để biết câu trả lời. Trong sách này, Đức Chúa Trời thách thức chúng ta: “Hãy nói những việc sẽ xảy đến sau nầy, để chúng ta biết các ngươi là thần” (Ê-sai 41:23). Nếu chúng ta nói trước được tương lai thì chúng ta là thần, vì chỉ mình Đức Chúa Trời mới biết điều gì sẽ đến.

1) Đức Chúa Trời chọn vua Cyrus của Ba Tư để xây lại đền thờ Jerusalem và phóng thích dân Ngài

Lúc bấy giờ, dân Israel phản nghịch với Đức Chúa Trời, họ phạm nhiều tội ác và chạy theo thần của dân ngoại. Cho nên, Ngài đã dùng nhiều tiên tri để kêu gọi họ ăn năn trở về với Ngài. Tuy nhiên, họ không những khinh thường lời kêu gọi của Ngài mà còn giết chết phần lớn các tiên tri. Chính vì vậy Đức Chúa Trời công bố sẽ phán xét dân Ngài bằng cách dùng quân Babylon để tấn công nước Do Thái, san bằng đền thờ Jerusalem, tàn sát nhiều người và bắt nhiều người lưu đày sang Babylon. Nhưng Ngài cũng ban họ một niềm hy vọng. Thông qua tiên tri Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời cho biết trước là họ chỉ ở Babylon 70 năm, rồi Ngài sẽ mang họ trở về lại Jerusalem (xem Giê-rê-mi 25:11-12).

http://penelope.uchicago.edu/josephus/ant-11.html), sử gia Do Thái Flavius Josephus viết rằng: “Đức Chúa Trời đã tác động đến tâm trí của Cyrus, nên vua đã ban chiếu chỉ cho toàn Tiểu Á: Vua Cyrus truyền như vậy: ‘Vì Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng, đã bổ nhiệm trẫm làm vua của cả đất. Trẫm tin Ngài là Đức Chúa Trời mà người Do Thái thờ phượng. Chính Ngài đã nhắc đến tên trẫm trong các sách Tiên Tri và bảo trẫm phải xây nhà cho Ngài tại Jerusalem trong xứ Judea’”. Được biết là những lãnh đạo Do Thái đã cho vua Cyrus xem đoạn Ê-sai 45 nói về ông.

Mời các bạn đọc tiếp bài này ở đây: http://www.angospel.com/tan-the/173-trumpcyrus.html




Phân tích triết lý vô ngã của nhà Phật

Dẫn nhập:

Cột trụ của Phật giáo là thuyết VÔ NGÃ. Thuyết Vô Ngã do chính Phật Thích Ca, giáo chủ của Phật giáo giảng dạy. Trong kinh Pháp Cú 20:5-7 ghi lại lời dạy của Phật Thích Ca như sau:

“Chư Hành vô thượng (Mọi sự vật bị giới hạn đều là vô thượng – luôn biến đổi)
“Chư Hành là khổ (Mọi sự vật bị giới hạn đều là khổ – đời sống không có sự vui thỏa)
“Chư Pháp vô ngã (Mọi pháp là vô ngã -“pháp” bao gồm sắc pháp tức vật lý và tâm pháp tức tâm lý)

Chữ “pháp” là một thuật ngữ độc đáo trong Phật học, nó bao gồm tất cả những gì thuộc về thế giới vật lý lẫn những gì thuộc về thế giới tâm lý, nó bao gồm cả Niết bàn. Theo giáo lý Nguyên Thủy (Theravàda) không có Ngã trong các pháp (mọi sự vật) cũng như không có Ngã trong con người. Trong Trung Bộ Kinh,Phật Thích Ca dạy rằng:

“Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?”

Từ thuyết Vô Ngã, Phật Thích Ca khai mở một chủ thuyết, về sau chủ thuyết này trở thành giáo lý cột trụ của một tôn giáo lớn gọi là Phật giáo. Hơn 2500 năm đã trôi qua kể từ ngày Phật Thích Ca rao giảng thuyết Vô Ngã, hàng tỉ người trên thế giới đã tin vào thuyết này và cố gắng “tu tập” để có thể chiêm nghiệm được cái lý lẽ của thuyết Vô Ngã. Danh
từ “Phật” dùng để gọi một người đã quán triệt Vô Ngã, thể nhập Không Tánh. Phật Thích
Ca xưng rằng Ngài là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành, nhưng trên 2500 năm qua, lịch sử chỉ ghi nhận có mỗi một mình Ngài Thích Ca tự xưng là Phật. Nói cách khác, chỉ có mỗi một mình người lập ra thuyết Vô Ngã xưng nhận là mình đã chứng nghiệm được thuyết ấy.

