CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI HƯ MẤT

Xin gioi thieu voi moi nguoi bai hat  Mot ngay co Chua

Phần lớn trong chúng ta thấy khó khi cầu nguyện cho ai đó được cứu vì chúng ta không biết phải nói gì, “Chúa ơi, xin hãy cứu người này.” Chúng ta cảm thấy thật ngu dại khi cứ cầu nguyện cùng một lời như thế lặp đi lặp lại nên chúng ta thường hay bỏ cuộc và ngưng cầu nguyện. Tuy nhiên, loại cầu nguyện này liên hệ đến bốn lĩnh vực : cá nhân, người làm chứng, lời Chúa và sự phấn hưng. Khi chúng ta học cầu nguyện cụ thể trong những lĩnh vực này, lời cầu thay của chúng ta sẽ trở nên đầy thách thức và hiệu quả.

Để bắt đầu, chúng ta cầu nguyện cho cá nhân đó bằng cách nêu tên, xin Chúa làm năm điều trong đời sống người đó. Trước hết, chúng ta xin Chúa thánh hóa người đó. Điều này nghe hơi lạ nhưng đây là cách Chúa bắt đầu công việc cứu chuộc trong đời sống của từng cá nhân. Ngài luôn luôn thánh hóa hay «biệt riêng» người đó cho sự cứu rỗi trước khi Ngài cứu rỗi người đó.

Kinh Thánh dạy rõ lẽ thật này trong 1Phi-e-rơ 1:2, “đã được chọn lựa theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha và được thánh hóa bởi Đức Thánh Linh để vâng phục và được rảy huyết của Chúa Cứu Thế Giê-su.” Chúng ta thấy cùng sự nhấn mạnh này trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-14, “Đức Chúa Trời đã chọn anh chị em từ ban đầu Ctd: như những trái đầu mùaAnchorđể được cứu rỗi nhờ Thánh Linh thánh hóa và nhờ tin chân lý. . .”

Như là Đức Chúa Trời vẽ một vòng tròn vô hình quanh người đó và rồi bắt đầu đem ảnh hưởng của Ngài tác động người đó. Thật dễ để thấy rằng bất cứ điều gì đến “bên trong” cái vòng đó đều trực tiếp ảnh hưởng đến người đó. Khi chính Đức Chúa Trời bước vào cái vòng đó, nhiều điều kì diệu bắt đầu xảy ra, như bạn thấy khi bạn đọc lời làm chứng cá nhân ở phần sau của sách này.

Lẽ thật kì diệu này là lời khích lệ lớn lao cho những ai trong chúng ta cầu nguyện cho người khác vì chúng ta có thể an tâm rằng Đức Thánh Linh là Chúa của mùa gặt lu-ôn luôn theo dõi người này, một khi Ngài thánh hóa người đó! Một sinh viên đại học, tự cho mình là vô thần, lần nọ đã viết cho C.S. Lewis giải thích rằng anh đã quen biết với một số sinh viên cơ đốc đã làm chứng sốt sắng cho anh về đức tin của họ. Một số điều họ nói đã làm cho anh phải suy nghĩ; anh đang trải qua một sự tranh chiến dữ dội. Tiến sĩ Lewis suy nghĩ gì? Lewis viết hồi âm : “Tôi nghĩ anh đã “cắn câu” rồi – Đức Thánh Linh đang theo dõi anh. Tôi đoán là anh không thể trốn thoát nổi” (Dunn 118).

Bây giờ chúng ta xin Chúa chúc phước cho người đó. Khi Chúa Giê-su sai các môn đồ vào “mùa gặt của Ngài,” Ngài ban cho họ những lời dạy cụ thể là “Trước hết hãy nói, ‘Bình anh cho nhà đó’” (Lu 10:1-5). Vì luôn luôn là chính sự tốt lành của Đức Chúa Trời dẫn người ta đến sự ăn năn (Rô 2:4). Nên bắt buộc là chúng ta xin Chúa ban phước cho họ.

Nhưng đôi khi lời cầu nguyện của chúng ta cho người khác được cứu không mang lại kết quả nhanh chóng, chúng ta có khuynh hướng thất vọng và thiếu kiên nhẫn, thầm ước ao Chúa “dùng roi hoạn nạn dạy cho họ một bài học.”

AnchorKhi dân chúng làng Samari khướt từ Chúa, các môn đồ muốn Chúa thiêu đốt họ. Ngài quở các môn đồ, rằng, “Các ngươi không biết điều gì cảm các ngươi. Vì Con Người đến không phải để tiêu diệt con người mà để cứu rỗi” (Lu 9:52-56). Nếu chúng ta muốn sánh với Cứu Chúa yêu dấu của chúng ta, chúng ta phải liên tục ước ao điều tốt nhất của Ngài dành cho mọi người. Chúng ta nên đặt biệt xin phước lành tốt nhất của Ngài đến trên những người mà chúng ta cầu nguyện.

Thứ ba, chúng ta xin Chúa cáo trách người đó, vì sự cáo trách thật cần thiết cho sự cứu rỗi. Chỉ Đức Thánh Linh mới có thể cáo trách ai đó nên chúng ta hãy nài xin Giăng 16:8-11 trong lời cầu nguyện của chúng ta. Về căn bản sự cáo trách nghĩa là cáo trách về lỗi lầm. Lỗi lầm hay nan đề của người hư mất nằm ở chổ “không tin Chúa Giê-su” và đây là TỘI mà Đức Thánh Linh cáo trách (Gi 16:9).

Người ta đều biết “tội” của họ là gì, ngoại trừ tội không tin Chúa Giê-su. Vì đây là tội duy nhất kết án người ta xuống địa ngục nên satan che mắt con người về tội này. Vì thế, Đức Thánh Linh cáo trách hay thuyết phục người hư mất về mỗi tội này, bày tỏ cho họ thấy Chúa Cứu Thế Giê-su trong sự vinh hiển của Ngài để họ có thể được cứu. Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng sự cáo trách không tự động đảm bảo sự cứu rỗi. Như Phao lô “giải thích về sự công chính, sự tiết độ và phán xét hầu đến, Phê-lít run sợ . . .” (Công vụ 24:25). Nhưng không có bằng cớ trong Kinh Thánh cho thấy ông ta được cứu.

Kế tiếp, chúng ta xin Chúa soi sáng tâm trí người đó về lẽ thật. Ngay cả sau khi một người bị thuyết phục về nhu cầu cần được cứu, một tâm trí bị che mắt khỏi Phúc âm có thể vẫn còn đóng kín với ánh sáng của Phúc âm vinh hiển của Chúa Giê-su và người đó vẫn còn sốngAnchortrong tối tăm thuộc linh (2 Cô 4:6). Một khi tấm lòng và tâm trí đã được mở ra với lẽ thật, Chúa dùng cơ đốc nhân giải thích Phúc âm cho người đó. Dù hoạn quan Ê-thi-ô-pi là người tìm kiếm chân lí, và đã đến Giê-ru-sa-lem thờ phượng Chúa cách công khai và cũng có Kinh Thánh, ông nhìn nhận rằng ông không thể hiểu “ngoại trừ có ai đó hướng dẫn tôi” (Công vụ 8:26-39).

