BÍ MẬT HỎA NGỤC –

BÍ MẬT HỎA NGỤC

Lời mở đầu

Tôi muốn bảo đảm cùng quý vị lần nữa rằng: những điều quý vị đọc trong quyển sách này là thật. Địa ngục là một nơi có thật với những hình phạt bằng lửa thiêu đốt. Nhưng tôi muốn thưa cùng quý vị rằng: thiên đàng cũng có thật, và có thể trở thành nhà ở của quý vị cho cõi đời đời.

Như một người hầu của Đức Chúa Trời, tôi đã dâng chính bản thân tôi cho sự dẫn dắt của Chúa Giê-xu Christ, và đã ghi lại cách trung tín những công việc mà Ngài đã bài tỏ và phán với tôi.

Để có hiệu quả tốt nhất, quý vị nên đọc sách này cùng với Kinh Thánh, và so sánh những gì được ghi lại ở đây với lời Kinh Thánh. Nguyện xin Đức Chúa Trời sử dụng quyển sách này cho sự vinh hiển của Ngài.

Mary Kathryn Baxter

Hỏa ngục cũng như thiên đàng không còn là những bí mật cho con người nữa. Thiên đàng là quyết định của bạn, nhưng hỏa ngục cũng sẽ là số phận của bạn nếu bạn từ chối thiên đàng. Không có một chổ thứ ba cho linh hồn. Lời Chúa khẳng định về hỏa ngục không có lối ra, đó là hình phạt đời đời cho những người từ chối Đức Chúa Trời Đấng tối cao.

Lời Đức Chúa Trời hay lời Thượng Đế phán:

Hãy tìm kiếm Chúa đang khi mình có thể gặp được,

Hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần.

Kẻ ác hãy từ bỏ đường lối mình,

Người bất chính hãy từ bỏ ý tưởng mình.

Hãy trở lại cùng Chúa vì Ngài Thương xót ngươi,

Hãy đến cùng Đức Chúa Trời vì Ngài tha thứ dồi dào.

Tác Giả

Bà Mary Kathryn Baxter sinh ra tại Chattanooga, Tennessee. Bà được lớn lên trong nhà của Đức Chúa Trời. Khi bà còn nhỏ, mẹ của bà đã dạy cho bà về Đức Chúa Giê-xu và sự cứu rỗi của Ngài.

Kathryn được tái sinh lúc 19 tuổi. Sau khi hầu việc Đức Chúa Trời nhiều năm, bà đã trở lui một thời gian. Thánh Linh của Chúa đã không bỏ bà, và bà trở lại, tái dâng đời sống mình cho Chúa Giê-xu. Bà vẫn còn hầu việc Ngài cách trung tín cho đến ngày nay.

Vào giữa thập niên 1960, Kathryn cùng với gia đình dời đến Detroi, Michigan, Hoa Kỳ, và sống đó một thời gian. Sau đó bà chuyển đến Belleville, Michigan, và nơi đó bà bắt đầu có các khải tượng từ Đức Chúa Trời.

Kathryn lập gia đình cùng Bill Baxter hơn bà 24 tuổi. Họ có 4 đứa con và 6 cháu nội, ngoại, là những người ủng hộ bà trong chức vụ.

Năm 1976, trong khi đang sống tại Belleville. Chúa Giê-xu hiện ra với bà trong hình dạng con người, trong các giấc chiêm bao, các khải tượng, và sự mặc khải. Kể từ đó, bà đã nhận được nhiều sự thăm viếng từ Chúa. Trong suốt các sự thăm viếng này, Ngài đã bày tỏ cho bà chiều sâu, mức độ, cấp bậc và các nhục hình đối với các linh hồn trong địa ngục. Bà cũng nhận nhiều khải tượng của Thiên đàng, giai đoạn đại nạn và thời kỳ cuối cùng.

Suốt một giai đoạn trong đời sống bà, Chúa Giê-xu hiện ra với bà mỗi đêm trong vòng bốn mươi đêm. Ngài bảo bà rằng sứ điệp này dành cho toàn thế giới.

Chương 1: Hỏa Ngục

Tháng 3 năm 1976, khi tôi đang cầu nguyện tại nhà , Chúa Jesus đã hiện đến với tôi. Trong nhiều ngày khi tôi đang cầu nguyện trong Thánh Linh, thì thình lình tôi cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Quyền năng và sự vinh hiển của Ngài đầy dẫy ngôi nhà. Một vùng sáng chiếu rực căn phòng, nơi tôi đang cầu nguyện. Một cảm giác ngọt ngào, kỳ diệu bao trùm lên tôi. Những tia sáng tuôn chảy cuồn cuộn, cuốn tròn và trộn lẫn vào nhau. Chúng cuốn tròn lên và tràn ra ngoài. Đó là một cảnh hết sức kỳ diệu !

Và kế đến tiếng của Chúa bắt đầu phán với tôi. Ngài nói: “Ta là Jesus, Chúa của con. Ta muốn ban cho con sự mặc khải, để chuẩn bị lòng của các thánh đồ cho ngày trở lại của ta, và đưa nhiếu người vế với sự công bình. Những quyền lực của sự tối tăm là có thật, và sự đóan xét của ta là thật. Con của Ta, ta sẽ đưa con đến địa ngục bằng Linh của Ta. Ta bày tỏ cho con nhiều điều mà ta muốn thế gian phải biết. Ta sẽ hiện đến với con nhiều lần. Ta sẽ cất Linh của con ra khỏi thân thể và đem con đến địa ngục. Ta muốn con viết lại một quyển sách kể lại những khải tượng và tất cả những điều ta mặc khải cho con. Hãy ghi lại tất cả những việc con đã, đang và sẽ thấy. Những lời của ta là thật, thành tín và đáng tin cậy ! Chính ta ngoài ta không có Đấng nào khác”

“Lạy Chúa yêu dấu”, tôi kêu lên: “Ngài muốn con làm gì?” Toàn thân tôi muốn kêu lên trước sự hiện ra của Ngài. Điều tuyệt vời nhất mà tôi có thể mô tả được là tình yêu của Ngài bao phủ trên tôi. Đó là một tình yêu mạnh mẽ nhất, vui vẻ nhất , bình an nhất và tuyệt vời nhất mà tôi cảm nhận được từ trước đến nay. Sự ngợi khen Đức Chúa Trời bắt đầu tuôn tràn ra trong tôi. Bỗng nhiên tôi muốn dâng tất cả đời sống tôi cho Ngài sử dụng, để giúp nhiếu người thoát khỏi tội lỗi. Bởi Đức Thánh Linh tôi biết rằng đó thật là Jesus , con của Đức Chúa Trời, đang hiện diện với tôi trong căn phòng. Tôi không thể tìm đủ từ để diễn tả sự hiện diện kỳ diệu của Ngài. Nhưng tôi biết rằng đó chính là Chúa.

“Hãy xem đây, con của Ta ” Chúa Jesus phán “Ta sắp đưa con vào trong địa ngục , để con có thể ghi lại sự thật của nó và nói với thế gian rằng địa ngục có thật , để đem nhiều người hư mất ra khỏi sự tối tăm, đưa họ vào sự sáng của Tin Lành Chúa Jesus ”

Tức thì linh hồn tôi được cất ra khỏi thân thể. Tôi với Chúa Jesus đi lên ra khỏi phòng và vào trong bầu trời. Tôi biết tất cả những gì đang diễn ra quanh tôi. Tôi thấy chồng và các con tôi đang ngủ trong nhà tôi bên dưới. Nó có cảm giác như là tôi đã chết, và thân thể tôi bị bỏ lại trên giường. Trong lúc đó linh hồn tôi đang cùng với Chúa Jesus đi xuyên qua mái nhà. Dường như cả mái nhà bị cuốn tròn lại và tôi có thể nhìn thấy gia đình tôi đang say ngủ trên giường. Tôi cảm nhận sự rờ chạm của Chúa Jesus khi Ngài phán : ” Đừng sợ họ sẽ được bình yên” Ngài biết những suy nghĩ của tôi.

Tôi sẽ cố gắng hết khả năng của mình để kể lại cho quí vị từng bước một , những gì tôi đã thấy và cảm nhận được. Có vài việc tôi không thể hiểu được. Chúa Jesus đã giải thích ý nghĩa của hầu hết các việc , nhưng có vài việc Ngài không giải thích cho tôi ! Lúc đó tôi đã biết và bây giờ tôi cũng biết rằng : những việc đó đã thực sự xảy ra, và Thượng Đế đã bày tỏ chúng cho tôi. Ngợi khen danh thánh của Ngài. Hỡi mọi người hãy tin tôi : địa ngục là có thật. Tôi đã được Thánh Linh đem đến đó nhiều lần trong suốt thời gian chuẩn bị viết ra quyển sách nầy.

Chẳng bao lâu chúng tôi đã lên đến trời cao. Tôi quay lại nhìn Chúa Jesus. Ngài đầy dẫy vinh quang , quyền phép và sự bình an kỳ lạ tuôn tràn ra từ Ngài. Ngài cầm lấy tay tôi và nói : “Ta yêu con, đừng sợ vì ta ở cùng con” . Từ lúc đó chúng tôi bắt đầu đi lên cao hơn vào trong bầu trời. Bây giờ tôi có thể nhìn thấy trái đất phía bên dưới. Nhô ra ngoài trái đất và rải rác chung quanh nhiều nơi, là những cái phểu xoay tròn quanh một trung tâm điểm và rồi lại quay ngược trở lại. Những cái phểu nầy di chuyển bên trên cao của trái đất trông chúng giống như một đám lượn lờ khổng lồ dơ dáy đang di chuyển liên tục không ngừng. Chúng đang bay lên từ khắp trái đất.

“Những cái nầy là cái gì vậy?” Tôi hỏi Chúa Jesus khi chúng tôi đến gần những cái phểu. “Đây là những cái cổng vào địa ngục” Ngài phán ” Chúng ta sẽ vào địa ngục qua một trong những cái phểu nầy.” Tức thì, chúng tôi đi vào một trong những cái phểu. Bên trong nó giống như một đườn hầm xoay vòng quanh, và xoay ngược lại giống như một cái chóp. Một vùng tối thẳm bất ngờ đáp xuống trên chúng tôi. Từ bóng tối toát ra một mùi khủng khiếp đến nỗi tôi muốn tắt thở. Dọc theo những bờ của đường hầm nầy là những hình thể sống, bị gắn chặt vào trong các bức tường. Các hình thể nầy có mầu xám xịt, chúng di chuyển và la to về phía chúng tôi khi chúng tôi đi ngang qua. Dù không được gỉái thích nhưng tôi biết đó là các tà linh.

Các hình thể đó có thể di chuyển, nhưng vẫn cứ dính chặt vào các bức tường. Từ chúng toát ra một mùi hôi thối khủng khiếp. Chúng hét vào chúng tôi những tiếng kêu khủng khiếp nhất. Tôi cảm thấy một sức mạnh ma quái không thấy được phía bên trong những đường hầm. Tôi có thể nhận ra các hình thể đó lúc đang ở trong bóng tối. Hầu hết chúng được bao phủ bởi một màn sương mù dơ bẩn .

“Chúa ơi đây là những cái gì vậy?” Tôi hỏi Chúa Jesus và nắm lấy tay Ngài thật chặt “Đây là những tà linh sẵn sàng được tung ra trên trái đất khi Satan ra lệnh” Ngài nói.

Khi chúng tôi đang đi xuống bên trong đường hầm, các hình thể ma quái đó cười phá lên và gọi chúng tôi. Chúng cố chạm vào chúng tôi nhưng không được, vì quyền năng của Chúa Jesus ! Không khí ở đó bị ô nhiễm rất dơ bẩn, và chỉ có sự hiện diện của Chúa Jesus mới có thể giữ tôi khỏi kêu thét lên vì sợ hãi lên đến tột độ. Phải, tôi đã có tất cả các giác quan của mình khi ở nơi đó. Tôi có thể nghe, ngửi, thấy, cảm nhận và ngay cả nếm biết được tà linh trong nơi nầy. Thậm chí các giác quan của tôi đã trở nên bén nhạy hơn và cái mùi hôi thối cùng với sự ô uế , bẩn thỉu đã làm cho tôi vô cùng kinh tởm.

Những tiếng kêu thét lấp đầy không gian khi chúng tôi đến gần đáy của đường hầm. Những tiếng kêu the thé trong đường hầm tối tăm vang lên đến chúng tôi. Không khí đầy dẫy các âm thanh đủ loại. Tôi có thể cảm nhận được sự sợ hãi, sự chết và tội lỗi chung quanh tôi. Các mùi hôi thối nhất mà từ trước đến giờ tôi mới ngửi thấy đầy dẫy trong không khí. Đó là mùi xác thịt bị thối rửa và dường như cái mùi đó toát ra từ mọi hướng. Ở trên trái đất , tôi chưa hề từng cảm nhận không khí ma quái như vậy, hoặc nghe những tiếng kêu la tuyệt vọng như thế. Chẳng bao lâu tôi hiểu ra rằng : đó là những tiếng kêu la của những người chết, và địa ngục đầy dẫy những tiếng kêu la than khóc rên rĩ của họ.

Tôi cảm thấy một luồng gió ma quái và một sức hút nhẹ đang ở phía trước chúng tôi. Những luồng sáng giống như những tia sáng nhấp nháy xuyên thấu qua vùng tối đen và lao đến những chiếc bóng xám xịt trên tường. Tôi vừa kịp nhận ra hình dáng của vật gì đó đang ở phía trước tôi. Tôi giật mình lùi lại khi nhận ra đó là một con rắn to lớn đang bò phía trước chúng tôi. khi tôi tiếp tục nhìn , tôi thấy có nhiều con rắn xấu xí , đáng sợ , đang trườn đi khắp mọi nơi.

Chúa Jesus phán với tôi: “Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ vào đến một nơi, gọi là chân trái của địa ngục. Phía trước con sẽ chứng kiến sự đau buồn lớn, thật khổ nạn thống thiết, và sự kinh hãi không thể tả xiết được. hãy ở gần bên Ta, Ta sẽ ban cho con sức mạnh và bảo vệ con khi chúng ta đi ngang qua địa ngục. Những điều con sắp sửa thấy là một lời cảnh cáo” Ngài phán “quyển sách con viết sẽ cứu nhiều người sa vào địa ngục. Điều con sẽ thấy là thật. Đừng sợ vì ta ở cùng con !”

Chúa Jesus và tôi đã đến phần cuối của đường hầm. Chúng tôi bước ra đường hầm vào trong hỏa ngục. Tôi sẽ cố gắng hết khả năng của mình để kể cho quí vị điều tôi đã thấy, và tôi sẽ kể nó theo thứ tự mà Chúa đã cho tôi thấy. Ở đàng trước chúng tôi , tôi thấy những vật thể biết bay đang lao vút đi đây đó khắp nơi. Những âm thanh rên rĩ , những tiếng kêu khóc thương tâm lấp đầy không gian. Cao hơn ở phía trước tôi thấy một ánh sáng mờ mờ. Chúng tôi bắt đầu đi về phía đó. Đường đi khô đầy bụi bặm và dơ dáy. Chẳng mấy chốc , chúng tôi đứng ở lối vào của một đường hầm nhỏ và tối tăm.

Có vài điều tôi không thể viết ra, chúng thật quá kinh khủng đến nỗi tôi không mô tả được. Sự sợ hãi trong địa ngục có thể nếm được. Tôi biết nếu Chúa Jesus không ở cùng tôi lúc đó, tôi đã không thể nào ghi lại được. Trong lúc viết quyển sách nầy có một điều tôi đã thấy, nhưng tôi không hiểu. Chúa Jesus đã giúp tôi hiểu được hầu hết những gì tôi đã thấy : Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng biết được tất cả mọi sự.

Hỡi bạn đọc hãy cho tôi được nói cùng quí vị lời cảnh cáo rằng : đừng đi đến địa ngục. Đó là một nơi rất đáng sợ , đầy những sự dày vò đau khổ , một nơi của những sự đau đớn nhức nhối, và của sự buồn rầu vĩnh viễn. Linh hồn của quí vị sẽ tồn tại mãi mãi. Và sự thật là quý vị cùng với linh hồn của mình sẽ đi đến : hoặc thiên đàng, hoặc là địa ngục.

Những ai đang nghĩ rằng : địa ngục là đây, ở ngay trái đất nầy , thì quý vị đã nghĩ đúng. Phải đúng thật vậy ! Địa ngục ở ngay trung tâm của trái đất, và có những linh hồn đang bị hành hạ, dày vò ngày đêm trong đó. Không hề có yến tiệc trong địa ngục ! Không có tình yêu ! Không có sự thương xót ! Không có sự yên nghĩ ! Đó là nơi chỉ có sự khổ đau không thể nào tưởng tượng được !

 

Chương 2: Chân Trái Của Hỏa Ngục

Một mùi hôi khủng khiếp đầy khắp không khí. Chúa Jesus phán cùng tôi : “Trong chân trái của địa ngục có nhiều hố. Đường hầm nầy rẽ ra đến nhiều phần khác của địa ngục. Nhưng chúng ta sẽ đến phần chân trái của địa ngục trước. Những điều con sắp được thấy đây sẽ ở cùng con luôn. Thế gian phải được biết về sự thật của địa ngục. Nhiều tội nhân và thậm chí một số dân sự Ta không tin rằng địa ngục có thật. Ta đã chọn con để mặc khải lẽ thật nầy cho họ. Tất cả mọi điều ta cho con thấy về địa ngục , và những việc khác ta bày tỏ cho con đều là sự thật !”