Có phải thuyết Vô Ngã quá thâm diệu cho nên suốt hơn 2500 ngàn năm nay ngoài Phật Thích Ca ra không ai có đủ trình độ, khả năng, sự thông sáng, hoặc lòng nhiệt thành
để giác ngộ? Bài viết này nhằm phân tích và so sánh thuyết Vô Ngã của triết Phật và tín lý Hữu Ngã trong Thánh Kinh. Tác giả ước mong những điều được trình bày dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ sự tương phản giữa hai phạm trù nói trên.

Định nghĩa một số từ ngữ:

Ngã: Mỗi tôn giáo hoặc trường phái triết học có những định nghĩa khác nhau về Ngã,(Ngã là một danh từ Hán Việt). Một cách tổng quát, Ngã là một thực thể (một cái gì có thật), trường tồn và là một phần của con người, là một “cái tôi” tuyệt đối riêng biệt, không ai thay thế được, là phần làm chủ và trách nhiệm mọi tư duy, tình cảm, ý chí, hành động của con người. Tiếng Phạn (Sanskrit) gọi Ngã là “Atman”, tiếng Anhgọi là “Self”, tiếng Việt gọi nôm na là “cái Tôi” hoặc “cái Ta”. Cơ-đốc-giáo (Christianity) gọi là Linh hồn (Soul). Triết Phật dạy rằng, một Ngã như vậy không có thật, mọi quan niệm về Ngã chỉ là ảo tưởng, mọi nhận thức về Ngã chỉ là ảo giác.

Nhập Không Tánh: Trạng thái quán triệt Vô Ngã dẫn đến sự quán triệt Tánh Không của mọi pháp.(Tánh Không của mọi pháp là: vạn vật, kể cả “cái Ta” không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt nên thật ra không sinh không diệt. Sự sinh và diệt mà chúng sinh kinh nghiệm mỗi ngày chỉ là sự sinh và diệt của những ảo ảnh.) Nhập Không Tánh tức đắc đạo, tức nhập Niết bàn.

Niết bàn: Không phải là một nơi chốn như Thiên Đàng hay Hỏa Ngục mà là trạng thái giải thoát, an nhiên tự tại, nhờ thấu hiểu (giác ngộ) chân tướng của vạn vật là Không, nên chấm dứt và thoát ra ngoài mọi ý niệm, thoát mọi chấp Ngã (thoát khỏi sự cho rằng Ngã có thật), thoát mọi chấp pháp (thoát khỏi sự cho rằng mọi vật có thật, có tự tánh, có sinh, có diệt), thoát khỏi luân hồi, tức thoát vòng sinh tử.

Pháp: (1) Chư Pháp: Mọi sự vật, sự việc trong thế giới vật lý lẫn thế giới tâm lý, kể cả Niết bàn. (2) Phật pháp: Lời dạy của Phật Thích Ca. (3) Pháp môn: Phương cách tu tập để quán triệt Vô Ngã và Không Tánh. Theo Phật Thích Ca, có đến 84,000 Pháp môn. Các nhà Phật học không thống nhất với nhau về ý nghĩa của con số 84,000 pháp môn.
Dưới đây là luận giải của tác giả:

– Tứ Diệu Đế thiên biến = (4) X (1000) = 4000
– Bát Chánh Đạo vạn hóa = (8) X(10,000) = 80,000
– Pháp môn tu tập để Giác Ngộ =
Tứ Diệu Đế thiên biến + Bát Chánh Đạo vạn hóa (4000 + 80,000= 84,000 pháp môn)

Phật: Người quán triệt, tức giác ngộ Vô Ngã (thấy và hiểu sự vận hành của mọi “pháp” như chúng vốn là như vậy, tức vạn vật chỉ là ảo giác) dứt mọi ý niệm (nguyên cớ tạo ra ảo giác) nên thoát vòng sinh tử (ra khỏi luân hồi), nhập Không Tánh (thoát Khổ, trở về Chân Không, đạt Niết bàn), trở thành Phật, tức Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vô Minh: U mê, tăm tối, phát sinh ra những ý niệm không thật khiến tạo ra các ảo giác (các pháp của thế gian) dẫn đến những nhận thức sai lầm, tạo ra nghiệp lực, thu hút Tứ
Đại (tạo thành thân xác), giam giữ chúng sinh miệt mài luân chuyển trong 12 yếu tố của Duyên Khởi (luân hồi). Nếu có 84,000 pháp môn giải thoát thì cũng có 84,000 cảnh
giới vô minh.

