Ex Mormon Gives Most Incredible Testimony EVER! Will Give You Chills!




CHÚA GIÊ-XU THẬT SỰ ĐÃ SỐNG LẠI




BẠN Ở ĐÂU TRONG CÕI ĐỜI ĐỜI?

BẠN Ở ĐÂU TRONG CÕI ĐỜI ĐỜI?

 

 

Sự cứu chuộc đời đời là điều quan trọng nhất trong cuộc đời. Dù chúng ta có thành công đến đâu cũng là vô nghĩa nếu chúng ta bị hư mất linh hồn trong Hỏa ngục; chúng ta mất tất cả. Trong Ma-thi-ơ 16:26, Đức Chúa Jesus phán, “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì ngươi lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” Không có cái gì trên thế gian này xứng đáng để chúng ta phải mất linh hồn mình.

 

Linh hồn chúng ta đáng giá hơn nhiều so với cả thế gian và mọi thứ trong nó. Linh hồn chúng ta là phần sẽ tiếp tục sống và đi vào cõi đời đời. Đức Chúa Jesus phán về cõi đời đời như sau “Rồi những kẻ này sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ 25:46). Chịu hình phạt đời đời trong Hỏa ngục và cuộc sống đời đời trên Thiên đàng đều kéo dài đời đời, không có sự kết thúc. Chúng ta không thể chấp nhận bị mất linh hồn mình và bị phạt đời đời trong ngọn lửa của Hỏa ngục, vì hình phạt sẽ không bao giờ kết thúc.

 

Về cõi đời đời, chúng ta chỉ có thể chọn một trong hai nơi: Thiên đàng hay Hỏa ngục. Thiên đàng thật tuyệt vời, chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng nổi Thiên đàng như thế nào nhưng Đức Chúa Jesus có phán “kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7:14). Thiên đàng được Đức Chúa Jesus miêu tả rằng có rất nhiều chỗ ở (Giăng 14:1-3). Trong Khải huyền 21:4, có chép “Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự trên đã qua rồi.”. Thiên đàng thật không thể miêu tả nổi, vì “Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng chưa nghĩ đến, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn những điều ấy cho những ai yêu mến Ngài.” (Cô-rinh-tô I 2:9).

 

Hỏa ngục thì trái ngược với Thiên đàng. Hỏa ngục thật khủng khiếp đến nỗi chúng ta không thể nào hiểu thấu được sự tra tấn kinh hoàng như thế nào với tiếng khóc lóc, than vãn và nghiến răng không dứt (Ma-thi-ơ 8:12). Đức Chúa Jesus phán “kẻ vào đó cũng nhiều” (Ma-thi-ơ 7:13). Những người vào đó sẽ bị “quăng xuống hồ lửa và diêm…chúng nó sẽ chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.” (Khải huyền 20:10). Người nào kết thúc đời mình trong Hỏa ngục chỉ có thể tự oán trách chính mình. Chính họ đã chọn con đường đi vào đó.

 

Cả Thiên đàng và Hỏa ngục đều tồn tại đời đời (Ma-thi-ơ 25:46). Cả hai đều kéo dài đời đời. Đại đa số người đang sống một cuộc sống như thể họ không tin có cuộc sống đời đời. Sa-tăng đã khiến họ có một trạng thái tự mãn. Để chúng ta có thể chắc chắn mình sẽ không vào Hỏa ngục mà sẽ lên Thiên đàng, chúng ta phải “chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và lựa chọn mình” (Phi-e-rơ II 1:10).

 

Nếu hôm nay bạn chết bạn có chắc chắn, không một chút nghi ngờ rằng bạn sẽ lên Thiên đàng không? Chúng ta sẽ không lên Thiên đàng do ngẫu nhiên. Đây là một câu hỏi mà chúng ta sẽ không thể chịu đựng nổi nếu chúng ta quyết định sai, vì đời đời là vĩnh cửu. Đến một ngày nào đó từng người trong chúng ta sẽ biết được câu trả lời thực sự cho câu hỏi này, “vì chúng ta hết thảy sẽ ứng hầu trước tòa án Đức Chúa Trời” (Rô-ma 14:10). Từng người trong chúng ta đều có hai cuộc hẹn đã xác định và chúng ta chắc chắn phải thực hiện. Đó là “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27). Hai cuộc hẹn này: cái chết và sự phán xét không thể bị hủy bỏ; chúng ta phải thực hiện chúng.

Kinh Thánh chép, “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.” (Châm ngôn 14:12). Cảm giác hay suy nghĩ của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng và đáng tin cậy, mà chỉ có Kinh Thánh mới là đúng vì là lời của Thượng-đế.  Chúng ta không được mắc sai lầm về sự cứu chuộc đời đời của chúng ta khi đi theo điều “coi dường như chánh đáng” đối với chúng ta, hay do chúng ta “cảm thấy trong lòng”. Chúng ta không có cơ hội thứ hai trong Ngày Phán Xét để làm lại cho đúng. Chúng ta phải làm đúng ngay trong cuộc đời này. Trong A-mốt 4:12, chúng ta đã được phán bảo “khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi”. Trong Ngày Phán Xét, chúng ta hoặc đã sửa soạn hoặc chưa sửa soạn. Thiên đàng là một nơi đã sửa soạn cho người đã sửa soạn. Chúng ta không thể hy vọng hay mong ước con đường của chúng ta sẽ dẫn lên Thiên đàng.

 

Đức Chúa Trời không muốn một ai bị hư mất. Đức Chúa Trời “muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật.” (Ti-mô-thê I 2:4), nhưng đa số người sẽ bị hư mất đời đời. Trong Ma-thi-ơ 7:13-14, Đức Chúa Jesus đã cảnh báo chúng ta “hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.” Đây không phải là một ý tưởng vui mà nó khiến tôi phải chú ý. Đức Chúa Jesus phán đại đa số người sẽ kết thúc bằng sự hư mất đời đời trong Hỏa ngục và chỉ có ít người được cứu. Thật đáng buồn, đại đa số người đang đi trên con đường khoảng khoát dẫn đến hình phạt đời đời mà không hề nhận biết. Chúng ta phải suy nghĩ thật nghiêm túc lời cảnh báo này của Đức Chúa Trời.

 

Đức Chúa Jesus phán, “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.” (Ma-thi-ơ 6:33). Ưu tiên số một của chúng ta trong cuộc đời này phải là lên Thiên đàng và ở với Đức Chúa Trời mãi mãi. Không có điều gì quan trọng hơn điều này. Chúng ta không thể để mất Thiên đàng. Nhưng tất cả chúng ta đều phải chọn lựa nơi nào chúng ta sẽ sống đời đời. Chỉ có một cách, để hiểu được đời đời là lâu như thế nào, chúng ta hãy nghĩ rằng sau khi chúng ta đã ở trên Thiên đàng hay Hỏa ngục hàng tỷ năm, cõi đời đời cũng chỉ mới bắt đầu.

 

Mọi thắc mắc hay muốn biết làm cách nào để được lên thiên đàng xin liên lạc chúng tôi.

 

Hội Thánh Báp Tít Đức Tin

9733 Plaza Rd, Ext

Charlotte, NC 28277

Mục sư:  Chương Thanh Hải

DT: 704-905-3444

 




TU SĨ PHẬT GIÁO CHẾT, ĐƯỢC SỐNG LẠI, THAY ĐỔI CUỘC SỐNG


tusiphatgiao.png

TU SĨ PHẬT GIÁO CHẾT,

ĐƯỢC SỐNG LẠI,

THAY ĐỔI CUỘC SỐNG

GIỚI THIỆU


Câu chuyện sau đây là bản dịch của lời chứng được ghi âm trên băng cassette về một người được thay đổi. Đây không phải là lời phỏng vấn hoặc tiểu sử nhưng chỉ là lời làm chứng từ chính miệng của anh ta. Có nhiều người phản ứng cách khác nhau khi nghe câu chuyện nầy. Một số người được cảm động, một số nghi ngờ, một số người khác chế giễu, trong khi một số khác đầy dẫy sự giận dữ, họ nói rằng những lời nầy là tiếng gầm thét của kẻ điên hoặc là sự lừa dối có chi tiết. Một số Cơ đốc nhân đã chống lại câu chuyện nầy chỉ vì những sự kiện lạ lùng mô tả ở trong đó không thích hợp với hình ảnh yếu ớt của họ về một Đức Chúa Trời toàn năng. Một số người nói rằng vị tu sĩ trong câu chuyện này chưa thực sự chết, nhưng bị hôn mê, và những gì anh ta thấy và nghe là phần của cơn sốt đẩy vào ảo tưởng. Dù bạn nghĩ như thế nào, thì sự kiện đơn giản còn lại ấy là những biến cố trong câu chuyện này đã biến đổi con người nầy tận gốc rễ, khiến cho cuộc đời của người nầy thay đổi một góc 180 độ sau những biến cố thuật lại dưới đây. Anh ta đã can đảm và không sợ hãi gì khi kể lại câu chuyện của đời mình dù phải trả giá rất cao, kể cả bị tù. Anh ta đã bị bà con, bạn hữu, đồng nghiệp khinh bỉ và đối diện với sự đe dọa giết chết nếu không đồng ý nhượng bộ sứ điệp của anh. Động cơ nào khiến người đàn ông nầy liều mình từ bỏ mọi sự? Dù chúng ta tin hay không, thì câu chuyện của anh cũng đáng cho chúng ta lắng nghe và xem xét. Ở thế giới hoài nghi Phương Tây, nhiều người đòi hỏi bằng cớ của những người như thế, bằng cớ có thể đứng vững trước tòa án. Không nghi ngờ gì, liệu chúng ta có thể bảo đảm chắc chắn rằng tất cả những điều nầy xảy ra không? Không, chúng ta không thể. Nhưng chúng tôi cảm thấy rằng đáng cho chúng ta nghe câu chuyện nầy bằng tiếng nói của anh ta để độc giả tự phán đoán.

NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA ĐỜI TÔI


Kính chào quí vị. Tôi tên là Athet Pyan Shinthaw Paulu. Tôi ở tại đất nước Miến Điện. Tôi hân hạnh được chia sẻ lời chứng của tôi về những gì xảy ra cho tôi, nhưng trước hết, tôi xin vắn tắt về quảng đời thơ ấu của tôi.

Tôi sinh năm 1958 ở làng Bogale, thuộc Bình Nguyên Irrawaddy của miền nam Miến Điện (trước kia gọi là Burma). Cha mẹ tôi là người rất sùng kính Phật giáo giống như hầu hết những người ở Miến Điện, đặt tên tôi là Thitpin (có nghĩa là “cây”). Cuộc sống tôi rất đơn giản tại nơi tôi lớn lên. Đến khi được 13 tuổi, tôi nghỉ học, và bắt đầu làm việc trên một thuyền đánh cá. Chúng tôi bắt được nhiều cá và đôi khi có tôm ở nhiều sông ngòi và suối ở vùng Irrawaddy. Khi được 16 tuổi, tôi là trưởng của chiếc thuyền đó. Vào lúc nầy, tôi sống ở vùng thượng lưu Mainmahlagyon Island (Mainmahlagyon có nghĩa là “Đảo phụ nữ xinh đẹp”), chỉ ở phía bắc của Bogale, nơi tôi được sinh ra. Vùng nầy khoảng 100 dặm về phía tây nam của Yangon (Rangoon) thủ đô của Miến Điện.

Một ngày nọ, khi tôi 17 tuổi, chúng tôi bắt được rất nhiều cá trong lưới. Vì cớ nhiều cá nên một con cá sấu khổng lồ tấn công chúng tôi. Nó bơi theo thuyền của chúng tôi và cố gắng tấn công. Chúng tôi rất hoảng kinh, vì vậy chúng tôi chèo thuyền nhanh về hướng bờ sông. Con cá sấu theo sau chúng tôi và dùng đuôi của nó đập nát thuyền. Mặc dầu không ai bị chết trong cảnh ngộ nầy, nhưng sự tấn công đã ảnh hưởng rất lớn trên đời sống tôi. Tôi không còn muốn đi bắt cá nữa. Chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi bị chìm vì cá sấu tấn công. Tối đó chúng tôi về làng nhờ chiếc thuyền khác.

Không lâu sau đó, người chủ của cha tôi chuyển ông ta đến thành phố Yangon (Rangoon). Đến 18 tuổi, tôi được gởi vào một tu viện Phật giáo để làm tu sĩ tập sự. Hầu hết cha mẹ ở Miến Điện đều cố gắng gởi con trai mình vào một tu viện Phật giáo, ít ra một thời gian, vì họ xem đó là một vinh dự lớn khi có con trai phục vụ theo cách ấy. Chúng tôi đã giữ phong tục này hàng nhiều trăn năm nay.

MÔN ĐỆ NHIỆT THÀNH CỦA PHẬT GIÁO


Vào năm 1977, khi tôi được 19 tuổi 3 tháng, tôi trở thành một tu sĩ thực thụ. Vị sư trưởng tu viện của tôi cho tôi một pháp danh, đây là phong tục của nước tôi. Bây giờ tôi được gọi là U Nata Pannita Ashinthuriya. Khi trở thành tu sĩ, chúng tôi không còn dùng tên do cha mẹ đặt cho khi mới sanh. Tên của tu viện nơi tôi sống gọi là Mandalay Kyaikasan Kyaing. Tên của vị sư trưởng là U Zadila Kyar Ni Kan Sayadaw (U Zadila là tước hiệu của ông – như Hòa thượng). Ông từng là tu sĩ phật giáo nổi tiếng nhất ở tại Miến Điện lúc bấy giờ. Mọi người đều biết ông là ai. Ông được mọi người kính trọng và tôn ông là giáo sư vĩ đại.  Năm 1983, thình lình ông qua đời vì bị tai nạn xe. Sự qua đời của ông làm mọi người sững sốt. Lúc ấy tôi đã làm tu sĩ được 6 năm, tôi cố sức để trở thành tu sĩ giỏi nhất và tuân theo mọi giới luật của Phật giáo. Đến một giai đoạn tôi đi vào nghĩa trang gần chỗ tôi sống và suy tư liên tục. Vài tu sĩ thật sự muốn biết những chân lý về đức Phật cũng làm giống như tôi làm. Một số người đi sâu vào rừng để họ sống một cuộc đời từ bỏ chính mình và nghèo khổ. Tôi tìm cách để từ bỏ những tư tưởng ích kỷ, và dục vọng, để trốn thoát khỏi bệnh tật và đau khổ và muốn phá vỡ vòng luân hồi của trần gian nầy. Tôi cố đạt cho được sự bình an trong tâm hồn và tự ý thức, thậm chí khi một con muỗi sà vào cắn, tôi cứ để nó hút máu mà không đập nó!