Câu chuyện hấp dẫn nhất là câu chuyện của Cọt-nây (Công vụ 10). Ông là người “tin kính và cả nhà ông đều kính sợ Chúa, bố thí cho người ta và cầu nguyện với Chúa luôn.” Này, ông còn tốt hơn nhiều cơ đốc nhân mà chúng ta biết, tuy nhiên, ông vẫn còn hư mất – ông không hiểu con đường cứu rỗi. Ông được một thiên sứ dạy bảo hãy sai người mời Phi-e-rơ là người sẽ “cho ông biết ông nên làm gì.” Cọt-nây và người thân của ông rất mở lòng với Phúc âm nên ngay sau khi họ nghe “Đạo Chúa” thì Đức Thánh Linh giáng trên họ và họ được cứu đang khi Phi-e-rơ vẫn còn giảng!

Hãy xin Chúa mở trí mở lòng của người hư mất – Ngài sẽ làm! Sau đó, người ta sẽ được cứu cách kì diệu.

Giờ thì chúng ta sẵn sàng để xin Chúa cứu người đó. Tuy nhiên, chúng ta phải sẵn sàng để Chúa làm bất cứ điều gì cần thiết xúc tiến sự cứu rỗi của người đó, vì Đức Chúa Trời đã sắp đặt các biến cố trong đời sống người đó nhằm đem người đó đến sự ăn năn.

Khi chú giải về Luca 19:10, “Vì Con Người đến tìm và cứu kẻ bị hư mất,” Chafer có nói, “Đây còn hơn là cố gắng tìm người chưa được cứu, vì họ có mặt khắp mọi nơi. Từ ngữ này gợi ý một sự chuẩn bị của Chúa cho người chưa tin để đem họ đến sự thay đổi theo những điều kiện cần thiết để được cứu rỗi.” (Chafer 3-4).

Gia đình của Tony Fontenot đã cầu nguyện cho anhAnchortin Chúa nhiều năm. Lời cầu nguyện của họ dường như vô dụng cho đến ngày 22, tháng Năm, 1982. Vào cái ngày định mệnh đó anh bị tai nạn máy bay và súyt chết. Đức Chúa Trời đã làm anh thức tỉnh và phần còn lại thật dễ dàng!

Lần nọ có một người chuẩn bị đón nhận Phúc âm, cần ai đó chia sẻ Phúc âm cho anh ta. Điều tự nhiên phải làm là cầu nguyện xin Chúa sai ai đó làm việc này. Sự thật thì đây là điều mà Ngài bảo chúng ta làm, “Mùa gặt thật trúng, nhưng thợ gặt thìýt. Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thêm thợ gặt vào đồng lúa của Ngài.” (Mat 9:37-38).

Vì những con gặt quáýt, nghĩa là “ít về mức độ, tầm mức, số lượng, thời gian hay giá trị” (Strong’s Dictionary), chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa giúp trong lĩnh vực này. Trước hết chúng ta cầu xin Ngài sai thêm con gặt. Từ Hy-lạp “ekballo” có ý niệm dùng đến sức mạnh – đẩy ra, ném ra, quăng ra.

Hãy nhớ Chúa gặp khó khăn khi sai Giô-na đến Nin-ive giảng Lời Ngài? Ngài “buộc” ông phải đi. Một tình huống tương tự xảy ra khi hội thánh do dự trong việc phổ biến Phúc âm bên ngoài ranh giới của họ. Chúa cho phép một “Trong lúc ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị bắt bớ dữ dội.” (Công vụ 8:1), nhưng “Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri.” (Công vụ 8:4).

Vì những con gặt không chỉ ít về số lượng mà cònýt về thời gian và giá trị, chúng ta xin Chúa trang bị cho họ những phẩm chất nhằm khiến họ thành chứng nhân hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng tất cả sự trang bị đến qua Đức Thánh Linh. Samuel Chadwick nói, “Quyền năng của Đức Thánh Linh không thể phân cách khỏi thân vị của Ngài . . . Đức Chúa Trời không để thất thoát thuộc tính của Ngài. Quyền năng của Ngài không thể cho mượn.AnchorNó không thể tách khỏi sự hiện diện của Ngài . . . Ngài không chỉ là Đấng ban cho quyền năng, Ngài dùng tới quyền năng. Không ai có thể làm điều đó” (Chadwick 89).

Đây là lí do Chúa Giê-su truyền lệnh cho các môn đồ hãy chờ đợi ở thành Giê-ru-sa-lem cho đến chừng «các ngươi sẽ chịu báp tem trong Đức Thánh Linh» (Công vụ 1:4-5). Rồi Ngài phán với họ, «Nhưng các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con, và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.” (Công vụ 1:8).

Dù sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là quyền thừa kế của chúng ta (Công vụ 2:38-39), hội thánh biết rấtýt về “quyền năng vĩ đại lớn lao dành cho chúng ta là kẻ tin” (Êph 1:19). Hậu quả là những linh hồn quanh chúng ta đang lao xuống địa ngục vì chúng ta bất lực không giúp gì được họ nếu không mặc lấy quyền năng của Đức Thánh Linh. Vì thế, chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa đầy dẫy các công nhân của Ngài bằng Đức Thánh Linh, trang bị họ bằng quyền năng (khả năng và sức mạnh), sự can đảm (Công vụ 4:31), sự khôn ngoan (Châm 11:30), sự nhiệt thành (Cô 4:12-13), lòng trắc ẩn (Giu-đe 22-23) và sự hiểu biết thiên thượng (Giê 33:3). Và kết quả là nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi!

Sau khi chúng ta đã cầu nguyện cho những người được cứu và để các nhân sự làm chứng cho họ, bấy giờ chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho họ. Lí do làm việc này gồm hai điều : trước hết, không ai được cứu nếu không nghe lời Chúa (Rô 10:14) và thứ hai, satan ghét lời Chúa, liên tục tấn công lời Chúa, dùng mọi nỗ lực quỷ quyệt của nó ngăn cản người ta không nhận lời Chúa. Vì cần lời Chúa để cáo trách (Công vụ 2:37), để giải phóng (Gi 8:32), và để cứu rỗi (1Phi 1:23) người hư mất, satan cựcAnchorlực chống đối lời Chúa qua sự xao lãng (Lu 8:11-15), dựng các đồn lũy (2Cô 10:4-5), và dùng sự giả trá (2Cô 11:3-4).

Lời Chúa đối với satan như thuốc tê đối với siêu nhân – nó làm cho hắn yếu ớt và bất lực. Nó cũng làm cho nước của nó thu hẹp khi giải phóng các nô lệ của nó vì “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (Gi 8:32). Nhưng hãy để ý, không phải lẽ thật giải phóng bạn mà lẽ thật mà bạn biết. Nên satan làm mọi cách có thể để giữ không cho người ta biết lẽ thật.

Khi giải thích dụ ngôn của người gieo giống cho các môn đồ Ngài, Chúa Giê-su phán satan đến lập tức và cướp đi lời Chúa trước khi người đó hiểu được (Mác 4:15). Đây là lí do thật cần thiết chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho người hư mất.