– Ngũ Uẩn: Sắc, Thể, Tưởng, Hành, Thức (5) X (12) Yếu tố Duyên Khởi = 60 (sựChấp Pháp)
– Tam Độc: Tham, Sân, Si (3) X (8) Tám Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,Thân, Ý, Tống Truyền, Tàng = 24 (sựChấp Ngã)
– Khổ: Chấp Pháp + Chấp Ngã X thiên biến = vạn hóa (60 + 24 X 1000 = 84,000 cảnh giới)

* Khổ thiên biến mà thành ra vạn hóa: Khổ = thiên biến —> vạn hóa.
* Giác Ngộ vừa thiên biến mà vừa vạn hóa: Giác Ngộ = thiên biến + vạn hóa.

Chương I: Lập luận Vô Ngã (Anatta) của triết Phật

Phật Thích Ca lập thuyết Vô Ngã dựa trên các suy luận sau đây:

A. Nhận định Duyên khởi:

Được sinh trưởng trong môi trường văn hóa của Ấn giáo, ít nhiều gì Đức Thích Ca cũng ảnh hưởng thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo. Đối diện với cuộc sống, chứng kiến thế nhân sinh, lão, bệnh, tử – nhìn thấy vạn vật thành, trụ, hoại, diệt; Đức Thích Ca suy ra mọi sự vật đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau theo công thức sau
đây:

1) Cái này có thì cái kia có (vì có hột lúa nên có cây lúa)
2) Cái này sinh thì cái kia sinh (vì cây lúa sinh ra hột lúa nên từ hột lúa lại sinh ra cây lúa khác)
3) Cái này không có thì cái kia không có (không có hột lúa thì không có cây lúa)
4) Cái này diệt thì cái kia diệt (hột lúa bị diệt thì cây lúa – sẽ sinh ra từ hột lúa ấy – cũng bị diệt)

Theo Tương Ứng Kinh bộ II thì 12 yếu tố Duyên Khởi trong triết Phật là:

1. Vô Minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh Sắc
5. Lục Nhập
6. Xúc
7. Thể
8. Ái
9. Thủ
10. Hữu
11. Sinh
12. Lão – Tử (Ưu, Bi, Khổ não)

Vô Minh sinh ra Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh Sắc sinh ra Lục Nhập, Lục Nhập sinh ra Xúc, Xúc sinh ra Thể, Thể sinh ra Ái, Ái sinh ra Thủ, Thủ sinh ra Hữu, Hữu sinh ra Sinh, Sinh sinh ra Lão, Tử, (Ưu, Bi, Khổ não).

Từ nhận định đó (dựa vào thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo), Đức Thích Ca
lập ra thuyết Duyên Khởi, cho rằng mọi sự vật tương quan và luân chuyển trong
một vòng tròn của luật Duyên Khởi (duyên=sinh ra, khởi=bắt đầu).

B. Phân tích Ngũ Uẩn:

Khi suy tư về bản thể của con người, Đức Thích Ca nhận thấy con người là một tổng thể bao gồm các phần thấy được, đụng chạm được và các phần không thấy được, không đụng chạm được. Đức Thích Ca phân tích con người thành Ngũ Uẩn. Uẩn là một tập hợp, một nhóm. Ngũ Uẩn (năm tập hợp) đó là:

1) Sắc Uẩn: Tức Thân + Tâm (được cấu tạo bởi
Tứ Đại là đất +nước + gió + lửa), Sắc Uẩn bao gồm các Giác Quan (Căn)

2) Thể Uẩn: Tức là những Cảm Thể (cảm giác nhận được) do sự tiếp xúc
giữa 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

3) Tưởng Uẩn: Tức là những Tư Duy phát sinh từ những Cảm Thể, tạo ra các Khái Niệm

4) Hành Uẩn: Sự Lưu Chuyển của các Khái Niệm, biến Khái Niệm thành Hành Động.

5) Thức Uẩn: Sự Nhận Biết và Phân Biệt các Khái Niệm. Riêng Thức Uẩn chia làm 8 Thức khác nhau:

a) Nhãn Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mắt nhìn thấy vạn vật.

b) Nhĩ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do tai nghe từ vạn vật.

c) Tỷ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mũi ngữi được từ vạn vật.

d) Thiệt Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do lưỡi nếm lấy từ vạn vật.

e) Thân Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do thân thể tiếp xúc với vạn vật.

f) Ý Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm tổng hợp từ các khái niệm do 5 thức trên đem lại.

g) Mạt Na Thức (Manas Vijnãna) còn gọi là Ý Căn, là nơi phát sinh ra Ý Thức. Mạt Na Thức truyền các hệ quả (hạt giống – chủng tử) của những Khái Niệm đã biến thành hành động (pháp hiện hành) vào Tàng Thức và tống đưa các hệ quả đã nhuần thấm, chín mùi ra hiện hành, nên còn được gọi là Tống Truyền Thức. Mạt Na Thức khiến chúng sinh nhìn thấy một ảo giác về Ngã, là gốc của sự Chấp Ngã, là nguồn gốc của 4 phiền não
căn bản:

– Ngã Si (sự vô minh, u mê, ngu tối về bản ngã)
– Ngã Ái (sự yêu thương quyến luyến bản ngã)
– Ngã Kiến (sự nhìn thấy những sai lầm của bản ngã)
– Ngã Mạn (sự kiêu căng, ngạo mạn cho bản ngã là cao cả hơn hết)

Tương truyền Phật Thích Ca nói câu sau đây: “Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn”.
Nhiều người giải luận câu này cho rằng Phật Thích Ca có ý tuyên bố rằng: “Trên TrĐi Dưới Đất Chỉ Mình Ta (Phật Thích Ca) Đáng Tôn Quý”. Thật ra, nếu quả thật Phật Thích Ca có tuyên bố câu này, thì chỉ là nhằm kiên định cái thuyết Vô Ngã mà thôi. Ý của câu
đó có thể giải luận như sau: “Khắp vũ trụ (trên trời dưới đất) chỉ có cái NGÃ của chúng sinh là được chúng sinh tôn làm cao cả hơn hết (mặc dầu cái Ngã không có thực).

h) A Lại Da Thức (Alaya Vijnãna) còn gọi là Tàng Thức. Thức này bao gồm 3 chức năng:

– Năng Tàng: Chức năng chứa đựng, gìn giữ các chủng tử (hạt giống) của các pháp, tức chứa đựng nhữn  hệ quả của các hành động yhiện cũng như ác của chúng sinh.

– Sở Tàng: Chức năng ấp ủ, nhuần thấm những chủng tử được chứa trong Tàng Thức. Khi đã nhuần thấm, chín mùi thì các chủng tử này được Tống Truyền Thức tống đưa ra thành hành động.

– Ngã Ái Chấp Tàng: Chức năng duy trì một ảo giác về cái Ngã (Chấp Ngã), yêu thương cái Ngã, độc tôn cái Ngã, và đó chính là lực lượng qui tụ Tứ Đại để kết thành thân xác chúng sinh.

C. Suy luận Tánh Không:

Triết Phật không công nhận “Nguyên Nhân Đầu Tiên”. Triết Phật cho rằng duyên khởi là vì Vô Minh (u mê, ngu tối). Vì u mê, ngu tối cho nên chúng sinh mới tưởng các pháp (vạnvật) là có thật, tức Chấp Pháp. Vì Chấp Pháp (cho rằng vạn vật là có thật) nên chúng sinh tưởng rằng mỗi pháp đều có tự tính, dẫn đến Chấp Ngã (cho rằng mỗi con người có một bản ngã, còn gọi là “cái Tôi”, “cái Ta”, hoặc Linh Hồn.)

Ví như một lữ hành trong sa mạc nóng cháy, khao khát tìm được nước uống. Đến một
lúc nào đó, sự khao khát nước uống cho cơ thể thiếu nước khiến cho người đó bị ảo giác thấy một vũng nước hay một ốc đảo giữa sa mạc:

1. Vũng nước hay ốc đảo có hình ảnh hiện ra nhưng không có thật (sắc tức thị không: tưởng là có mà thật ra không có).

2. Vũng nước hay ốc đảo tuy không có thật nhưng vẫn có hình ảnh hiện ra (không tức thị sắc: dù là chẳng có thật nhưng vẫn hiện ra như có thật).

3. Sự khao khát nước uống, bóng mát làm cho người lữ hành nhìn thấy ảo ảnh của vũng nước hoặc ốc đảo mà tưởng là nó có thật (vô minh khiến chúng sinh tùy theo các ý niệm mà nhìn thấy những hình ảnh [Danh Sắc] của vạn vật [các Pháp] và tưởng các pháp là có thật, tức Chấp Pháp).

4. Cái mệt mõi, khát nước của thể xác khiến cho người lữ hành ý thức rằng: “Tôi mệt”, “Tôi khát”, “Tôi cần uống nước”, “Tôi cần nghĩ ngơi trong bóng mát” … nhưng bóng mát không có thật, nước uống không có thật nên không thoả mãn được nhu cầu, sinh ra Khổ.
(Vô minh khiến chúng sinh vì Chấp Ngã – tưởng mình là có thật, mà sinh ra
Chấp Pháp – tưởng các pháp là có thật. Ví như người lữ hành tưởng là thể xác mình có thật, cho rằng sa mạc có thật, mặt trời có thật, vũng nước có thật, ốc đảo có thật nên đau khổ vì cát nóng, nắng cháy, vì thân thể bị mất nước, vì thèm được uống nước nhưng vũng nước không có thật, vì thèm được núp bóng mát nhưng ốc đảo không có thật.)