Trãi qua nhiều năm tôi phấn đấu để trở thành tu sĩ tốt nhất và không làm hại bất kỳ sinh vật nào. Tôi học tập những sự dạy dỗ thánh của Phật giáo như tổ tiên đã làm trước tôi. Cuộc đời làm tu sĩ của tôi cứ tiến lên cho đến một ngày tôi bị đau rất nặng. Tôi ở Mandalay vào thời điểm đó và được đưa đến bệnh viện để chữa trị. Bác sĩ đã làm một số xét nghiệm trên tôi và cho tôi biết là tôi bị sốt vàng và sốt rét cùng một lúc! Sau một tháng ở bệnh viện, sức khỏe của tôi tệ hại hơn. Các bác sĩ bảo rằng không còn cơ hội cho tôi được phục hồi và họ cho tôi xuất viện để về nhà chờ chết.

Đây là phần mô tả vắn tắt về quá khứ của tôi. Bây giờ tôi muốn kể cho quí vị nghe những điều đáng lưu ý xảy ra cho tôi sau thời điểm đó….

MỘT KHẢI TƯỢNG LÀM THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI TÔI VĨNH VIỄN


Sau khi xuất viện, tôi trở lại tu viện, tại đấy các tu sĩ khác chăm sóc cho tôi. Tôi càng ngày càng yếu hơn và bị hôn mê. Về sau tôi được người ta cho biết rằng tôi đã chết ba ngày. Thân thể tôi bị thối và tim tôi đã ngừng đập. Người ta chuẩn bị liệm và đưa qua nghi lễ tẩy uế truyền thống của Phật giáo. Dù thân thể tôi bị hủy hoại, nhưn tôi nhớ rằng tâm trí và tâm linh của tôi lại rất nhạy bén. Tôi đang ở trong một trận bão rất lớn. Cơn gió rất mạnh san bằng toàn thể cảnh vật cho đến khi không còn một cây hoặc bất kỳ thứ gì còn lại, ngoài một khoảnh đất trống trơn. Tôi đi nhanh qua bình nguyên nầy một lúc. Chẳng còn ai cả, chỉ một mình tôi đi. Sau một lúc tôi băng qua một con sông. Bên kia bờ sông, tôi thấy một hồ lửa rất khủng khiếp, khủng khiếp lắm. trong Phật giáo, chúng tôi không có ý niệm về một nơi giống như vậy. Ban đầu tôi rối trí và không biết đó là địa ngục cho đến khi tôi nhìn thấy Yama, vua của địa ngục (Yama là tên đặt cho vua của địa ngục trong nhiều nền văn hóa Á châu). Mặt của vua này giống như mặt sư tử, nhưng chân của nó giống như chân của rắn. Nó có một số sừng. mặt nó dữ tợn và tôi rất sợ hãi. Run rẩy, tôi hỏi tên của nó. Nó trả lời, “Ta là vua của địa ngục, Kẻ hủy diệt”

HỒ LỬA RẤT KHỦNG KHIẾP


Vua của địa ngục bảo tôi nhìn vào hồ lửa. Tôi nhìn và thấy chiếc áo choàng màu của tu sĩ Phật giáo Miến Điện. Tôi nhìn kỹ hơn và thấy đầu trọc của một người đàn ông. Khi tôi nhìn vào mặt ông ta, tôi nhận ra đó là U Zadila Kyar Ni Kan Sayadaw (Vị tu sĩ nổi tiếng đã chết trong tai nạn xe hơi năm 1983). Tôi hỏi vua địa ngục vì sao người lãnh đạo trước kia của tôi lại bị giam trong hồ tra tấn nầy. Tôi nói, “Tại sao ông ta ở trong hồ lửa nầy? Ông ta là giáo sư lỗi lạc. Thậm chí ông ta đã có một cuộn băng gọi là “Bạn là con người hay một con chó?” giúp cho hàng ngàn người hiểu rằng, là người, họ có giá trị rất lớn so với súc vật. Vua của địa ngục trả lời, “Đúng, ông ta là một giáo sư lỗi lạc, nhưng ông ta không tin Jêsus Christ. Đó là lý do ông ta ở trong địa ngục”.

Rồi vua địa ngục bảo tôi nhìn vào một người khác ở trong hồ lửa. Tôi nhìn thấy một người tóc rất dài vắt ngang qua bên trái đầu của ông ta. Ông ta cũng mặc áo choàng dài. Tôi hỏi vua địa ngục, “Ông nầy là ai?” Nó trả lời, “Đây là người mà ngươi thờ kính: Gautama (Phật Thích Ca). Tôi kinh hoàng nhìn thấy Gautama ở địa ngục. Tôi cãi lại, “Gautama là người rất đạo đức, rất tốt, tại sao ông ta lại chịu khốn khổ ở hồ lửa?” Vua địa ngục trả lời, “Cho dù ông ta đạo đức đến đâu, nếu ông ta không tin nơi Đức Chúa Trời đời đời, thì ông ta vẫn ở nơi nầy”.

Sau đó tôi thấy một người khác, giống như mặc bộ đồ quân phục. Ông ta có một vết thương lớn ở ngực. Tôi hỏi, “Ông nầy là ai?”

Vua địa ngục bảo, “Đây là Aung San, lãnh tụ cách mạng của Miến Điện. Aung San ở đây vì ông ta ngược đãi và giết nhiều Cơ đốc nhân, nhưng chính là vì ông ta đã không tin nơi Jêsus Christ”. Ở Miến Điện, người ta thường có câu tục ngữ, “Người lính chẳng bao giờ chết, họ cứ sống mãi”. Vua địa ngục nói với tôi rằng những quân đoàn của địa ngục đã có câu tục ngữ, “Những người lính chẳng bao giờ chết, nhưng họ đi xuống địa ngục đến đời đời”.

Tôi nhìn xem thấy một người khác ở trong hồ lửa. Ông ta rất to lớn và mặc đồ chiến. Ông ta cũng cầm một thanh gươm và một cái khiên. Người nầy có một vết thương ở trên trán. Người nầy cao lớn hơn bất kỳ người bình thường nào mà tôi từng thấy. Chiều cao của ông ta bằng sáu lần chiều dài từ cùi chỏ của người nam đo ra chót ngón tay khi duỗi thẳng ra cộng với một gang tay. Vua địa ngục nói, “Người nầy tên là Gô-li-át. Hắn ta ở địa ngục vì hắn phỉ báng Đức Chúa Trời đời đời và tôi tớ Ngài là Đa-vít”. Tôi bối rối vì tôi không biết Gô-li-át và Đa-vít là ai cả. Vua địa ngục nói, “Gô-li-át được ghi lại trong Kinh thánh Cơ-đốc. Bây giờ ngươi không biết, nhưng khi ngươi trở thành Cơ đốc nhân, ngươi sẽ biết hắn là ai”.

Sau đó tôi được đưa đến một nơi tôi thấy cả người giàu và nghèo lo chuẩn bị bữa ăn tối. Tôi hỏi, “Ai nấu thức ăn cho những người nầy?” Vua địa ngục trả lời, “Người nghèo thì tự họ nấu ăn, còn người giàu thì nhờ người khác nấu cho họ”. Khi thức ăn được chuẩn bị xong, người giàu ngồi xuống ăn. Khi họ bắt đầu ăn thì khói mù mịt bay lên. Người giàu ăn lấy ăn để để làm dịu lương tâm của họ. Họ phải thở khó khăn lắm vì khói. Họ phải ăn nhanh vì họ sợ mất tiền. Tiền bạc là thần của họ.

Một vua khác của địa ngục đến gần tôi. Tôi cũng thấy một con vật có công tác cho than vào lửa bên dưới hồ lửa để làm cho nó nóng thêm. Con vật nầy hỏi tôi, “Mầy cũng muốn đi vào hồ lửa nầy phải không?” Tôi trả lời, “Không, tôi đến đây để quan sát thôi”. Vẻ mặt của con vật khều lửa nầy rất dữ tợn. Nó có mười cái sừng trên đầu, một cây giáo trên tay và bảy lưỡi dao bén nhọn từ đầu cây giáo. Con vật này nói với tôi, “Mầy nói đúng. Mầy đến đây chỉ để quan sát thôi. Ta không tìm thấy tên mầy ở đây”.

Nó nói, “Bây giờ ngươi trở về nơi trước khi ngươi đến đây”. Nó chỉ cho tôi về hướng đồng bằng hoang vu mà tôi đã đi qua trước khi tôi đến hồ lửa nầy”.

CON ĐƯỜNG QUYẾT ĐỊNH


Tôi đi bộ rất xa, cho đến khi chân tôi chảy máu. Tôi bị nóng và đau đớn dữ dội. Cuối cùng khi tôi đi bộ khoảng ba giờ, tôi đến một con đường rộng. Tôi đi trên đường rộng nầy một lúc cho đến một ngã ba. Một nhánh đi về phía trái, rất rộng. Một nhánh nhỏ hơn đi về phía bên phải. Ở chỗ ngã ba có một bảng hiệu nói rằng con đường bên trái dành cho những người không tin nơi Chúa Jêsus Christ. Con đường bên phải dành cho những người tin nơi Chúa Jêsus. Tôi muốn biết con đường rộng dẫn đến đâu, nên tôi bắt đầu đi. Có hai người đàn ông đi trước tôi 300 thước. Tôi cố gắng đi nhanh để bắt kịp họ, nhưng dù tôi rán sức đến đâu cũng không theo kịp, do đó tôi quay lại ngã ba. Tôi tiếp tục nhìn hai người đàn ông đó khi họ đi xa khỏi tôi. Lúc họ đến cuối con đường thì thình lình họ rơi xuống. Hai người đàn ông nầy hét lên khủng khiếp! Tôi cũng hét lên khi thấy những gì xảy ra cho họ! Tôi biết rằng con đường rộng chấm dứt trong sự nguy hiểm kinh khủng cho ai đi trên đó.

NHÌN LÊN THIÊN ĐÀNG


Tôi bước đi trên con đường của những người tin theo Chúa Jêsus. Sau khi đi khoảng một giờ thì mặt đường đổi thành vàng ròng. Nó trong suốt đến nỗi khi tôi nhìn xuống thì thấy mặt tôi rõ ràng. Sau đó tôi thấy một người đàn ông đứng trước mặt tôi. Ông ta mặc chiếc áo choàng trắng. Tôi cũng nghe người ta hát rất hay. Ồ, quá tuyệt vời và tinh khiết! Rất có ý nghĩa và hay hơn rất nhiều so với những buổi thờ phượng trong những nhà thờ ngày nay trên đất nầy. Người đàn ông mặc áo trắng bảo tôi cùng đi với ông. Tôi hỏi ông tên gì, nhưng ông ta không trả lời. Sau khi tôi hỏi tên ông đến sáu lần, thì ông ta trả lời, “Ta là người giữ chìa khóa của thiên đàng. Thiên đàng là nơi rất đẹp, rất tuyệt vời. Bây giờ ngươi không thể vào đây, nhưng nếu ngươi đi theo Jêsus Christ thì ngươi có thể vào sau khi cuộc sống trên đất của ngươi chấm dứt”. Tên của người đàn ông ấy là Phi-e-rơ.

Phi-e-rơ bảo tôi ngồi xuống và ông ta chỉ cho tôi thấy một chỗ ở phía bắc. Ông nói, “Nhìn về hướng bắc và nhìn thấy Đức Chúa Trời tạo dựng một người đàn ông. Đức Chúa Trời phán với một thiên sứ, “Chúng ta hãy dựng nên một người đàn ông”. Thiên sứ năn nỉ với Đức Chúa Trời và nói, “Xin Ngài đừng dựng nên người đàn ông. Người ấy sẽ làm điều sai trái và làm Ngài buồn lòng”. (Nghĩa đen theo tiếng Miến Điện là người ấy sẽ làm Ngài mất mặt). Nhưng dù sao Đức Chúa Trời vẫn tạo dựng một người đàn ông. Ngài đặt tên người ấy là “A-đam” (Ghi chú: Những người Phật giáo không tin nơi sự tạo dựng của thế giới hay của con người, vì vậy kinh nghiệm đó gây tác động có ý nghĩa trên tu sĩ nầy).

SAI TRỞ VỀ QUẢ ĐẤT VỚI TÊN MỚI


Sau đó Phi-e-rơ nói, “Bây giờ hãy đứng dậy và trở lại chỗ trước khi ngươi đến đây. Hãy nói với những người thờ phượng Phật Thích Ca và những người thờ lạy hình tượng. Nói với họ rằng họ phải đến địa ngục nếu họ không thay đổi. Những người xây dựng chùa và thần tượng cũng sẽ đi địa ngục. Những người cúng tiền cho các tu sĩ để lấy công quả cũng sẽ đi xuống địa ngục. Tất cả những người cầu nguyện với các tu sĩ và gọi họ bằng “Pra” (tước hiệu tôn kính đối với tu sĩ) sẽ xuống địa ngục. Tất cả những người cầu kinh và “ban sự sống” cho hình tượng sẽ xuống địa ngục. Tất cả những người không tin Jêsus Christ sẽ xuống địa ngục”. Phi-e-rơ bảo tôi quay về trái đất và làm chứng về những gì tôi đã thấy. Ông cũng nói, “Ngươi phải nói bằng tên mới của ngươi. Từ bây giờ trở đi, ngươi sẽ được gọi là Athet Pyan Shinthaw Paulu (Phao-lô trở lại cuộc sống).

Tôi không muốn quay lại quả đất. Tôi muốn đi thiên đàng. Các thiên sứ mở ra một cuốn sách. Trước hết họ tìm tên hồi nhỏ của tôi (Thitpin) trong sách, nhưng họ không thể tìm được. Rồi họ tìm tên mà tu viện đặt cho tôi khi làm tu sĩ Phật giáo (U Nata Pannita Ashinthuriya), nhưng họ cũng không thấy. Rồi Phi-e-rơ bảo, “Tên của ngươi chưa được viết vào đây, ngươi phải trở về trần gian và làm chứng về Chúa Jêsus cho những người theo Phật giáo”.