Chúa Jesus đã hiện đến với tôi trong một vùng sáng rực rỡ, sáng hơn cả mặt trời. Ở giữa vùng sáng đó là hình dáng của một con người. Đôi khi tôi thấy Chúa Jesus giống như một con người. Nhưng lúc khác Ngài lại ở trong dạng Thần Linh. Ngài lại phán : “Hỡi con khi ta nói điều chi tức là Cha trên trời nói. Cha và Ta là một. Hãy nhớ tình yêu thương là trên hết mọi sự, hãy tha thứ lẫn nhau. Bây giờ hãy đến và theo Ta”.
Khi Chúa đi, các tà linh đều chạy trốn khỏi sự hiện diện của Ngài. “Chúa ơi, Chúa ơi” Tôi kêu lên: “kế tiếp là điều gì vậy?”

Như tôi đã nói ở phần trước, trong địa ngục tôi vẫn có tất cả các giác quan của mình. Tất cả những người ở trong địa ngục đều có tất cả các giác quan của họ. Các giác quan của tôi hoạt động hết sức hoàn hảo. Đâu đâu cũng có sự sợ hãi. Những sự nguy hiểm không diễn tả được đang lẫn khuất, rình rập khắp mọi nơi. Mỗi một chỗ tôi đến sự khủng khiếp của nó lại càng dễ sợ hơn nơi tôi vừa mới đi qua.

Có những cái cửa, kích thước bằng cái cửa sổ nhỏ, mở ra và đóng lại rất nhanh tại đầu đường hầm. Những tiếng kêu thét vang lên khắp nơi nhiều như các tà linh bay cạnh bên chúng tôi. Chúng bay lên và bay ra ngoài các cổng của địa ngục. Chẳng bao lâu chúng đã ở phần cuối của đường hầm. Tôi run lên vì sự nguy hiểm và sự sợ hãi chung quanh chúng tôi. Tôi thật cảm ơn vì sự bảo vệ của Chúa Jesus. Tôi cảm tạ Chúa vì quyền năng lớn lao của Ngài đã che chở tôi, khi tôi ở trong những cái hố lửa trong địa ngục. Ngay cả khi ở trong sự che chở của Ngài, tôi vẫn nghĩ :”Không phải ý muốn của con, thưa Cha, mà là ý Ngài được nên” Tôi nhìn vào thân thể tôi. Lần đầu tiên tôi nhận thấy mình đang ở trong dạng linh, và hình dạng đó giống như hình dạng của chính tôi. Tôi tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy đến tiếp theo đây?

Chúa Jesus và tôi bước ra đường hầm, đi trên một con đường mà mỗi lề đường là những dải đất rộng. Có những hố lửa khắp mọi nơi, theo như mắt tôi nhìn thấy được. Những cái hố khoảng 4 bộ chiều ngang (1 bộ =30,72 cm), 3 bộ chiều sâu, và có hình dạng như một cái chén. Chúa Jesus nói :”Có nhiều cái hố giống như vậy trong chân trái của địa ngục. Hãy đến, ta sẽ chỉ cho con vài cái.”

Tôi đứng bên cạnh Chúa Jesus trên đường và nhìn vào trong một cái hố . Lưu huỳnh được ém chặt bên cạnh các hố và cháy đỏ rực như than lửa. Ở chính giữa của hố là một linh hồn hư mất của người đã chết và bị đưa xuống địa ngục. Lửa bắt đầu cháy từ dưới đáy của hố, ngọn lửa quét lên và phủ khắp linh hồn hư mất đó. Được một lúc ngọn lửa hạ xuống thành những mẫu than đỏ, rồi cháy phựt lên trở lại, bao trùm cả thân thể linh hồn đang bị hành hạ trong hố. Tôi nhìn thấy linh hồn hư mất trong hố bị nhốt có hình dạng như một bộ xương. “Chúa của con ơi!” Tôi kêu lên trước cảnh tượng đó. “Ngài không thể thả họ ra sao?” Cảnh tượng thật kinh khủng làm sao ! Tôi nói tiếp : “Lạy Chúa, thật buồn làm sao khi con được thấy và biết rằng một linh hồn đang bị nhốt trong đó”

Tôi nghe một tiếng kêu từ giữa cái hố đầu tiên. Tôi thấy một linh hồn trong hình dạng bộ xương la lên : “Lạy Chúa Jesus, xin thương xót tôi ” Tôi nói : “Ôi lạy Chúa!” Đó là giọng nói của một phụ nữ. Tôi nhìn vào bà ấy và muốn kéo bà ra khỏi hố lửa. Cảnh trạng của bà làm tan nát lòng tôi. Người phụ nữ trong hình dạng bộ xương với một đám mây mờ xám, dơ dáy phía trong, đang nói chuyện cùng Chúa Jesus. Tôi lắng nghe bà ấy trong sự choáng váng. Nhiều mảnh thịt nhỏ thối rửa treo lơ lững trên bộ xương, và khi bị cháy nó rơi xuống dưới đáy của hố. Đôi mắt trước kia của bà ấy đã biến mất, giờ chỉ còn lại hai hốc mắt trống rỗng. Bà ta không có tóc. Những ngọn lửa nhỏ bắt đầu cháy lên từ phía dưới chân bà. Nó trở nên một đám lửa lớn khi cháy dần lên và bao khắp thân thể bà.

Người đàn bà dường như bị đốt liên tục, ngay cả khi ngọn lửa đã lịm xuống thành những mảnh than đỏ. Từ phía dưới sâu thẳm, những tiếng kêu la rền rĩ, đầy tuyệt vọng của bà lại vang lên : “Lạy Chúa, lạy Chúa, con muốn ra khỏi đây!” Bà ta tiếp tục với tay ra để chạm vào Chúa Jesus. Tôi nhìn Ngài, gương mặt Chúa đượm vẽ buồn bã. Ngài phán cùng tôi :” Con của Ta, con ở đây với Ta là để cho thế gian biết rằng hậu quả của tội lỗi là sự chết, và địa ngục là có thật ”

Tôi nhìn người đàn bà đó một lần nữa, sâu bọ đang bò ra từ xương của bà. Chúng không bị lửa làm hại. Chúa Jesus nói : “Bà ấy biết và cảm nhận được những con sâu ấy ở trong mình.”
“Chúa ơi, xin hãy thương xót!” Tôi la lên khi ngọn lửa cháy lên cao. Sự thiêu đốt kinh khủng lại bắt đầu trùm khắp cơ thể bà lần nữa. Những tiếng thét thật lớn, những tiếng nức nở đã làm hình dạng người đàn bà rung lên. Bà ta đã bị hư mất. Không có cách nào thoát ra được. “Chúa Jesus ơi, tại sao bà ấy lại ở đây?” Tôi hỏi Chúa với một giọng thật nhỏ, vì tôi quá đỗi kinh sợ. Chuá Jesus phán :”Hãy đến xem !”

Như tôi có thể thấy, con đường chúng tôi đang đi là một con đường vòng quanh, xoắn vào trong và ra ngoài giữa những cái hố lửa nầy. Những tiếng kêu la của người chết, trộn lẫn với những tiếng rên rĩ và những tiếng thét khủng khiếp, vang đến tai tôi từ mọi hướng. Không có thời gian yên tĩnh trong địa ngục. Mùi của sự chết và mùi của xác thịt thối rửa dầy đặc trong không khí. Chúng tôi đến cái hố kế tiếp, cái hố nầy có kích thước giống như cái trước, và bên trong nó là hình dạng của một bộ xương khác.

Giọng của một người đàn ông kêu lên từ cái hố: “Lạy Chúa xin hãy thương xót tôi !” Chỉ khi họ nói thì tôi mới biết linh hồn đó là đàn ông hay đàn bà. Những tiếng khóc nức nở vang lên từ người đàn ông : “Con thật biết lỗi Chúa Jesus ơi. Xin hãy tha thứ cho con. Hãy đem con ra khỏi đây. Con đã ở trong nơi khổ hình nầy hàng bao nhiêu năm rồi. Con van Ngài, hãy cho con ra.” Ông khóc nức nở. Cả người ông rung lên khi van xin. “Chúa Jesus ơi ! làm ơn cho con ra khỏi nơi nầy.” Tôi nhìn Chúa Jesus và thấy Ngài cũng đang khóc. “Lạy Chúa Jesus”, người đàn ông kêu to từ trong hố lửa đang cháy, “liệu con đã chịu hình phạt cho tội lỗi con như vậy đủ chưa? Từ ngày con chết đến nay đã 40 năm rồi.”

Chúa Jesus phán: “Có Lời chép rằng : người công bình sống bởi đức tin. Tất cả những kẻ nhạo báng và không tin sẽ có phần trong hồ lửa. Ngươi đã không chịu tin vào Lẽ Thật. Nhiều lần ta đã sai những tôi tớ ta đến chỉ cho ngươi đường đi, nhưng ngươi không nghe họ, ngươi cười nhạo họ và từ chối Phúc Âm cứu rỗi. Ngay cho dù ta chết trên thập tự giá cho ngươi, ngươi cũng nhạo báng ta và không ăn năn tội lỗi của mình. Cha Ta đã cho ngươi nhiều cơ hội để được cứu. Giá như ngươi chịu lắng nghe!” Chúa Jesus khóc. “Tôi biết Chúa ơi, tôi biết” Người đàn ông kêu lên : “Nhưng bây giờ tôi ăn năn đây !”
“Quá muộn rồi,” Chúa Jesus nói: “Sự đoán xét đã định”.

Người đàn ông tiếp tục: “Có vài người trong gia đình tôi đang đến nơi đây, vì họ cũng sẽ không ăn năn. Chúa ơi làm ơn cho tôi đi nói để họ biết rằng họ phải ăn năn tội lỗi của họ khi còn sống trên đất. Tôi không muốn họ đến đây”. Chúa Jesus phán: “Đã có những người giảng đạo, các giáo sư, những người tin Chúa. Tất cả họ đều sẽ rao giảng tin lành cho những người thân của ngươi. Vả lại họ cũng có nhiều tiện lợi về các hệ thống truyền thông hiện đại, và nhiều phương tiện khác, để biết về Ta. Ta sai những nhân sự của Ta đến cùng họ, để họ tin Ta và được cứu. Nếu họ không tin khi họ nghe Tin Lành thì họ cũng sẽ không tin, cho dù có người chết sống lại.”

Lúc ấy người đàn ông trở nên rất giận dữ và bắt đầu rủa sả. Những lời phạm thượng, xấu xa tuôn ra từ ông. Tôi kinh sợ khi nhìn ngọn lửa bùng lên, rồi xác thịt chết, thối rửa của ông bắt đầu bị đốt và rớt xuống. Bên trong cái vỏ chết của người đàn ông nầy, tôi thấy linh hồn của ông ta. Nó trông giống như một đám mây mù xám xịt, dơ dáy, và nó lấp đầy khoảng bên trong bộ xương của ông. Tôi quay sang Chúa Jesus kêu lên: “Chúa ơi! thật kinh khủng làm sao!”

Chúa Jesus nói: “Địa ngục có thật. Sự phán xét có thật. Ta yêu họ lắm, con của Ta! Đây chỉ là sự khởi đầu của những điều đáng sợ, mà ta phải chỉ cho con. Con sẽ thấy nhiều hơn thế nữa. Hãy nói cho thế gian rằng: địa ngục là thật ! Rằng : mọi người đàn ông, phụ nữ phải ăn năn tội lỗi của họ! Hãy đến, theo Ta. Chúng ta phải tiếp tục thôi!”

Trong cái hố tiếp theo là một phụ nữ dáng nhỏ nhắn, trông khoảng chừng 80 tuổi. Tôi không thể nói là làm thế nào tôi biết được tuổi bà, nhưng tôi đã biết. Lửa đã thiêu trụi hết da của bà và ngọn lửa đang đốt bà. Chẳng bao lâu chỉ còn lại có xương và sâu bọ bò lổn ngổn bên trong. Đó là những thứ mà lửa không thể đốt được. “Chúa ơi! Kinh khủng quá Chúa ơi!” Tôi kêu lên. Tôi không biết mình còn có thể tiếp tục đi được nữa không, vì việc nầy kinh khủng quá sức tưởng tượng của tôi. Theo như mắt tôi nhìn thấy được, các linh hồn đang bị thiêu đốt trong những cái hố lửa. “Con của Ta, đây là lý do tại sao con đến đây,” Chúa Jesus trả lời “Con phải biết, phải nói sự thật về địa ngục. Thiên Đàng có thật!địa ngục có thật! Chúng ta tiếp tục đi thôi.”

Tôi ngoái lại nhìn người phụ nữ. Tiếng kêu khóc của bà sao buồn quá. Khi tôi nhìn bà , bà chắp hai tay lại với nhau, như thể là đang cầu nguyện. Tôi không thể cầm được nước mắt. Tôi đang ở trong dạng linh, và tôi đang khóc! Tôi biết rằng mọi người trong địa ngục cũng đều có cảm xúc như vậy. Chúa Jesus biết ý nghĩ của tôi. Ngài phán: “Đúng, con ạ, họ đều có cảm xúc. Khi người ta đến nơi nầy, họ có cùng cảm xúc và những ý nghĩ như khi họ ở trên đất. Họ nhớ gia đình và bạn bè của họ. Họ nhớ luôn luôn là họ có cơ hội ăn năn, nhưng họ đã từ chối. Giá như họ đã tin ta và ăn năn trước khi quá trễ.”

Tôi nhìn người đàn bà già nua một lần nữa. Lần nầy tôi nhận thấy bà chỉ có một chân, và dường như có những cái lỗ được khoan trong xương hông của bà. “Những cái nầy là gì vậy thưa Chúa?” Tôi hỏi. Ngài nói :”Con ạ, khi bà còn sống trên thế gian, bà mắc bệnh ung thư và đau đớn rất nhiều. Người ta đã phẫu thuật để cứu sống bà. Bà đã cay đắng việc đó trong nhiều năm. Có nhiều tôi tớ Ta đến cầu nguyện cho bà và nói rằng:Ta có thể chữa lành cho. Nhưng bà nói: Đức Chúa Trời đã làm cho tôi ra thể nầy. Bà đã không ăn năn, không tin vào sự cứu rỗi. Thậm chí trước đó, bà đã từng biết ta rồi. Nhưng cuối cùng bà trở nên thù ghét Ta. Bà bảo rằng không cần Đức Chúa Trời và không muốn Ta chữa lành cho. Tuy vậy, Ta vẫn tha thiết nài nỉ bà, vẫn cứ muốn giúp đỡ bà, muốn chữa lành và ban phước cho bà. Bà đã quay lưng lại với Ta, rủa sả Ta. Bà nói không cần Ta. Thánh Linh của Ta đã nài nỉ bà. Dù sau khi bà quay lưng lại với Ta, Thánh Linh Ta vẫn còn cố gắng thuyết phục bà, nhưng bà không nghe. Sau cùng bà chết và đến đây!”

Người đàn bà kêu Chúa Jesus : “Lạy Chúa Jesus, bây giờ xin Ngài vui lòng tha thứ cho tôi. Tôi hối tiếc đã không chịu ăn năn khi còn ở trên đất.” Bà khóc nức nở với Chúa: “Ôi, giá như mà tôi đã ăn năn trước khi quá muộn. Chúa ơi, xin hãy giúp tôi ra khỏi đây. Tôi sẽ hầu việc Ngài. Tôi sẽ trở nên người tốt. Tôi chịu đựng như thế nầy chưa đủ sao? Sao tôi lại chần chờ cho đến khi mọi sự quá muộn màng? Sao tôi lại chần chờ cho đến khi Thánh Linh của Ngài không còn cố gắng chinh phục tôi nữa?”

Chúa Jesus phán cùng bà ấy rằng: “Ngươi đã có từ cơ hội nầy đến cơ hội khác ể ăn năn và hầu việc Ta.” Nỗi buồn đượm đầy trên mặt Chúa Jesus khi Ngài bước đi ra khỏi nơi đó. Tôi nhìn bà lão đó khóc và hỏi: “Chúa ơi điều gì sẽ tiếp theo đây?” Tôi có thể cảm thấy được sự sợ hãi khắp chung quanh. Sự buồn bã, những tiếng khóc đau đớn và bầu không khí chết chóc ở khắp mọi nơi. Chúa Jesus và tôi bước đi đến cái hố kế tiếp trong sự xót xa và nỗi đau buồn sâu thẳm. Tôi có thể đi tiếp tục chỉ bởi nhờ vào sức mạnh của Ngài. Từ nơi rất xa, tôi vẫn còn có thể nghe tiếng khóc ăn năn và nài nỉ xin tha thứ của bà lão. Tôi nghĩ: ước chi tôi có thể làm được điều gì để giúp đỡ bà. Hỡi tội nhân, xin đừng chần chờ, cho đến khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời từ bỏ mọi nỗ lực chinh phục quí vị!

Trong cái hố kế tiếp là một phụ nữ đang quỳ gối, như là bà đang tìm kiếm cái gì đó. Hình dạng bộ xương của bà cũng đầy những lỗ tròn, các xương của bà lộ ra và chiếc áo rách của bà đang bị đốt cháy. Trán của bà hói. Mắt cùng mũi của bà chỉ còn là những hốc trống. Một ngọn lửa nhỏ đang cháy quanh chân bà, nơi bà đang quỳ. bà cào cấu hai bên bờ của hố lưu huỳnh. Lửa bám chặt vào hai bàn tay bà. Xác thịt của bà tiếp tục rớt xuống khi bà đào. Toàn thân bà rung lên với những tiếng nức nở khủng khiếp : “Ôi lạy Chúa, lạy Chúa, tôi muốn ra khỏi đây.” Bà kêu lên. Khi chúng tôi nhìn, bà gần như leo lên tới đỉnh của cái hố lửa. Tôi nghĩ bà sắp sửa trèo được ra ngoài. Nhưng lúc đó có một con quỉ to lớn với đôi cánh thật to, và hình như bị gãy ở phần đầu cánh, xệ xuống hai bên hông của nó, chạy đến phía bà. Con quỉ có màu đen hơi nâu, lông lá phủ khắp thân hình to lớn của nó. Đôi mắt nó được đặt phía sau đầu, và nó có kích thước cỡ bằng một con gấu lớn ở Bắc Mỹ. Con quỉ chạy vội đến người phụ nữ, đẩy bà rất mạnh trở vào trong hố lửa. Tôi nhìn cảnh bà rơi xuống mà trong lòng đầy kinh hãi. Tôi cảm thấy tiếc cho bà. Tôi muốn ôm bà trong tay tôi, giữ lấy bà, rồi cầu xin Chúa chữa lành cho bà, đem bà ra khỏi nới đó.