D. Lập thuyết Vô Ngã:

Sự luận giải về thuyết Vô Ngã của triết Phật có thể tóm tắt như sau: Từ vô lượng kiếp, chúng sinh quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử, bởi vì trong một lúc nào đó, ở thời quá khứ vô cùng khởi (có thể đến hàng tỉ tỉ tỉ năm về trước!) vì u mê, ngu tối (Vô Minh) mà chúng sinh phát khởi các ý niệm hoặc thiện hoặc ác (Hành). Những ý niệm này hình thành các khái niệm (Thức). Các khái niệm tạo ra những hiện tượng tâm lý và vật lý tức là ảo ảnh về vạn vật (Danh Sắc). Ảo ảnh khiến sinh ra các giác quan và ý thức (Lục Nhập). Các giác quan và ý thức phát sinh ra sự đụng chạm và tiếp xúc (Xúc). Sự đụng chạm và tiếp xúc đem lại cảm giác và nhận định (Thể). Cảm giác và nhậnđịnh sinh ra sự ham muốn (Ái). Sự ham muốn tạo thành ý chí bám víu, giữ lấy (Thủ). Ý chí bám víu, giữ lấy kết tinh thành thực thể (Hữu). Thực thể trở thành sự sống (Sinh). Sự sống suy tàn rồi tiêu tan dẫn đến già cỗi và sự chết (Lão – Tử), cùng những lo, buồn, đau đớn. Chu trình này sẽ tái diễn đến vô lượng lần, mỗi lần là một kiếp, trong tương lai vô cùng tận.

Trong chu trình Duyên Khởi (12 yếu tố kể trên) mỗi yếu tố vừa là nhân của yếu tố này mà
là quả của yếu tố kia. Tùy theo những ý niệm phát sinh mà Tứ Đại (đất, nước, gió, lửa) kết thành thân xác của chúng sinh. Thân Tứ Đại sinh ra khi hội đủ Pháp hiện hành và
chết đi khi Pháp hiện hành đã hết, đó là một kiếp củachúng sinh. Tuy nhiên, trong một kiếp đó sự luân chuyển, thể hiện của các Pháp hiện hành đã tạo ra các nhân thiện hoặc ác khác (Chủng Tử) và được Tống Truyền Thức đem cất giữ vào Tàng Thức. Khi những
chủng tử này đã được thấm nhuần trong Tàng Thức thì Tống Truyền Thức phóng chúng ra thành các Pháp Hiện Hành mới, thu hút Tứ Đại, tạo ra một thân xác mới. Tiến trình này
được gọi là Nghiệp Lực. Nghiệp lực cứ khiến cho chúng sinh quay cuồng trong chu trình
bất tận của Duyên Khởi nghĩa là chúng sinh có thể trải qua vô lượng kiếp!

Trong 12 yếu tố của Duyên Khởi, nếu phá được Vô Minh thì diệt được Hành. Hành không
có thì diệt được Thức. Thức không có thì diệt được Danh Sắc. Danh Sắc không có thì diệt được Lục Nhập. Lục Nhập không có thì diệt được Xúc. Xúc không có thì diệt được Thể. Thể không có thì diệt được Ái. Ái không có thì diệt được Thủ. Thủ không có thì diệt
được Hữu. Hữu không có thì diệt được Sinh. Sinh không có thì diệt được Lão, Tử, Ưu, Bi, Khổ não.

Làm sao để phá được Vô Minh? Bằng cách quán triệt chân tướng của sự vật (các
pháp) chỉ là KHÔNG! Như vậy, muốn thoát khổ (được giải thoát) con người cần phải quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình. Khi quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình, thì sẽ Giác Ngộ, nghĩa là nhận ra vạn vật, trong đó có mình, chỉ là
ảo giác, không có thật. Có thể nói như sau: Những gì tôi nhận thấy chung quanh tôi hoặc về chính tôi chỉ là ảo giác. Tại tôi tưởng là chúng có thật cho nên có cái tôi yêu thích, có cái tôi ghét bỏ, có cái tôi khao khát, có cái tôi tìm cầu, có cái tôi muốn nắm giữ, có cái tôi muốn vứt bỏ… và khi không thoả mãn được ý mình thì tôi khổ. Cho đến lúc tôi nhận ra, vạn vật, trong đó có tôi, đều không có thật, đều Vô Ngã, thì tôi hết khổ, tôi nhập Niết bàn.




Giáo Lý Căn Bản 91 – Lương Tâm

Bài 91

Lương Tâm

 

GIƠÍ THIỆU : Các chú thích trích từ cuốn “Lương Tâm” của Tiến Sĩ Hallesby; “Thần học theo hệ thống” của Chafer, Khảo cổ Từ điển về các sách Phúc Aâm, tập 3, trang 133.