Tôi trở lại con đường bằng vàng. Một lần nữa tôi được nghe hát rất hay, loại nhạc mà tôi chưa được nghe trước đây. Phi-e-rơ cùng đi với tôi cho đến giờ tôi phải quay về quả đất. Ông ấy chỉ cho tôi một cái thang từ trời xuống bầu trời. Cái thang nầy không chạm đến quả đất, nhưng dừng lại ở giữa chừng bầu khí quyển. Trên cái thang nầy tôi thấy rất nhiều thiên sứ, một số đi lên trời, một số đi xuống. Họ rất bận rộn. Tôi hỏi Phi-e-rơ, “Họ là ai?” Phi-e-rơ trả lời, “Họ là những sứ giả của Đức Chúa Trời. Họ đang trình lên thiên đàng tên của những người đã tin nơi Jêsus Christ và tên của những người không tin Jêsus Christ. Sau đó Phi-e-rơ bảo tôi đến lúc tôi phải trở về.

CON MA! CON MA!


Điều kế tiếp mà tôi nhận ra là tiếng khóc. Tôi nghe mẹ tôi khóc lớn, “Con trai ơi, con ơi, sao con bỏ cha mẹ lại đây?” Tôi cũng nghe nhiều người khóc. Tôi nhận thấy mình đang nằm trong một chiếc quan tài. Tôi bắt đầu cử động. Cha mẹ tôi bắt đầu la lớn, “Nó sống rồi! Nó sống rồi!” Những người khác đứng xa hơn không tin cha mẹ tôi. Sau đó, tôi chống tay trên thành quan tài và ngồi thẳng dậy. Nhiều người sững sốt, kinh khiếp. Họ la lên, “Con ma! Con ma!” và chạy bán sống bán chết.

Những người còn lại chết điếng và run rẩy. Tôi nhận ra mình đang ngồi trên đống nước nhờn và thối, là chất nước trong thân thể chảy ra, chắc được ba tách rưỡi nước nhờn. Đó là loại nước từ bao tử và những bộ phận bên trong của tôi chảy ra khi tôi nằm trong quan tài. Đây là lý do người ta biết rằng tôi thực sự chết rồi. Bên trong quan tài có một loại giấy ni-lông dán chặt vào lớp gỗ. Lớp ni-lông nầy giữ cho nước thối của tử thi không chảy ra, vì rất nhiều người chết chảy ra nhiều nước giống như vậy.

Về sau tôi biết rằng chỉ vài phút sau là người ta đem xác tôi đi thiêu. Tại Miến Điện, người chết được đặt trong quan tài, họ đóng nắp hòm lại, rồi thiêu cả quan tài. Cha mẹ tôi được phép nhìn mặt tôi lần cuối trước khi đóng nắp quan tài, đó là lúc tôi được sống lại. Nếu không sống lại, thì sau đó vài phút, người ta sẽ đóng nắp quan tài và thi thể tôi sẽ bị thiêu.

Lập tức tôi bắt đầu giải thích những gì tôi đã thấy và nghe. Người ta rất kinh ngạc. Tôi đã nói với họ về những người tôi đã thấy trong hồ lửa, và bảo họ rằng chỉ có Cơ đốc nhân mới biết chân lý, rằng tổ phụ của họ và của chúng tôi đã bị lừa dối hàng ngàn năm nay. Tôi nói với họ rằng mọi điều chúng ta tin đều là giả dối cả. Người ta rất kinh ngạc vì họ biết tôi thuộc về loại tu sĩ nào và tôi đã nhiệt thành với sự dạy dỗ của Phật Thích Ca như thế nào.

Ở Miến Điện, khi một người chết, tên và tuổi được viết bên cạnh quan tài. Khi một tu sĩ chết, thì tên của thầy tu, tuổi và số năm phục vụ làm tu sĩ được viết ben cạnh quan tài. Tôi đã được người ta ghi rằng tôi chết, nhưng bây giờ quí vị có thể nhìn thấy tôi đang sống!

LỜI KẾT


Vì “Phao-lô Trở Lại Cuộc Sống” kinh nghiệm câu chuyện nói trên, nên anh cứ tiếp tục làm chứng về Chúa Jêsus Christ. Các mục sư Miến Điện nói với chúng tôi rằng anh đã dẫn đưa hàng trăm tu sĩ Phật giáo đến với Chúa Jêsus. Lời chứng của anh rõ ràng là không nhượng bộ. Vì thế, sứ điệp của anh đã làm xúc phạm nhiều người, là những người không chấp nhận Jêsus Christ là CON ĐƯỜNG DUY NHẤT đến thiên đàng. Dù bị chống đối dữ tợn, nhưng những kinh nghiệm của anh quá thật đối với anh, nên anh không hề lay chuyển. Sau nhiều năm là tu sĩ Phật giáo, một người nghiêm túc tuân theo sự dạy dỗ của Phật Thích Ca, bây giờ anh lập tức công bố phúc âm của Đức Chúa Trời sau khi anh được sống lại và khuyên những tu sĩ khác từ bỏ tất cả những hình tượng giả dối và hết lòng theo Đức Chúa Jêsus Christ. Trước thời gian anh bị bệnh và chết, không có biểu hiện nào cho thấy anh biết gì về Cơ-đốc giáo. Mọi việc anh học trong ba ngày nằm trong quan tài đã rất mới đối với anh.

Trong nổ lực đưa sứ điệp của anh đến càng nhiều càng tốt, La-xa-rơ hiện đại nầy bắt đầu phân phát băng video và băng cassette về câu chuyện của anh. Cảnh sát và nhà cầm quyền Phật giáo tại Miến Điện đã làm hết sức mình để thu lại những băng cassette nầy và tiêu hủy. Lời chứng mà quí vị đọc được ở đây đã được dịch từ một trong những cuộn băng đó. Chúng tôi được biết rằng hiện nay nếu công dân Miến Điện nào có những băng này thì rất nguy hiểm cho họ.

Lời chứng không sợ hãi của anh đã đưa anh vào tù ít nhất một lần, khi nhà cầm quyền không thể làm cho anh câm miệng. Khi anh được thả ra, anh tiếp tục làm chứng về những điều anh đã thấy và nghe. Hiện nay anh ở đâu, chúng tôi không được biết. Một nguồn thông tin của Miến Điện cho biết anh ta có thể bị tù hay bị giết rồi, trong khi một nguồn tin khác lại nói, anh đã được trả tự do và tiếp tục công việc anh được giao phó.