Khi cầu nguyện để Chúa dùng lời Ngài cứu rỗi người hư mất, chúng ta sẽ trình dâng năm nhu cầu cụ thể. Trước hết, Lời Ngài được “tự do” (2 Tê 3:1). Điều này đơn giản có nghĩa rằng lời Chúa không bị ngăn trở; rằng satan không cách nào ngăn cản sự vận hành của lời Đức Chúa Trời. Nó sẽ tìm cách ngăn cản lời Chúa bằng mọi cách nó nghĩ ra, cản ngăn và kiềm hãm không cho sứ điệp lời Chúa giảng ra, bóp méo lời Chúa, tiêu diệt Kinh Thánh, gieo rắc nghi ngờ về lời Chúa . . . và vân vân.

Kế đến, chúng ta cầu nguyện cho lời Chúa được tôn vinh (2Tê 3:1). Điều này có nghĩa là lời Chúa được tôn trọng và đánh giá cao giữa vòng những người nghe. Chúng ta sẽ có một sự tôn kính đối với lời Ngài khi chúng ta thấy rằng Ngài “tôn cao lời Ngài trên cả danh Ngài” (Thi 138:20. Thật ra, Đức Chúa Trời là lời Ngài hiện thân. “Ban đầu có Ngôi lời và Ngôi lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi là Đức Chúa Trời. . . Và Ngôi lời trở nên xác thịt và ngự giữa chúng ta. . .” (Gi 1:1,14).

AnchorChúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được gia tăng (Công vụ 12:24), vì một trong những quy luật của mùa gặt là, “Ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (2Cô 9:6).

Chúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được thắng thế hay phô bày sức mạnh (Công vụ 19:20). Giống như một hạt giống nhỏ có thể phá vỡ một lớp đất để đâm chồi nẩy lộc thì hạt giống lời Chúa được trồng trong tấm lòng cũng vậy.

Lời cầu nguyện tôi thích nhất đối với lời Chúa là lời Chúa sẽ kết quả. Công vụ 14:1 nói rằng các môn đồ “giảng, và vô số người cả do thái lẫn dân ngoại đều tin.”Chúng ta có thể nài xin Ê-sai 55:11, “Này, lời đã ra từ miệng Ta, sẽ không trở về cùng Ta vô hiệu quả, nhưng sẽ làm điều Ta đã định và hoàn thành việc Ta đã sai khiến nó.” Đức Chúa Trời muốn lời Ngài được kết quả; hãy xin Ngài biến lời Ngài kết quả thì bạn đang cầu nguyện theo ý muốn của Ngài và lời cầu nguyện của bạn sẽ được đáp lời!

Hãy để tôi nhắc bạn rằng Giu-đaých-ca-ri-ốt đã sống liên tục tiếp xúc với Lời hằng sống của Đức Chúa Trời nhưng ông đã chết và xuống địa ngục vì Chúa Giê-su phán, “Tốt hơn là người đó thà không sinh ra thì hơn” (Mác 14;21). Những người Pharisi – những con người sùng đạo nhất thời đó – thuộc lòng lời Chúa và có thể trích nhiều đoạn Kinh Thánh, nhưng họ xa cách Nước Đức Chúa Trời như bất cứ người nào.

Chúng ta phải hiểu rằng chỉ có Đức Thánh Linh mới làm sống động lời Chúa trong lòng người nghe thì người đó mới được cứu. Đây là lí do chúng ta phải cầu nguyện cho lời Chúa kết quả trong đời sống của những kẻ nghe!

Nếu chúng ta thật sự muốn nhìn thấy vô số được cứu thì chúng ta phải cầu nguyện cho sự phấn hưng. Câu Kinh Thánh kinh điển về sự phấn hưng bắt đầu cách này, “NếuAnchordân sự Ta, là dân gọi bằng danh Ta hạ mình xuống và cầu nguyện . . .” (2 Sử 7:14). Loại cầu nguyện được nói đến ở đây là cầu thay – cầu nguyện cho người khác. Chỉ sau khi Gióp cầu nguyện (cùng một từ trong tiếng Hê-bơ-rơ ở trên) cho các bạn ông mà Chúa thay đổi tình huống của ông (Gióp 42:10).

Trong thời gian phấn hưng, tất cả lời cầu nguyện là nhắm vào người khác. Duncan Campbell mô tả sự phấn hưng là “một sự bão hòa Đức Chúa Trời” (Edwards 26). Khi người ta bão hòa Đức Chúa Trời, họ quan tâm đến người khác hơn là bản thân. Lòng trắc ẩn của Chúa cho các linh hồn trở thành lòng trắc ẩn của họ.

Hãy nghe Finney mô tả ưu thế của sự cầu nguyện trong thời gian phấn hưng : “Tôi đã nói nhiều lần chính linh cầu nguyện đã chiếm ưu thế trong các cuộc phấn hưng này là một đặt điểm nổi bật trong các buổi nhóm này. Thông thường những người mới tin Chúa hay cầu nguyện, và trong một số trường hợp, họ thường ở lại cầu nguyện suốt đêm, và cho đến khi thể xác mệt nhoài, vì nhiều linh hồn tin Chúa xung quanh họ. Đức Thánh Linh tác động rất mạnh lên tâm trí của cơ đốc nhân; và họ dường như cùng mang gánh nặng về những linh hồn đời đời, thay vì nói chuyện, họ quì gối cầu nguyện.

“Không chỉ các buổi nhóm cầu nguyện được nhiều người tham gia … nhưng có tinh thần cầu nguyện mạnh mẽ. Cơ đốc nhân cầu nguyện rất nhiều, nhiều người để nhiều giờ cầu nguyện riêng. Trong trường hợp có hai người trở lên thì hãy nhận lời hứa này: ‘Nếu hai người trong các ngươi hiệp một cầu xin bất cứ điều gì họ cầu xin, Cha ta trên trời sẽ làm cho họ’ và xem ai đó thành đối tượng cầu nguyện; và thật kì diệu tầm mức mà những lời cầu nguyện hướng tới. Sự đáp lời cầu nguyện được bày tỏ trong nhiều phương diện, không ai thoát khỏi sự cáo trách mà Đức Chúa TrờiAnchorđáp lời cầu nguyện mỗi giờ, mỗi ngày” (Finney 141-42).

Đọc qua các cuộc phấn hưng sẽ thấy ngay hàng trăm, hàng ngàn và thậm chí hàng triệu linh hồn tin Chúa trong những thời điểm này. Jonathan Edwards xem phấn hưng là phương cách chính Chúa dùng mở mang nước Ngài (Edwards 26). Vậy nếu bạn muốn thấy những linh hồn được cứu, hãy cầu nguyện xin phấn hưng!




God Entered My Room After Watching This Video!




Buddhist woman converts to Jesus after Heavenly encounter.




Phân tích triết lý vô ngã của nhà Phật

Dẫn nhập:

Cột trụ của Phật giáo là thuyết VÔ NGÃ. Thuyết Vô Ngã do chính Phật Thích Ca, giáo chủ của Phật giáo giảng dạy. Trong kinh Pháp Cú 20:5-7 ghi lại lời dạy của Phật Thích Ca như sau:

“Chư Hành vô thượng (Mọi sự vật bị giới hạn đều là vô thượng – luôn biến đổi)
“Chư Hành là khổ (Mọi sự vật bị giới hạn đều là khổ – đời sống không có sự vui thỏa)
“Chư Pháp vô ngã (Mọi pháp là vô ngã -“pháp” bao gồm sắc pháp tức vật lý và tâm pháp tức tâm lý)

Chữ “pháp” là một thuật ngữ độc đáo trong Phật học, nó bao gồm tất cả những gì thuộc về thế giới vật lý lẫn những gì thuộc về thế giới tâm lý, nó bao gồm cả Niết bàn. Theo giáo lý Nguyên Thủy (Theravàda) không có Ngã trong các pháp (mọi sự vật) cũng như không có Ngã trong con người. Trong Trung Bộ Kinh,Phật Thích Ca dạy rằng:

“Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?”