Lương Tâm là gì ? Một cô bé gái trả lời: “Đó là bà nội!!!:”

Đặc San Reader Digest, tháng 11 năm 1960 viết rằng “Lương tâm là bộ phận lọc của một con người suy nghĩ.” Tự điển Oxford thì cho rằng “Đó là một sự hiểu biết hướng nội hay tri thức, là khả năng dùng phán xét tính chất đạo đức của một hành vi hay của các cá nhân.”

Tự điển Winston thì cho rằng “Cái ý thức đạo đức hay lương tri tự no có trong mỗi người để xác định rằng một hành động nào đó là đúng hay sai, tốt hay xấu.” Hallesby nói rằng : “Người ta có thể có được sự bình an cùng Đức Chúa Trời, không có một lương tâm tốt nhưng Kinh nghiệm của anh ta cho biết rằng sẽ không là một con người hạnh phúc”. Tôi tin rằng điều này không phải là câu chuyện của chúng ta.

Có phải lương tâm là tiếng nói của Đức Chúa Trời được tạo dựng trong con người hay không? Không, chắc chắn là không.

Lương tâm là điều bẩm sinh và phổ quát hơn là một khả năng thu đạt được.

Ai là người có lương tâm? Phải chăng chỉ có những người có học hay văn minh? Không, tất cả mọi người đều có lương tâm. II.Cô-rinh-tô 4:2 “…khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng trọng.

Lương tâm không thể là tiếng nói của Đức Chúa Trời bởi vì đôi khi nó dẫn dắt người ta làm những điều trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời như đã được bày tỏ trong Kinh Thánh.

Lương tâm sẽ hướng dẫn người ngại giáo quì lạy những thần tượng bằng gỗ đá.

Lương tâm chấp thuận cho phép những hành động tình dục trong đền thờ trong việc tôn vinh các thần.

Lương tâm đôi khi lại xúi giục một người giết hại một người khác kẻ đã giết cha mình.

Đôi khi lương tâm lại khiến cho người ta bỏ rơi những người bịnh và tin rằng họ bị rủa sả bởi các thần thế nên họ phải bị bỏ rơi một mình .

Lương tâm khuyên dạy người ta phải dứt bỏ những đứa bé sinh đôi và làm những điều đáng sợ.

Từ “lương tâm” không xuất hiện trong Cựu Ước, trong Cựu Ước từ “tấm lòng” được thay thế cho từ “lương tâm” – I.Sa-mu-ên 24:5 “lòng của Đa-vít (lương tâm) nói cùng ông”

Lương tâm là sự phán xét bên trong, xét nghiệm tất cả những gì tôi làm và tôi nói.

Lương tâm tự nó trình bày trước rồi sau đó mới kéo theo hành động.

Một số người cảm thấy rằng lương tâm là kẻ hành hạ trong nơi Địa ngục. (Con ơi, hãy nhớ lại…– Lu-ca 16:25)

I. MỘT LƯƠNG TÂM XẤU XA:

Không phải tất cả các lương tâm đều tốt – Thật ra từ khi con người bị sa ngã, lương tâm đã bị suy đồi.

Lương tâm của con người đã chịu đựng đau đớn một cách kinh khủng trong sự Sa ngã tại vườn Ê-đên. Ê-phê-sô 4:18, mô tả con người không hoán cải vì “lòng họ (lương tâm)ï cứng cỏi nên trí khôn tối tăm..”

Rô-Ma 1: 18-32, là một sự nhận xét đáng buồn về điều đã xảy ra khi “lòng họ ngu dốt đầy những sự tối tăm. Câu 21. Tội lỗi đã phủ một lớp mây mờ trên lương tâm trong sạch của A-đam khi nhận định về nhân loại.

I.Ti-mô-thê 4:2, cảnh cáo về những ngày đã qua trong quá khư vìù “lương tâm của họ bị chai lì”. Họ dường như chẳng có một chút lương tâm nào, bị chai lì và méo mó.

Tít 1:15 “…trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa”

Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều cần cầu nguyện như trong Hê-bê-rơ 10:22 “nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà và đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu. ”

Chúng ta hãy nhận biết quá khứ và cầu nguyện cho sự giải thoát liên tục khỏi lương tâm xấu.

II. MỘT LƯƠNG TÂM BỊ KẾT ÁN :

Rô-ma 2:15 “Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình…” Đây là công việc của lương tâm con người.

Sự phán xét của lương tâm là tuyệt đối, không cho biết lý do. Nó tuyệt đối vì nó không mặc cả và cũng không thoả hiệp và nó hoàn toàn mang tính cách cá nhân.