Tìm Về Nguồn Cội

Tìm Về Nguồn Cội
0_oregon04.jpg
 Tôi sinh ra trong một đất nước mà phần đông bị ảnh hưởng bởi tập tục lâu đời là thờ cúng ông bà, một số khác theo đạo Phật, còn số ít theo đạo Chúa. Gia đình tôi nằm trong số thờ cúng ông bà.
Ba tôi quê Điện Bàn Quảng Nam, mồ côi ba mẹ từ nhỏ, sống với người anh trai. Nhưng khoảng năm ba tôi 7 tuổi trong một lần chạy giặc loạn lạc ba cũng lạc mất người anh trai, được ông Tây người Pháp mang ra Đà Nẵng gửi trường sơ, sau này làm con nuôi trong một gia đình họ Hoàng theo Chúa. Đến hơn 20 tuổi lần theo trí nhớ trẻ thơ ba tôi tìm được về quê, gặp lại bác và đổi họ Hoàng thành họ Trần. Ba tôi sau này do ảnh hưởng của bà con họ hàng, dòng tộc…vvv, nên khi chị em tôi lớn lên cũng chỉ biết thờ cúng ông bà.
Mặc dầu ba tôi không đến nhà thờ để thờ phượng và học nghe lời Chúa, nhưng trong tiềm thức ba luôn hướng về Ngài, thường hay kể về Ngài cho chị em tôi nghe. Lớn thêm tí nữa, tôi bắt đầu biết đặt câu hỏi với ba, Chúa là ai? chỉ cho con xem, và tôi nói với ba rằng không thấy Chúa thì không tin và chắc chắn là không có Chúa. Những khi như vậy ba tôi thường tỏ thái độ với tôi, nói bậy ba phạt đó. Vậy tôi sợ nên không nói gì thêm.
Có lần ba bảo với chị em tôi là sau này ba chết, không cần lập bàn thờ, không cần cúng kiến, chỉ cần đưa ba vào nhà thờ làm lễ và trên mộ ba có cây Thập tự giá là đủ rồi. Lúc đó chị em tôi chỉ biết cười.
Những năm 1989 đến 1991 tôi học cấp 3, là những năm tôi được học rộng hơn về bộ môn sinh học, hiểu rõ hơn về nguồn gốc con người, về duy truyền học. Lúc đó thuyết tiến hóa đã ăn sâu vào lòng tôi và chuyện vũ trụ được hình thành một cách tự nhiên, con người ta có nguồn gốc từ khỉ là điều hiển nhiên tôi nhận được từ các cô thầy và tôi tin bởi niềm tin của tôi dựa vào kiến thức khoa học.
Tôi nhớ có lần chị đầu tôi, lấy chồng theo Chúa bên Tin Lành, nói với tôi về Chúa, về quyền năng của Ngài, tôi đã cãi lại chị vì tôi vốn dĩ hiểu rằng con người ta tiến hóa từ khỉ, nay bỗng dưng chị tôi bảo Chúa tạo ra loài người, mà Chúa là ai tôi chưa từng thấy Ngài, tôi nghĩ vậy nên chống đối dữ dội. Tôi còn nói với chị chỉ có những người ngu dốt, ít học mới tin như vậy. Chị còn dẫn chứng cho tôi, có nhiều người học cao biết rộng, họ là những người bác sĩ, kỹ sư, bác học tin Chúa thì sao? Họ đều dốt nát cả à? Lúc đó thú thật tôi chỉ nghĩ là chị tôi nói sạo, để tôi tin thôi.
Rồi năm tháng trôi đi, tôi ra Huế học đại học ở trường Đại Học Khoa Học Huế, thời gian đó tôi có gặp gỡ đôi người con cái Chúa và họ cũng nói về Chúa với tôi, nhưng tôi chỉ nghe để mà nghe thôi, chứ không tiếp thu được gì, đôi khi lại nói theo lối khiêu khích cho họ là người sống viễn vông, mơ mộng, không thực tế.
Là sinh viên xa nhà buồn, thi thoảng vào dịp Noel tôi thường cùng các bạn đi đến nhà thờ để nghe người ta hát ca tôn vinh mừng Chúa giáng sinh. Dù thời tiết bên ngoài lạnh lẽo, nhưng sao tôi vẫn thích đi mà lòng thấy ấm áp. Và cảm giác ấm áp chỉ dừng lại ở đó đối với một người không có Chúa như tôi lúc bấy giờ.
Sau khi tốt nghiệp đại học ra trường, tôi xin đi dạy buổi tối và đi làm ban ngày, nhưng vào công ty nào cũng vài ba hôm hoặc đôi ba tháng tôi lại nghỉ việc, vì không thích hợp với nguyện vọng của mình. Những khi buồn chán rảnh rỗi tôi thường đi chơi đây đó, nhưng khi tàn cuộc vui về nhà đối diện với chính mình, với thực tại, lòng tôi lúc nào cũng thấy buồn, có một nổi buồn nào đó xuyên tâm can tôi mà tôi không lý giải được. Khi lòng mình trắc ẩn, tôi bắt đầu lao vào những trò chơi của người trần gian: mê tín dị đoan, bói toán…vv. Hễ nghe có ai giới thiệu bà thầy này hay, ông thầy nọ nói đúng là tôi rủ thêm vài người bạn tìm đến để xem cho bằng được. Nhiều năm như thế, cứ mỗi khi gặp điều gì phiền muộn là tôi lại tìm đến thầy bà, chùa chiềng xin xăm, rút quẻ không tiếc tiền.
Nói về chị tôi, sau những lần làm chứng, tôi đều cãi vả, lý sự nên chị tôi dường như không còn muốn nói về Chúa cho tôi nghe nữa. Có một lần ra nhà chị chơi, lúc này anh chị đi vắng, chỉ có mấy cháu nhỏ, tôi vào phòng chị, quyển sách bìa đen, chữ nổi màu vàng có tựa đề Kinh Thánh đập vào mắt tôi, tôi với tay lấy và nằm say sưa đọc. Đó là lần đầu tiên tôi cầm quyển sách của Chúa. Tôi đọc vài trang đầu, sách nói rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên Trời đất, con người, vạn vật …vv trong 6 ngày. Thú thật lúc này mọi điều đó như là một kiểu kể chuyện hoang đường chẳng khác nào những câu chuyện thần thoại, cổ tích mà tôi đã từng đọc, nên tôi dừng lại ở đoạn Adam và Eva phạm tội lẫn tránh Đức Chúa Trời.
Vài năm sau tức năm 2002, tôi lặn lội vào Nam tìm việc, dù công việc tuy trái với nghành nghề tôi học, nhưng tôi thấy thích nên tôi quyết tâm làm. Và cuộc sống cứ thế trôi, tôi lập gia đình, sống xa nhà và biết chấp nhận cuộc sống một cách thực tế, hơn những gì mình học được cũng như mình thuê dệt khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường.
Năm 2006, em trai tôi bị ung thư máu, bệnh viện Đà Nẵng bảo em tôi chỉ có thể sống 2->6 tháng nữa thôi. Tôi nước mắt như mưa lặn lội từ trong Nam về thăm em, rồi bàn gia đình đưa em vào Nam chữa trị. Sau khi qua hai bệnh viện Bình Dân và Huyết Học nhưng vết thương sau hai lần phẫu thuật ở Đà Nẵng không thành công, tiếp tục sưng tấy và nhiễm trùng. Gia đình và tôi thật sự không bao giờ nghĩ em tôi sẽ qua khỏi. Vậy mà chỉ sau vài tuần em tôi được xuất viện. Sau này em là người tiếp tục làm chứng với tôi về Chúa. Em nói với tôi rằng Chúa đã nhậm lời cầu xin của em, khi em trong cơn nguy kịch giữa cái sống và cái chết, khi mà sự tin cậy vào con người không còn có thể nhờ được nếu vượt ngoài khả năng của họ. Tôi vẫn không tin điều em nói, thỉnh thoảng lại có tranh cãi mỗi lần em làm chứng về Chúa cho tôi. Tôi luôn là người đặt ra những câu hỏi mang tính bảo thủ của con người: Chúa ở đâu chỉ cho tôi xem? Sao người theo Chúa thì không thờ cúng ông bà?. Trong khi đối với tôi lúc đó, việc thờ cúng là tỏ lòng hiếu thảo đối với người đã khuất, và cũng tin rằng ông bà sẽ phù hộ cho mình. Cứ sau mỗi lần tranh luận, em tôi thường nói, thôi em không nói với chị nữa vì chị không hiểu biết gì về Chúa cả, có nói chị cũng không hiểu, không khéo em là người làm cớ cho chị vấp phạm. Nói xong em lại đi, tôi vào phòng em tìm đến quyển sách Tân ước để đọc. Lúc đó tôi nghĩ em giỏi gì hơn mình chứ, mà sao em bảo mình không hiểu Lời Chúa, mà Lời Chúa là gì? Và tôi suy luận không hiểu nghĩa là ngu dốt. Vậy nên tôi cốt đọc để giỏi hơn em về lời Chúa, đồng thời cũng để tìm ra cái sai trong đó mà bắt bẻ lại em. Tại khi đó tôi khờ khạo cho rằng cuốn sách đó là do con người viết ra, và vì họ tôn sùng Chúa Giê-xu là vị lãnh tụ gì đó của họ, nên có thể thêm thắt một vài điều. Nhưng mọi việc khác hẳn so với những gì mà tôi đã nghĩ. Càng đọc lời Ngài tôi càng say mê về những lời dạy dỗ của Ngài. Không có điều gì trong Ngài là sai trái và dối trá cả.
Việc em trai tôi theo Chúa, em trai lớn của tôi cùng những người trong gia đình chưa tin Chúa phản đối kịch liệt, riêng tôi thì ủng hộ. Năm 2001 em tôi viết thư vào cho tôi bảo chị ơi bây giờ em theo Chúa chị nghĩ thế nào? Tôi viết thư về bảo, theo đạo nào cũng được, cốt là để trở thành người tốt, sống cho có ích, tuy tôi có hơi buồn vì em là con trai theo tập tục thì phải thờ cúng ông bà. Tôi bảo em như thế mà lòng không hiểu rằng theo đạo mà chỉ để sống cho tốt thôi, thì người không có đạo người ta cũng sống tốt vậy. Năm 2006 em tôi vào đây chữa bệnh và ở với tôi, tôi cũng không hề phản đối việc em theo Chúa, trái lại tôi thường xuyên gọi điện tác động với gia đình nhất là má, và những chị em chưa tin về việc để cho em trai tôi có quyền tự do lựa chọn cuộc đời của nó. Mặc dầu thế nhưng riêng bản thân tôi vẫn chưa tin có Chúa.
Năm 2007 Cháu gái tôi, con chị đầu bị bệnh, liệt toàn thân. Bác sĩ bệnh viện Đà Nẵng bảo phải chuyển gấp vào Sài Gòn nếu không bệnh tình sẽ biến chứng nhanh lắm.
Lần này là bước chuyển biến trong cuộc đời của tôi. Khi đến bệnh viện Nhi Đồng I Sài Gòn, cháu tôi được chuyển đến khoa lây nhiễm thần kinh, tại đây tôi chứng kiến nhiều trẻ em bệnh nằm cùng khoa với cháu thật thê thảm, có cháu ăn bằng ống, thở bằng bình Oxy, lại thấy có những cháu qua khỏi cơn nguy kịch đang phải chống gậy tập đi…vvv, lòng tôi quặn thắt.
Khi tôi hỏi chị tôi bệnh tình cháu thế nào, vì sao bị vậy? Bác sĩ nói sao? thì chỉ nhận được câu trả lời chờ đợi. Tôi đang ngồi với cháu trên giường bệnh thì em trai tôi bảo tôi ra, nó bắt đầu đặt tay lên trán cháu và cầu nguyện. Nhìn thấy vậy tôi tự nghĩ, một ý nghĩ lóe lên trong tôi, em tôi theo Chúa, em có Chúa để nương cậy còn tôi thì không. Thì ra lúc nghịch cảnh đến, con người cũng chỉ biết bó tay đứng nhìn và chấp nhận. Còn bác sĩ sau khi nổ lực kiểm tra, xét nghiệm thì kết luận bệnh này do virus lạ xâm nhập và sự tấn công của nó không giải thích được, có người bị nhẹ, có người bị nặng, nói chung hên xui may rủi. Và thuốc đặc trị cho bệnh này cũng không có, chỉ có uống vài viên vitamin và thuốc giảm đau nếu đau quá không chịu nổi…vv. Sự hồi phục cũng vậy, cũng vẫn là hiên xui may rủi.
Tôi bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời, sự sống và cái chết sao quá mong manh. Và khi khoa học chỉ ở một đỉnh điểm nào đó thì mọi điều vẫn còn nằm trong hạn hẹp, có giới hạn. Tôi suy nghĩ hai chữ Virus lạ, vậy lạ là gì? Phải chăng cái gì ta không biết thì gọi là lạ. Khoa học chỉ có thế thôi sao? Mà cũng đúng thôi con người ta tìm ra khoa học, mà con người là bất toàn thì khoa học cũng thế không thể nào trọn vẹn được.
Trở về lại Biên Hòa, tôi bắt đầu dành thời gian rảnh rỗi của mình cho việc chát chít để giải khuây những buồn bã trong lòng, những nặng gánh và ưu tư không biết san sẻ cùng ai. Và giờ đây, tôi phải nói là Cảm tạ Chúa vì Ngài biết được những khát khao, những hoài bão kiếm tìm chân lý của lòng tôi. Ngài đã cho tôi gặp một con cái Chúa có tên là Sam người Ấn độ, anh hơn tôi nhiều tuổi, sống chân thành, giản dị, đó là cảm nhận của tôi sau một lần duy nhất tiếp xúc với anh trên mạng chat, cùng những lá thư ấm nồng tình yêu của Đấng Chirst ngào ngạt trong anh. Và từ đó tôi nhận được nhiều câu giải đáp từ Đấng rất cao qua tôi tớ Ngài. Và từ đó tôi hiểu rằng ông bà, ba mẹ là những người xứng đáng để cho ta tôn trọng, yêu thương, hiếu kính nhưng họ không phải là người để ta tôn thờ. Và công việc thờ cúng những người đã khuất chỉ thỏa mãn nhu cầu của người sống, để bớt nhớ thương, bớt nuối tiếc về những gì lúc người đó sống mình chưa làm được cho họ và cũng để tin vào thế giới thần linh rằng họ sẽ phù hộ và độ trì cho mình mọi điều suông sẽ. Nhưng họ đâu biết rằng : ” Mây tan ra và đi mất thể nào, kẻ xuống âm phủ không hề trở lên cũng thể ấy. Họ không hề trở về nhà mình nữa và xứ sở người chẳng còn biết người” (Gióp 7: 9-10). Và họ càng không biết quyền năng cao siêu của Đức Chúa Trời rằng : ” Trong tay Ngài cầm hồn của mọi vật sống và hơi thở của cả loài người; Nơi Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan và quyền năng. Mưu luận và thông minh đều thuộc về Ngài; Kìa Ngài phá hủy loài người không cất lại được. Ngài giam cầm người nào không ai mở ra cho” (Gióp 12: 10, 13,14).
Bên cạnh Chúa cho tôi tớ Ngài dạy tôi hiểu về lời hằng sống của Ngài, mặt khác Ngài cho tôi chứng kiến quyền năng siêu nhiên của Ngài ngay chính trong đời sống mà mỗi ngày tôi đang sống, để tôi hiểu rằng Ngài đang vận hành cả vũ trụ này, mà đôi mắt mù lòa về mặt tâm linh của một con người hữu hạn như tôi không thể nào nhìn thấy được. Nói rõ hơn là Ngài đang mở đôi mắt mù lòa về mặt tâm linh để tôi thấy được Ngài bằng Đức Tin của tôi.
Một ngày khác tôi lại đến bệnh viện thăm cháu gái và ở lại đêm tại đó. Khoảng hơn 9 giờ tối, tôi chứng kiến cảnh một bé trai khoảng 14 tuổi như động kinh, chân tay co quắp, người rung lên. Ba mẹ cháu phải ghì cháu lại và vuốt ngực để cháu bớt lên cơn, mãi sau cháu mới thôi và chịu nằm yên. Tôi hỏi chị tôi thì mới hay cháu vào đây cũng nhiều ngày nhưng các kết quả siêu âm hay xét nghiệm, cùng các chuẩn đoán khác đều cho thấy cơ thể cháu vẫn bình thường. Các bác sĩ chưa tìm ra được nguyên nhân của bệnh tình cháu. Thật là một điều kỳ diệu mà Chúa đã dành cho tôi, để tôi khao khát kiếm tìm sự toàn năng, toàn mỹ và toàn quyền nơi Ngài mà loài người không có được.
Tối Chủ nhật tuần đó, tôi không đến chỉ nghe anh chị và em trai tôi kể lại, khi nhóm con cái Chúa ở Sài Gòn vào bệnh viện thăm cháu tôi, thì anh rể tôi có nói về trường hợp cháu Thắng bị bệnh như động kinh nhưng sao miệng luôn nói về Chúa, dù gia đình cháu theo Phật. Nghe vậy nhóm con cái Chúa này đến giường cháu lật mí mắt lên và phát hiện ra trong người cháu có ma quỷ nhập. Vì thế họ hiệp một lại và bắt đầu nhân danh Chúa để đuổi. Sau đó ma quỷ xuất ra khỏi người cháu, cháu trở nên bình thường trước sự chứng kiến của rất nhiều thân nhân người bệnh. Sáng hôm sau, bệnh viện cho cháu xuất viện. Sau lần đó anh chị tôi tiếp tục làm chứng về Chúa, có nhiều người tại phòng cháu quỳ gối tin nhận Ngài.
Còn bản thân tôi thì sao, tôi bắt đầu tin trong lòng mình, nhưng chỉ tin thôi chứ không thực sự biết mình nên làm gì để bước đi trong niềm tin ấy. Mỗi ngày thấy sức khỏe, cùng khả năng đi lại của cháu ngày một hồi phục nhanh chóng, tôi hạnh phúc không tả được.
Rồi tôi lại nhận được thư của con cái Ngài từ Ấn Độ gửi sang, Anh gửi cho tôi một bài tiếng anh viết về ” Chương Trình Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời”. Lúc đó tôi cố gắng miệt mài tra từ điển để dịch xem thử chương trình cứu rỗi của Ngài là gì? Và rồi tôi cũng đã dịch, đọc và hiểu được chương trình cứu rỗi của Ngài. Cảm tạ Chúa, Ngài đã yêu tôi dù tôi là một người tội lỗi, Ngài đã đổ huyết báu Ngài ra trên Thập tự giá cũng vì tôi: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Chirst vì chúng ta chịu chết” (Rôma 5:8). Tình yêu của Ngài cao hơn trên mọi thứ tình yêu, và vĩ đại hơn mọi thứ vĩ đại trên cõi đời này. Tôi bắt đầu ý thức được mình là kẻ có tội, và cũng bởi tôi là kẻ có tội thì hình phạt dành cho tôi là sự chết. “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rôma 6:23). Điều này có nghĩa người có tội khi chết sẽ ở nơi địa ngục ngăn cách vĩnh viễn với Đức Chúa Trời nơi Thiên Đàng. Bản thân tôi, thật sự lúc này không bao giờ muốn mình phải bị ngăn cách vĩnh viễn với Ngài, bởi Ngài là Đấng yêu thương, và là nguồn cội của mọi tình yêu thương. Nhưng đến với Ngài như thế nào đây, vì tôi đã có chồng, chồng tôi là Trưởng Nam trong một gia đình nho giáo. Anh là người Miền Bắc, việc phụng sự và chăm lo từ đường của các cụ để lại từ bao đời nay là nhiệm vụ của anh. Tôi biết đến với Ngài tôi sẽ bị anh phản đối, vì thế tôi chần chừ muốn đợi anh tin, rồi hai vợ chồng cùng ăn năn với Chúa.
Ban ngày tôi vào mạng tìm đọc những bài viết về Ngài. Tối về tôi đọc Kinh Thánh Tân ước vì lúc này em trai tôi mang tặng tôi quyển sách này. Mỗi lần lật cuốn Kinh Thánh, tôi luôn thầm nguyện với Ngài hãy mở đôi mắt, đôi tai và tấm lòng của tôi bằng thuộc linh để tôi có thể nghe và hiểu được lời Ngài dạy dỗ, đây là điều mà con cái Ngài ở Ấn Độ hướng dẫn cho tôi. Và thế là tôi đã nghe được tiếng nói dịu ngọt ấm êm của Ngài, hiểu được những điều dạy dỗ sâu nhiệm của Ngài trong từng trang Kinh Thánh. Càng lúc tôi càng thấy mình không thể chần chừ và chờ đợi được nữa. Tôi nghĩ nếu chỉ dựa vào sức tôi, làm thế nào tôi có thể thuyết phục được anh? Ba mươi ba năm trôi qua trong cuộc đời, tôi sống không có Ngài tôi đã kinh nghiệm được rất nhiều điều, tôi thấy mình mất nhiều hơn được. Và giờ đây tôi muốn tìm về nguồn cội, được trở về trong vòng tay yêu thương của Ngài hơn bao giờ hết. Tôi quyết định đến với Ngài một cách mạnh mẽ, và nương cậy Ngài, cầu xin Ngài cảm hóa chồng tôi. Ngày 26-08-2007 tôi dẫn con gái, cùng em gái của chồng đến Nhà Thờ Tin Lành Biên Hòa tin nhận Chúa, vì truớc đó tôi thường đọc Kinh Thánh cùng em và in những bài viết về Chúa cho em đọc.
Bất chấp sự bắt bớ từ phía chồng, có lúc tôi bị áp lực đến căng thẳng, tưỏng chừng như mái ấm gia đình bé nhỏ của tôi sẽ đỗ vỡ, nhưng tôi đặt hết niềm tin vào Ngài, vào Cứu Chúa toàn năng, toàn tri và toàn tại của lòng tôi. Tôi quỳ gối cầu xin Ngài trong nước mắt, xin Ngài giữ gìn hạnh phúc nhỏ nhoi của tôi và cứu chuộc anh ấy. Cảm tạ Chúa, quyền năng cao cả và vĩ đại của Ngài vượt trên không gian, ra ngoài thời gian và trên mọi tầm hiểu biết của con người trong đó có tôi. Ngài đã đáp lời tôi trong sự mầu nhiệm thiêng liêng của Ngài, ngày 24-11-2007 chồng tôi đã bước lên quỳ gối tin nhận Ngài trong đêm truyền giảng. Vậy mà cách đó vài giờ, khi buổi truyền giảng chưa bắt đầu, anh còn nói với tôi hẹn em 20 năm nữa anh sẽ tin nhận Chúa.
Từ ngày tôi có Chúa, tôi sống lạc quan yêu đời, không sợ hãi không lo âu, không buồn phiền không bực tức, không nóng giận và trong lòng tôi tràn ngập sự yêu thương.
Từ ngày tôi có Chúa cuộc đời của tôi tươi trẻ hơn và đầy sức mới Chúa dành cho tôi. Phước lớn Chúa ban tuôn tràn trên đời sống của tôi. Có Chúa tôi không những được Chúa ban tặng cho tôi món quà vô giá là Thiêng Đàng ở đời sau cùng sự sống đời đời, mà ngay trong đời này tôi cũng nhận được ân điển của Ngài dành cho tôi một cách dư dật. Lúc gặp khó khăn hay hoạn nạn tôi cầu xin Chúa, Chúa đều đáp lời và giải cứu tôi ra trong cơn nguy kịch.
Tôi viết bài làm chứng này, chỉ mong sao những người chưa từng biết về Ngài và những ai còn chần chừ chưa dám xưng nhận Ngài, hãy mạnh mẽ lên mà đến với Ngài, “Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được” (Luca 1:37).
Nguyện xin Đức Chúa Trời ở cùng Quý vị ngay hôm nay.
Trần Thị Kim Loan
Biên Hòa Đồng Nai.
18-04-2008



Phan Như Ngọc: Niềm hạnh phúc tuyệt vời

Phan Như Ngọc: Niềm hạnh phúc tuyệt vời

Tôi sinh ra và lớn lên trong lòng Miền Bắc XHCN vô thần.Suốt mười năm học trường phổ thông, tôi luôn luôn được dạy rằng vũ trụ này tự nhiên mà có, không có Ông Trời nào hết.