Chúa Jesus hiểu được ý nghĩ của tôi. Ngài nói: “Con của Ta, sự đoán xét đã định. Đức Chúa Trời đã phán với bà ấy khi còn là một đứa trẻ, kêu gọi ăn năn và hầu việc Ta. Khi bà ấy 16 tuổi, Ta đã đến với bà và nói rằng :”Ta yêu con, hãy dâng đời sống con cho Ta, hãy theo Ta vì Ta kêu gọi con cho một mục đích đặc biệt.” Chính ta đã kêu gọi suốt cuộc đời của bà, nhưng bà không nghe. Bà ấy nói :”Một ngày nào đó tôi sẽ hầu việc Ngài, còn bây giờ tôi không có thì giờ dành cho Ngài. Không có thì giờ, không có thì giờ đâu, tôi đang có sự vui thú của tôi. Không có thì giờ để hầu việc Ngài đâu, Chúa Jesus ơi, ngày mai nhé, ngày mai tôi sẽ làm việc ấy. Và ngày mai đã không bao giờ đến, bởi vì bà đã chần chờ quá lâu.”

Người đàn bà khóc nói với Chúa Jesus: “Linh hồn tôi thật sự bị dày vò đau đớn. Không có cách nào ra khỏi đây. Tôi biết mình đã ham muốn thế gian hơn Ngài, thưa Chúa! Tôi đã muốn sự giàu có, danh tiếng, của cải và đã đạt được nó. Tôi có thể mua bất cứ cái gì tôi muốn. Tôi làm chủ chính mình. Tôi đã từng là người đẹp nhất, ăn mặc sang trọng nhất vào thời của tôi. Tôi đã có tất cả sự giàu có, nổi tiếng, của cải. Nhưng bây giờ tôi hiểu ra rằng tôi không thể đem chúng theo khi tôi qua đời. Chúa ơi, địa ngục thật là kinh khủng! Ngày hoặc đêm tôi đều không được yên nghĩ. Tôi luôn luôn bị hành hạ đau đớn. Xin hãy giúp đỡ tôi Chúa ơi!” Bà ta khóc.

Rồi bà nhìn lên Chúa Jesus đầy khao khát và nói tiếp: “Chúa yêu dấu của tôi ơi, phải chi tôi đã chịu lắng nghe Ngài. Tôi hối hận việc đó mãi mãi. Tôi đã dự định sẽ hầu việc Ngài một ngày nào đó khi tôi đã sẵn sàng. Tôi tưởng rằng Ngài sẽ luôn luôn chờ đợi tôi. Nhưng tôi lầm rồi! Tôi đã từng là một phụ nữ được ưa thích nhất vào thời của tôi, vì cớ sắc đẹp của tôi. Tôi biết Đức Chúa Trời kêu gọi tôi ăn năn. Trọn đời tôi, Ngài đã dùng dây yêu thương kéo tôi. Tôi tưởng rằng mình có thể sử dụng Chúa như sử dụng mọi người khác. Ngài luôn ở đó kia mà! Ô, vâng tôi đã sử dụng Đức Chúa Trời. Ngài đã cố gằng hết sức để đem tôi về với Ngài, hầu việc Ngài, trong khi lúc nào tôi cũng nghĩ là mình không cần Chúa. Ôi, tôi thật sai lầm làm sao! Satan đã sử dụng tôi và tôi đã phục vụ Satan ngày càng nhiều hơn. Cuối cùng tôi đã yêu hắn hơn Chúa. Tôi thích phạm tội, tôi không muốn tìm đến Chúa nữa.

“Satan đã sử dụng sắc đẹp tiền bạc của tôi. Tất cả những tư tưởng của tôi đều hướng về việc Satan sẽ cho tôi bao nhiêu quyền lực. Ngay khi ấy, Đức Chúa Trời vẫn cứ tiếp tục kéo tôi. Nhưng tôi nghĩ tôi có ngày mai, hoặc là ngày kế tiếp. Rồi một ngày kia trong khi đang lái xe, người tài xế của tôi đã đụng vào một ngôi nhà. Tôi đã chết trong tai nạn đó. Ôi lạy Chúa! xin giúp tôi ra khỏi nơi nầy!” Khi bà ấy nói, đôi bàn tay và cánh tay xương xẩu của bà vươn ra để cố chạm đến Chúa Jesus , trong lúc những ngọn lửa cứ tiếp tục đốt bà. Chúa Jesus phán : “Sự đoán xét đã định!”

Nước mắt chảy xuống má Ngài khi chúng tôi đi về phía cái hố tiếp theo. Tôi khóc trong lòng trước sự khủng khiếp của địa ngục. “Lạy Chúa yêu dấu,” Tôi kêu lên “Sự hành hạ, dày vò quá thật. Khi một linh hồn đến đây, không có hy vọng, không có sự sống, không có tình yêu. Địa ngục quá thật!” Tôi nghĩ không có cách nào ra khỏi đó được. Bà ấy phải bị thiêu đốt đời đời trong những ngọn lửa nầy. “Thời gian sắp hết rồi” Chúa Jesus phán “Chúng ta sẽ trở lại đây vào ngày mai”

Bạn ơi, nếu bạn đang sống trong tội lỗi, xin hãy ăn năn. Nếu bạn đã được tái sanh rồi lại quay lưng với Ngài, xin hãy ăn năn với Chúa bây giờ. Hãy sống công bình và sống cho lẽ thật. Hãy tỉnh thức trước khi quá trễ. Bạn có thể ở đời đời cùng Chúa trong nước thiên đàng.

Chúa Jesus lại phán: ” Địa ngục có một thân thể giống hình dạng thân thể con người, nằm trong phần trung tâm của trái đất, rất rộng và có nhiều chỗ để dày vò, hành hạ tội nhân.
Hãy nhớ nói cùng dân cư trên đất rằng địa ngục có thật. Hằng triệu linh hồn hư mất đang ở đây, và mỗi ngày lại có nhiều hơn. Trong ngày phán xét lớn, sự chết và địa ngục sẽ bị quăng vào trong hồ lửa: đó là sự chết thứ hai.”

Chương 3: Chân Phải Của Địa Ngục

Tôi đã không thể nào ngủ hay ăn được từ khi tôi đến địa ngục đêm hôm kia. Mỗi ngày tôi đều liên tưởng suy nghĩ đến địa ngục, ngay cả khi nhắm mắt, tất cả những gì tôi thấy vẫn là địa ngục. Tai của tôi lúc nào cũng nghe thấy tiếng kêu khóc của những người bị đoán phạt. Giống như một chương trình truyền hình được lập đi lập lại, tôi thấy tất cả mọi việc tôi đã chứng kiến trong địa ngục. Mỗi đêm tôi đều đến địa ngục, và mỗi ngày thì cố gắng tìm ra những từ ngữ thích hợp, để viết lại điều đáng sợ nầy cho tất cả mọi người trên thế giới.

Chúa Giê-Xu hiện đến với tôi một lần nữa và phán:”Con của Ta, đêm nay chúng ta sẽ đi vào chân phải của địa ngục. Đừng kinh hãi vì Ta yêu con và ở cùng con” Gương mặt của Chúa u buồn, đôi mắt của Ngài đầy dịu dàng và tình yêu sâu xa tuyệt vời. Mặc dù những người trong địa ngục bị hư mất đời đời, tôi biết rằng Ngài vẫn yêu họ và yêu họ mãi mãi.

“Con của Ta,” Ngài phán, “Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, ban cho chúng ta mỗi người một ý muốn, để chúng ta có thể lựa chọn, hoặc là hầu việc Ngài hoặc là hầu việc Satan. Con thấy đó, Đức Chúa Trời đã không dựng nên địa ngục cho dân sự Ngài. Satan đã lừa dối nhiều người đi theo nó. Địa ngục được dựng nên là để dành cho Satan và các thiên sứ sa ngã theo nó. Ước muốn của Ta và của Cha Ta là không muốn một người nào bị hư mất.” Những giọt nước mắt thương xót chảy dài trên đôi má của Chúa Jesus.

Ngài lại phán một lần nữa :”Hãy nhớ Lời của ta phán trong các ngày trước, khi ta chỉ cho con địa ngục: Mọi quyền phép trên trời dưới đất đều đã giao cho Ta. Bây giờ là lúc mà đối với con dường như Ta rời bỏ con, nhưng không phải thế! Cũng là lúc mà các thế lực tà linh, các linh hồn hư mất sẽ nhìn thấy chúng ta, trong khi những lúc khác thì không thấy. Cho dù chúng ta đi đâu, con cũng đừng sợ. Hãy bình an theo ta.”
Chúng tôi tiếp tục cùng nhau đi. Tôi theo sát phía sau Ngài và khóc. Tôi đã khóc nhiều ngày, tôi không thể nào xua đuổi được, hình ảnh của địa ngục lúc nào cũng hiện ra trước mắt tôi. Phần lớn tôi khóc bên trong lòng. Tâm linh tôi rất buồn bã.\

Chúng tôi đến phần chân phải của địa ngục. Nhìn phía trước , tôi thấy chúng tôi đang ở trên một con đường khô có lửa cháy. Những tiếng la thét đầy dẫy trong bầu không khí dơ bẩn, và mùi hôi thúi của người chết ở khắp mọi nơi. Thỉnh thoảng cái mùi đó rất ghê tởm, đến nỗi nó làm cho tôi phải buồn nôn. Theo như tôi có thể thấy được, bóng tối bao trùm khắp nơi, ngoại trừ ánh sáng chiếu ra từ Chúa Jesus và các hố lửa đang cháy nằm rải rác trên các vùng đất.

Thình lình ma quỷ đủ các loại đi ngang qua chúng tôi. Những con quỷ nhỏ gầm gừ chúng tôi khi chúng đi ngang qua chúng tôi. Các tà linh đủ loại kích thước, hình dạng đang nói chuyện với nhau. Ở ngoài phía trước chúng tôi, một con quỷ lớn đang ra lệnh cho các quỷ nhỏ. Chúng tôi dừng lại lắng nghe. Chúa Jesus phán :”Cũng có một quân đội của các thế lực tà linh không thấy được, là các thế lực mà chúng ta không thấy ở đây, chẳng hạn như các tà linh gây bệnh tật “.

“Hãy đi,” Con quỷ lớn hơn ra lệnh cho các quỷ nhỏ và các tà linh “Hãy làm nhiều điều xấu xa. Hãy phá hủy nhiều nhà, hủy diệt các gia đình. Hãy chỉ dẫn sai, dụ dỗ các tín hữu yếu đuối cũng như làm lầm lạc nhiều người bằng hết sức lực của các ngươi. Các ngươi sẽ nhận được phần thưởng khi trở về. Hãy nhớ, các ngươi phải cẩn thận với những người thành thật tiếp nhận Chúa Jesus làm Đấng Cứu Thế. Họ có quyền năng đuổi các ngươi ra. Bây giờ hãy đi ngang qua trái đất. Ta đã có sẵn nhiều linh khác ở trên đó, và còn có nhiều linh khác được chuẩn bị sai đi. Hãy nhớ, chúng ta là tôi tớ của vua chúa tối tăm và quyền lực chốn không trung!”

Tại chổ đó các dạng tà linh bắt đầu bay lên, ra khỏi địa ngục. Các cửa sổ trên đỉnh của phần chân phải địa ngục mở ra và đóng lại rất nhanh. Cũng có vài tà linh đi lên và ra ngoài cái phểu mà chúng đã xuống. Tôi sẽ cố gắng mô tả bộ dạng của các ác linh nầy. Tên đang nói rất to lớn, cở khoảng bằng con gấu lớn ở vùng Bắc Mỹ, có mầu nâu. Đầu hắn giống như đầu dơi. Đôi mắt thì lùi tận sâu trong gương mặt đầy lông lá. Đôi cánh tay đầy lông, thòng xuống đến tận hai bên sườn hắn, và những răng nanh lồi ra khỏi lông trên mặt hắn.

Một tên khác nhỏ giống như một con khỉ, với đôi cánh tay rất dài, lông lá phủ phắp thân thể hắn. Mặt hắn nhỏ choắt , và hắn có cái mũi nhỏ như một cái chấm. Tôi không thể nhìn thấy mắt của hắn ở đâu. Còn tên khác thì có cái đầu to lớn như một con ngựa có làn da phẳng. Bộ dạng của các quỷ và các ác linh và mùi hôi kinh khủng toát ra từ chúng đã làm cho tôi muốn nôn mửa. Tôi thấy ma quỉ và các ác linh khắp nơi. Chúa cho tôi biết rằng con quỷ lớn nhất trong các con quỷ nầy đang nhận mệnh lệnh trực tiếp từ Satan

Chúa Jesus và tôi đi trên đường, xuống tới một cái hố khác. Những tiếng khóc đau đớn, những âm thanh buồn thảm không thể nào quên được đang ở khắp nơi. “Chúa của con ơi, kế tiếp là gì đây?” Chúng tôi đi thẳng ngang qua một vài tà linh mà hình như chúng không nhìn thấy chúng tôi. Chúng tôi dừng lại tại một hố lửa đầy lưu huỳnh. Trong cái hố nầy là một người đàn ông to lớn. Tôi nghe ông đang giảng Phúc Âm. Tôi nhìn Chúa Jesus trong sự kinh ngạc và có ý tìm câu trả lời từ Ngài, vì Ngài luôn luôn biết những suy nghĩ của tôi. Ngài phán:”Trong khi còn sống trên đất, người đàn ông nầy là một nhà truyền giảng Tin Lành. Trước kia ông ta đã rao giảng Lẽ Thật và hầu việc Ta.”

Tôi tự hỏi người đàn ông nầy đang làm gì trong địa ngục. Ông ta cao khoảng 6 bộ. Bộ xương của ông ta có màu hơi xám, dơ dáy như một tấm bia mộ. Những mảnh quần áo của ông vẫn còn dính trên người. Tôi tự hỏi tại sao lửa lại chừa những mảnh vải rách tả tơi nầy mà không đốt chúng? Mùi thịt cháy toát ra từ cái sọ của ông, dường như đang bị đốt. Một mùi hôi kinh khủng phát ra. Tôi thấy người đàn ông giơ tay ra, như thể đang cầm một quyển sách, và bắt đầu đọc từ quyển sách tưởng tượng đó. Một lần nửa tôi nhớ điều Chúa Jesus đã nói: “Con có tất cả mọi giác quan khi ở trong địa ngục, và ở đây chúng còn làm việc tốt hơn nhiều”.

Người đàn ông đọc đoạn Kinh Thánh nầy đến đoạn Kinh Thánh khác. Tôi nghĩ làm việc đó là một điều tốt! Chúa Jesus phán cùng người đàn ông bằng một giọng nói đầy yêu thương:”Bình an cho con. Hãy yên lặng.” Ngay lập tức người đàn ông ngưng nói và chậm rãi quay nhìn Chúa Jesus. Tôi thấy linh hồn người đàn ông bên trong hình dạng bộ xương. Ông ta nói với Chúa:”Lạy Chúa, bây giờ tôi sẽ rao giảng Lẽ Thật cho tất cả mọi người. Bây giờ lạy Chúa, tôi sẵn sàng ra đi, nói cho người khác biết về nơi nầy. Tôi biết khi còn sống, tôi đã không tin có một địa ngục, cũng không tin Ngài sẽ trở lại. Đó là điều người ta muốn nghe, và tôi đã thỏa hiệp với dân sự trong nhà thờ của tôi về quan điểm nầy.

Tôi biết tôi đã không thích bất cứ người nào khác chủng tộc, khác màu da với tôi. Tôi cũng đã làm nhiều người bỏ đức tin nơi Ngài. Tôi đã tự lập ra luật lệ riêng của tôi về thiên đàng, về điều phải, điều trái. Tôi biết rằng tôi đã làm lầm lạc nhiều người. Tôi gây nhiều người vấp ngã trong Lời Ngài. Tôi cũng đã lấy tiền của người nghèo. Nhưng Chúa ơi, xin hãy cho tôi đi ra khỏi đây, tôi sẽ làm điều phải. Tôi sẽ không lấy tiền của Hội Thánh nữa. Tôi đã ăn năn rồi. Tôi sẽ yêu thương những người thuộc mọi chủng tộc, mọi mầu da.”

Chúa Jesus nói:” Ngươi không những bóp méo, xuyên tạc Lời Thánh của Thượng Đế, mà còn nói dối về việc không biết Lẽ Thật. Đối với ngươi sự vui thú của đời quan trọng hơn Lẽ Thật.  Chính Ta đã thăm viếng ngươi, cố gắng thay đổi ngươi cách hoàn toàn, nhưng ngươi đã không chịu lắng nghe Ta.  Ngươi đã tiếp tục đi theo con đường riêng của mình, tôn đều ác là Chúa ngươi.  Ngươi biết Lẽ Thật, nhưng ngươi không ăn năn, trở lại cùng Ta.  Ta đã luôn luôn chờ ngươi.  Ta đã từng mong ngươi ăn năn, nhưng ngươi không làm như vậy.  Giờ đây sự đoán xét đã định rồi.”