Giăng 8:1-11 là một hình ảnh nói về lương tâm đang hành động.Mỗi người rời đi với những vết đâm đau nhói phát xuất từ những mũi chỉa mạnh mẽ của nó, mang đến sự sửng sốt khi đối mặt và xấu hổ.

III. MỘT LƯƠNG TÂM ĐƯỢC TẨY SẠCH :

Hê-bê-rơ 9:14 “…nhờ Đức Thánh Linh đời đời…sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống”.Trước tiên hãy nhận biết sự xấu xa của một lương tâm đồi bại, hãy để cho cho lòng tin tưởng hướng dẫn đến sự biến đổi của các tiêu chuẩn lương tâm.

Không còn giữ lương tâm yên lặng nữa nhưng cầu nguyện cho sự khai sáng nó bởi Lời Chúa.

Hãy để cho lương tâm duy trì được những tiêu chuẩn công bình cao rồi gắn chặt vào đó.

Một số người vì duyên cớ của lương tâm đã phải chịu đau đớn, mất mát tài sản, tiếng tăm thậm chí chịu tử đạo hơn là làm nhục lương tâm.

Một lương tâm tốt tạo ra ý nghĩa cho cuộc sống, sự giàu có, sự trọn vẹn, mục đích và sự thoả lòng.

Sự thức tỉnh thuộc linh là sự thức tỉnh lương tâm của một con người biết hướng vọng về Đức Chúa Trời.

Hãy để cho Lời Chúa hằng ngày chỉ dạy cho lương tâm về ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời.

Một lương tâm được thức tỉnh mang lại sức ép trên đời sống cá nhân để làm cho phù hợp với sự nhận biết về tội lỗi và sự công bình thâu lượm được thông qua việc nghiên cứu Lời Chúa.

IV MỘT LƯƠNG TÂM THANH SẠCH :

I.Ti-mô-thê 3:9 “nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin”

III. Ti-mô-thê 1:3 “Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm ”

Ở vào sự biến đổi đó, không chỉ linh hồn được cứu mà lương tâm cũng được biến cải nữa.

Sự thay đổi của lương tâm thường là một tiến trình dần dần khi cá nhân đó được dạy dỗ một cách hoàn hảo hơn trong ý muốn của Đức Chúa Trời.

Lương tâm được tẩy sạch bởi Huyết Đấng Christ, điều này được dạy trong Hê-bê-rơ 10:2-10, ở đó huyết của con sinh tế là một phần trong Huyết tại Đồi Gô-gô-tha (Calvary)

Sự tái sinh không chống nghịch lương tâm, nhưng hơn thế nữa, thiết lập lại trật tự thông thường.

Kẻ không biển cải cảm thấy lương tâm là một gánh nặng, nhưng con người được cứu cảm thấy đó là một sự giúp đở.

Đối với người được cứu lương tâm là một người bạn và là một thứ tình yêu, một sứ giả được Đức Chúa Trời sai đến.

Tiêu chuẩn của lương tâm là sự hoàn hảo, Ma-thi-ơ 5:48, đó là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.

IV. MỘT LƯƠNG TÂM YẾU ĐUỐI :

Con ngưòi mới biến cải (mới trở lại đạo) nhận thấy rằng lương tâm là điều quá yếu đuối để cho thể trông cậy vào. I.Cô-rinh-tô 8:7 “…lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô-uế”. Cũng trong I.Cô-rinh-tô 8:10 . Sự biến đổi là một sự tái tạo lại lương tâm mà từ lâu nó đang yên lặng. Sự yếu đuối có thể được khuất phục bởi lời cầu nguyện, sự nghiên cứu Kinh Thánh và sự vâng lời liên tục.

Vấn đề là cần phải nhận biết nó bởi vì biện pháp thì dễ dàng và đơn giản. Thông thường thì những người mới trở lại đạo hay kết tội cho những điều khác: về môi trường, về giáo dục về bè bạn v.v…

Chúa mong ước làm cho vững mạnh và gây dựng lại lương tâm yếu đuối.

V. MỘT LƯƠNG TÂM TỐT :

Đây là điều mong ước của Đức Chúa Trời đối với mỗi một tín hữu được tái sanh. Đừng tranh chiến với lương tâm nhưng hãy nên hoà bình với nó, đồng ý với lương tâm được soi sáng và phải vâng phục nó một cách đơn sơ.

I.Ti-mô-thê 1:5 “…bởi lòng trong sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sinh ra”.

I.Ti-mô-the 1:19 . Phao-lô khuyên Ti-mô-thê nên giữ vững đức tin và phải có “lương tâm tốt.”

I.Phi-e-rơ 3:16 “phải có lương tâm tốt”, sống để làm hổ thẹn những kẻ gièm chê anh em.