Rồi tôi vào học ngành vật lý của Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội.Tôi phải học triết học duy vật một cách có hệ thống, trong đó sợi chỉ đỏ xuyên suốt là quan điểm vật chất có trước, vật chất đẻ ra ý thức, vật chất quyết định ý thức. Chỉ những gì con người cảm nhận được trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua các phương tiện máy móc, thì mới tồn tại (hay hiện hữu). Như thế, chủ nghĩa duy vật đương nhiên chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, vì không ai có thể sờ đụng hoặc cảm nhận được Ngài nhờ các giác quan của mình.Bấy giờ tôi cảm thấy chủ nghĩa duy vật là đúng. Ai tin có Chúa tôi đều cho là duy tâm, là mê tín dị đoan cả.

Sau khi tốt nghiệp, tôi làm nghề dạy học.Tôi phải vừa dạy vật lý, vừa thông qua môn học này để giáo dục tư tưởng duy vật cho học sinh, sinh viên.Vì thực tâm tin ở sự đúng đắn của chủ nghĩa duy vật, nên tôi giảng dạy rất say sưa, không thấy gì gò bó cả. Mười ba năm dạy học là mười ba năm góp phần tuyên truyền cho chủ nghĩa vô thần chống Chúa trong đội ngũ trí thức Việt Nam. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy xót xa ân hận vô cùng. Nếu linh hồn của lớp đàn em tôi bị hư mất, thì chính tôi phải chịu một phần trách nhiệm.Tôi đã vô tình gây nên tội.

Năm 1976, tôi được đi làm nghiên cứu sinh ở Hungary.Bốn năm sau, có chút bằng cấp nước ngoài rồi, tôi không dạy học nữa mà về làm việc ở Viện Vật Lý thuộc Viện Khoa Học Việt Nam. Về sau, tôi được cử làm trưởng phòng của Phòng Nghiên Cứu Vật Lý Hạt Nhân, trong đó có 6 tiến sĩ  cùng làm việc. Chúng tôi đã từng ký kết và thực hiện hợp đồng với Cơ Quan Nguyên Tử Năng Quốc Tế (International Atomic Energy Agency), cộng tác nghiên cứu các phản ứng tổng hợp hạt nhân (fusion reactions) thuộc đề tài sử dụng năng lượng tổng hợp hạt nhân vào mục đích hòa bình. Tôi đã đi dự một số hội nghị khoa học quốc tế để báo cáo về các công trình nghiên cứu này.Bước đường sự nghiệp của tôi, tuy chưa bằng ai, nhưng đối với tôi có thể coi là toại nguyện.Chỗ làm việc của tôi thật lý tưởng. Bây giờ, khi đã tin Chúa, tôi thấy kế hoạch của Ngài đào tạo tôi thật quá kỳ diệu. Không có bàn tay chăm sóc của Ngài thì một thường dân như tôi sao có thể được ưu đãi như thế. Cảm ơn Chúa thật nhiều!

Vì nhiều lý do, năm 1989, nhân một chuyến đi công tác nước ngoài, tôi đã xin ở lại Đức. Một hôm ở trại tỵ nạn Heilbronn, tôi gặp nhà truyền đạo Hà Lan Henk Wolthaus. Ông đến trại để phát sách Cơ Đốc cho mọi người.Sau khi nói chuyện với ông một lát, tôi xin ông một cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Anh (vì ông không có Kinh Thánh tiếng Việt), và một vài cuốn sách nhỏ khác.Tối hôm đó, tôi bắt đầu đọc thử các sách mới xin xem sao.

Ngay từ dòng đầu Kinh Thánh, tôi đã thấy vô lý: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”. Lương tri tôi bật lò xo.Đó là phản ứng tự nhiên của một người đã sống gần năm mươi năm với chủ nghĩa vô thần. Nhưng rồi tôi nhớ lại, chính Newton cũng cho rằng sở dĩ các thiên thể chuyển động nhịp nhàng được là nhờ “Cái hích đầu tiên của Thiên Chúa “, mà ngày trước tôi đã từng phân tích cho sinh viên đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm. Tự nhiên tôi nghĩ rằng Newton, người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ, được coi là phát minh vĩ đại nhất của lịch sử văn minh nhân loại, lại có thể kém như thế ư? Và tôi tự trả lời: không thể được, chắc là mình dốt, không hiểu được ông ta, có lẽ Đức Chúa Trời có thật.

Rồi tôi đọc tiếp câu chuyện Chúa sáng tạo vũ trụ trong sáu ngày chỉ bằng những lời phán. Tất cả như một truyện thần thoại dành cho trẻ con.Khi đọc đến Tân Ước, tôi lại càng thấy nhiều điều không thể chấp nhận được. Có thể tin chăng một bà mẹ đồng trinh sinh con, một người mù được sáng, người cùi được sạch, người què được lành, người chết đã có mùi được sống lại chỉ nhờ những lời phán? Ai có thể đi bộ trên mặt nước, ra lệnh bắt bão tố vô tri phải dừng?

Những phép lạ đầy rẫy trong Kinh Thánh làm cho cái đầu quen suy nghĩ theo kiểu vô thần của tôi không sao hiểu nổi. Đúng lúc ấy, trong đầu tôi nẩy ra một câu hỏi mà bây giờ tôi biết là chính Chúa đã đến và gỡ mối cho tôi. Câu hỏi đó là: Sức mạnh nào khiến cho hàng tỷ người trên thế giới, trong đó có hầu hết các nhà khoa học vĩ đại mà tôi từng ngưỡng mộ, tin Kinh Thánh? Họ cuồng tín, hay chính mình ngu dốt? Từ những cuốn sách mỏng xin của Henk, tôi đã đọc thấy những câu bất hủ sau đây:

Charles Dickens viết: “Kinh Thánh Tân Ước chính là cuốn sách tốt nhất đã từng hoặc sẽ được biết đến trên thế giới”.

Ngài Isaac Newton, nhà khoa học mà tôi đầy lòng khâm phục, đã kết luận: “Trong Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó”.

Victor Hugo viết: “Nước Anh có hai cuốn sách, Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh sinh ra Shakespeare, còn Kinh Thánh làm nên Nước Anh.

Albert Einstein, nhà vật lý học được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đã phát biểu: “Khoa học không có tôn giáo là mù lòa”.

Ông cũng tuyên bố: “Tôi sẽ đi nhà thờ nào lấy những lời dạy của Chúa Giê-xu làm tín điều của mình”. Như vậy, chữ “tôn giáo“ mà ông dùng chính là Đạo Chúa, là Cơ Đốc Giáo thờ phượng Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

Lúc bấy giờ, tôi chưa hiểu được nhiều, nhưng Chúa biết tôi là ngưòi từng được học và làm khoa học nên đã dùng tiếng nói của chính các nhà khoa học thật lớn để mở mắt cho tôi.Tôi lại nhớ đến một câu chuyện về Newton. Sau khi ông phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ kỳ diệu, nhiều người đã hỏi ông làm cách nào ông lại có thể phát minh ra định luật vĩ đại như vậy. Newton vừa cười vừa trả lời: “Đó là nhờ tôi đã đứng trên vai những người khổng lồ”. Chúa như đang nhắc nhở tôi: “Hãy đứng lên vai những người khổng lồ này thì con sẽ nhận ra Chân Lý của Ta”. Quả nhiên tôi đã bị Ngài bắt phục dễ dàng.Cái tư tưởng vô thần, được tích lũy công phu và sử dụng trong bao nhiêu năm nay, bị đánh bật khỏi đầu tôi. Xưa nay tôi vẫn nghĩ đơn giản: không có Đức Chúa Trời vì không ai chứng minh được sư hiện hữu của Ngài. Nhưng bây giờ tôi lại biết đặt câu hỏi mới: “Ai đã chứng minh được Đức Chúa Trời không hiện hữu?” Tất cả chỉ dựa vào cảm giác của con người; mà cảm giác thì không phải là một cách chứng minh khoa học. Người đứng ở Trái đất nói rằng Mặt Trăng quay quanh Trái Đất; nhưng quan sát viên đứng ở Mặt Trăng sẽ bảo Trái Đất quay quanh Mặt Trăng. Ai đúng? Hơn nữa, có nhiều cái hiện hữu mà không thể nhận biết được bằng cảm giác, chẳng hạn như tình yêu, như trí khôn con người. Không có và không thể có một máy nào đo được tình yêu hay trí khôn. Rõ ràng rằng năm giác quan và tất cả những máy móc mà loài người làm ra không phải là đầy đủ để nhận biết được mọi đối tượng. Vì vậy, quan niệm “Có Chúa”  hay “Không Có Chúa” là vấn đề của Đức Tin, nằm ngoài phạm vi của khoa học, của cảm giác. Nói theo ngôn ngữ khoa học đây là những tiên đề (axioms).

Thật ra tiên đề “Có Chúa“ dễ tin hơn nhiều.  Nhà bác học Newton đã làm một mô hình hệ thống Mặt Trời rất đẹp để ngay trên bàn làm việc.Một hôm có một người bạn vô thần đến thăm. Ông bạn khen mô hình đẹp quá và hỏi rằng “Ai đã làm nên vậy?”.Newton cười hóm hỉnh trả lời “Tự nhiên mà có đấy thôi”.Ông bạn không tin. Newton trả lời: “Thế thì tại sao cậu lại tin cả cái vũ trụ vĩ đại chuyển động nhịp nhàng này tự nhiên mà có, không cần Đấng Sáng Tạo?”

Tương tự như vậy, nếu đi làm về mà có cơm dẻo canh ngọt trên bàn thì nhất định chúng ta tin rằng phải có một bàn tay khác chăm sóc. Chân lý đó thật quá đơn giản, vậy mà tại sao nhiều người (kể cả tôi trước đây) lại theo tiên đề “Không Có Chúa“. Kinh Thánh có câu trả lời: “vì chúa đời này (ma quỷ) đã làm mù lòng họ”.

Tính muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu (hạt giống nào sinh cây trái đó), vẻ đẹp tuyệt vời của những nàng hoa, sự hài hòa và hoàn thiện của cơ thể con người, sự hùng vĩ của bầu trời sao; tất cả những cái đó, cộng với những ý kiến các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục, chính là sự minh họa tuyệt vời và là cơ sở để tôi tin rằng phải có Đấng Sáng Tạo. Đó chính là Đức Chúa Trời toàn năng (He possesses all power: omnipotent) toàn tri (He knows everything), toàn trí (He has all knowledge: omniscient) và toàn tại (He is present everywhere at one and the same time: omnipresent).

Dần dần tôi cũng tin Kinh Thánh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, vì dù đã được viết bởi hơn bốn mươi tác giả, ở những địa diểm khác nhau, trải ra 1500 năm, nhưng Kinh Thánh là một thể thống nhất. Từ đầu đến cuối đều nói về kế hoạch cứu rỗi của Chúa đối với nhân loại. Thật ra, đây cũng là vấn đề của Đức Tin, là tiên đề thứ hai cho mọi người tin Chúa.

Một trong những khái niệm khó nhất là khái niệm Đức Chúa Trời ba ngôi một thể. Đức Chúa Trời biểu hiện dưới ba hình thức khác nhau: Đức Cha, Đức Con (Chúa Giê-xu) và Đức Thánh Linh. Ba Ngôi vừa riêng biệt, vừa là một, nghĩa là chỉ có một Đức Chúa Trời.

Cảm tạ Chúa đã đào tạo tôi thành một người nghiên cứu vật lý, nên điều này đối với tôi lại rất dễ chấp nhận khi so sánh với nước.Nước cũng có ba trạng thái là rắn, lỏng và hơi.Ba trạng thái vật chất ấy đều có cùng bản chất là H2O.Có thể nói ba là một, một nhưng là ba.Ở đâu có một là có cả ba trạng thái. Điều thật khó hiểu đã trở thành quá rõ ràng, mặc dù đây chỉ là một sự so sánh rất khập khiễng,  một sự minh họa rất đại khái mà thôi.

Khi đã có những niềm tin cơ bản ấy (thừa nhận cả hai tiên đề), thì mọi thắc mắc về các phép lạ đều được giải đáp dễ dàng.Đức Chúa Giê-xu chính là Đức Chúa Trời hiện thân làm người như chúng ta.Như vậy, Ngài là Đấng Sáng Tạo. Chính Ngài đã làm phép lạ vĩ đại nhất (Tạo dựng nên vũ trụ này) thì những phép lạ khác trong Tân Ước, như đi bộ trên mặt nước, gọi người chết sống lại, ra lệnh cho bão tố phải dừng… đối với Ngài có gì là khó thực hiện.

Những lời dạy của Chúa Giê-xu đã gây cho tôi nhiều xúc động, vì thấy tình yêu thương của Ngài thật vô bờ bến. Ngài cũng phán: “Ta là Đường Đi, Chân Lý, và Nguồn Sống. Nếu không nhờ Ta, không ai được đến với Cha”. Ngài không tìm đường đi tới hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta, mà chính Ngài là Con Đường dẫn chúng ta đến sự cứu rỗi linh hồn. Ngài không nói tới một chân lý nào khác, vì chính Ngài là Chân Lý tuyệt đối duy nhất. Và cũng chính Ngài là Nguồn Sống, vì tổ phụ A-đam của chúng ta đã nhờ sinh khí của Ngài mà trở thành một loài sinh linh.