Từ thuyết Vô Ngã, Phật Thích Ca khai mở một chủ thuyết, về sau chủ thuyết này trở thành giáo lý cột trụ của một tôn giáo lớn gọi là Phật giáo. Hơn 2500 năm đã trôi qua kể từ ngày Phật Thích Ca rao giảng thuyết Vô Ngã, hàng tỉ người trên thế giới đã tin vào thuyết này và cố gắng “tu tập” để có thể chiêm nghiệm được cái lý lẽ của thuyết Vô Ngã. Danh
từ “Phật” dùng để gọi một người đã quán triệt Vô Ngã, thể nhập Không Tánh. Phật Thích
Ca xưng rằng Ngài là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành, nhưng trên 2500 năm qua, lịch sử chỉ ghi nhận có mỗi một mình Ngài Thích Ca tự xưng là Phật. Nói cách khác, chỉ có mỗi một mình người lập ra thuyết Vô Ngã xưng nhận là mình đã chứng nghiệm được thuyết ấy.

Có phải thuyết Vô Ngã quá thâm diệu cho nên suốt hơn 2500 ngàn năm nay ngoài Phật Thích Ca ra không ai có đủ trình độ, khả năng, sự thông sáng, hoặc lòng nhiệt thành
để giác ngộ? Bài viết này nhằm phân tích và so sánh thuyết Vô Ngã của triết Phật và tín lý Hữu Ngã trong Thánh Kinh. Tác giả ước mong những điều được trình bày dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ sự tương phản giữa hai phạm trù nói trên.

Định nghĩa một số từ ngữ:

Ngã: Mỗi tôn giáo hoặc trường phái triết học có những định nghĩa khác nhau về Ngã,(Ngã là một danh từ Hán Việt). Một cách tổng quát, Ngã là một thực thể (một cái gì có thật), trường tồn và là một phần của con người, là một “cái tôi” tuyệt đối riêng biệt, không ai thay thế được, là phần làm chủ và trách nhiệm mọi tư duy, tình cảm, ý chí, hành động của con người. Tiếng Phạn (Sanskrit) gọi Ngã là “Atman”, tiếng Anhgọi là “Self”, tiếng Việt gọi nôm na là “cái Tôi” hoặc “cái Ta”. Cơ-đốc-giáo (Christianity) gọi là Linh hồn (Soul). Triết Phật dạy rằng, một Ngã như vậy không có thật, mọi quan niệm về Ngã chỉ là ảo tưởng, mọi nhận thức về Ngã chỉ là ảo giác.

Nhập Không Tánh: Trạng thái quán triệt Vô Ngã dẫn đến sự quán triệt Tánh Không của mọi pháp.(Tánh Không của mọi pháp là: vạn vật, kể cả “cái Ta” không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt nên thật ra không sinh không diệt. Sự sinh và diệt mà chúng sinh kinh nghiệm mỗi ngày chỉ là sự sinh và diệt của những ảo ảnh.) Nhập Không Tánh tức đắc đạo, tức nhập Niết bàn.

Niết bàn: Không phải là một nơi chốn như Thiên Đàng hay Hỏa Ngục mà là trạng thái giải thoát, an nhiên tự tại, nhờ thấu hiểu (giác ngộ) chân tướng của vạn vật là Không, nên chấm dứt và thoát ra ngoài mọi ý niệm, thoát mọi chấp Ngã (thoát khỏi sự cho rằng Ngã có thật), thoát mọi chấp pháp (thoát khỏi sự cho rằng mọi vật có thật, có tự tánh, có sinh, có diệt), thoát khỏi luân hồi, tức thoát vòng sinh tử.

Pháp: (1) Chư Pháp: Mọi sự vật, sự việc trong thế giới vật lý lẫn thế giới tâm lý, kể cả Niết bàn. (2) Phật pháp: Lời dạy của Phật Thích Ca. (3) Pháp môn: Phương cách tu tập để quán triệt Vô Ngã và Không Tánh. Theo Phật Thích Ca, có đến 84,000 Pháp môn. Các nhà Phật học không thống nhất với nhau về ý nghĩa của con số 84,000 pháp môn.
Dưới đây là luận giải của tác giả:

– Tứ Diệu Đế thiên biến = (4) X (1000) = 4000
– Bát Chánh Đạo vạn hóa = (8) X(10,000) = 80,000
– Pháp môn tu tập để Giác Ngộ =
Tứ Diệu Đế thiên biến + Bát Chánh Đạo vạn hóa (4000 + 80,000= 84,000 pháp môn)

Phật: Người quán triệt, tức giác ngộ Vô Ngã (thấy và hiểu sự vận hành của mọi “pháp” như chúng vốn là như vậy, tức vạn vật chỉ là ảo giác) dứt mọi ý niệm (nguyên cớ tạo ra ảo giác) nên thoát vòng sinh tử (ra khỏi luân hồi), nhập Không Tánh (thoát Khổ, trở về Chân Không, đạt Niết bàn), trở thành Phật, tức Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vô Minh: U mê, tăm tối, phát sinh ra những ý niệm không thật khiến tạo ra các ảo giác (các pháp của thế gian) dẫn đến những nhận thức sai lầm, tạo ra nghiệp lực, thu hút Tứ
Đại (tạo thành thân xác), giam giữ chúng sinh miệt mài luân chuyển trong 12 yếu tố của Duyên Khởi (luân hồi). Nếu có 84,000 pháp môn giải thoát thì cũng có 84,000 cảnh
giới vô minh.

– Ngũ Uẩn: Sắc, Thể, Tưởng, Hành, Thức (5) X (12) Yếu tố Duyên Khởi = 60 (sựChấp Pháp)
– Tam Độc: Tham, Sân, Si (3) X (8) Tám Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,Thân, Ý, Tống Truyền, Tàng = 24 (sựChấp Ngã)
– Khổ: Chấp Pháp + Chấp Ngã X thiên biến = vạn hóa (60 + 24 X 1000 = 84,000 cảnh giới)

* Khổ thiên biến mà thành ra vạn hóa: Khổ = thiên biến —> vạn hóa.
* Giác Ngộ vừa thiên biến mà vừa vạn hóa: Giác Ngộ = thiên biến + vạn hóa.