Gương mặt Chúa Jesus đầy sự thương xót.  Phải chi ông ta chịu lắng nghe sự kêu gọi của Đấng Cứu Rỗi, thì bây giờ ông ta đã không ở đây.  Hỡi mọi người xin hãy lắng nghe tiếng của Chúa. Chúa Jesus lại phán cùng người đàn ông: “Lẽ ra ngươi phải rao truyền Lẽ Thật, dùng Lời Chúa đem nhiều người về sự công bình, là Lời có phán rằng: Tất cả những kẻ không tin, phần của chúng sẽ ở trong hồ có lửa và diêm sinh! Người đã hiều biết con đường thập tự giá.  Ngươi đã hiểu biết con đường của sự công bình.  Ngươi đã biết rao truyền Lẽ Thật.   Nhưng Satan đã làm đầy lòng ngươi sự dối trá, và ngươi đã sa vào tội lỗi.  Lẽ ra ngươi đã phải ăn năn với lòng thành thật, không phải chỉ ăn năn nửa vời.  Lời của Ta là thật.  Ta không hề nói dối.  Và bây giờ thì đã quá muộn, quá muộn rồi!” Nghe đến đó người đàn ông giơ nắm tay vào mặt Chúa Jesus và rủa sả Ngài.

Chúa Jesus và tôi cùng đi đến cái hố kế tiếp trong nỗi đau buồn.  Người giảng đạo sa ngã vẫn còn chưởi rủa, tức giận Chúa Jesus.  Khi chúng tôi đi ngang qua những cái hố lửa, những bàn tay của những người bị hư mất cố vươn ra chạm đến Chúa Jesus.  Họ gọi Ngài năn nỉ Ngài thương xót họ.  Những bàn tay và cánh tay xương xẩu bị cháy đen xám, không có xác thịt sống hoặc máu, không có các bộ phận, cơ quan của thân thể. Chỉ có sự chết và sự chết! Tôi đang khóc trong lòng mình.  Hỡi thế gian hãy ăn năn.  Nếu quí vị không ăn năn quí vị sẽ đến đây.  Hãy dừng bước trước khi quá trễ!

Chúng tôi dừng bước trước một cái hố khác.  Tôi cảm thấy tội nghiệp và đau buồn cho họ thật nhiều, đến nỗi cả thân tôi yếu mỏn không đứng nỗi.  Toàn thân tôi rung lên vì những tiếng nức nở dữ dội.  Tôi nói:”Chúa Jesus ơi, trong lòng con đau đớn lắm!” Từ trong hố, một giọng nói của một phụ nữ vọng lên, nói cùng Chúa Jesus.  Bà ta đứng giữa những ngọn lửa, và chúng bao phủ toàn thân bà.  Xương của bà đầy sâu bọ và thịt chết. Khi những ngọn lửa cháy lên chung quanh bà, bà giơ tay hướng về Chúa Jesus kêu lên:”Xin hãy cho tôi ra khỏi đây, Chúa Jesus ơi! Tôi sẽ nói cho người khác về sự tha thứ của Ngài.  Tôi sẽ làm chứng cho Ngài.  Tôi van Ngài, xin hãy cho tôi ra.”

Chúa Jesus phán:”Lời Ta là thật, Lời đó phán rằng tất cả mọi người phải ăn năn, từ bỏ tội lỗi, mời Ta ngự vào trong đời sống của mình, nếu họ muốn thoát khỏi địa ngục nầy.  Qua Huyết Ta có sự tha thứ tội lỗi.  Ta là thành tín, công bình, sẽ tha thứ tất cả những ai đến cùng Ta.  Ta sẽ không bỏ họ ra ngoài đâu.”  Ngài quay lại nhìn người đàn bà và nói:”Nếu như ngươi đã chịu lắng nghe Ta, đến cùng Ta ăn năn tội lỗi mình, thì Ta đã tha thứ cho ngươi” Người đàn bà hỏi:”Lạy Chúa, không còn cách nào ra khỏi nơi đây sao?” Chúa Jesus nói một cách rất dịu dàng: “Hỡi người đàn bà kia, ngươi đã từng được ban cho nhiều cơ hội để ăn năn, nhưng lòng ngươi cứng cỏi, không chịu ăn năn.  Ngươi cũng đã biết Lời Ta phán rằng tất cả những kẻ tà dâm sẽ lãnh phần mình trong lửa.”

Chúa Jesus quay sang tôi và bảo:”Người đàn bà nầy đã phạm tội cùng với nhiều người đàn ông, gây tan vỡ cho nhiều gia đình.  Tuy vậy Ta vẫn yêu thương bà ấy.  Ta đã đến với bà không phải để đoán phạt, mà để cứu rỗi bà.  Ta đã sai nhiều tôi tớ Ta đến với bà, để bà có thể nghe Lời Ta, ăn năn từ bỏ con đường ác của bà.  Nhưng bà đã không nghe.  Khi bà ấy còn là một thiếu nữ, Ta đã kêu gọi bà, nhưng bà vẫn tiếp tục làm điều xấu. Bà đã làm nhiều điều sai.  Tuy nhiên ta vẫn tha thứ cho nếu bà chịu đến cùng Ta.  Satan đã vào lòng bà.  Bà càng ngày càng trở nên cay đắng hơn, không tha thứ cho những người khác.

Bà ấy đến nhà thờ chỉ vì đàn ông.  Bà đã tìm và quyến dụ họ.  Giá như bà ấy đã đến cùng Ta, thì tất cả tội lỗi của bà sẽ được rửa sạch bởi Huyết của Ta rồi.  Bà ấy muốn hầu việc Ta một phần thôi, nhưng con người không thể vừa hầu việc Đức Chúa Trời, lại vừa hầu việc Satan nữa! Mỗi một người phải lựa chọn xem mình phải hầu việc ai.”

“Lạy Chúa”, tôi kêu lên “xin hãy ban cho con sức mạnh để tiếp tục đi với Ngài”.  Tôi run bần bật từ đầu đến chân vì sự đoán xét khủng khiếp của địa ngục.  Chúa Jesus phán cùng tôi:”Bình an cho con, hãy yên lòng.”
“Hãy giúp con, Chúa ơi” tôi nói:”Satan không muốn con người biết sự thật về địa ngục.  Con không bao giờ nghĩ rằng địa ngục lại giống như vậy, nó vượt xa những gì trong sự tưởng tượng của con.  Hỡi Chúa Jesus yêu quí, khi nào địa ngục nầy sẽ kết thúc?”

Chúa Jesus trả lời:”Con của Ta, chỉ có Cha trên trời biết khi nào sự cuối cùng sẽ đến.” Rồi Ngài lại phán tiếp:”Bình an cho con, hãy yên lòng!” Liền lúc đó một năng lực kỳ diệu đến trên tôi.  Chúa Jesus và tôi tiếp tục đi ngang qua những cái hố. Tôi muốn kéo từng người ra khỏi hố và giục họ chạy đến chân Chúa Jesus.  Tôi khóc thật nhiều trong lòng.  Tôi nghĩ tôi không bao giờ muốn con cái tôi đến nơi nầy cả! Cuối cùng Chúa Jesus quay sang tôi nói khẻ: “Con của Ta, chúng ta trở về nhà con bây giờ.  Tối mai chúng ta sẽ trở lại phần chân phải của địa ngục.”

Trở về nhà tôi chỉ biết khóc và khóc.  Suốt cả ngày tôi nghĩ đến địa ngục và sự kinh khủng của tất cả những người bị quăng vào đó.  Tôi kể cho mọi người nghe địa ngục mà tôi thấy.  Tôi nói với họ rằng sự đau đớn trong địa ngục thật ngoài sức tưởng tượng, không tả xiết được.  Hỡi ai đang đọc quyển sách nầy, tôi van nài quý vị, xin hãy ăn năn tội lỗi của mình, hãy kêu cầu Chúa Jesus xin Ngài cứu quý vị.  Hãy kêu cầu Ngài hôm nay.   Đừng đợi đến ngày mai.  Ngày mai có thể sẽ không đến với quý vị.  Thời gian sắp chấm dứt rồi, hãy quỳ gối xuống ăn năn để được rửa sạch tội lỗi, hãy đối xử tốt với nhau.  Vì cớ Chúa Jesus hãy đối xử tốt và tha thứ lẫn nhau.  Nếu quý vị đang giận ai, hãy tha thứ cho người đó.  Vì cớ sự giận hờn mà sa vào địa ngục thì thật không đáng.  Hãy tha thứ như Chúa Jesus đã tha thứ.  Chúa Jesus có thể gìn giữ chúng ta, nếu chúng ta có một tấm lòng ăn năn, để huyết của Ngài tẩy sạch chúng ta khỏi tất cả tội lỗi.  Hãy yêu thương con cái của quý vị, yêu người lân cận của quý vị như chính bản thân mình.  Chúa của các Hội Thánh phán rằng:”Hãy ăn năn để được cứu”.

Chương 4 : Có Nhiều Hố Lữa

Đêm tiếp theo Chúa Jesus và tôi lại cùng đi vào phần chân phải của địa ngục. Cũng như trước đây, tôi thấy được tình yêu của Chúa Jesus đối với những linh hồn hư mất trong Hỏa ngục và cho tất cả những ai còn sống trên trái đất. Ngài phán cùng tôi :”Hỡi con, ý muốn của Cha Ta là không muốn cho một người nào bị hư mất. Satan đã lừa dối nhiều người và họ đi theo hắn. Nhưng Thượng Đế luôn tha thứ. Ngài là Đức Chúa Trời của sự yêu thương. Nếu những người nầy thật sự đến cùng Cha và ăn năn, thì Ngài đã tha thứ cho họ.” Đang khi phán, gương mặt Ngài ánh lên sự dịu dàng thật tuyệt vời!

Một lần nữa chúng tôi đi giữa những hố lửa đang cháy và đi ngang cạnh nhiều người đang bị hành hạ khổ sở mà tôi đã mô tả trong phần trước. Chúng tôi tiếp tục đi ngang qua nhiều và nhiều linh hồn đang bị đốt cháy trong hỏa ngục. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thật khủng khiếp làm sao!”

Suốt dọc con đường những bàn tay cháy xém cố vươn ra chạm đến Chúa Jesus. Những bàn tay chỉ còn trơ xương, không có thịt. Một mớ xương xam xám với mùi thịt chết và khét, bị xé thành nhiều miếng nhỏ dính lủng lẳng trên xương. Bên trong mỗi khung xương của họ là một linh hồn trong giống như một đám mây mù xám dơ dáy bị nhốt trong bộ xương khô vĩnh viễn. Qua những tiếng than khóc của họ, tôi có thể nói rằng họ đang cảm nhận được cái nóng của lửa, nỗi đau đớn, sâu bọ, sự tuyệt vọng. Những tiếng kêu khóc của họ làm cho linh hồn tôi buồn bã đến nỗi không thể mô tả được. Phải chi họ chịu lắng nghe sự kêu gọi của Chúa thì họ đã chẳng phải ở nơi nầy!

Tôi biết rằng những người hư mất trong hỏa ngục có tất cả mọi giác quan. Họ nhớ tất cả những gì họ đã được nghe. Họ biết không có cách nào thoát ra khỏi sự thiêu đốt và họ đã bị hư mất mãi mãi. Tuy vậy, dù không còn hy vọng nhưng họ vẫn mong được gặp Chúa Jesus để kêu cầu Ngài thương xót mình.

Chúng tôi dừng lại tại cái hố tiếp theo. Nó hoàn toàn giống như tất cả những cái khác. Bên trong là một hình dạng của phụ nữ và tôi biết được điều đó là nhờ vào giọng nói của bà. Bà ta kêu xin Chúa Jesus giải thoát bà ra khỏi lửa. Chúa Jesus nhìn người phụ nữ đó đầy sự yêu thương và nói :”Khi ngươi còn trên đất , ta đã kêu gọi ngươi đến với ta. Ta nài nỉ ngươi dâng tấm lòng ngươi cho ta trước khi quá trễ. Ta đã thăm viếng ngươi nhiều lần trong giấc ngủ để bày tỏ cho ngươi tình yêu của Ta. Ta đeo đuổi ngươi và bởi tình yêu Thánh Linh kéo ngươi đến với Ta. Ngươi đã nói rằng :”Vâng thưa Chúa, con sẽ theo Ngài”. Ngươi nói yêu ta nhưng chỉ bằng môi miệng còn trong lòng thì không hề vậy. Ta biết lòng ngươi để ở đâu. Ta đã thường sai nhiều sứ giả của Ta đến kêu gọi ngươi ăn năn tội lỗi của mình và đến cùng ta, nhưng ngươi đã không nghe ta. Ta đã muốn sử dụng đời sống ngươi rao giảng tin lành cho nhiều người khác để giúp họ đến với ta. Nhưng ngươi đã ham mến thế gian và từ chối ta, cũng không hề chịu ăn năn tội lỗi của mình”.

Người đàn bà nói cùng Chúa Jesus :”Chúa ơi, Ngài còn nhớ không, tôi đã đi nhà thờ và là một phụ nữ tốt. Tôi gia nhập Hội Thánh và là một thành viên của Ngài. Tôi biết sự kêu gọi của Ngài trên cuộc đời tôi. Tôi biết bằng mọi giá tôi phải vâng theo tiếng kêu gọi đó và tôi cũng đã làm điều ấy “.

Chúa Jesus phán :”Hỡi đàn bà kia, ngươi vẫn đầy những sự dối trá và tội lỗi. Ta đã kêu gọi ngươi, nhưng ngươi đã không nghe ta. Đúng, ngươi từng là một thành viên trong Hội Thánh, nhưng là một thành viên trong Hội Thánh thì không giúp cho ngươi vào nước thiên đàng đâu. Tội lỗi của ngươi nhiều lắm, và ngươi đã không ăn năn. Ngươi đã gây cho nhiều người vấp ngã trong Lời của ta. Ngươi đã không tha thứ khi người khác làm tổn thương ngươi. Khi có mặt những cơ đốc nhân khác thì ngươi giả vờ yêu thương và hầu việc ta, nhưng khi vắng mặt họ thì ngươi nói dối, lừa đảo và trộm cắp. Ngươi đã làm nhiều việc dụ dỗ các linh hồn và vui thú với đời sống hai mặt của mình. Ngươi đã hiểu biết về con đường rộng và con đường hẹp.”

Chúa Jesus nói tiếp :”Và ngươi cũng có hai cái lưỡi. Ngươi nói hành anh chị em trong Chúa. Ngươi đoán xét họ và nghĩ rằng ngươi thánh khiết hơn họ trong khi ngươi đầy tội lỗi trong lòng. Ta biết ngươi không nghe theo ta là Linh Dịu-Dàng, thương-xót. Ngươi đã đoán xét bề ngoài của con người, không kể chi đến việc của nhiều người còn non trẻ trong đức tin. Ngươi thật quá cứng lòng…

Phải miệng ngươi nói yêu ta, nhưng lòng thì cách xa ta lắm. Ngươi hiểu biết đường lối của Chúa. Ngươi đã đùa giỡn với Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng biết mọi sự. Nếu ngươi thật lòng hầu việc ta thì hôm nay ngươi đã không ở đây. Ngươi không thể vừa hầu việc Satan lại vừa hầu việc Đức Chúa Trời ”
Chúa Jesus quay sang tôi và nói :”Trong ngày cuối cùng sẽ có nhhiều người lìa bỏ đức tin, quyến dụ nhiều linh hồn và phục vụ tội lỗi. Hãy ra khỏi giữa họ và phân rẽ ra. Đừng đi chung đường với họ.”

Khi chúng tôi đi khỏi đó, người đàn bà bắt đầu chửi bới và nguyền rủa Chúa Jesus, bà thét lên cách giận dữ. Chúng tôi tiếp tục đi, tôi cảm thấy thân thể mình thật yếu sức.

Trong cái hố kế tiếp là hình thù của một bộ xương khác. Tôi ngửi được mùi hôi thối của sự chết ngay trước khi chúng tôi tới nơi. Bộ xương nầy trông cũng giống y như các bộ xương khác. Tôi tự hỏi linh hồn nầy đã làm điều gì để phải rơi vào sự hư mất và vô vọng, không có tương lai gì ngoài việc ở đời đời trong nơi chết chóc nầy. Hỏa ngục là cõi đời đời. Khi tôi nghe tiếng kêu khóc của những linh hồn bị hành hạ đau đớn, tôi cũng khóc.

Tôi lắng nghe người đàn bà từ trong lửa nói chuyện cùng Chúa Jesus. Bà đang trưng dẫn Lời của Đức Chúa Trời. Tôi hỏi :”Lạy Chúa yêu dấu, bà ấy đang làm gì vậy?” Chúa Jesus nói :”Hãy lắng nghe”

Người đàn bà nói:”Chúa Jesus là Đường Đi, Chân Lý và Sự Sống, không bởi Cha thì không ai đến được cùng Ngài. Hãy đến với Chúa Jesus, Ngài sẽ cứu quí vị”… Khi bà nói, nhiều linh hồn hư mất xung quanh bà lắng nghe. Có vài người chửi bới và rủa sả bà. Có vài người bảo bà im đi. Còn người khác thì nói :”Thật sự là còn có hy vọng không?” hay “Chúa Jesus ơi, hãy cứu giúp chúng tôi với!” Những tiếng khóc sầu thảm vang đầy trong không gian.

Tôi không hiểu việc gì đang xảy ra. Tôi không biết tại sao người đàn bà đó lại giảng Tin-Lành nơi đây. Chúa Jesus biết ý tưởng của tôi. Ngài phán :”Con ạ, Ta đã kêu gọi người đàn bà nầy giảng Lời ta và làm một chứng nhân cho Tin-lành khi bà ta 30 tuổi. Ta kêu gọi những con người khác nhau cho những mục đích khác nhau trong thân thể ta. Nhưng cho dù là đàn ông hay đàn bà, con trai hay con gái, nếu họ không cần đến Thần Linh của Ta thì Ta sẽ lìa khỏi họ.