Người Việt Nam cũng tin có Ông Trời. Ca dao Việt Nam có bài:

 

Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cầy,

Cho đầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp…

 

Con người tưởng rằng có thể trực tiếp đến với Đức Chúa Trời, đến với Cha Thiên Thượng. Chúa Giê-xu cho biết: Tội lỗi đã tạo ra một hố ngăn cách giữa nhân loại với Đức Chúa Trời, và bây giờ chính Ngài là chiếc cầu duy nhất bắc qua hố thẳm ấy. Ai không tin nhận Ngài thì không thể đến cùng Đức Chúa Trời được. Ngài mời gọi: Hỡi những kẻ mệt mỏi và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. Ngài cũng phán: “Này, Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, Ta sẽ vào ăn bữa tối với người đó, chỉ người với Ta”.

Thật sự cảm động trước những lời dạy đầy tình yêu thương ấy, tôi đã quỳ gối ăn năn về tội lỗi trong những năm sống vô thần, và thành kính mời Ngài vào làm chủ cuộc đời mình. Từ đó đời tôi hoàn toàn được đổi mới, tràn ngập ánh sáng, bình an và hy vọng.

 

Thưa quý vị,

Với bài viết ngắn này, tôi không thể nào nói hết được những phước hạnh mà Chúa đã ban cho tôi từ ngày tôi tin nhận Ngài. Trước đây tôi cứ nghĩ chết là hết. Thật ra không phải thế. Kinh Thánh cho biết rằng chết là bắt đầu một cuộc đời mới, như hạt giống chết đi để bắt đầu cuộc đời của một cây xanh. Chúa Giê-xu cũng dạy rằng: “Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư vong mà có sự sống đời đời”. Tôi không những đã nhận được những phước hạnh đời này, mà còn biết chắc rằng mình sẽ có cuộc sống vĩnh cửu ở bên Ngài, sau khi từ giã thế giới này. Đó là niềm vui và sự bình an không thể mua được bằng bất cứ giá nào.

Để kết thúc, xin cho phép tôi trích dẫn lời của Albert Einstein:

“Tôn giáo của tôi là sự hạ mình chiêm ngưỡng Đấng vốn là thần linh, tối cao, vô hạn, đã tự bày tỏ chính Ngài trong những phần tử vô cùng nhỏ bé của vũ trụ, để cho chúng ta có thể bằng tư duy thiển cận tầm thường của mình cũng nhận biết được Ngài. Chính sự hiểu biết về những quy luật tuyệt vời của vũ trụ vĩ đại và kỳ diệu đã đem đến cho tôi niềm tin sâu sắc về sự hiện diện của một Đấng quyền năng tối thượng đã sáng tạo nên vũ trụ, cái mà con người không thể nào lãnh hội được bằng lý trí của mình, Đấng đó chính là Đức Chúa Trời của tôi.” (Barnett Lincoln-The universe and Dr. Einstein, p. 95).

Kinh Thánh dạy rằng: “Đức Chúa Trời là tình yêu”. Tin nhận Chúa Giê-xu, quý vị sẽ được nếm trải tình yêu thương ngọt ngào ấy như hàng tỷ người và cả chính tôi đã từng kinh nghiệm được. Quý vị sẽ như một người con lạc đường quay trở về nhà cha đẻ của mình. Mọi thứ trước đây ở bên phải nay đều ở bên trái và ngược lại (Như đại văn hào Nga Lev Tolstoi đã nhận xét, sau khi ông tin nhận Chúa). Phước hạnh và tình thương của Chúa sẽ theo quý vị đến hết cuộc đời như Ngài đã hứa trong Kinh Thánh.

Cầu Chúa dùng bài làm chứng ngắn này để góp phần rất nhỏ giúp quý vị tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu, mời Ngài vào làm chủ cuộc đời mình và nhận được Ơn Cứu Rỗi, tức là sự sống đời đời mà chính Ngài đã hứa ban tặng. Vui biết mấy, một ngày mai, chúng ta sẽ được gặp nhau ở Thiên Đàng, cùng nắm tay ca hát tôn ngợi Đức Chúa Trời yêu quý, Đấng Sáng Tạo, đã dựng nên trời đất vũ trụ, cũng như cả quý vị và tôi. Thật là một niềm hạnh phúc tuyệt vời! Ước mong sẽ được trao đổi tâm tình thêm với quý vị qua các phương tiện thông tin hiện có.

 

Phan Như Ngọc




Ân Điển Lạ Lùng – John Newton

Ân Điển Lạ Lùng

36450_wallpaper280.jpg

Sự lạ lùng. Đó là cách duy nhất để diễn tả sự chuyển hóa lạ thường mà đã xảy ra trong cuộc đời của John Newton. Newton đã sinh ra tại Luân-Đôn (London) vào năm 1725. Mẹ anh đã chết khi anh bảy tuổi. Cha của anh đã gởi anh ra biển vào lúc mười một tuổi. Từ việc làm đầu tiên như một cậu bé trong căn-bin (cabin) rồi đến một người giúp việc trên sàn tàu, John đã bị đặt vào một cuộc đời say sưa, thuộc trần tục và trái luân lý – và anh đã đi theo nó.

Không lâu sau, John đã trội hơn những người bạn cùng tuổi của anh về tư cách tàn bạo. Nhạy bén – thông minh và chế nhạo, anh đã viết những bài hát xúc phạm chế giễu những viên chức của chiếc tàu  chiến the H. M. S. Harwich mà anh đã vào phục vụ năm 1744. . Anh đã tự làm vui bằng cách đầu tư vào những lời chửi thề mới và hướng dẫn những người bạn cùng tuổi của anh làm những cuộc chạy trốn nguy hiểm và táo bạo. Anh thường bỏ trốn nhiệm vụ của anh. Khi vẫn còn trong tuổi niên thiếu. Anh đã bị bắt lại, bị đánh đập và giáng cấp từ chuẩn úy hải quân xuống thủy thủ.

Cuối cùng theo yêu cầu riêng của mình, John Newton đã được trao đổi đễ phục vụ trên một con tàu nô lệ, đưa ông đến bờ biển của Sierra Leone. John Newton sau đó trở thành đầy tớ của một thương nhân nô lệ và bị lạm dụng tàn nhẫn. Đầu năm 1748, ông được giải cứu bởi một thuyền trưởng đi biển đã được biết đến cha của John. John Newton cuối cùng đã trở thành thuyền trưởng của tàu riêng của mình, chạy dọc buôn bán nô lệ.

Như một người buôn bán nô lệ, tấm lòng của Newton càng cứng cỏi hơn. Anh đã có biệt danh là một người đàn ông ăn nói thô lỗ và gắt gỏng, bị coi thường và khinh bỉ bởi những người dưới quyền và những cấp trên của anh. Anh không quan tâm cho ai cả ngoài bản thân anh và đã không tìm kiếm thứ gì ngoại trừ chính điều thú vị của anh.

Mặc dù Newton đã có một số hướng dẫn tôn giáo ban đầu từ mẹ của mình, người đã qua đời khi ông là một đứa trẻ, ông đã từ lâu từ bỏ niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, trên một chuyến đi về nhà, trong khi ông đã cố gắng để lèo lái con tàu xuyên qua một cơn bão, ông đã trải qua những gì mà ông đã ghi lại trong nhật ký của ông “Sự giải thoát vĩ đại.” Khi tất cả dường như bị mất và con tàu sẽ chắc chắn chìm, ông kêu lên, “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.” Như những cơn sóng đập vào chiếc tàu và làm đầy nước trong căn-bin của anh, sự sợ hãi đã tràn ngập lòng của Newton. Anh đã đấu tranh một cách liều mạng để cứu lấy chiếc tàu, tát nước, và che đậy những lổ hở trên thân tàu bằng những cánh buồm của chiếc tàu, những cái bị vải bao bì, cho đến quần áo của chính anh. Như là một người thủy thủ có kinh nghiệm, John đã biết rằng anh có ít cơ hội sống xót. Và anh chưa sẵn sàng để đối diện với sự vĩnh viễn.

Những hồi tưởng thời thơ ấu của anh đã tràn ngập trở lại – những lời Kinh Thánh và những bài thánh ca mà người mẹ kính-sợ-Thượng-Đế của anh đã dạy anh, những lời cầu nguyện của bà đã nêu tên anh. John đã cố gắng kêu la với Thượng Đế cho lòng thương xót, nhưng anh đã bị ngừng lại đột ngột bởi ý nghĩ về sự xấu xa hèn mọn của mình, thế nào mà anh xứng đáng để kêu xin. Làm thế nào mà anh có thể quay về với Thượng Đế kêu cầu giúp đở, khi anh bỏ quên Ngài từ lâu? John đã trải qua một đêm đau khổ trong sự tìm-kiếm-linh-hồn sâu xa.

Ngày sau đó, cơn bão đã bớt đi. Một cách ngạc nhiên, chiếc tàu méo mó đã tìm được bến cảng an toàn. Lúc đó, Newton nói, rằng anh đã được thuyết phục rằng “có một Thượng Đế,  Đấng nghe và trả lời những lời cầu nguyện.” Anh đã khám phá một tình yêu mới của Thượng Đế đã được diễn tả trong Kinh Thánh:

“Đức Chúa Trời đã yêu thương thế gian, đến nỗi Ngài đã ban Con một của Ngài, hầu cho hể ai tin con ấy thì không bị hư mất nhưng được sự sống đời đời. Vì Đức Chúa Trời không phải gởi Con Ngài đến để phán xét thế gian, nhưng thế gian nhờ  Con Ngài mà được cứu” (Giăng 3:16, 17).

Giữa cơn bão, cặp mắt của Newton đã được mở ra. Anh đã nhận biết rằng anh là một người có tội và cần sự giúp đở của một Đấng Cứu Thế. Lần đầu tiên, anh đã hiểu được ý nghĩa về ơn huệ của Thượng Đế. Sự ăn năn tội lỗi quá khứ của anh, anh đã dâng trọn cuộc đời của anh cho Thượng Đế. Trong phúc chốc, anh đã trở thành một người đàn ông mới.

Vài năm sau, khi anh ngẫm nghĩ về kinh nghiệm của anh, Newton đã viết lên những lời:

Ơn lạ lùng – âm thanh ngọt ngào làm sao – mà cứu lấy một người bất hạnh như tôi! Tôi một lần đã hư mất nhưng bây giờ tìm lại được, đã mù mà bây giờ lại thấy.

Chính ơn huệ đó đã dạy lòng tôi biết kính sợ, và ơn đó đã giải cứu tôi khỏi những sợ hải; Thật quý báu thay ơn huệ đó đã xuất hiện vào đúng giờ phút mà tôi đầu tiên tin nhận!

Xuyên qua những nguy hiểm, vất vả và cạm bẫy của cuộc đời, ơn huệ này đã gìn giữ tôi đến giờ đây, và ơn huệ này sẽ dẫn tôi về nhà.

Vào năm 39 tuổi, một người đã từng mua bán nô lệ xưa nay đã trở thành một mục sư. John Newton đã tận tụy cuộc đời còn lại của anh để chia xẻ với mọi người tin tức tốt lành của phúc âm:rằng: Chúa Giê-xu Christ đã đến để ‘tìm và cứu những kẻ bị mất.’ (Lu-ca 19:10) Newton đã hướng dẫn phong trào của chủ nghĩa bãi bỏ nô lệ ở Anh Quốc, chỉ ra tội lỗi của sự nô lệ và đấu tranh để chống sự trao đổi mà anh đã một lần tham gia vào. Trên tấm mộ bia, and đã kết luận cuộc đời của anh như sau::

John Newton, Người Truyền giảng. Đã từng là một người bội phản và  phóng túng. Một người đầy tớ trong những người nô lệ ở châu Phi,. Là bởi sự thương xót giàu có của Thượng Đế và Đấng Cứu Thế của chúng ta Chúa Giê-xu Christ. Được bảo tồn, phục hồi, tha thứ, và được ủy thác để thuyết giáo niềm tin mà anh một thời đã cần cù để phá hủy.

Giống như Newton, bạn, cũng vậy, có thể kinh nghiệm được ơn huệ lạ lùng của Thượng Đế – bất kể bạn là ai hay bạn đã phạm tội nhiều bao nhiêu. Bạn có thể bắt đầu chính cuộc đời của bạn – thay đổi mối quan hệ với Chúa Giê-xu Christ. Bạn có thể cầu nguyện như vầy:

“Kính thưa Thượng Đế, con nhận biết rằng con đã bị hư mất trong tội lỗi của con và bị mù trước sự thật của Ngài. Con biết rằng bây giờ Ngài đã gởi Con của Ngài để chết trên thập tự giá cho con – để chuộc lấy hình phạt bởi tội lỗi của con. Xin vui lòng tha thứ cho con. Hãy vào trong cuộc đời của con và thay đổi con bằng ơn huệ của Ngài. Nhân danh Chúa Giê-xu, A-men.”

MMM / NGUON HY VONG (Theo Christin Ditchfield)




IDENTIFYING THE STRONGMAN

IDENTIFYING  THE STRONGMAN

AN  UNCLEAN SPIRIT  RETURNS

 

“When an unclean spirit goes out of a man, he goes through dry places,

seeking rest, and finds none. Then he says, ‘I will return to my house from

which I come. And when he comes he finds it empty, swept and in order.

Then he goes and takes with him seven other spirits more wicked than himself,

and they enter and dwell there;and the last state of that man is worse than the first

So shall it also be with this wicked generation.”  MATTHEW 12: 43-45

1. Demons walk – they can travel from one place to another, they are disbodied spirits, that they want to manifest in the flesh of the man, they seek to inhabit body.

2. Demons seek – they seek and search, they have personalities. The search for the people who are yielding to them through lifestyle.

3. Demons rest – they rest after they seek for the body, they feel tired.

4. Demons see – they can see through spiritual eyes.

5. Demons talk – they can speak and talk, they can communicate.

6. Demons have will – they can think and decide when return, they have imagination.

7. Demons have faith – they have believed that they will return to the house.

8. Demons have memory – they remember when they were before to come back.

9. Demons can examine – they can examine your room and find empty. Demons always come back and examine you. He remembers that he got you one time.