Chương I: Lập luận Vô Ngã (Anatta) của triết Phật

Phật Thích Ca lập thuyết Vô Ngã dựa trên các suy luận sau đây:

A. Nhận định Duyên khởi:

Được sinh trưởng trong môi trường văn hóa của Ấn giáo, ít nhiều gì Đức Thích Ca cũng ảnh hưởng thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo. Đối diện với cuộc sống, chứng kiến thế nhân sinh, lão, bệnh, tử – nhìn thấy vạn vật thành, trụ, hoại, diệt; Đức Thích Ca suy ra mọi sự vật đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau theo công thức sau
đây:

1) Cái này có thì cái kia có (vì có hột lúa nên có cây lúa)
2) Cái này sinh thì cái kia sinh (vì cây lúa sinh ra hột lúa nên từ hột lúa lại sinh ra cây lúa khác)
3) Cái này không có thì cái kia không có (không có hột lúa thì không có cây lúa)
4) Cái này diệt thì cái kia diệt (hột lúa bị diệt thì cây lúa – sẽ sinh ra từ hột lúa ấy – cũng bị diệt)

Theo Tương Ứng Kinh bộ II thì 12 yếu tố Duyên Khởi trong triết Phật là:

1. Vô Minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh Sắc
5. Lục Nhập
6. Xúc
7. Thể
8. Ái
9. Thủ
10. Hữu
11. Sinh
12. Lão – Tử (Ưu, Bi, Khổ não)

Vô Minh sinh ra Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh Sắc sinh ra Lục Nhập, Lục Nhập sinh ra Xúc, Xúc sinh ra Thể, Thể sinh ra Ái, Ái sinh ra Thủ, Thủ sinh ra Hữu, Hữu sinh ra Sinh, Sinh sinh ra Lão, Tử, (Ưu, Bi, Khổ não).

Từ nhận định đó (dựa vào thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo), Đức Thích Ca
lập ra thuyết Duyên Khởi, cho rằng mọi sự vật tương quan và luân chuyển trong
một vòng tròn của luật Duyên Khởi (duyên=sinh ra, khởi=bắt đầu).

B. Phân tích Ngũ Uẩn:

Khi suy tư về bản thể của con người, Đức Thích Ca nhận thấy con người là một tổng thể bao gồm các phần thấy được, đụng chạm được và các phần không thấy được, không đụng chạm được. Đức Thích Ca phân tích con người thành Ngũ Uẩn. Uẩn là một tập hợp, một nhóm. Ngũ Uẩn (năm tập hợp) đó là:

1) Sắc Uẩn: Tức Thân + Tâm (được cấu tạo bởi
Tứ Đại là đất +nước + gió + lửa), Sắc Uẩn bao gồm các Giác Quan (Căn)

2) Thể Uẩn: Tức là những Cảm Thể (cảm giác nhận được) do sự tiếp xúc
giữa 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

3) Tưởng Uẩn: Tức là những Tư Duy phát sinh từ những Cảm Thể, tạo ra các Khái Niệm

4) Hành Uẩn: Sự Lưu Chuyển của các Khái Niệm, biến Khái Niệm thành Hành Động.

5) Thức Uẩn: Sự Nhận Biết và Phân Biệt các Khái Niệm. Riêng Thức Uẩn chia làm 8 Thức khác nhau:

a) Nhãn Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mắt nhìn thấy vạn vật.

b) Nhĩ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do tai nghe từ vạn vật.

c) Tỷ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mũi ngữi được từ vạn vật.

d) Thiệt Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do lưỡi nếm lấy từ vạn vật.

e) Thân Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do thân thể tiếp xúc với vạn vật.

f) Ý Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm tổng hợp từ các khái niệm do 5 thức trên đem lại.

g) Mạt Na Thức (Manas Vijnãna) còn gọi là Ý Căn, là nơi phát sinh ra Ý Thức. Mạt Na Thức truyền các hệ quả (hạt giống – chủng tử) của những Khái Niệm đã biến thành hành động (pháp hiện hành) vào Tàng Thức và tống đưa các hệ quả đã nhuần thấm, chín mùi ra hiện hành, nên còn được gọi là Tống Truyền Thức. Mạt Na Thức khiến chúng sinh nhìn thấy một ảo giác về Ngã, là gốc của sự Chấp Ngã, là nguồn gốc của 4 phiền não
căn bản:

– Ngã Si (sự vô minh, u mê, ngu tối về bản ngã)
– Ngã Ái (sự yêu thương quyến luyến bản ngã)
– Ngã Kiến (sự nhìn thấy những sai lầm của bản ngã)
– Ngã Mạn (sự kiêu căng, ngạo mạn cho bản ngã là cao cả hơn hết)

Tương truyền Phật Thích Ca nói câu sau đây: “Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn”.
Nhiều người giải luận câu này cho rằng Phật Thích Ca có ý tuyên bố rằng: “Trên TrĐi Dưới Đất Chỉ Mình Ta (Phật Thích Ca) Đáng Tôn Quý”. Thật ra, nếu quả thật Phật Thích Ca có tuyên bố câu này, thì chỉ là nhằm kiên định cái thuyết Vô Ngã mà thôi. Ý của câu
đó có thể giải luận như sau: “Khắp vũ trụ (trên trời dưới đất) chỉ có cái NGÃ của chúng sinh là được chúng sinh tôn làm cao cả hơn hết (mặc dầu cái Ngã không có thực).

h) A Lại Da Thức (Alaya Vijnãna) còn gọi là Tàng Thức. Thức này bao gồm 3 chức năng:

– Năng Tàng: Chức năng chứa đựng, gìn giữ các chủng tử (hạt giống) của các pháp, tức chứa đựng nhữn  hệ quả của các hành động yhiện cũng như ác của chúng sinh.

– Sở Tàng: Chức năng ấp ủ, nhuần thấm những chủng tử được chứa trong Tàng Thức. Khi đã nhuần thấm, chín mùi thì các chủng tử này được Tống Truyền Thức tống đưa ra thành hành động.

– Ngã Ái Chấp Tàng: Chức năng duy trì một ảo giác về cái Ngã (Chấp Ngã), yêu thương cái Ngã, độc tôn cái Ngã, và đó chính là lực lượng qui tụ Tứ Đại để kết thành thân xác chúng sinh.

C. Suy luận Tánh Không:

Triết Phật không công nhận “Nguyên Nhân Đầu Tiên”. Triết Phật cho rằng duyên khởi là vì Vô Minh (u mê, ngu tối). Vì u mê, ngu tối cho nên chúng sinh mới tưởng các pháp (vạnvật) là có thật, tức Chấp Pháp. Vì Chấp Pháp (cho rằng vạn vật là có thật) nên chúng sinh tưởng rằng mỗi pháp đều có tự tính, dẫn đến Chấp Ngã (cho rằng mỗi con người có một bản ngã, còn gọi là “cái Tôi”, “cái Ta”, hoặc Linh Hồn.)

Ví như một lữ hành trong sa mạc nóng cháy, khao khát tìm được nước uống. Đến một
lúc nào đó, sự khao khát nước uống cho cơ thể thiếu nước khiến cho người đó bị ảo giác thấy một vũng nước hay một ốc đảo giữa sa mạc:

1. Vũng nước hay ốc đảo có hình ảnh hiện ra nhưng không có thật (sắc tức thị không: tưởng là có mà thật ra không có).

2. Vũng nước hay ốc đảo tuy không có thật nhưng vẫn có hình ảnh hiện ra (không tức thị sắc: dù là chẳng có thật nhưng vẫn hiện ra như có thật).

3. Sự khao khát nước uống, bóng mát làm cho người lữ hành nhìn thấy ảo ảnh của vũng nước hoặc ốc đảo mà tưởng là nó có thật (vô minh khiến chúng sinh tùy theo các ý niệm mà nhìn thấy những hình ảnh [Danh Sắc] của vạn vật [các Pháp] và tưởng các pháp là có thật, tức Chấp Pháp).