Phải, bà ấy đã đáp lại sự kêu gọi của Ta trong nhiều năm và bà đã trưởng thành trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời. Bà ấy biết tiếng Ta, và bà đã làm nhiều việc tốt cho Ta. Bà học Lời Đức Chúa Trời. Bà cầu nguyện thường xuyên và nhiều lời cầu nguyện của bà đã được nhậm lời. Bà ấy đã dạy dỗ cho nhiều người con đường thánh khiết. Bà ấy đã trung tín trong nhà của mình.

Năm tháng trôi qua cho đến một ngày kia bà phát hiện rằng chồng bà gian díu cùng một phụ nữ khác, và ngay cho dù chồng bà đã xin tha thứ, bà vẫn cay đắng và không chịu, bà không cố gắng cứu vãn hôn nhân của mình. Thật ra chồng bà ta có lỗi, ông ta đã phạm một tội hết sức trầm trọng. Nhưng người đàn bà nầy đã hiểu biết Lời của Ta. Bà phải biết tha thứ, và bà biết trong mọi sự thử thách đều có một con đường ra khỏi. Chồng bà đã xin bà tha thứ, bà không chịu. Thay vào đó sự giận dữ đã châm rễ. Sự giận dữ lớn dần lên trong bà. Bà đã không dâng việc nầy cho ta, bà trở nên ngày càng cay đắng hơn và nói trong lòng rằng :”Tôi đây hầu việc Đức Chúa Trời mọi phương diện, còn chồng tôi thì lăng nhăng với đàn bà khác. Ngài có nghĩ rằng việc ấy là đúng không?” Ta nói :”Không, việc ấy không đúng. Nhưng ông ấy đã đến với con, ăn năn việc làm của mình và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa…Con gái ơi, hãy nhìn lại chính con, con sẽ thấy rằng chính con đã gây ra việc nầy cho mình”.

Bà nói :”Thưa Chúa, không phải tôi! Tôi là người thánh khiết và ông ta là người có tội”. Bà ấy đã không nghe ta.
Thời gian trôi đi, bà ấy không cầu nguyện cùng Ta và cũng không đọc Kinh Thánh. Bà trở nên giận dữ không chỉ với chồng mình mà còn với những người chung quanh. Bà nói Lời Kinh Thánh nhưng lại không tha thứ cho chồng mình. Bà ấy không nghe ta, lòng bà trở nên ngày cang cay đắng hơn, và tội ác nghiêm trọng đã vào lòng bà. Sự giết người lớn lên trong lòng bà, nơi mà trước kia chan chứa tình yêu thương. Và một ngày kia trong cơn giận dữ bà đã giết chết chồng mình và người đàn bà kia. Thế là Satan chiếm hữu bà hoàn toàn, và bà đã tự giết chính mình”.

Tôi nhìn bà, linh hồn hư mất đã lìa bỏ Chúa Jesus và nhận chịu sự đoán phạt linh hồn mình mãi mãi trong lửa và trong sự đau đớn. Tôi lắng tai nghe khi bà đáp lại cùng Chúa :”Con sẽ tha thứ bây giờ, Chúa ơi xem nầy con đang giảng Lời của Ngài đây. Một giờ nữa ma quỷ sẽ đến đem con đi hành hạ dữ dội hơn. Chúng sẽ tra tấn con hàng giờ bởi vì con đã giảng Lời của Ngài nên nhục hình dành cho con càng nhiều hơn. Con xin Ngài, Chúa ơi xin hãy cho con ra!”

Tôi cũng khóc cùng người đàn bà trong hố lửa và cầu xin Chúa giữ tôi khỏi cay đắng trong lòng. Tôi thưa với Ngài rằng :”Chúa Jesus ơi, xin Ngài đừng để con cho phép sự hận thù vào trong lòng con” Chúa Jesus nói:”Chúng ta hãy tiếp tục đi!

Trong chiếc hố lửa kế tiếp là linh hồn của một người đàn ông bị bao bọc trong hình dạng của chính bộ xương mình, ông ta kêu la cùng Chúa Jesus :”Lạy Chúa, xin giúp tôi hiểu được vì sao tôi lại phải ở đây?”
Chúa Jesus đáp :”Hãy yên tịnh, chính ngươi cũng hiểu vì sao ngươi lại ở đây”. Người đàn ông van xin :”Hãy cho tôi ra, tôi sẽ trở thành người tốt mà”. Chúa phán cùng ông rằng “Ngay cả khi ở trong hỏa ngục mà ngươi vẫn còn nói dối!”

Rồi Chúa Jesus quay sang tôi và nói :”Người đàn ông nầy đến đây khi ông ta 23 tuổi. Anh ấy không chịu nghe Tin-lành của Ta. Anh ấy nghe lời Ta nhiều lần và thường xuyên đến Hội Thánh. Bởi Thánh Linh, Ta đã kéo anh ta đến với sự cứu rỗi, nhưng anh ta chỉ ham muốn thế gian và những sự xấu xa của nó. Anh ta thích uống rượu và không nghe sự kêu gọi của Ta. Anh ta được lớn lên trong Hội Thánh nhưng anh ấy không dâng chính mình cho Ta. Một hôm anh ấy nói cùng Ta rằng :”Chúa Jesus ơi, tôi sẽ dâng cuộc đời tôi cho Ngài một ngày nào đó.” Và ngày đó đã không bao giờ đến nữa. Một buổi tối kia, sau bữa tiệc, anh ấy bị tai nạn xe hơi và chết, Satan đã lừa dối anh ấy cho đến cuối cùng. Những người khác cũng chết trong tai nạn đó, nhưng anh ấy đã chết thật sớm trong khi không chịu nghe sự kêu gọi của Ta…

Công việc của Satan là cướp, giết, và hủy diệt. Phải chi người trai trẻ nầy đã chịu nghe ta. Ý của Cha ta là không muốn một người nào bị hư mất. Satan thèm muốn linh hồn người thanh niên nầy, và hắn đã hủy diệt anh ta qua tội lỗi, rượu và sự thiếu thận trọng. Nhiều gia đình và đời sống đã bị hủy diệt hàng năm bởi rượu.”

Giá như mà người ta có thể thấy rằng, những ham muốn xấu xa và những thèm khát của thế gian chỉ là trong một lúc! Nếu quí vị đến với Chúa Jesus, Ngài sẽ giải cứu quí vị ra khỏi rượu mạnh. Hãy kêu cầu Chúa Jesus, Ngài sẽ nghe quí vị và giúp đỡ quí vị. Ngài sẽ là bạn của quí vị. Hãy nhớ rằng Ngài yêu thương quí vị và Ngài cũng có quyền năng để tha thứ tội lỗi của quí vị.

Chương 5: Đường Hầm Sợ Hãi

Tôi cố gắng nhớ lại những gì tôi đã được nghe giảng về địa ngục, nhưng tôi chưa bao giờ được nghe những điều khủng khiếp như những gì mà Chúa bày tỏ cho tôi thấy ở đây. Địa ngục tệ hơn bất kỳ điều gì con người có thể nghĩ ra, hoặc tưởng tượng. Tôi đau đớn vì những linh hồn hiện nay đang bị hành hạ trong địa ngục sẽ bị giam cầm ở đó vĩnh viễn. Không có cách nào ra khỏi đó được. Điều nầy đã làm tôi quyết định rằng : Tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng của tôi, để cứu những linh hồn không bị sa vào chốn kinh khủng nầy.

Tôi phải giảng Tin Lành cho mọi người tôi gặp, vì điạ ngục là một nơi đáng kinh sợ, và đây là điều có thật được ghi lại. Quý vị có nhận biết tôi đang nói gì không? Nếu tội nhân không ăn năn và không tin vào Phúc Âm cứu độ của Chúa Cứu Thế Jesus thì chắc chắn cuối cùng họ sẽ đến nơi địa ngục nầy.

Hãy tin Chúa Cứu Thế Jesus, và kêu cầu Ngài cứu quý vị ra khỏi tội lỗi. Hãy đọc sách Phúc Âm Giăng chương thứ 3 và chương 14. Cũng xin hãy đọc quyển sách nầy từ đầu đến cuối, để quý vị có thể biết nhiều hơn về cuộc đời của con người sau khi chết, và về địa ngục. Khi quý vị đọc, hãy cầu nguyện xin Chúa Jesus ngự vào lòng của quý vị và rửa sạch tội lỗi của quý vị trước khi quá trễ.

Chúa Jesus và tôi đi xuyên ngang địa ngục. Đường đi là vùng đất cháy khô, nứt nẻ và hoang vu. Tôi nhìn xuống những dãy hố lửa, nối tiếp chạy dài đến tận xa xăm. Tôi rất mệt. Lòng tôi, chính tâm linh tôi cũng tan vỡ trước tất cả những gì tôi đã thấy và nghe. Tuy vậy tôi biết rằng còn có nhiều điều nữa ở phía trước tôi. Tôi kêu lên : “Chúa Jesus ơi, xin ban cho con sức lực để con tiếp tục”. Khi Chúa Jesus dẫn đường, tôi đi sát phía sau Ngài. Lòng tôi đầy buồn phiền vì cớ những điều kinh khủng đã thấy. Tôi đang tự hỏi trong lòng: “liệu thế gian sẽ tin tôi?” Tôi nhìn về phía bên trái, bên phải, phía sau, có rất nhiều hố lửa. Lửa và các linh hồn đang bao bọc chung quanh tôi. Tôi kêu lên trong nỗi kinh sợ tột độ. Sự khủng khiếp và thực tế của điều tôi đang chứng kiến thật vượt quá sức chịu đựng.

“Hỡi thế gian, hãy ăn năn!” tôi kêu lên. Khi tôi bước đi với Chúa Jesus, những tiếng nức nở dữ dội làm linh hồn tôi rúng động. Tôi tự hỏi điều gì sẽ tiếp theo đây? Tôi tự hỏi gia đình tôi bạn bè tôi đang làm gì? Ôi, tôi yêu họ làm sao ! Tôi nhớ lại mình đã từng phạm tội thế nào trước khi trở lại cùng Chúa Jesus. Và tôi tạ ơn Đức Chúa Trời vì tôi đã quay về với Ngài trước khi quá muộn.
Chúa Jesus nói :”Bây giờ chúng ta sắp sửa vào trong một đường hầm, nó sẽ dẫn chúng ta vào trong phần bụng của địa ngục. Địa ngục có hình dạng giống như thân thể của một con người, nằm chính giữa trái đất. Thân của nó nằm ngữa, có hai tay và hai chân vươn dài ra. Như ta có một tân thể của những thánh đồ, thì địa ngục cũng có một thân thể của tội lỗi và sự chết. Như thân thể của Chúa Cứu Thế được tăng trưởng hằng ngày, thì thân thể của địa ngục cũng được tăng trưởng hàng ngày như vậy”.

Trên đường đến đường hầm, chúng tôi đi ngang qua những hố lửa đang cháy, tiếng kêu la và rên rĩ của những linh hồn bị đoán phạt vang lên bên tai tôi. Nhiều linh hồn kêu cầu Chúa Jesus khi chúng tôi đi ngang qua. Những linh hồn khác cố trèo ra khỏi hố đế chạm đến Ngài, nhưng không được. “Quá trễ, quá trễ rồi!” Lòng tôi kêu lên đau đớn. Gương mặt Chúa Jesus lúc nào cũng buồn rầu khi chúng tôi đi. Nhìn những hố lửa, tôi nghĩ đến những lần gia đình tôi nấu ăn ngoài sân nhớ lại những hòn than nóng đỏ trông như thế nào khi chúng cháy hàng giờ. Nó thật rất giống điều tôi đang thấy trong địa ngục. Thật tạ ơn Chúa khi chúng tôi vào trong đường hầm. Tôi nghĩ đường hầm sẽ không ghê sợ như các hố lửa. Nhưng tôi đã lầm! Vừa khi chúng tôi vào bên trong, tôi bắt đầu thấy những con rắn thật to, những con chuột cống lớn và nhiều tà linh, tất cả đều chạy khỏi sự hiện diện của Chúa. Những con rắn huýt sáo phản đối chúng tôi và các con chuột kêu ré lên. Có nhiều âm thanh ma quái. Các con rắn và bóng tối ở chung quanh chúng tôi. Chúa Jesus là ánh sáng duy nhất trong đường hầm. Tôi đứng sát khít bên Chúa Jesus.

Các yêu quái và ma quỉ ở khắp hai bên bờ hang tối thẳm. Tất cả chúng đang đi đâu đó lên trên và ra ngoài đường hầm. Sau nầy tôi mới biết những tà linh nầy đang đi lên trái đất để thực hiện mệnh lệnh của Satan. Cảm nhận được sự sợ hãi của tôi trong nơi dơ dáy, ẩm thấp và tối tăm nầy, Chúa Jesus nói:”Đừng sợ, chẳng mấy chốc nữa chúng ta sẽ đi đến cuối đường hầm. Ta phải chỉ cho con những điều nầy. Hãy theo Ta.”

Những con rắn khổng lồ bò trườn ngang qua mặt chúng tôi. Vài con rắn to cỡ 4 bộ, dài hai mươi ba bộ, mùi hôi nồng nặc, dơ dáy đấy trong không khí, và các tà linh ở khắp nơi. Chúa Jesus nói: Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ đến phần bụng của địa ngục. Phần nầy cao mười bảy bộ, bề tròn ba bộ giống như một vòng tròn.” Chúa Jesus cho tôi biết số đo chính xác.

Tôi sẽ cố gắng hết sức mình để ghi lại điều tôi đã thấy và nghe. Tôi sẽ làm việc nầy vì cớ sự vinh hiển của Đức Thánh Linh. Nguyện xin ý của Đức Chúa Trời được nên! Tôi biết rằng Chúa Jesus đang bày tỏ cho tôi tất cả những điều nầy, để tôi có thể cảnh báo cho mọi người đàn ông và phụ nữ khắp nơi trên thế gian tránh khỏi địa ngục bằng mọi giá. Hỡi mọi người yêu dấu, nếu quý vị đang đọc đến đây mà quý vị chưa biết Chúa Jesus, xin hãy dừng lại ngay bây giờ, hãy ăn năn tội lỗi của mình và mời Ngài vào lòng, làm Đấng Cứu Độ quý vị.

 Hỡi bạn đọc, quý vị không thể nào vào Thiên đàng nếu tên của quý vị không được ghi trong sách Sự Sống của Chiên Con! Nếu quý vị chưa được cứu, xin hãy tận dụng thì giờ ngay bây giờ, quỳ xuống trước Chúa, xin Ngài tha thứ tội lỗi của quý vị, và nhận qúy vị làm con. Bất cứ giá nào, quý vị nên quyết định bây giờ, để nhận lấy thiên đàng làm nhà ở đời đời cho mình.

Làm thế nào để tôi thoát khỏi Hỏa ngục mà vào Thiên-đàng?

Lời Chúa dạy: “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23).

“Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi.” (Công vụ 3:19).

“Vậy nếu miệng ngươi xưng Ðức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu.” (Rô-ma 10:9)

Nếu bạn muốn tiếp nhận Đức Chúa Jêsus vào linh hồn và đời sống bạn, mời bạn cầu nguyện theo những lời hướng dẫn sau đây với tấm lòng chân thành của bạn:

Lạy Đức Chúa Trời (Thượng-đế) là Đấng Tạo Hóa và là Chúa của vũ trụ nầy! Con biết con đã phạm tội, và làm những việc không đẹp lòng Ngài. Con cám ơn Ngài, vì Ngài đã yêu thương con và ban sự sống đời đời cho con qua sự chết đền tội của Chúa Jêsus trên thập tự giá cho con. Con xin Ngài tha thứ tất cả tội lỗi của con, và tẩy sạch đời sống con. Con cầu xin Chúa Jesus Christ bước vào đời sống con. Con xin dâng chính mình con và cuộc đời con cho Ngài. Xin dạy con đặt Chúa đầu tiên trong mọi suy nghĩ và mọi việc làm của con. Xin giúp con theo Ngài và vâng theo những Lời dạy của Ngài. Xin giúp con thắng hơn những cám dỗ, và bảo vệ con khỏi mưu kế của kẻ ác. Con thờ phượng và ngợi khen Ngài. Cảm tạ sự hy sinh của Đức Chúa Jêsus trên thập tự giá, để con có được sự sống vĩnh cửu nơi Ngài. Con cầu nguyện trong Danh Chúa Jêsus, Amen!


(“A-men” có nghĩa là: “muốn thật hết lòng như vậy”)

**** Xin hãy liên lạc với chúng tôi theo địa chỉ dưới đây để được giúp đỡ thêm trong đức tin và trong đời sống mới theo Chúa của bạn,

**** Nếu qui vị muốn đọc thêm những phần còn lại như: “bụng địa ngục, trái tim địa ngục, cánh tay phải của địa ngục, cánh tay trái của địa ngục, trung tâm của điạ ngục, eo địa ngục, thiên-đàng..”, xin mời bạn đến Hội Thánh Báp Tít Đức Tin vào giờ sinh hoạt Chúa Nhật từ 10:30 AM tới 3:30 PM. Địa chỉ của chúng tôi được ghi bên dưới đây:

Hội Thánh Báp Tít Đức Tin

9733 Plaza Rd., Ext.

Charlotte, NC 28215

{704) 905-3444




2 Gia tộc, 2 con đường – có và không có niềm tin sau 200 năm rất khác nhau

Tất cả mọi người đều tin rằng, tín ngưỡng và tình yêu đối với một người mà nói là quan trọng vô cùng, đặc biệt là đối với tinh thần và sức khỏe, đối với sự hòa thuận trong gia đình. Nhưng nó quan trọng chừng nào? Rất nhiều người có thể không hiểu rõ lắm.