They are smart. He comes to his own house and he see its vacant.

10. Demons can plan – they plan to invite other seven spirits, even worst that they.

11. Demons have knowledge – they know how to call for help.

 

WE MUST DEAL ALWAYS WITH THE STRONGMAN – EVIL SPIRIT

 

“Or else how can one enter a strong man`s house and plunder his goods,

unless he first binds the strong man? And then he will plunder his house.”

MATTHEW 12: 29

 

            There are twelve strong men in the Bible. To each is connection with demons.

Demons can be cast out, but when the strongman is inside, they will come back, and the condition of the man is worse that before. We must deal with the Strong man first

 

 1. Spirit of Jealousy – First Strong man in the Bible is in NUMBERS 5: 11

When there is a suspicion about anything there is the spirit of Jealousy.

PROVERBS 6: 34 – “For jealousy is the rage of the man.” Therefore he will nor spare anybody under suspicion. Revenge is demon, but Jealousy is Strong man.

Murder is demon, rage is demon, competition os demon but Jealousy is the Spirit.

2. Spirit of Lying – II CHRONICLES 18: 22, JEREMIAH 23: 14

“They commit adultery and walk in lies.” Adultery is a demon from Spirit of Lying.

“They all of them like Sodom.” It is Spirit of homosexuality. Sodomy is connected.

Spirit of Lies is the Strong man. There is the curse upon the lies. Profanity is bound by Lying Spirit. Vanity is connected to the Spirit of Lies. Hypocrisy is also from this.

If you want to be really free – you should deal with the Lying Spirit. The same Lying Spirit is in  church as a Spirit of Religion. Continually condemning others, standing higher than others, isolate themselves, only his group is right, continually accuse you,

They jumping from church to church. Everybody is wrong, you can never win with them. Everytime you talk, they always talk back with lies and untruth. Just avoid them.

3. Familiar Spirit – I samuel 28: 7

Word Familiar means Friendly, and Familiar Spirit will manifest in Astrology. People who follow the stars, they are bound by the Familiar Spirit. It is demonic. Horoscopes, reading horoscopes. The Spirit bound  lives. All forms of the occult and witchcraft.

4. Spirit of Perversion – ISAIAH 19: 14. Perversion is also  PROVERBS 13: 2

To prevent means to twist the truth, to corrupt, to turn the truth around. It does apply to all sexual perversions as homosexuality and bestiality. Lust after women is also with Spirit of Perversion, and uncontrolled leads to oppression, which needs deliverance.

5. Spirit of Heaviness – ISAIAH 61: 6. Devil of grief, of self pity, of rejection,

loneliness, gluttony. People are bound with rejection and self pity.

6. Spirit of Harlotry –  HOSEA 4: 12, there are six strong man by name:

Idolatries, Love of world, love of money, love of self, fornication, prostitution.

The people in harlot and prostitution are associated with devil and his kingdom.

Nobody is satisfied with prostitute. It is no satisfaction in sex with a harlot.

7. Spirit of Infirmity –  LUKE 13: 11

 All sicknesses, every disease know to human, behind is the Spirit of Infirmity.

8. Deaf and Dumb Spirit – MARK 9: 17

Dumb and deaf Spirit tormented young boy, giving him suicidal thoughts, Spirit tormented him.It is demon of suicide in the dumb and deaf spirit. Jesus set him free. We must deal with the Spirit of Infirmity first as Strong man.

9. Spirit of Fear – II TIMOTHY 1: 7

Spirit of Fear first torment inside the body. Fear has tormentor, so those who are tormented, they are afraid and have sense of danger. You say to your children: Do not Fear. Just trust the LORD at all times and everything will be OK. Our God said:

Fear not, I am with You. It is sign of unbelief, when you start to fear. Fear is: torment

terror, nightmares, worry and all come by devil of fear.

10. Spirit of PridePROVERBS 16: 18

Spirit of Pride manifest with mockery, stubbornness. Witchcraft is in the same line.

Pride and witchcraft are relatives. Gossip, arrogance, selfrighteousness, wrath.

In wrath is the pride of man.

11. Spirit of BondageROMANS 8: 5

“We have no received the Spirit of Bondage, but Spirit of Adoption.”

When you can not call on God – it is the very first symptom. You try but can not pray to God. People who try to pray, but can`t break through because they are bound by Spirit of Bondage. They can not call God Father. They can not say Father in Jesus` Name. They have no feeling for fellowship. In the Bondage is found anguish, bitterness, all types of  addiction to drugs, to cigarettes, to alcohol.

12. Spirit of AntichristI JOHN 4: 3

It is legalism, opposing the men of God, opposing teaching, opposing speaking in tongues, speaking against the Gifts of the Holy Spirit, substitutes everything, opposing and prosecuting saints, blasphemy against saints. It is controlling others Spirit

We always should deal with the Strong man and bind them in the Name of Jesus.

In MATTHEW 12 : 29 Jesus said very clearly to religious pharasees:

“Or else how can one enter the strong man`s house and plunder his goods, unless he first binds the strong man? And then he will plunder his house.”

 

12 Người Mạnh Sức TRONG KINH THÁNH

 




SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA

SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA

I Các vua 18:1-40


Không như tín đồ của các tôn giáo đời nầy, Cơ Đốc nhân sau khi được cứu, Chúa sẽ biến đổi tấm lòng người đó trở nên đền thờ Chúa ngự. Cả Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con đều ở với con cái Chúa qua Đức Thánh Linh, như lời Chúa dạy: “Chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống. Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ.” (II Côr 6:16) Vì thế, một khi con cái Chúa sa sút yếu đuối thì đền thờ lòng bị nguội lạnh hoặc khi đời sống tâm linh bị phá sản thì đền thờ lòng cũng bị sập đổ hoang tàn. I Các vua 18:1-40 cho chúng ta thấy tình trạng bội đạo của dân Y-sơ-ra-ên thời A-háp – Giê-sa-bên thật là đáng sợ. Cả đền thờ Giê-ru-sa-lem lẫn đời sống tâm linh của dân sự đều bị hoang tàn. Chúa đã sai tiên tri Ê-li đến để sửa lại bàn Chúa ở giữa dân sự. Tiên tri Ê-li vâng lời Chúa ra mắt vua A-háp và cả dân sự Y-sơ-ra-ên. “Bấy giờ, Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta, dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.” (IVua 18:30)

Có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ: Tại sao một dân tộc chứng kiến vô số phép lạ, được Chúa chăm sóc chu đáo và gìn giữ khỏi quân thù cách kỳ diệu, lại có thể chối Chúa và bội đạo thậm tệ đến nỗi phải sai đầy tớ Chúa đến sửa lại bàn thờ cho họ như vậy?

  1. LÝ DO Ê-LI SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai lý do chính:

  1. Vua A-háp đã phá đổ bàn thờ Chúa.

Hành động vua A-háp và hoàng hậu Giê-sa-bên phá đổ bàn thờ Chúa đã đưa dân Y-sơ-ra-ên đến tình trạng bội đạo tập thể. Theo I Vua 18:18,19-30, kể từ khi vua A-háp cưới Giê-sa-bên về làm hoàng hậu vương quốc Y-sơ-ra-ên, bà đã xúi giục chồng lập nhiều đền miếu cho hai tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê trên khắp đất Y-sơ-ra-ên, thậm chí còn lập ngay trong đền thờ Đức Chúa Trời. Vốn là một người sùng bái tà thần, Giê-sa-bên đã biến mình trở thành giáo sĩ truyền bá tà đạo trên thánh địa. Như vậy, nhìn chung trên cả vương quốc Y-sơ-ra-ên chẳng còn nơi nào thờ phượng Chúa, mặc dầu trên khắp xứ còn 100 tiên tri và “7.000 người môi họ chưa hôn Ba-anh và Át-tạt-tê.” Nhưng tất cả đều đang ẩn mình. Tình hình tôn giáo Y-sơ-ra-ên lúc ấy thật thảm hại.

  1. Không còn sự thờ phượng và tế lễ cho Chúa.

Hằng năm theo luật Môi-se, dân Y-sơ-ra-ên phải dâng cho Chúa nhiều của lễ và thờ phượng trong đền thờ, nhưng kể từ khi A-háp lên ngôi, các cuộc thờ phượng không còn nữa. Mối thông công giữa Chúa và dân sự cũng bị cắt đứt, các của lễ cũng không còn được dâng lên. Các kỳ lễ lớn mà Chúa đã truyền dân sự phải giữ đời đời cũng chấm dứt. Vì thế dân sự càng ngày càng xa cách Chúa, mất phước. Đất nước đang trong cơn hạn hán. Đã ba năm không một giọt sương hay mưa rơi xuống đất. Súc vật chết dần chết mòn, lương thực khan hiếm. Dân sự chẳng có gì để ăn và nước cũng không đủ uống. Cuộc sống khốn khổ vô cùng. Có lẽ nhiều người trong dân sự nhớ lại lời cảnh cáo của Chúa trong Phục truyền luật lệ ký 28:1-5, 16-24.. đồng thời họ cũng nhận thức rằng tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê chẳng đem lại cho họ một điều phước nhỏ nhoi nào, nhưng họ đã lỡ phế bỏ bàn thờ Chúa làm sao khôi phục lại. Vì vậy, Chúa sai tiên tri Ê-li đến giúp dân sự sửa lại bàn thờ Chúa.

  1. CÁCH THỨC SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai điều Ê-li phải làm để sửa lại bàn thờ Chúa:

  1. Dẹp bỏ bàn thờ tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê .

Đây là việc làm vô cùng khó khăn và nguy hiểm, có thể đổi bằng mạng sống. Vì lúc bấy giờ hoàng hậu Giê-sa-bên đang cuồng nhiệt truyền bá sự thờ lạy Ba-anh và Át-tạt-tê . Bà giết các tôi tớ Chúa và bách hại không thương tiếc những ai trung thành với Đức Chúa Trời. Vì thế, những ai muốn khôi phục lại bàn thờ Chúa thì sẽ đối đầu trực tiếp với Giê-sa-bên và 850 tiên tri của hai tà thần đang ăn chung bàn với hoàng hậu (IVua 18:19).

Việc trước tiên tiên tri Ê-li phải làm là dẹp bỏ bàn thờ tà thần. Nếu lập bàn thờ Chúa bên cạnh bàn thờ tà thần thì Chúa chẳng đẹp lòng, vì Ngài là Đấng kị tà (Xuất 20:5, II Côr 6:16). Một số con cái Chúa chưa hiểu nên muốn dung hòa giữa tà thần hình tượng với Chúa, nghĩa là thờ Chúa nhưng hình tượng cũng không bỏ. Tôi muốn nói đến những hình tượng trong lòng. Tất cả đều phải loại bỏ để đền thờ lòng được thánh sạch, như thế Chúa mới vui ngự vào. Ngày nào những hình tượng kia còn tồn đọng trong tâm trí lòng dạ chúng ta, thì ngày đó bàn thờ Chúa trong lòng chúng ta vẫn chưa được sửa lại.

  1. Khiến lửa từ trơi rơi xuống thiêu hóa của lễ.

Lúc bấy giờ nhiều người trong dân sự không thể phân biệt Ba-anh là Đức Chúa Trời hay Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Nên Ê-li phải đặt ra một dấu hiệu để dân sự nhận biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Dấu hiệu đó tỏ ra trong việc dâng của tế lễ bằng bò. Các tiên tri Ba-anh chọn một con, tiên tri Ê-li chọn một con. Tiên tri Ê-li nhường cho các tiên tri Ba-anh làm trước: “Các ngươi hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi vì các ngươi đông, nhưng chớ châm lửa.” (c.25) Thật nghịch lý, thường ít người phải làm trước mới phải. Tại sao 450 tiên tri Ba-anh đông người mà lại làm trước? Ê-li biết rõ họ rất mê tín nên cho họ làm trước để khỏi đổ thừa lý do nầy lý do nọ. Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn họ đã làm xong con bò và sắp ngay ngắn lên bàn thờ. Thế là từ sáng đến trưa họ kêu cầu Ba-anh, nhưng chẳng thấy Ba-anh nào đáp lời. Đến trưa Ê-li nhạo họ hãy kêu to hơn, chắc thần đang đi chơi đâu đó sẽ nghe hoặc đang ngủ sẽ thức dậy! Trời đã về chiều mà vẫn chưa thấy gì, các tiên tri Ba-anh bắt đầu lấy dao rạch vào người cho máu chảy ra lai láng để mong được thần nhậm lời. Nhưng vẫn bặt vô âm tín.

Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều (Xuất 29:38), tiên tri Ê-li đến sửa soạn bàn thờ và của lễ, rồi bắt đầu kêu cầu Chúa. Chẳng mấy chốc lửa từ trời giáng xuống thiêu hóa của lễ và làm khô hết nước xung quanh bàn thờ, khiến triều đình A-háp, các tiên tri Ba-anh và dân sự đều kinh ngạc. Lập tức 450 tiên tri Ba-anh bị bắt và giết sạch! Hãy chú ý chỉ có 450 tiên tri của Ba-anh dám thách đấu với tiên tri Ê-li. Còn 400 tiên tri của Át-tạt-tê không tham gia. Sở dĩ các tiên tri Ba-anh dám thách đấu là vì họ dựa vào triều đình A-háp – Giê-sa-bên, ngoài ra họ còn tin rằng trên núi Cạt-mên Ba-anh có thể giáng lửa. Theo Unger’s Bible Dictionary, trước khi Y-sơ-ra-ên chinh phục đất hứa, người Ca-na-an thường dâng tế lễ cho Ba-anh trên núi Cạt-mên. Thêm nữa Ba-anh là nam thần với biểu tượng Mặt trời nên họ càng tin Ba-anh có thể giáng lửa xuống. Nhưng họ đã lầm, trước hiện diện Chúa không tà thần hoặc con người nào đứng nổi. Do đó tà thần Ba-anh trốn mất. Trong chỗ riêng tư, ma qủy có thể thi thố một vài dấu lạ để lôi kéo thiên hạ thờ lạy nó. Nhưng khi có Chúa hiện diện thì nó chào thua. Đó là lý do 400 tiên tri của Át-tạt-tê không tham gia. Át-tạt-tê là nữ thần với biểu tượng là Mặt trăng, Nữ vương trên trời hay còn gọi là cái sừng nhỏ, thần rừng. Đây là thần đứng đầu của người Si-đôn. Những người thờ tà thần Át-tạt-tê tin rằng Át-tạt-tê có thể làm cho mùa màng tốt tươi, đất đai mầu mỡ, đem lại sự thịnh vượng cho con người ngay cả trong mùa hạ! Thế nhưng đã hơn ba năm bị hạn hán Át-tạt-tê chẳng làm gì được. Vậy làm thế nào các tiên tri Át-tạt-tê dám tham gia cuộc thách đấu?