4. Cái mệt mõi, khát nước của thể xác khiến cho người lữ hành ý thức rằng: “Tôi mệt”, “Tôi khát”, “Tôi cần uống nước”, “Tôi cần nghĩ ngơi trong bóng mát” … nhưng bóng mát không có thật, nước uống không có thật nên không thoả mãn được nhu cầu, sinh ra Khổ.
(Vô minh khiến chúng sinh vì Chấp Ngã – tưởng mình là có thật, mà sinh ra
Chấp Pháp – tưởng các pháp là có thật. Ví như người lữ hành tưởng là thể xác mình có thật, cho rằng sa mạc có thật, mặt trời có thật, vũng nước có thật, ốc đảo có thật nên đau khổ vì cát nóng, nắng cháy, vì thân thể bị mất nước, vì thèm được uống nước nhưng vũng nước không có thật, vì thèm được núp bóng mát nhưng ốc đảo không có thật.)

D. Lập thuyết Vô Ngã:

Sự luận giải về thuyết Vô Ngã của triết Phật có thể tóm tắt như sau: Từ vô lượng kiếp, chúng sinh quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử, bởi vì trong một lúc nào đó, ở thời quá khứ vô cùng khởi (có thể đến hàng tỉ tỉ tỉ năm về trước!) vì u mê, ngu tối (Vô Minh) mà chúng sinh phát khởi các ý niệm hoặc thiện hoặc ác (Hành). Những ý niệm này hình thành các khái niệm (Thức). Các khái niệm tạo ra những hiện tượng tâm lý và vật lý tức là ảo ảnh về vạn vật (Danh Sắc). Ảo ảnh khiến sinh ra các giác quan và ý thức (Lục Nhập). Các giác quan và ý thức phát sinh ra sự đụng chạm và tiếp xúc (Xúc). Sự đụng chạm và tiếp xúc đem lại cảm giác và nhận định (Thể). Cảm giác và nhậnđịnh sinh ra sự ham muốn (Ái). Sự ham muốn tạo thành ý chí bám víu, giữ lấy (Thủ). Ý chí bám víu, giữ lấy kết tinh thành thực thể (Hữu). Thực thể trở thành sự sống (Sinh). Sự sống suy tàn rồi tiêu tan dẫn đến già cỗi và sự chết (Lão – Tử), cùng những lo, buồn, đau đớn. Chu trình này sẽ tái diễn đến vô lượng lần, mỗi lần là một kiếp, trong tương lai vô cùng tận.

Trong chu trình Duyên Khởi (12 yếu tố kể trên) mỗi yếu tố vừa là nhân của yếu tố này mà
là quả của yếu tố kia. Tùy theo những ý niệm phát sinh mà Tứ Đại (đất, nước, gió, lửa) kết thành thân xác của chúng sinh. Thân Tứ Đại sinh ra khi hội đủ Pháp hiện hành và
chết đi khi Pháp hiện hành đã hết, đó là một kiếp củachúng sinh. Tuy nhiên, trong một kiếp đó sự luân chuyển, thể hiện của các Pháp hiện hành đã tạo ra các nhân thiện hoặc ác khác (Chủng Tử) và được Tống Truyền Thức đem cất giữ vào Tàng Thức. Khi những
chủng tử này đã được thấm nhuần trong Tàng Thức thì Tống Truyền Thức phóng chúng ra thành các Pháp Hiện Hành mới, thu hút Tứ Đại, tạo ra một thân xác mới. Tiến trình này
được gọi là Nghiệp Lực. Nghiệp lực cứ khiến cho chúng sinh quay cuồng trong chu trình
bất tận của Duyên Khởi nghĩa là chúng sinh có thể trải qua vô lượng kiếp!

Trong 12 yếu tố của Duyên Khởi, nếu phá được Vô Minh thì diệt được Hành. Hành không
có thì diệt được Thức. Thức không có thì diệt được Danh Sắc. Danh Sắc không có thì diệt được Lục Nhập. Lục Nhập không có thì diệt được Xúc. Xúc không có thì diệt được Thể. Thể không có thì diệt được Ái. Ái không có thì diệt được Thủ. Thủ không có thì diệt
được Hữu. Hữu không có thì diệt được Sinh. Sinh không có thì diệt được Lão, Tử, Ưu, Bi, Khổ não.

Làm sao để phá được Vô Minh? Bằng cách quán triệt chân tướng của sự vật (các
pháp) chỉ là KHÔNG! Như vậy, muốn thoát khổ (được giải thoát) con người cần phải quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình. Khi quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình, thì sẽ Giác Ngộ, nghĩa là nhận ra vạn vật, trong đó có mình, chỉ là
ảo giác, không có thật. Có thể nói như sau: Những gì tôi nhận thấy chung quanh tôi hoặc về chính tôi chỉ là ảo giác. Tại tôi tưởng là chúng có thật cho nên có cái tôi yêu thích, có cái tôi ghét bỏ, có cái tôi khao khát, có cái tôi tìm cầu, có cái tôi muốn nắm giữ, có cái tôi muốn vứt bỏ… và khi không thoả mãn được ý mình thì tôi khổ. Cho đến lúc tôi nhận ra, vạn vật, trong đó có tôi, đều không có thật, đều Vô Ngã, thì tôi hết khổ, tôi nhập Niết bàn.




UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

(sưu tầm)

Trong Ê-phê-sô chương 5 Kinh thánh nói rằng người vợ phải phục dưới uy quyền của chồng mình trong mọi sự ( câu 24) cũng như Hội thánh phục dưới Đấng Christ.

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

(sưu tầm)

Luật Sự Sống. (Bài số 27)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Luật Sự Sống. (Bài số 27)

( sưu tầm)

Khởi đầu và Cuối Cùng. (Bài số 26)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CẤP LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Khởi đầu và Cuối Cùng. (Bài số 26)

( sưu tầm)

Khởi đầu Kinh Thánh , loài người phạm tội bị đuổi khỏi vườn Ê-đen( Sáng thế ký) , nhưng Cuối Cùng nhờ ân điển Chúa ,loài người được vào Vườn Thiên Đàng ( sách Khải huyền). Khởi đầu sách Xuất Hành là tình trạng nô lệ, Cuối cùng của sách là tự do và chuẩn bị vào Xứ hứa đượm sữa và mật. Khởi đầu Ru- tơ chương 1 là đói kém, Cuối cùng chương 1 là đầu mùa gặt lúa mạch. Khởi đầu cuộc đời bà Ru-tơ là chồng chết, góa bụa, tang tóc và nghèo khổ thiếu ăn. Cuối cùng của đời bà là lên xe hoa với đại gia Bô-ô , bà có danh phận,ấm no và hạnh phúc, có con cái hậu tự được lưu danh muôn thuở vì thuộc dòng dõi David, bởi bà kính sợ Đức Chúa Trời của mẹ chồng là Na-ô-mi. Khởi đầu chức vụ của Sau-lơ là tàn hại, bắt bớ Hội thánh, Cuối cùng của ông là chức vụ Sứ đồ xây dựng Hội thánh. Khởi đầu của Chúa Jesus là sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ , Cuối cùng Chúa Jesus ngồi bên hữu Cha trên Thiên đàng vinh hiển.
Tôi không biết anh chị em đang gặp hoạn nạn khó khăn dường nào, nhưng tất cả chúng ta đều có chung một khởi đầu : chúng ta trần truồng lọt khỏi lòng mẹ với hai bàn tay trắng ,chẳng mang gì đến thế gian này, khi nhắm mắt lìa đời chẳng mang gì đi được. Vậy hãy kính sợ Chúa và thỏa lòng vì đó là món lợi lớn. Hãy ghi nhớ rằng : Cuối cùng của chúng ta- giữ đức tin cho đến phút chót sẽ được vào Thiên đàng và sự cuối cùng hơn khởi đầu nó, lòng kiên nhẫn hơn lòng kiêu ngạo. Mọi hoạn nạn,bịnh tật ,khó khăn bắt bớ chỉ là tạm thời bởi trong vũ trụ này chẳng có gì tồn tại mãi mãi ngoại trừ Chúa. Vạn vật đều thay đổi theo thời gian, hoạn nạn của anh chị em cũng vậy : sẽ phải thay đổi, vì có Lời chép rằng :” Những sự thử thách( hoạn nạn )đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị thử thách quá sức mình đâu! Nhưng trong sự thử thách, Ngài sẽ mở đường cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được. ” ( 1 Cô-rinh-tô 10:13).
” Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi đầu làm việc lành trong anh em sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jesus Christ”.( Phi-lip 1:6).
Chúc vui vẻ bình an và hạnh phúc trong Chúa Jesus. Amen !




Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ (Bài số 25)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ (Bài số 25)


Nhiều Cơ-Đốc-Nhân không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu. Đúng, họ đã được tái sinh; họ yêu mến Chúa; họ đang trên đường lên thiên đàng. Nhưng họ không có một giá trị thực hữu nào đối với Vương Quốc của Đức Chúa Trời trong lúc còn sống ở trần gian này. Vì không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu, họ hạn chế những gì Đức Chúa Trời có thể sử dụng họ cho Vương Quốc của Ngài. Họ phí phạm thì giờ và không thể thực thi Đại Mạng Lệnh Truyền Giáo của Chúa Giê-xu.

Nếu không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ để cho kẻ thù nghịch hành hạ mình bất cứ lúc nào nó muốn. Hội Thánh của Chúa có đầy những người như vậy. Họ gặp hết nan đề này đến nan đề khác, từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác suốt cuộc đời, sau khi đã tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa và Đấng Cứu Chuộc mình. Thật là thê thảm! Thật là một sự sỉ nhục cho thập tự giá của Chúa Giê-xu khi những Cơ-Đốc-Nhân đắc thắng lại sống một đời sống thất bại!

Có một sự khác biệt giữa tái sinh và được sử dụng. Nhiều Cơ-Đốc-Nhân sống ở mức độ quá thấp so với khả năng thiên thượng của họ, vì họ không biết mình là ai và mình có thể làm được những gì trong Chúa Giê-xu.

Hệ phái và danh xưng không quan trọng, chỉ có hội thánh này (Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ) mới là quan trọng, tức là hội chúng gồm những người được cứu chuộc và được sử dụng (Thi Thiên 82:1-8).

Làm sao để làm thành viên của Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ này?

1. Quản Trị Cảm Xúc Của Bạn. Bất luận cảm xúc của bạn như thế nào, hãy cam kết phục vụ Chúa với 110% sức sống của mình. Người hâm hẩm sẽ bị nhổ ra (Khải Huyền 3:16).
2. Quản Trị Những Yếu Đuối Của Bạn. Nhận rõ những yếu đuối của mình và kiểm soát chúng. Bắt chúng phải vâng phục—thí dụ như những ý tưởng và lối suy nghĩ sai lầm (2 Cor. 10:3-4). Đừng để mà quỷ có chỗ đứng nào trong tâm trí bạn; vì những chỗ đứng đó sẽ trở thành đồn lũy. Hãy bắt lấy những ý nghĩ nào không phù hợp với Lời Chúa, và bắt chúng phải phục dưới Đấng Christ.
3. Quản Trị Thì Giờ Của Bạn. Những điều thuộc về Chúa cũng đòi hỏi thì giờ; hãy đầu tư vào những công việc của Chúa khi vẫn còn có thì giờ (Giăng 9:4).
4. Quản Trị Những Chọn Lựa Của Bạn. Kẻ thù nghịch cũng như Đức Chúa Trời đều không thể tước đoạt quyền tự do chọn lựa của bạn. Hãy chọn sự sống (Phục Truyền 30:19).
5. Quản Trị Lòng Nhiệt Thành Của Bạn. Có nhiều điều đòi hỏi sự chú ý của chúng ta; chúng ta có thể chạy trên nhiều làn đường khác nhau. Chúng ta có thể trở thành quá bận rộn ngay cả với những việc tốt. Nhưng chúng ta cần biết và hoàn tất công tác mình được giao phó. Cứ chạy trên làn đường của mình. Châm Ngôn 25:28 cho biết rằng nếu không quản trị lòng nhiệt thành của mình và làm đúng theo những gì mình được kêu gọi để làm, thì đời sống chúng ta sẽ giống như một thành trì không có tường bảo vệ xung quanh. Khi đó ma quỷ có thể đưa chúng ta đến những chỗ mà chúng ta không thật sự muốn đến.
6. Quản Trị Môi Miệng Của Bạn. Châm Ngôn 18:21, “Sống và chết ở nơi quyền của lưỡi.” Điều bạn tin trong lòng sẽ được miệng bạn nói ra. Hãy kiểm soát môi miệng của mình, thì bạn có thể kiểm soát được cả người của mình (Gia-cơ 3). Hãy đặt Lời Chúa trong lòng, và suy nghĩ trước khi mở miệng nói.
7. Quản Trị Tấm Lòng Của Bạn. Hãy tập yêu thương người không dễ thương. Yêu thương người dễ thương thì đâu có gì khó; ngay cả người tội lỗi cũng làm được điều đó! Hãy nhìn thấy những điều tốt nhất ở người khác, thay vì những điều xấu nhất trong họ. Đừng chú trọng vào nan đề, nhưng chú trọng vào tiềm năng. Bày tỏ lòng thương xót, thay vì đoán xét; như vậy, bạn sẽ được Chúa bảo vệ. Sống theo Lời Chúa, thay vì theo ý kiến của công chúng. Đừng quá sợ phiền lòng người đến nỗi chính mình sẽ làm buồn lòng Chúa!