Thống kê sau 200 năm của 2 gia tộc:

Có hai gia tộc cùng thời, gia tộc Edwards tin vào Cơ Đốc Giáo, còn gia tộc Marc Jukes nổi danh là vô thần. Hơn nữa Marc Yukos từng nói với Edwards rằng: “Ông tin Chúa Jesus, còn tôi thì vĩnh viễn không tin!”

Có người thống kê tình hình của gia tộc Edwards sau 200 năm, cũng thống kê tình huống của gia tộc Marc Jukes sau 200 năm, kết quả cụ thể như sau:

1 – Gia tộc Edwards

Nhân khẩu: 1394 người; trong đó có: 100 vị giáo sư đại học, 14 hiệu trưởng các trường đại học, 70 vị luật sư, 30 vị thẩm phán, 60 bác sĩ, 60 nhà văn, 300 vị mục sư, thần học, 3 nghị viện, 1 phó tổng thống.

Jonathan Edwards (Ảnh: Wiki)

2 – Gia tộc Max Jukes

Nhân khẩu: 903 người; trong đó có: 310 lưu manh, 130 người ngồi tù 13 năm trở lên, 7 người phạm tội giết người, 100 người nghiện rượu, 60 người ăn trộm, 190 kỹ nữ, 20 thương nhân, trong đó có 10 người là học kinh doanh trong tù giam.

Max Jukes (Ảnh: đại học Albany, NY)
Max Jukes (Ảnh: đại học Albany, NY)

Ghi chú: Học giả A. E. Winship người Mỹ đã làm một cuộc nghiên cứu vào năm 1900, so sánh hai gia tộc, ghi thành một bức thư “Jukes – Edwards”. Ông theo dõi sự phát triển của 2 gia tộc qua hai trăm năm nay. 

Thời gian thật vĩ đại, bởi vì từ nó có thể chứng kiến hết thảy chân thật và phù hoa! Thế giới này không có gì là ngẫu nhiên.

Rất nhiều người đều cảm thấy khó hiểu, trải qua trăm năm tại sao kết quả lại khác biệt như vậy. Nguyên nhân căn bản là vì gia tộc Edwards có được sức mạnh từ tín ngưỡng.

Sau tín ngưỡng, họ gieo xuống hai hạt giống quan trọng:

– Hạt giống gieo thứ nhất là hướng thiện và yêu thương. Cho nên gia tộc mới có nhiều bác sĩ, giáo sư và hiệu trưởng như vậy.

– Hạt giống gieo thứ hai là sự kính sợ. Cho nên những đứa trẻ sinh ra trong gia đình này luôn ghi nhớ rằng trên đầu ba thước còn có Thần Linh.

Không biết bạn có chú ý đến không, tại sao gia tộc Marc Jukes lại có nhiều lưu manh, ăn trộm và kỹ nữ như thế?

Cũng vì gia tộc này không dạy cho con cháu sự kính sợ. 

Không dạy sự kính sợ cho con cháu. Nên trong nội tâm của họ là: Ông trời là gì chứ, ta mới là lớn nhất, không có điều gì mà ta không dám làm …

Kết quả của hai gia tộc sau 200 năm, đã cho chúng ta cảm nhận năng lượng to lớn của tình yêu và tín ngưỡng. Cho nên, mới có một định luật trong quan hệ của tiền tài như thế này: Tín ngưỡng, là con đường tiếp nối năng lượng!

Theo NTDTV
Biên dịch: Minh Quân, biên tập: Tuệ Minh 

Chú thích: Tại sao lại chỉ trích dẫn những người thành công của gia tộc Edwards và những người không tốt của gia tộc Jukes? Chính vì 2 gia tộc này xuất hiện vào cùng thời và rất nổi tiếng, đến nỗi nhắc đến Jukes là người ta nghĩ đến tội phạm, ngược lại, Jonathan Edwards lại là một nhà thần học nổi tiếng đương thời. Sự đối lập quá lớn giữa 2 gia tộc đã dẫn đến một số nghiên cứu và ghi chép về họ. Bạn đọc có thể tham khảo trong các đường dẫn ở trên.




LÀM SAO TÔI BIẾT KINH THÁNH LÀ CHÂN LÝ?

LÀM SAO TÔI BIẾT KINH THÁNH LÀ CHÂN LÝ?
 
 
BẰNG CHỨNG BÊN NGOÀI:
 
Bằng chứng bên ngoài có nghĩa là những thực tế bên ngoài Kinh Thánh bày tỏ rằng Kinh Thánh là một nguồn cung cấp những dữ kiện giá trị đáng tin cậy.
 
Bằng chứng về khoa học:
 
Không có bằng chứng khoa học nào chứng minh được Kinh Thánh là sai. Nhiều người sẽ nói rằng, “Kinh Thánh không phải là một quyển sách thuộc về khoa học mà chỉ nhằm cung cấp một cái nhìn tôn giáo hay tâm linh trong vũ trụ nầy mà thôi.” Lời tuyên bố trên hàm ý rằng sự mô tả mang tính khoa học tự nhiên chỉ nhắm đến mục tiêu phục vụ cho tôn giáo nên không thể mong đợi sự chính xác tuyệt đối nơi những mô tả nầy. Vì thế, chúng ta được bảo đừng tin cậy vào những chi tiết mang tính khoa học mà chỉ tìm kiếm những lời dạy dỗ mang tính đạo đức hoặc tôn giáo mà thôi.
 
 
Sự suy nghĩ nầy là sai lầm bởi vì nó vô lý. Làm sao chúng ta có thể khẳng định được phần nào đúng và phần nào không đúng. Nếu chúng ta không thể tin cậy một vài phần nào đó trong Kinh Thánh thì chúng ta cũng không thể tin cậy vào những sứ điệp về đạo đức hay thuộc linh mà Kinh Thánh mang lại. Lý do chúng ta không thể tin cậy vào những sứ điệp thuộc linh là vì chúng ta không có một nền tảng căn bản để biết điều nào là đúng và xác đáng cho đời sống của chúng ta và điều nào là không chính xác để không phải tuân theo một cách nghiêm túc.
 
Quan niệm nầy là sai lầm bởi thiếu đức tin và xúc phạm đến Thượng Đế là tác giả của Kinh Thánh. Sự chính xác của những câu chuyện, những nhân vật và những địa danh trong Kinh Thánh phản ảnh bản tánh chính trực của Thượng Đế. Khi xem xét về giá trị bề mặt của những lời tuyên bố Ngài đưa ra chúng ta thấy được năng quyền của Thượng Đế đã gìn giữ những lời Kinh Thánh được hiệu nghiệm hằng nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể nào tìm đâu ra dữ kiện chính xác về sự kỳ diệu của vũ trụ nầy hơn là những gì đã được trình bày trong Kinh Thánh vì Kinh Thánh phản ảnh Thượng Đế là Đấng đã viết nên nó.
 
Một thí dụ từ Địa lý:
 
Trong khi Kinh Thánh không cố ý dạy người học một cách kỹ lưỡng về những nguyên tắc và dữ kiện khoa học, nhưng bất cứ những vấn đề nào mà Kinh Thánh bàn về công cuộc sáng tạo của Thượng Đế là chính xác và có thật. Chúng ta thấy một trường hợp trong sách Gióp 26:7, tại đây chúng ta đọc thấy sự mô tả theo cách hiện đại về trái đất khi nó quay trong khoảng không. Điều nầy đã được viết ra vào khoảng 3.000 năm trước Chúa Cứu Thế. Sự mô tả nầy là một sự tương phản hoàn toàn trái ngược với những quan điểm tưởng tượng quái dị mà cả thế giới được dạy dỗ hay tin tưởng vào lúc đó. Để ủng hộ Gióp 26:7, Êsai 40:22 chỉ ra rằng Thượng Đế ngồi trên “vòng tròn của trái đất.” Trái đất trông giống như một vòng tròn đối với những người sống trên nó chỉ khi nào nó là một hình cầu. Êsai chương 40 xứng hợp với Gióp 26 và ủng hộ sự chính xác của lời tuyên bố nầy, đó là điều chúng ta mong đợi ở Kinh Thánh. Rốt lại thì đâu ai hiểu biết hơn Đấng Tạo Hóa đã thiết kế và dựng nên vũ trụ này.
 
Một thí dụ từ Khảo cổ học:
 
Những bản sao cổ nhất hiện có của những bài thơ và văn chương tiếng Hy Lạp thì mới hơn những bản gốc viết tay từ 800 đến 1.000 năm. Dầu vậy, không một học giả nào chấp nhận lập luận rằng những bản văn Hy Lạp cổ không xác thực so với bản gốc và cần nên bỏ đi. Ngược lại, những bản sao của nhiều sách trong Cựu Ước thì mới hơn nguyên bản chỉ có 200 năm. Những bản sao cũ nhất của vài sách trong Tân Ước có ghi ngày chỉ cách nguyên bản viết tay từ 50 đến 80 năm mà thôi. Dựa vào những dữ kiện căn bản đó, Kinh Thánh đáng được tin cậy ít nhất như những bản văn chương Hy Lạp, nhưng điều đó thì trái ngược lại trong thời nầy.
 
Sự khám phá mới đây đã củng cố tính trung thực về lịch sử của Kinh Thánh khiến cho nhiều nhà khảo cổ học từng coi thường Kinh Thánh trở lại từ chỗ chống đối thành ra tôn trọng Kinh Thánh. Thí dụ, trong Sáng Thế Ký 15:20 đã nhắc đến một dân tộc được gọi là Hêtít. Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cười nhạo Kinh Thánh đã bịa đặt ra nhóm người nầy. Nhưng cách nay vài thập niên, tàn tích của một thành phố nằm tại quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc của nước Do Thái hiện nay, được khám phá và chứng minh là một thành phố lớn của dân tộc Hêtít.
 
Bằng chứng về lịch sử:
 
Kinh Thánh nói về những điều trước khi xảy đến. Tiên tri Êsai nói về vua của nước Ba Tư là Siru (Êsai 45:1), là người mà cuối cùng sẽ khôi phục nước Giuđa. Ba Tư là một vương quốc lớn, nằm tại vùng đất mà hiện nay thuộc quốc gia Iran. Êsai viết điều nầy trong thời cai trị của vua nước Giuđa là Êxêchia, vua nầy qua đời vào năm 687 trước Chúa Cứu Thế, nhưng Siru đã không bắt đầu lên làm vua cai trị đế quốc Ba Tư mãi cho đến sau năm 600 trước Chúa Cứu Thế. Đó là hơn 80 năm sau khi Êsai qua đời. Chỉ có Thượng Đế mới biết tên của người sẽ làm vua nước Ba Tư trước khi người đó lên ngôi. Nhiều lời dự ngôn trong lịch sử chép về Chúa Cứu Thế Giêxu đã được ban cho trước khi Ngài ra đời. Mỗi sách của Cựu Ước trong Kinh Thánh đều nhắc đến Chúa Giêxu một cách rõ ràng. Thí dụ, hãy chú ý đến chi tiết của Thi Thiên 22, Êsai 53, và Michê 5:2.
 
Đối diện với bằng chứng lịch sử nầy, chúng ta chỉ có những sự lựa chọn sau đây. Hoặc Kinh Thánh đã được viết bởi Đấng ở bên ngoài thời gian, hoặc Kinh Thánh chỉ là một câu chuyện đùa, một sự đánh lừa rồi sau đó người ta viết thêm vào những lời tiên tri để làm cho Kinh Thánh có vẻ tốt, hay là chỉ là một sự lường gạt xấu xa. Sự lựa chọn đúng đó là, Kinh Thánh duy nhất là lời chân thật và thánh khiết của Thượng Đế.
 
Bằng chứng từ những kinh nghiệm cá nhân:
 
Một nguồn khác về bằng chứng bên ngoài đó là kinh nghiệm cá nhân của những người được thay đổi bởi Kinh Thánh. Có nhiều sự khác biệt rất rõ rệt trong đời sống của một người sau khi đặt lòng tin vào Chúa Cứu Thế Giêxu và bước đi theo Lời Ngài là Kinh Thánh. Nói cách khác, Kinh Thánh có thể làm cho những tín hữu những gì mà Kinh Thánh xác nhận là sẽ làm được.
 
Kinh Thánh hứa sẽ cất khỏi hình phạt của sự đoán xét và bảo đảm không có sự định tội cho ai đặt lòng tin vào những gì Kinh Thánh nói (Giăng 5:24, Rôma 8:1,16, I Giăng 4:18). Kinh Thánh hứa có thể rửa sạch tấm lòng Cơ Đốc Nhân (Thi Thiên 119:9,11, Giăng 15:3). Kinh Thánh hứa sự giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi cũng như sự khôn ngoan và quyền năng để chiến thắng tội lỗi một cách thành công (Giăng 8:34-36, Rôma 6:18, Côlôse 3:1-2). Kinh Thánh ban ý nghĩa và mục đích cho đời sống, thúc đẩy những Cơ Đốc Nhân phục vụ Chúa của mình (I Phierơ 2:9). Tất cả những điều nầy là một phần trong kinh nghiệm của một tín hữu. Nhiều tín hữu kinh nghiệm một đời sống mà họ chưa từng có trước kia, một đời sống mới được chứng minh bằng thực tế rằng họ không còn đầy cay đắng và hối tiếc về quá khứ của họ từ khi họ đọc được sự tha thứ của Thượng Đế (Hêbơrơ 10:16-17). Nhiều Cơ Đốc Nhân kinh nghiệm một sự sống mới bởi thực tế rằng họ có thể hi sinh cho người khác. Nhiều tín hữu kinh nghiệm đời sống mới minh chứng bởi thực sự rằng họ có thể chiến thắng sự sợ hãi bởi vì họ thà nương dựa vào Chúa hơn là hy vọng hão huyền về những điều êm đẹp sẽ xảy ra. Một người đặt lòng tin vào Kinh Thánh có kinh nghiệm thuộc linh cách cá nhân để biết rằng những lời hứa của Kinh Thánh không phải chỉ là những bài thơ suông mà là sự thật và làm chứng cho lòng của người đó rằng sự tin cậy của người đó đặt vào Kinh Thánh không phải là không đúng chỗ.
 
BẰNG CHỨNG BÊN TRONG:
 
Thêm vào những bằng chứng bên ngoài, có những bằng chứng bên trong cho chúng ta lý do thuyết phục để tin cậy vào Kinh Thánh. Nói cách khác, có những điều thực tế bên trong Kinh Thánh bày tỏ rằng Kinh Thánh là một nguồn cung cấp những dữ kiện giá trị đáng tin cậy.
 
Lời chứng của Kinh Thánh:
 
Kinh Thánh tự xác nhận là đến từ Thượng Đế. Thí dụ, trong II Samuên 23:2 Đavít, là người viết nhiều thi thiên, tuyên bố rằng những gì ông viết là đến từ Thượng Đế. Giêrêmi tuyên bố cũng giống như vậy (Giêrêmi 1:4), cũng như sứ đồ Phaolô (I Têsalônica 2:13). Phierơ nói những điều Phaolô viết là Thánh Kinh (II Phierơ 3:16). Chính Chúa Giê-xu tuyên bố nhiều lần về đặc tính đáng tin cậy của Kinh Thánh (Luca 16:17, 24:44, Giăng 17:17). Thí dụ, Chúa Giêxu thường thường xem tất cả những câu chuyện trong Kinh Thánh Cựu Ước là nguồn đáng tin cậy (Luca 11:51, 17:26-33).
 
Sự hợp nhất của Kinh Thánh:
 
Kinh Thánh được viết trong khoảng thời gian hơn 1.500 năm, từ thời Môise (1.400 trước Chúa Cứu Thế) đến thời của sứ đồ Giăng (khoảng 100 năm sau Chúa Cứu Thế). Tổng cộng số người viết ít nhất là 40 người. Nhưng cho dù những người khác biệt nầy cũng viết vào những thời điểm khác nhau thì sứ điệp mà họ viết luôn luôn giống nhau mà không hề sự mâu thuẫn trong bất cứ chi tiết nào. Nguyên nhân là vì Thượng Đế là tác giả của Kinh Thánh và Ngài đã dùng con người ghi chép những gì Ngài muốn nói. Những người viết sống và chết vào những thời điểm khác nhau nhưng chỉ có một Thượng Đế đời đời phán bảo với từng người những gì phải viết. Vì lý do đó, chúng ta có thể so sánh những phần khác nhau của Kinh Thánh và thấy rằng chúng đều thống nhất với nhau, ủng hộ và làm sáng tỏ cho nhau (I Côrinhtô 2:13). Chúng ta có thể đến với bất cứ phần nào trong Kinh Thánh và biết rằng trước sau như một Kinh Thánh thật đáng tin cậy.
 
Những điều chứa đựng trong Kinh Thánh:
 
Những chủ đề mà Kinh Thánh bàn luận đến là bằng chứng lạ lùng bên trong về sự đáng tin cậy của Kinh Thánh. Những điều chứa đựng trong Kinh Thánh là những điều mà Kinh Thánh có thể nói chỉ khi Kinh Thánh được viết bởi Thượng Đế. Thí dụ, Kinh Thánh tuyên bố Đức Chúa Giêxu nhận rằng Ngài là Thượng Đế (Giăng 10:30); Kinh Thánh tuyên bố rằng các môn đồ của Chúa Giêxu xưng Ngài là Thượng Đế (Giăng 20:28); Kinh Thánh nói rằng Cha tuyên bố Chúa Giêxu là Thượng Đế (Hêbơrơ 1:8). Kết luận của lời làm chứng nầy rằng, hoặc sứ điệp của Kinh Thánh là một điều điên rồ và lường gạt quỉ quyệt, hay sứ điệp của Kinh Thánh là thật và Kinh Thánh là quyển sách duy nhất như thế.
 