Sau khi dân sự chứng kiến phép lạ lửa từ trời rơi xuống thiêu hóa của lễ của Ê-li, dân chúng lập tức tung hô: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” và hiệp với tiên tri Ê-li bắt giết hết thảy 450 tiên tri của Ba-anh.

Dân tộc Việt Nam thờ lạy đủ thứ hình tượng và mê tín đủ điều, rất khó đem họ về với Chúa, nhưng một khi Chúa thăm viếng và thi thố quyền năng, thì họ cũng sẽ tung hô Chúa là Đức Chúa Trời Tạo hóa, là Thiên Phụ từ ái của họ. Tôi con Chúa cần hạ mình ăn năn xưng tội để được Chúa thăm viếng và thi thố nhiều phép lạ cứu vớt đồng bào đang hư mất.

III. KẾT QUẢ VIỆC SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai kết quả được tìm thấy trong I Vua 18 như sau:

  1. Đem dân sự quay trở về cùng Chúa.

Câu 39 chép: “Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!” Hãy chú ý chữ “cả”, nghĩa là tất cả dân sự đều quay trở về với Chúa. Dân Y-sơ-ra-ên nổi tiếng cứng trán, cứng lòng, nhưng qua phép lạ họ đều quy phục Chúa. Chỉ có sự thăm viếng của Chúa mới thức tỉnh được Hội Thánh Chúa hiện nay và đánh thức được tâm linh các tôi con Chúa đang miệt mài trong hư danh, nhiều người đang bị lôi cuốn vào những cơn lốc tội ác của đời. Nhiều Cơ Đốc nhân hữu danh vô thực, chỉ theo đạo nhưng chưa trải nghiệm sự tái sanh, chính họ sẽ làm gương xấu giữa Hội Thánh lôi kéo nhiều người khác vào đường tội ác. Nhưng người như vậy cần sớm quay trở lại với Chúa.

  1. Đem cơn mưa đến cho dân sự (câu 41-46..)

Để đem cơn mưa đến cho dân sự, Ê-li phải chiến đấu trong sự cầu nguyện không kém gì cuộc chiến đấu với 450 tiên tri Ba-anh trước đó. Tiên tri Ê-li phải lên đỉnh cao nhứt của núi Cạt-mên qùy gối úp mặt xuống đất cầu nguyện. Ông sai người đầy tớ chạy lên chạy xuống đến bảy lần mới thấy một cụm mây bằng lòng bàn tay. Nhưng từ một cụm mây nhỏ ấy đã mang đến một trận mưa lớn, tưới mát đất đai và dân sự Chúa sau ba năm rưỡi hạn hán. Hội Thánh Chúa rất cần có những đầy tớ quyền năng có thể đem mưa ơn phước đến cho đất nước và dân tộc nầy. Để được như vậy tôi con Chúa phải sửa lại bàn thờ lòng của mỗi người, và dốc đổ trong sự cầu nguyện giống như tiên tri Ê-li. Thời đại nào cũng vậy, trong khi nhân loại vui chơi ăn uống, trác táng thỏa thích thì tôi con Chúa lại cần dành nhiều thì giờ thờ phượng hầu việc Chúa và kiêng ăn cầu nguyện cho đồng bào mình.

Thật cảm động biết bao, trong khi mọi người đều ăn uống no nê vui thỏa sau những giờ chiến đấu căng thẳng, thì đầy tớ Chúa phải lên núi cầu nguyện xin Chúa cho mưa đến. Khi trời đã mưa rồi thì đầy tớ Chúa phải chạy bộ trước xe của vua A-háp về Gít-rê-ên. Tại sao Ê-li không đi trên xe của vua A-háp? Tiên tri Ê-li thật là khôn ngoan, thà chạy bộ chứ không đi chung xe của kẻ bội đạo phản nghịch Chúa, giết hại tôi con Chúa. Đáng tiếc ngày nay có nhiều tôi con Chúa vì thiếu hiểu biết đã liên hiệp đời và ngồi chung với kẻ nhạo báng nên đời sống mất phước và nêu gương xấu. Bài học nầy thật đáng cho tôi con Chúa ghi nhớ để giữ mình.

 

 

Doulos




XƯNG NHẬN DANH CHÚA

XƯNG NHẬN DANH CHÚA

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Ma-thi-ơ 10:32, 33 “Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ thì ta cũng sẽ xưng họ ra trước mặt Cha ta ở trên trời, còn ai chối ta trước mặt thiên hạ thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời.”

Rô-ma 10:9 “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu.”

Có thể làm một tín đồ bí mật không? (tức là người không công khai xưng nhận Chúa Cứu thế). Vâng, rõ ràng là trong một thời gian ngắn có người đã làm như thế. Trong Giăng 19:38 Giô-sép người A-ri-ma-thê, là một tín đồ bí mật. Nhưng về sau ông đã công khai xưng nhận Đấng Christ khi ông đến xin chôn xác Chúa. Nhưng không thể nào cứ làm tín đồ bí mật mãi vì Kinh Thánh dạy rõ trong Ma-thi-ơ 10:32,33 và Rô-ma 10:9.

Đây là hai phương diện trong sự cứu rỗi:

1. Tin trong lòng tức là việc tiếp nhận Chúa Jêsus làm Chúa Cứu thế của mình.

2. Miệng xưng Chúa Jêsus Christ là Chúa.

Người trộm cướp trên thập tự giá xưng nhận Chúa Jêsus là Chúa. Lu-ca 23:42 “Lạy Chúa, khi Ngài về Nước Trời xin hãy nhớ đến tôi.”

Phao-lô trên đường đi Đa-mách đã xưng “Lạy Chúa, Chúa là ai? (Công vụ 9:5).

1 Cô-rinh-tô 12:3 “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa.”

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC MIỆNG XƯNG CHÚA RA :

1. Chúng ta cần phải xưng nhận Chúa Jêsus ra bằng môi miệng bởi vì chính Đấng Christ truyền lịnh đó (Ma-thi-ơ 10:32,33).

2. Đây là nguồn giúp đỡ và sức mạnh trong đời sống cá nhân của chúng ta. Trong việc xưng nhận Đấng Christ ra thường thường ơn phước lớn nhất là niềm vui trong chính lòng ta.

Điều nầy tăng cường đức tin ta và ban cho ta sự can đảm lớn lao hơn để hầu việc Chúa.

Một Cơ đốc nhân biết làm chứng cho Chúa sẽ ít khi bỏ Chúa. Nói cách khác, nhiều người bội đạo đã khởi đầu sự thất bại của mình vì không dám công khai xưng nhận Chúa.

3. Sự xưng nhận Đấng Christ đem lại niềm vui thực sự cho người tin Chúa. Niềm vui đến do việc vâng lời Chúa. Bài làm chứng về Chúa lần đầu của người tin Chúa là dịp tiện vui mừng lớn nhất của người đó.

4. Việc xưng nhận Đấng Christ giải quyết nhiều nan đề. Những người khác biết bạn là ai, và bạn đang sống vì ai, họ sẽ kính trọng bạn thêm. Thế gian sẽ coi khinh một tín đồ Đấng Christ yếu đuối, hèn nhát và bí mật.

Sự cám dỗ đến nơi thế tục giải trí sẽ bị giới hạn và sự mời gọi đến các hoạt động hầu việc Chúa trong Hội thánh sẽ gia tăng. Việc đó sẽ tự động đặt bạn vào một nhóm người khác.

5. Bởi vì những gì Đấng Christ đã làm cho bạn. Nếu có ai đã làm cho bạn một việc tốt đẹp, bạn sẽ thích nói cho mọi người biết. Chẳng hạn ai đó cứu bạn khỏi chết, bạn há không ca tụng người đó sao? Chúng ta đã được Chúa Cứu thế cứu chuộc khỏi sự trầm luân trong bể tội, ta há không cho mọi người biết tin mừng đó sao?

II. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

1. Công khai trong buổi nhóm họp của Hội thánh hoặc buổi cầu nguyện chung.

2. Chỗ riêng tư với các bạn bè, bà con, láng giềng trong cuộc thường đàm hằng ngày.

3. Xưng nhận Đấng Christ cách công khai trong lễ báp -têm, trong việc tương giao với một Hội thánh.

4. Xưng nhận Đấng Christ trong việc gia nhập một Hội thánh thật thiêng liêng và tích cực.

5. Xưng nhận Đấng Christ trong việc thường xuyên tham dự giờ nhóm của Hội thánh và giờ tiệc thánh. Có lẽ điều khó khăn nhất nhưng chính yếu nhất là đơn giản kể lại lời chứng của mình cho bạn bè, bà con và người xa lạ khác.

III. SỰ THƯỜNG XUYÊN XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

Suốt đời chỉ cần một lần công khai xưng nhận Danh Chúa là đủ hay không? — Không, đó là việc mà chúng ta phải thường xuyên lập đi lập lại. Đời sống người tín đồ Cơ đốc không chịu xưng nhận Danh Chúa sẽ đói khổ và chết dần chết mòn.

Giê-rê-mi 20:9 “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa, tôi sẽ chẳng nhơn danh Ngài mà nói nữa thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi và tôi mệt mỏi vì nín lặng không kiệu được nữa.”

Đây là kinh nghiệm của Mọi người tín đồ thật của Đấng Christ khi họ có giới hạn lời chứng của mình. Một tia lửa không thể che giấu,nó tự tỏ mình ra. Một Cơ đốc nhân phải thường xưng nhận Danh Chúa ra.

IV. CHÚNG TA PHẢI LÀM CHỨNG CHO AI?

Công vụ 1:8 “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lãnh quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.”

Các tín đồ phải làm chứng về Chúa cho hết thảy mọi người. Giê-ru-sa-lem là quê hương, Giu-đê là tỉnh lỵ. Sa-ma-ri là nước láng giềng và rồi các dân ngoại khác.

Công vụ 5:20 “Hãy đi, chường mặt nơi đền thờ mà rao giảng cho dân chúng mọi lời nầy của sự sống.”

Trách nhiệm chính của chúng ta là làm chứng với các bà con, bạn bè của chúng ta. Rồi về sau, vòng ảnh hưởng của chúng ta sẽ lan rộng và chúng ta sẽ đến với càng nhiều người càng hơn nữa.

V. PHẢI NÓI GÌ KHI XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

Xưng nhận Danh Chúa là làm chứng về sự kiện một người nào đó là Cơ đốc nhân.

Một chứng nhân là người biết một cài gì đó.

Làm chứng không nhứt thiết phải giảng một bài giảng, nhưng là kể lại câu chuyện đơn giản, về những sự kiện thực mà chúng ta được biết.

Sự hiểu biết của một chứng nhân phải là lời chứng xác định, cá nhân chứ không phải là nghe đồn hay tưởng tượng. Đó phải là một cái gì đã ảnh hưởng đến một trong ngũ quan của người làm chứng (nghe, cảm, nếm, thấy, rờ).

1. Một chứng nhân phải là người được cứu.

2. Hãy kể lại những sự kiện đơn giản về sự qui đạo của bạn và sự đổi thay trong đời sống của bạn.

3. Hãy kể lại những lời cầu nguyện của bạn đã được Chúa trả lời . Thi thiên 50:15 “Hãy kêu cầu Ta trong ngày hoạn nạn, Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ tôn vinh Ta.”

4. Hãy kể lại thể nào Đấng Christ đã làm bạn hoàn toàn thỏa mãn. Nếu bạn nói: ” Tôi đã được cứu và thực sự sung sướng vì Chúa Jêsus đã cất đi tội lỗi của tôi rồi.” Dân chúng sẽ lắng nghe lời chứng thành thật của bạn. Đừng bao giờ nói rằng bạn sung sướng trong khi bạn tỏ ra bên ngoài như một người khổ đến chết.

5. Hãy kể lại sự đắc thắng của bản thân bạn trên tội lỗi và các sự cám dỗ. Điều nầy sẽ hấp dẫn người ta và họ sẽ tôn vinh Chúa Cứu thế vì Ngài đã ban cho bạn sự đắc thắng đó. Dĩ nhiên, đời sống cá nhân của bạn sẽ trong sạch trước khi bạn làm chứng điều nầy.

6. Hãy kể lại những câu Kinh thánh đắc ý, ham thích của bạn, về thể nào Chúa phán với bạn qua khúc Kinh thánh bạn đọc sáng nay trong giờ tình nguyện.

7. Hãy trao lại cho các bạn bè về Phúc âm của Đấng Christ. Hãy nói về cuộc đời trọn vẹn của Đấng Christ, về sự chết, sự chôn, sự phục sinh, sự thăng thiên, sự tái lâm và sự phán xét tương lai của Ngài.

VI. CÁC TRỞ NGẠI CHO VIỆC XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

1. Sợ người: Sợ lời chống đối, sợ dự luận, sợ người ta.

– 2 Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tinh thần nhút nhát, nhưng là tình yêu và quyền phép… .”

– I Giăng 4:18 “Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương nhưng sự yêu thương trọn vẹn ném bỏ sự sợ hãi.”

– Phi-líp 4:13 “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi.” kể cả việc làm chứng.

2. Hổ thẹn:

– 2 Ti-mô-thê 1:8 “Vậy con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ, nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin lành.”

3. Đời sống bất khiết :

Sợ lời chứng của mình không phù hợp với đời sống của mình. Hãy làm lại từ đầu. Hãy xưng tội với Chúa theo I Giăng 1:9 và xin Chúa ban cho bạn sự khởi đầu tươi mới lại với Ngài. Sự công khai thừa nhận thất bại là một khởi điểm rất tốt cho một đời sống tận hiến cho Chúa.

VII. NGUY HIỂM CỦA VIỆC KHÔNG LÀM CHỨNG :

Ê-xê-chi-ên 33:8 “Khi Ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc sẽ chết, nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng ta sẽ đổi máu nó nơi tay ngươi.”

Đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng cho những tín đồ im lặng về Chúa. Chúng ta không nhất thiết chịu trách nhiệm về các thành quả của việc làm chứng. Nếu tội nhân không chấp nhận lời chứng của ta thì đó là trách nhiệm của họ.

KẾT LUẬN:

Bạn đã xưng Danh Chúa Jêsus làm Chúa Cứu thế của bạn chưa? Khải 2:10.

Bạn có làm chứng về Chúa cho bà con, bạn bè của bạn chưa?