Thông điệp của lương tâm nhằm hướng đến ý chí. Nếu ý chí vâng lời thì lương tâm sẽ lớn mạnh và phát triển. Đây là điều mà Đức Chúa Trời mong mỏi ở chúng ta – sự vâng lời.

Nếu ý chí chống cự lại thì lương tâm sẽ trở nên yếu đuối, chẳng hạn một lương tâm câm lặng trước việc rượu chè hay những công việc xấu xa. Đây chỉ là suy nghĩ đầy ao ước làm nặng thêm cho lương tâm.

Hãy cầu nguyện để xin Chúa ban cho bạn một lương tâm tốt, một lương tâm mềm mại.

Hãy đề phòng thái độ của các thầy thông giáo, họ có một lương tâm cẩn trọng và mềm mại trong những việc nhỏ, nhưng lại bỏ qua những điều hệ trọng hơn trong luật pháp – Ma-thi-ơ 23:23.

Lương tâm là một thực thể sống động, một cơ quan nhắm đến việc lớn mạnh và phát triển.

VI. MỘT LƯƠNG TÂM KHÔNG CÁO TRÁCH :

Công-vụ 24:16 “Cũng vì cớ ấy,nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không cáo trách trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người”

Tôi tin rằng đây là một trong những mục tiêu cao cả nhất của cuộc sống Cơ-Đốc nhân.

Hãy canh phòng về thứ lương tâm quá nhạy cảm mang tính bệnh học mà nó khiến cho cá nhân luôn ở trong tình trạng xung đột một cách liên tục. Kết quả của sự xác minh là hoà bình chứ không phải là xung đột.

Hãy cầu nguyện nhiều cho lương tâm để nó biết lắng nghe ý muốn của Đức Chúa Trời như đã được tiết lộ trong Kinh Thánh.

Suốt trong thời gian cầu nguyện và trong Thời Kỳ Tỉnh Nguyện hãy ngừng lắng nghe lương tâm đang nói.

Đức Thánh Linh ngự trị trong mỗi cá nhân tín hữu và Linh của Ngài đang vận hành thông qua lương tâm.

Môät lương tâm nhạy cảm sản sinh ra những Cơ-Đốc nhân cẩn trọng là những con người có ý thức, có thể được xử dụng và tuỳ thuộc vào Nước Trời.

Một lương tâm không nhạy cảm tạo ra những tín đồ bất cẩn, một ảnh hưởng gây ra sự yếu đuối trong Hội Thánh ngày nay.

KẾT LUẬN :

Phản ứng của chúng ta đối với sự nghiên cứu về lương tâm này là gì? Chúng ta đã học biết về điều gì không?

Chúng ta đã có bao giờ phân tích về lương tâm riêng của chúng ta không?

Lương tâm của tôi là xấu xa, bị lên án, được thanh tẩy, trong sạch, yếu đuối, tốt hay không bị cáo trách?

Không một bác sĩ y khoa nào có thể tìm thấy bộ phận được gọi là lương tâm, nhưng chúng ta biết rằng chúng ta có nó (lương tâm).

Chúng ta có dành thời giờ để cố giữ yên lặng hay giết chết lương tâm bằng những lý luận hợp lý không?

Chúng ta hãy xác nhận làm thế nào chúng ta để cho Đức Chúa Trời khảo sát và kiểm soát lương tâm của chúng ta.

Có một sinh viên đã viết trong kỳ khảo hạch như vầy: “Hãy canh chừng lương tâm! Nó lại đến nữa đấy!!!”

Chúng ta có muốn bình an không? Hãy để cho lương tâm biết vâng phục và chúng ta sẽ có được một tấm lòng bình an vĩnh cữu.

CÂU HỎI ÔN LẠI :

901. Lương tâm là gì?

902. Lương tâm có phải là tiếng nói của Đức Chúa Trời không? Tại sao?

903. Hãy liệt kê bảy loại lương tâm như đã được liệt kê trong Lkinh Thánh.

904. Loại lương tâm nào mà người ta sẽ có trong thời hiện đại?

905. Hai điều gì mà lương tâm làm theo như Rô-Ma 2:15.

906. Làm thế nào một lương tâm có thể được tẩy sạch?

907. Có phải “lương tâm trong sạch” theo II.Ti-mô-thê 1:3 và I.Ti-mô-thê 3:9 là giống nhau không? Tại sao?

908. Một người mới tin đạo hay một Cơ-Đốc nhân non trẻ có nên luôn luôn tin vào lương tâm của người aayds không? Tại sao?

909. Có sự phân biệt giữa “một tấm lòng trong sạch” và “lương tâm tốt” trong I.Ti-mô-thê 1:5 không?

910. Đâu là những khu vực thẳng đứng và nằm ngang mà ở đó lương tâm đang hoạt đông?