Một thí dụ quan trọng khác là chỉ có Kinh Thánh nói về tội lỗi (I Giăng 3:14). Không có một con người nào can đảm viết chính xác và đánh giá về loài người như Kinh Thánh mô tả. Kinh Thánh trình bày một bức tranh khủng khiếp. Nó làm chúng ta bực mình, và chúng ta không lấy làm vui vẻ gì khi đọc nó. Điều nầy giải thích tại sao chúng ta gặp khó khăn khi muốn tin rằng Kinh Thánh là chân lý. Vấn đề không phải là ở bằng chứng mà là ở tấm lòng của chúng ta. Có ai muốn biết rằng mình là một tội nhân tồi bại, sa đọa? Có ai vui mừng khi được cho biết rằng mình đang tiến về vào địa ngục, nơi mà mình phải chịu khổ sở dưới cơn thạnh nộ của Thượng Đế đời đời? Có ai hoan nghênh một sự hiểu biết để biết rằng không có điều gì tốt nơi mình cả và mình là một con người phản loạn chống nghịch lại Thượng Đế, Đấng đã tạo dựng nên mình?
 
Chỉ có Thượng Đế mới thành thật với chúng ta bởi vì chỉ có Ngài biết được sự thật. Chỉ có Thượng Đế sẵn sàng thành thật với chúng ta và điều đó bày tỏ tình yêu của Ngài. Tình yêu thật không biểu lộ bởi những lời nói của con người cố làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu bởi những lời dua nịnh hư không, rồi bỏ mặc chúng ta lại trong tình trạng tuyệt vọng của mình bởi họ không có sự hy vọng thật để ban cho. Tình yêu thật được bày tỏ bằng sự thật, đó là điều duy nhất có thể giúp chúng ta. Sự chân thật của Kinh Thánh vẽ ra bằng lời số phận con người thì không mấy gì thu hút. Tuy nhiên, Kinh Thánh chứa đựng những lời của một người bạn thật. Thượng Đế biết rằng chúng ta đang đi trên bờ của một mõm đá và có thể rơi vào địa ngục bất cứ lúc nào. Ngài bảo cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cần biết để tránh khỏi hiểm họa nầy. Mặc dù Kinh Thánh không được liệt kê trong danh sách của mười quyển sách được ưa chuộng nhất trong năm, nhưng chỉ Kinh Thánh mới có thể ban cho lời hứa và giữ lời hứa rằng, “Hỡi những kẻ mệt mõi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Mathiơ 11:28-30).
 
Sứ Điệp của Kinh Thánh:
 
Cuối cùng có một ý kiến nữa mầ chúng ta phải đối diện khi chúng ta suy nghĩ có nên tin cậy Kinh Thánh hay không. Hầu hết người ta tin rằng có một Thượng Đế. Nhưng nếu Thượng Đế thật sự là Thượng Đế thì Ngài sẽ phán hoàn toàn bằng uy quyền và chúng ta phải vâng theo Lời của Ngài. Nói cách khác, những gì chúng ta suy nghĩ về Lời của Thượng Đế và phản ứng của chúng ta đối với nó phản ảnh những gì chúng ta nghĩ về chính Thượng Đế. Chúng ta không thể tách rời Thượng Đế và Lời Ngài là Kinh Thánh. Chúng ta không buộc phải tin Kinh Thánh, nhưng chúng ta phải đối diện với hậu quả. Nếu ai đã không tin vào Thượng Đế của Kinh Thánh thì sẽ hành động theo cách đó, và kết quả cay đắng của đời sống ích kỷ của họ sẽ đến vào mùa gặt, như Kinh Thánh đã nói. Đây là bằng chứng đáng sợ hơn cả. Thêm vào điều đó, họ sẽ đối diện với cơn thạnh nộ của Thượng Đế là Đấng sẽ tìm gặp họ phía bên kia phần mộ và buộc họ tuân theo Lời Ngài vào Ngày phán xét như Kinh Thánh đã nói trước.
 
Có một điều tốt cho chúng ta khi hỏi rằng chúng ta có nên tin cậy Kinh Thánh hay không. Kinh Thánh có thể cất đi những thắc mắc khỏi chúng ta bằng những bằng chứng về tính chất xác đáng của nó. Giacơ 1:6 chép rằng chúng ta không nên ngần ngại màcầu xin Thượng Đế ban cho chúng ta khả năng để tin cậy vào Lời của Ngài và sự khôn ngoan cần có để có thể hiểu được Kinh Thánh nhiều hơn. Tuy nhiên, học Kinh Thánh là một sự học hỏi thánh. Chỉ khi nào chúng ta đến với Kinh Thánh một cách khiêm nhường và một tâm trí cởi mở hướng về lẽ thật thì chúng ta mới tìm thấy những câu trả lời cho mình.
 
 
“Lời Cha tức là lẽ thật” Giăng 17:17
Có những lý do xác đáng để tin cậy vào Kinh Thánh.
Cả hai, bằng chứng bên ngoài và bên trong đều ủng hộ lời tuyên bố rằng, Kinh Thánh là 
“Chân thật, thảy đều công bình cả” Thi Thiên 19:9
 http://www.hoagiang.co.cc/2012/09/lam-sao-toi-biet-kinh-thanh-la-chan-ly.html



Nghệ thuật chinh phục linh hồn

Nghệ thuật chinh phục linh hồn

Giới Thiệu
Chinh phục tội nhân cho Đấng Chist là một công tác vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã cho phép Hội Thánh Ngài thi hành.

Chinh Phục Linh Hồn hay Cá Nhân Chứng Đạo là phương pháp hoàn thành khác biệt với sự giảng dạy. Đành rằng giảng dạy có tầm quan trọng riêng, nhưng CÁ NHÂN CHỨNG ĐẠO là công tác đi đầu.

Những nhà truyền giảng đã cho biết rằng phần lớn sự thành công của họ đều nằm trong công tác chinh phục từng CÁ NHÂN và công tác này rất quan trọng đến nỗi không thể có một phương pháp nào có thể thay thế được.

Henry Ward Beecher đã nhận định: “Càng sống bao lâu trong Hội Thánh tôi càng thấy rõ điều này, ấy là giữ vị mục sư là diễn giả và một vị tín đồ của hội chúng – có một sự ngăn cách – chẳng một câu hỏi nào được nêu lên … và nó càng vô nghĩa nếu mục sư ấy nói cùng tín đồ rằng : “Anh là một con người”.

Dầu những môn đệ đầu tiên của Chúa Jesus được Ngài kêu gọi trong cùng một thời điểm, nhưng trong mười hai sứ đồ được chinh phục đã có đến 6 người được chinh phục bằng phương pháp cá nhân nầy. Sáu người nói trên được chính Chúa trực tiếp làm chứng hoặc do vài môn đệ dẫn dắt. Như ANHRÊ đã dẫn dắt anh mình là PHIERƠ và PHILÍP đã chinh phục được NATHANAÊN.

Trong các sách Phúc Âmchúng ta đọc thấy Chúa Jesus thường tiếp xúc nhiều người một cách CÁ NHÂN và chúng ta nghĩ rằng đó là phương cách Chúa ưa thích nhất. Không còn gì để nghi ngờ rằng việc tìm kiếm từng cá nhân về cho Đấng Chist là đường lối tốt nhất mà Hội Thánh Cơ Đốc đã thi hành từ những ngày đầu tiên cho đến giờ này.

Tác giả quyển “Nghệ Thuật Chinh Phục Linh Hồn ” là Giáo sư MURRAY W, DOWNEY đã trình bàysách một cách rất thuộc linh, rõ ràng và thực tế thế nào để trở thành một CHỨNG NHÂN có kết quả. Sách đã được dùng làm tài liệu giáo khoa trong nhiều năm mà Giáo sư DOWNEY đã dạy ở Viện Cao Đẳng Thánh Kinh Gia Nã Đại (Canadian Bible College).

PHẦN MỘT của sách là những phần thuộc linh thiết yếu cần trang bị đầy đủ cho người chinh phục linh hồn – người phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong suốt cuộc đời công tác..

PHẦN HAI đề cập đến những đối tượng cần được chinh phục và những nan đề cần được giải đáp thoả đáng.

PHẦN BA, phần rất cần thiết mà sách đã cung ứng, chính là những TÀ THUYẾT, những PHONG TRÀO hiện đại mà người ra đi chinh phục cần phải biết rõ để đương đầu. Loạt bài học này rất bổ ích cho những Tổ Học Kinh Thánh, là sách Giáo Khoa lý tưởng cho môn Chứng Đạo Pháp.

Mỗi trang sách được nhuần vẻ thuộc linh. Phần cuối của bài học là những câu hỏi ôn lại. Ước mong rằng tài liệu này sẽ hướng dẫn bạn bước vào phần THỰC HÀNH về : Nghệ Thuật Chinh Phục Linh Hồn cách thành công . Stven Barabas Sửa đổi và Tái bản tháng 1/1989.

 

Nội Dung

 

7 Nghệ Thuật Chinh Phục Linh Hồn Tác giả: Murray Downey
 

PHẦN MỘT: CHUẨN BỊ CHO CÔNG TÁC CHINH PHỤC

1. Tầm quan trọng của công tác chinh phục.

2. Những bước thành công trong công việc chinh phục.

3. Những câu Kinh Thánh cần học thuộc lòng.

4. Từng trải chắc chắn về Ơn Cứu Rỗi.

5. Thế nào là một cuộc sống đắc thắng.

6. Để bước vào cuộc sống đắc thắng.

Tóm tắt Phần Một.

PHẦN HAI: NHỮNG THÀNH PHẦN CẦN ĐƯỢC CHINH PHỤC

7. Thiếu nhi.

8. Người Lưu Tâm.

9. Người Hay Từ Chối.

10. Người Hay Từ Chối. (tt)

11. Người Không Quan Tâm.

12. Người Thiên Nhiên hay Xác Thịt

13. Người Vô Thần.

14. Người Theo Công Giáo La Mã.

15. Người Theo Công Giáo La Mã.(tt) Tóm tắt phần hai

 

PHẦN BA: NHỮNG TÀ THUYẾT HIỆN ĐẠI

16. Chứng Nhân của Giê Hô Va.

17. Chứng Nhân của Giê Hô Va. (tt)

18. Giáo Hội Sa Bát hay Cơ đốc Phục Lâm.

19. Hội Cơ Đốc Khoa Học

20. Hội Các Thánh Ngày sau. (Giáo phái MORMON).

21. Phong trào Tân Thời Đại.

Tóm tắt phần Ba

1. Tầm quan trọng của công tác chinh phục.

2. Những bước thành công trong công việc chinh phục.

3. Những câu Kinh Thánh cần học thuộc lòng

4. Những từng trải chắc chắn về Ơn Cứu Rỗi.

5. Thế nào là một cuộc sống đắc thắng.

6. Để bước vào cuộc sống đắc thắng. Tóm tắt phần một

 

Tầm quan trọng của Công Tác Chinh Phục

 

I. GIÚP ÍCH CHO CƠ ĐỐC NHÂN

Mat Mt 7:19
Thi Tv 1:3
ChCn 11:30
GiGa 15:16
Mac Mc 1:17
Cơ Đốc Nhân là một người trung tín ra đi làm chứng về cứu Chúa mình để tìm kiếm cho được linh hồn hư mất; đó là dấu hiệu hiển nhiên chứng tỏ người ấy lớn lên trong ân điển và trong sự nhận biết Chúa. Một Cơ Đốc Nhân không kết quả thì chẳng ích lợi gì hết. một Cơ Đốc Nhân giống như một loại cây được trồng và tự nhiên nó phải ra trái giống như cây táo ra trái táo, cây đào ra trái đào, Cơ Đốc Nhân phải sinh ra Cơ Đốc Nhân. Một người đã tìm thấy Đấng Chist và bước theo Ngài, lẽ đương nhiên là trở thành TAY ĐÁNH LƯỚI NGƯỜI . Bông trái của Đức Thánh Linh được nhìn nhận do kết quả của sự công bình. Bông trái của những đời sống công bình ấy chính là Những Linh Hồn . Đời sống chinh phục tội nhân sẽ giúp Cơ Đốc Nhân sống cách ngay thẳng. Nếu người ấy thật đang sống ngay thẳng, người ấy phải đi tìm kiếm những người lạc mất, phải nghiên cứu học hỏi Kinh Thánh, giữ gìn ơn cứu rỗi, chịu khổ về sự công bình và phục vụ Đấng Chist chỉ với một mục đích là làm vinh hiển Ngài.

 

II. BẢO VỆ HỘI THÁNH :
KhKh 3:16
Phi Pl 2:15-16
ITe1Tx 1:8
ITe1Tx 2:14
Cong Cv 1:4, KhKh 2:5
Exe Ed 3:17-19
Một Hội Thánh đang bùng cháy với sự say mê chinh phục những linh hồn chính là Hội Thánh lửa truyền giáo thì Hội Thánh đã đánh mất khả năng tự tồn . Phao lô đã lên án rằng thật là vô ích cho những Hội Thánh nếu không nắm giữ vững vàng Lẽ Thật của sự sống để bảo tồn loài người. Hội Thánh tại TÊSALÔNICA đã bùng lên với ngọn lửa Thánh để rao giảng tin lành cho đồng bào mình. Đấy không phải là Tình trạng bất bình thường, song chính là sự đơn giản bước theo những kiểu mẫu mà chính Đấng Chist đã thiết lập cho các Hội Thánh ở Giêrusalem và Giuđê. Hội Thánh phải truyền giáo hoặc bị suy thoái . Đây là sự xác nhận đích thực. Ở giữa một thế giới đầy tăm tối, một Hội Thánh nếu không chịu chiếu sáng ra thì chính là tự cắt bỏ chơn đèn mình . Chúng ta phải thành thật nhìn nhận rằng Hội Thánh phải ăn năn để được phấn hưng hoặc loại bỏ.

 

III. GÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG :

Khi một thiểu số Cơ Đốc Nhân trong Hội Thánh bắt đầu thật sự được phục hưng thì sớm muộn gì cả Hội Thánh được hưởng phước. Khi cơn phục hưng tràn đến đảo Lewis ở miền cựu Bắc vịnh Scotland 1949, thì những quán rượu bị đóng cửa, những nhà hát vắng khách, những tay nguyền rủa, chửi thề trở thành những ca sĩ tôn vinh Chúa, các bót cảnh sát biến nên những phòng cầu nguyện, và những mùi uế khí của tội ác được thổi tan đi bởi những làn gió hưng phấn. Vì Hội Thánh đã đánh mất chất mặn nên sự hủy hoại của các đoàn thể đã xảy ra. chúng ta đã cư xử cách sai lầm khi tránh xa những tay nghiện ngập, những người vốn bị xã hội ruồng bỏ, chúng ta đã buông những tảng đá kết án lên họ. Chúng ta phải đi đến cùng họ, than khóc vì họ, đau khổ cho chính số phận của họ hầu chinh phục được họ. Sứ mạng của chúng ta là : “Lo việc người đang luân vong, Sẵn vớt kẻ giữ dòng, Vì thương xót giúp chúng thoát ách, Xa mộ phần. Tuôn lụy vì ai long đong, để nâng ai tuyệt vọng, Truyền danh Jêsus bạn cứu ân Cho tôi nhân”.