Điều gì xảy ra khi Chúa Jesus chịu phép báo tem nước ?(Bài số 24)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CHO LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Điều gì xảy ra khi Chúa Jesus chịu phép báo tem nước ?(Bài số 24)

(Anhue Doan sưu tầm)

Năm 12 tuổi, Chúa Jesus theo cha mẹ lên thành Jerusalem dự lễ vượt qua, cha mẹ Ngài bị lạc mất Ngài. “Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét chịu lụy cha mẹ “( Lu-ca 2:51). Ngài thuận phục uy quyền của cha mẹ ,nhưng năm 30 tuổi, Ngài rời khỏi uy quyền này để thuận phuc một uy quyền mới là uy quyền của Giăng Báp-tít để chịu phép báp-tem nước. Ngày nay có quá nhiều mục sư làm Tổng lãnh đạo một giáo phái, họ chẳng thuận phục ai cả và đó là lý do chức vụ họ chẳng có gì xảy ra. Trong ” Khi ấy ,Đức Chúa Jesus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh ,đặng chịu người làm phép báp-tem. Song Giăng từ chối mà rằng : Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-tem ,mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao ? Đức Chúa Jesus đáp rằng :Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài.” ( Ma-thi-ơ 3:13-15). Chúa Jesus đã thuận phuc cha mẹ 30 năm rồi mới đến thuận phục Giăng Báp-tít. Ngài khôn ngoan thông sáng , có năng quyền như A-đô-nai, Ê-lô-him, như Giê-hô-va ở trong Ngài nhưng Ngài biết rằng năng quyền sức mạnh không phải là Uy Quyền. Chữ “Authority “- Uy quyền -thẩm quyền trong tiếng Hy lạp nghĩa là ” thăng chức cho ai đó- ban cho họ có quyền – phòng thích họ thi hành quyền lực. Ở dưới uy quyền là ở dưới sự trật tự. Khi Chúa Jesus bảo Giăng rằng :” Chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình ” , chữ “công bình ” nghĩa là “ở vị trí đúng đắn với uy quyền “, Ngài hàm ý là Ngài có quyền năng nhưng Giăng có Uy quyền từ Đức Chúa Trời. Vậy nên Chúa Jesus thuận phục uy quyền của Giăng để Ngài có uy quyền của Đức Chúa Trời từ Giăng. Trong Ma-thi-ơ chương 21:23-27 ký thuật rằng khi Chúa Jesus vào đền thờ rao giảng, các trưởng lão vặn hỏi Ngài có uy quyền từ đâu và ai đã ban cho Ngài uy quyền. Chúa Jesus hỏi lại họ Giăng có thẩm quyền từ đâu ? “Phép báp-tem của Giăng bởi đâu? ” ( câu 25). Họ đớ lưỡi cứng họng, bàn với nhau :” Nếu chúng ta đáp rằng bởi trên trời thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy, Còn nếu đáp rằng bởi người ta thì chúng ta sợ thiên hạ vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri ” ( câu 25-27). Trước khi khởi đầu chức vụ , Chúa Jesus tìm Giăng Báp-tít để thuận phục uy quyền. Tại sao ? Bởi vì Uy quyền đại diện đầu tiên trong Tân ước là uy quyền Đức Chúa Trời giao cho Giăng Báp-tít. Vậy nên Chúa Jesus đã chịu thuận phục Giăng làm báp-tem nước trước khi Ngài ra đi thi hành chức vụ. Ngày nay có rất nhiều chức vụ bị chết non bởi vì người ta đã không theo nguyên tắc này của Chúa ” để có uy quyền thi hành chức vụ phải thuận phục uy quyền “. Khi Chúa Jesus thuận phục uy quyền của Giăng làm báp-tem nước thì có các điều sau đây xảy ra : ( Ma-thi-ơ 3 :16-17)
1/ Thứ nhất : Heaven opened – Thiên đàng mở ra – Trời mở ra. Ma-thi-ơ 3:16 ” Vừa khi chịu phép báp-tem rồi, Đức Chúa Jesus ra khỏi nước , bỗng chúc các từng trời mở ra “.
Trước đó , khi dân sự phạm tội thì ” Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng , và đất dưới chân ngươi sẽ như sắt. Thay vì mưa, Đưc Giê hô va sẽ khiến cát và bụi từ trời sa xuống trên đất ngươi cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt ” ( Phục truyền 28:23-24). Ai không thuận phục là nổi loạn, người đó sẽ bị thất bại trong chức vụ và mọi sự bị đóng lại. Nếu chúng ta muốn các từng trời mở ra trên đầu chúng ta hãy tìm người đại diện uy quyền của Đức Chúa Trời để thuận phục để có uy quyền và Trời mở ra.
2/ Thứ hai : Đức Thánh Linh lên tiếng, Kinh thánh chép ” Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng : Nầy là con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng ” ( câu 17).
Giữa Cựu và Tân Ước, giữa sách Ma-la-chi và Ma-thi-ơ là khoảng trống hơn 430 năm Đức Chúa Trời im lặng,đó là thời kỳ đen tối của lịch sử nhân loại bởi vì không có tiếng phán nào của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh ngày nay chỉ phán cho những ai thuận phục uy quyền. Còn những ai nổi loạn thì Đức Chúa Trời cũng phán với họ nhưng mà là phán xét. Trong câu 17 ” Này là Con yêu dấu của ta ,đẹp lòng ta mọi đàng” – không phải nói với Chúa Jesus mà nói với mọi người xung quanh Ngài để họ nhận biết Ngài là ai- Ngài là Con Trời. Một khi anh chị em thuận phục người đại diện uy quyền của Đức Chúa Trời thì Cha Thiên thượng sẽ lên tiếng làm cho thiên hạ nhận biết anh chị em là ai. Khi đó anh chị em không cần ai thăng chức hoặc tự đề bạt mình, chính Ngài sẽ phong chức cho anh chị em và làm cho dân sự Ngài nhận biết điều đó.
3/ Thứ ba : Đức Thánh Linh ngự trên Ngài đầy dẫy ( câu 16). Chúa Jesus thuận phục nên Đức Thánh Linh xức dầu cho Ngài .Chúa có nguyên tắc của Ngài:Sự xức dầu của Đức Thánh Linh chỉ đổ trên những ai thuận phục uy quyền.Sự thuận phục đến trước, sự xức dầu đến sau. Ai muốn đầy dẫy Thánh Linh thì trước hết phải đầy dẫy sự thuận phục, không có cách nào khác. Trong Phi-lip chương 2:1-11 và Hê-bơ-rơ 5:8 đã nói rõ sự thuận phục tuyệt đối của Chúa Jesus, vậy nên Ngài mới có đầy dẫy Thánh Linh và uy quyền Danh trên hết mọi danh dưới đất, bên dưới đất và cả trên trời.
Tóm lại , trong vũ trụ chỉ có hai điều vĩ đại : Một là Sự Cứu Rỗi và hai là Uy quyền. Mọi người trên thế gian ( đặc biệt là Cơ Đốc Nhân) cần phải có hai cảm nhận sâu sắc ở trong mình : Một là cảm nhận về Uy quyền để thuận phục và Hai là cảm nhận về tội lỗi để ăn năn. Ai không cảm nhận về uy quyền sẽ nổi loạn ( giống như Sa-tan) còn ai không cảm nhận về tội lỗi sẽ đắm chìm trong nó và đi vào hỏa ngục. Ngày nay, nhiều người trong Hội thánh đau khổ vì các lãnh đạo vô cảm không có hai cảm nhận trên. Họ không hề cảm thấy lương tâm cắn rứt bởi vì lương tâm họ bị sún răng. Cầu xin Cha thương xót họ ban cho họ mọc răng lần nữa để lương tâm cắn rứt hầu cho cho họ cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và uy quyền để ăn năn thay đổi và phục hồi.
Nguyện Chúa ban sức và lòng thương xót cho chúng ta cầu thay cho các lãnh đạo Hội thánh. Riêng những người cố tình phạm tội thì hãy phó họ cho Chúa để chính Ngài phán xét chứ chúng ta đừng phán xét. Hãy im lặng và biết rằng Ngài là Chúa , và cẩn thận đặt họ trên trang bó tay chấm com !

 

Edit