IICo 2Cr 5:9-14Chúng ta không được phép để cho những ngăn cách giaó phái làm mờ đi khải tượng về sự chinh phục linh hồn cho Đấng Chist. Chúng ta cần được ban cho ân tứ say mê linh hồn tội nhân để có thể dẹp bỏ những ngăn cách đó hoặc trong giáo điều, giai cấp, màu da hay điều kiện sống.
Cả giới trẻ và già trong Hội Thánh đang mắc tội HÂM HẨM . Nếu tinh thần hâm hẩm này không phải là sự bội đạo, thì cũng mang danh Hội Thánh Tin Lành song không có một Tin Lành cho ai cả .
IV. BẢO TỒN SỨ SỞ:
SoXp 1:4-18
OsHs 4:1-6
EsIs 10:5
Gion Gn 3:1-10 Gion Gn 1:2
Thật không phải Babylôn tiêu diệ Gui đa năm 588 TC. Song là sự tái phạm. Cũng không phải nước Asiri đánh bại Israel mà chính là tội lỗi . Vì nhân sự của Đức Chúa Trời đánh mất vai trò nhân chứng về Ngàicho thế giannên những đấ quốc kia đã trở thành những con roi trong tay Đức Chúa Trời thạnh nộ dùng để phạt dân Ngài. Vì cớ Hội Thánh đã xa cách đường lối Đức Chúa Trời nên mọi nước trên thế gian bị sống dưới sự đe doạ của cơn đaón phạt kinh kiếp. Thành Nunive đã ăn năn và thoát khỏi cơn đóan phạt, nhưng Nunive không thể ăn năn cho đến khi Giôna chịu ăn năn .
Trước đây, mặc dầu chủ nghĩa vô thần bành trường khắp thế giới nhưng điều này không có nghĩa là Cơ Đốc Giáo bị thất bại. Tội lỗi đã khiến cho mọi người phải rùng mình và sự bạo tàn chính là cha đẻ của mọi sự hủy diệt. Nước Mỹ đã không biết tốn bao nhiêu tiền để lo kinh doanh vào rượu mạnh hơn là các hoạt động tôn giáo và phúc lợi xã hội. Sự kiện này nhắc nhở chúng ta về những dòng chữ viết trên tường trong thời Đaniên, ngoại trừ một sự ăn năn. Nếu những cố gắng truyền giáo nỗ lực của Wesley và Whitefield đã từng giải cứu được Anh Quốc ra khỏi những hiểm hoạ suy vong thì Hội Thánh Chúa ngày nay tại Mỹ quốc hay ở bất cứ nơi nào cũng có thể giải cứu đất nước mình ra khỏi sự đoán phạt nếu Hội Thánh cũng nỗ lực truyền giáo như vậy.
V. DANH ĐẤNG CHIST ĐƯỢC RAO GIẢNG KHẮP NƠI
Mat Mt 28:19
Mat Mt 13:38
IITi 2Tm 2:1
Cong Cv 1:8
Eph Ep 5:18
Nếu một Cơ Đốc Nhân được huấn luyện kỹ càng để trở thành Giáo Sĩ TẠI GIA thì người ấy cũng xứng đáng là một Nhà Truyền Giáo Hải Ngoại. Không một hội truyền giáo hải ngoại nào chịu phái đi một ứng viên ra cánh đồng truyền giaó thế giới mà ngay tại quê hương ứng viên ấy không có tấm lòng chinh phục tội nhân. Một chuyến viễn du xuyên Đại dương chưa hẳn đã làm nên câu chuyện truyền giáo. Cánh đồng truyền giáo là cả thế gian nên nhãn quan của các nhà truyền giáo trước nhất là phải để ý đến những miền chung quanh mình rồi mới đến những xứ xa hơn. Môt người đã nhận lãnh quyền phép từ trên cao, chắc chắn sẽ là một chứng nhân đắc lực tại Jêrusalem cà xứ Giu đê, rồi cho đến Cùng Trái Đất
VI. ĐẾN VỚI MỌI GIAI CẤP:
LuLc 14:21
GiGa 3:16
3:1-36
4:1-54
1:1-51
Mat Mt 9:9
LuLc 19:1-10
LuLc 23:43
GiGa 7:37-39
Công tác cá nhân chứng đạo rất quan trọng vì nó can thiệp đến mọi giai cấp. Vô luận giàu hay nghèo, trẻ hay già, thượng lưu hay hạ lưu, văn minh hay thất học, tôn giáo hoặc không tôn giáo, hiền lương hay bất lương Chứng Đạo Viên đều có thể tiếp xúc được với những linh hồn bịnh hoạn ấy. Đấng Chist đã tiếp xúc được từng người ở mọi giai cấp : Hạng lãnh đạo thuộc linh và tôn giáo Do Thái, người đàn bà Samari đầy tội lỗi, hạng đạo đức cá nhân như Nathanaên, hạng sẵn lòng mộ đạo như Anhrê, người bị trục xuất ra khỏi nhà Hội Do thái, Matiơ quan thuế vụ hay Xa chê tại sở thương nghiệp, tên trộm cướp bên thập tự giá, thảy đều được Ngài tiếp xúc và hướng dẫn cách riêng tư – Hội Thánh không nên ngăn cản sự phô bày Tin Lành Vinh Hiển nơi mỗi cá nhân – Vì Hội Thánh không phải lực lượng dự bị xong chính là sự ban phát trực tiếpmột nguồn nước sống sẳn sàng tuôn đổ mọi lúc cho thế giới đang khao khát.
VII. THÍCH ỨNG MỌI HOÀN CẢNH:
EsIs 55:1
Mat Mt 1:28
Phi Pl 3:10
RoRm 1:14-16
Công tác cá nhân chứng đạo rất quan trọng vì có thể thực hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào. Một người có thể đứng ở một góc đường trong đêm mưa bão để chinh phục một linh hồn cho Đấng Chist. Dầu dưới bầu trời nóng như thiêu đốt ở Phi Châu hay vùng tuyết rơi lạnh thấu xương như ở Antarctic Nam Cực, câu chuyện ngọt ngào của phúc âm vẫn có thể được các sứ giả của Đức Chúa Trời tường thuật.
Chân lý phúc âm cũng có thể được lan tuyền giữa những giới công nhân khác nhau, dù hô là nha sĩ hay bác sĩ, giáo viên hay giáo sư đại học, thợ cắt tóc hay công nhân lò gạch, thợ mộc hay
thợ may, luật sư hay thợ giặt, vận động viên hay diển viên, quan án hay thợ hồ. Công tác chứng đạo sẽ trạm trán với mọi giới tu hành, thầy tư tế hay nhà hành đạo, thượng tọa hay ni cô, đạo Mormon hay Tân phái, Ấn giáo hay Hồi giáo, Cơ Đốc khoa học hay Duy Nhất Thần Phái, Con người, dù họ là ai cũng có thể qua đời bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào. Vì thế những chứng đạo viên , là kẻ tìm kiếm những người lạc mất, phải kịp thời chặn đứng con đưởng dẫn xuống hỏa ngục để diù dắt bất cứ tội nhân ở dạng nào được đến cùng Cứu Chúa Duy Nhất là Đức Chúa Jêsus Christ.
VIII. HOÀN TẤT SỨ MẠNG ĐẤNG CHRIST GIAO PHÓ:
GiGa 14:15
Mac Mc 16:15
LuLc 6:46
GaGl 4:17
Exe Ed 3:17-19
Cong Cv 20:26
IICo 2Cr 5:10
KhKh 3:16
Xưa nay Hội Thánh để ý quá nhiều đến những Lời Hứa của Đức Chúa Trời nhưng lại quá chểnh mảng đối với những MẠNG LỊNH Ngài đã truyền. Sự không vâng phục là TỘI LỖI. Mạng lịnh lớn : “Hãy đi giảng Tin Lành cho muôn dân”, không phải là một lời thách thức, bèn là một mạng lịnh, một lệnh truyền đến từ Chúa. Tránh trở mạng lịnh là phạm tội cùng Ngài. Sự thất bại trong việc chinh phục linh hồn tội nhân cho Đấng Christ đã kết án chúng ta là những đầy tớ gian ác .
Hội Thánh đã thất bại tong công tác rao truyền Đấng Christ cách liên tục. Máu của hàng triệu người đang vấy nơi tay ta. Thế hệ hư mất của thời đại chúng ta sẽ lên án nghịch lại chúng ta trong ngày chúng ta hầu trước mặt Chúa. Sứ mạng giải cứu tội nhânra khỏi tội lỗi hồ lửa đời đời là mmột trách nhiệm quá rõ ràng.
IX. ĐƯA ĐẾN NHỮNG KẾT QUẢ LẠ LÙNG:
GiGa 1:14
Cong Cv 2:41
GiGa 15:8
IISu 2Sb 7:14
Anhrê đã dẫn dắt anh mình là Simôn đến cùng Chúa và Simôn đã chinh phục được hàng ngàn linh hồn cho Ngài. Kimball đã dẫn dắt Dwight Moody tin Chúa vì Moody đã chinh phục hàng ngàn, hàng vạn linh hồn ăn năn quy phục Chúa. Đức Chúa Trời sẽ vinh hiển khi chúng ta kết quả nhiều.
Hãy cùng nhau làm những việc lớn cho Chúa để rồi Ngài sẽ thi hành những việc lớn cho chúng ta. Thế hệ chúng ta cần được phần hưng, đó không những là một nhu cầu mà là một mạng lịnh.

CÂU HỎI BÀI MỘT
Điểm
8 1/. Những chi tiết nào chứng tỏ công tác chinh phục linh hồn là quan trọng ?
20 2/. Trưng dẫn thuộc lòng những câu Kinh Thánh sau đây : Thi Tv 1:3; ChCn 11:30; GiGa 15:16; Mac Mc 1:17.
10 3/. Những lý do nào kiến ta tin rằng mỗi một Cơ Đốc Nhân đều có thể là những tay chinh phục linh hồn ?
10 4/. Xin trưng dẫn Kinh Thánh chứng tỏ Hội Thánhthời các sứ đồ là Hội Thánh hăng say chinh phục linh hồn ?
10 /5. Tại sao sự bê trễ chinh phục linh hồn là điều đáng trách ?
5 6/.Xin cho biết ý kiến của bạn qua sách vở hoặc qua bài học về sự phục hưng giúp ích cho cộng đồng xã hội ?
6 7/.Căn cứ vào IICo 2Cr 5:9-14, xin nêu ra ít nhất 3 lý do khiến chúng ta phải cố gắng chinh phục linh hồn.
5 8/. Qua sách Giêrêmi, xin trình bày ngắn gọn nhưng rõ ràng tại sao Đức Chúa Trời cho phép nước Giu đa bị đày qua Babilôn ?
6 9/. Căn cứ vào SoXp 1:4-18OsHs 4:1-6 bạn thử định xem bao nhiêu người bị lưu đày ? (Nước Giu đa năm 588 TC và nước Israrel năn 721 TC).
3 10/.Có 3 nước nào bị cớ tội say sưa ?
5 11/. Xin thảo luận sự tương quan giữa truyền giáo quốc hội và tuyền giáo hải ngoại, cho biết ý kiến riêng của bạn ?
6 12/. Quan công tác chinh phục linh hồn, Chúa Jesus đã gặp mọi hạng người như thế nào?
6 13/.Xin cho biết về tầm quan trọng của công tác chinh phục linh hồn sẽ vượt qua mọi điều kiện như : Thời tiết, Nghề nghiệp, niềm tin.
6 14/. Xin trưng dẫn thuộc lòng các câu Kinh Thánh : GiGa 14:15, Mac Mc 16:15, LuLc 6:46 Gia Gc 4:17, RoRm 1:14-16.
5 15/.Xin mô tả đời sống Anhrê và giái trị của công tác cá nhân chứng đạo.
10 16/. Hội Thánh bạn có tin rằng Cá Nhân Chứng Đạo là công tác quan trọng không ? Xin thử đưa ra vài phương cách khích lệ Hội Thánh biết lo truyền giáo.
150 x 100 /150 = 100

NHỮNG BƯỚC THÀNH CÔNG TRONG VIỆC CHINH PHỤC
I. MỘT ẤM LÒNG TRONG SẠCH:
Thi Tv 51:10-13
IICo 2Cr 6:16, 7:1
IITi 2Tm 2:21
ChCn 28:13
ICo1Cr 3:16-17
IGi1Ga 1:4
IGi1Ga 1:7-10
IGi1Ga 2:1
Mat Mt 5:8
Mat Mt 5:13-14
Mat Mt 5:11-12
ChCn 4:23
IGi1Ga 1:5
Cong Cv 5:1-11
Để chinh phục dược linh hồn tội nhân, Đức Thánh Linh sẽ sử dụng chúng ta với tấm lòng trong sạch chứ không phải với một bộ óc thông minh. Chúng ta cần phải từng trải sự sưng tội, sự từ bỏ mọi điều ác để Tin Lành Đức Chúa Trời có thể biến lòng ta thành nơi ngự vui vẻ của Ngài hầu Ngài biến đời ta thành những chiếc bình xứng đáng để chinh phục những kẻ hư mất.
Một tấm lòng trong sạch sẽ xua tan sự buồn bã. Sứ đồ Giăng viết thư tín củaôngnhằm mục đích nhắc nhở con cái Đức Chúa Trời phải nếm biết sự vui mừng trọn vẹn. Vì sứ đồ của tình yêu này biết quá rõ rằng thú vui trong tội lỗi là thú vui torng hủy diệt. Vì vậy ông khuyên bảo mọi người phải luôn luôn giữ sự thông công với Đức Chúa Trời bằng cách xưng nhận tội lỗi mình, kêu xin sự tha thứ và sự thanh tẩy thiên thượng để từ bỏ tội lỗi cách dứt khoát. Lòng trong sạch chính là niềm vui trong sạch và hạnh phúc.
Những tấm lòng trong sạch chính là sự sáng của thế gian và muối của đất, là những đời sống thỏa thích vui mừng dù phải chịu bắt bớ về sự công bình. Những gì tuôn ra từ tấm lòng mới chứng thực cho đời sống. Mỗi Cơ Đốc Nhân trong mỗi Hội Thánh hãy làm cho sạch lòng mình để cho những đời sống như những đồng bạc bị mất sẽ được tìm thấy. Tội nhân sẽ chẳng bao giờ được cứu, thiên đàng sẽ mãi mãi thiếu niềm vui nếu tội lỗi vẫn cứ còn che dấu và ẩn núp trong lòng dân sự Đức Chúa Trời. thượng Đế sẽ là ánh sáng và một khi Hội Thánh bước đi trong sự giao thông với Ngài thì tội lỗi chắc chắn sẽ bị chỉ ra và bị loại trừ.
II. MỘT TẤM LÒNG DÂNG HIẾN:
RoRm 12:1-2
IICo 2Cr 5:14
ICo1Cr 6:19-20
Mat Mt 23:37 22:38;
IITi 2Tm 2:3-4
RoRm 12:2
HeDt 2:1-4
IICo 2Cr 5:11
TrGv 11:1-6
IVua 1V 20:39-40
Mat Mt 25:30
Mat Mt 7:15-20
GiGa 12:24
Những con cái được cứu chuộc Đức Chúa Trời sẽ vâng phục Chúa mình bằng tình yêu của Đấng Christ bởi cuộc sống hiến dâng và thờ phượng Chúa như một của lễ sống và thánh.
Tại sao chỉ có 5% những người được tái sanh dự phần vào công tác chinh phục ch Chúa những linh hồn? Vấn để căn bản là tấm lòng. Một khi họ đã không hết lòng, hết ý hết sức để yêu mến Đức Chúa Trời thì họ đã phá vỡ điều răn thứ nhất, điều đó có nghĩa rằng họ không giữ được điều răn thứ hai, là yêu kẻ lân cận như mình.
Một tấm lòng dâng hiến có nghĩa là một đời sống dâng hiến. Một đời sống đã dâng hiến rối thì không thể lựa chọn con đường dễ dàng để tráng né thập tự giá. Tinh binh của Đấng Christ sẽ sẳn sàng chịu khổ vì cớ Chúa Jesus, song những hạng người này thật hiếm hoi trong các Hội Thánh hệ phái Tin Lành. thật là sai lầm khi chúng ta sớm bị đồng hoá bởi thế gian, sai lầm khi chúng ta từ chối hiền dâng thân thể mình như một tinh thế sống, sai lầm khi chúng ta quen lờn với trào lưu của sự thờ ơ và bội đạo, những thái độ ấy đã khiến cho những linh hồn đã đi vào địa ngục mà chưa dược nghe một lời cảnh cáo nào từ chúng ta cả.Hội Thánh phải chấm dứt ngay tình trạng tự bào chữa mình và phải nhìn ngay vào những cơ hội. Những Cơ Đốc Nhân “Mùa Đông” thì nói “Lạnh Quá”, đến mùa hè thì “nóng quá”, mùa xuân sẽ lại nói “Bận quá” và chắc chắn “Mùa thu” sẽ nói “mệt quá” thì trong cõi “đời đời” sẽ “trễ quá” để ăn năn để đền bù lại những sai lầm. Hãy chấm dứt ngay sự sai lầm, hãy chấm dứt ngay sự hững hờ! Hãy chận đứng lại thái độ buông trôi! Hãy chống lại tinh thần vô trách nhiệm! Hãy hiến dâng thân thể anh em như một sinh tế sống cho Đức Chúa Trời là Thánh Linh. hạt giống gieo vào lòng đất sẽ tan rã song kết quả sẽ bội phần, gấp trăm lần hơn.
III. MỘT TẤM LÒNG ĐẦY THƯƠNG XÓT
Cong Cv 2:1-4
IICo 2Cr 5:14
GaGl 5:72
RoRm 5:5
Cong Cv 20:24
Cong Cv 20:31
IICo 2Cr 7:4
RoRm 9:3
Cong Cv 20:22-24
HeDt 2:14
LuLc 19:42
Thi Tv 126:6
Mat Mt 25:30
Eph Ep 4:15
Một tấm lòng trong sạch đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời sẽ được Thánh Linh làm cho đầy rẫy tình yêu gắn bó với Ngài. Yêu linh hồn tội nhân không phải là một cảm xúc thiên nhiên bèn là tình yêu của chính Đấng Christ ép buộc. “Nhưng trái tim Thánh Linh ấy là lòng yêu thương …”. nếu một người gắng sức để yêu kẻ hư mất, người đó chưa thật sự được tình yêu chính Đấng Christ chinh phục.
Phao lô đã được đổ đầy tình yêu thiên thượng nên ông không còn coi mạng sống ông là quý. Ông thật đã hy sinh trọn vẹn. Ông đã giảng bằng nước mắt đầm đìa, chịu khổ một cách vui mừng; vì có kẻ hư mất ông không những chỉ đau thương cho số phận của họ mà cònxót xa trong lòng vì cớ họ nữa. nhiều người đã đau đớn cho những kẻ thờ tà thần, đã kêu khóc cho tình trạng này, nhưng chỉ những ai thật lòng thương xót mới hành động! Phao lô sẳn
sàng cắt đứt khỏi Đức Chúa Trời để đồng bào ông được cứu. Ông đã sẳn sàng đi đến cùng họ
Ngay lúc họ đòi giết ông. Phao lô đã nhận được sự thương sót ấytừ chính Đấng Christ . sự thương xót đã khiến Đấng Christ sẳn sàng đối phó cùng Gôliát của sự giết chết để giải phóng chúng ta khỏi ách thống trị của Vua tối tăm. Đấng Christ đã khóc cho sự mù loà của giới lãnh đạo tôn giáo tại Jêrusalem. Nếu nước mắt thương xót của Cơ Đốc Nhânchịu đổ ra nhiều trên trái đấtthì chắc chắn sẽ giảm bớt sự khóc thancủa kẻ hư mất nơi địa ngục. không có sự hỗ trợ nào mạnh mẽ để chinh phục linh hồn bằng sự thương
xót. Một người ra đi chinh phục bởi lẽ thật nhưng nếu thiếu lòng thương xót có khi giết chết tội nhân hơn là giải cứu.
Nếu ra đi mà không bởi lòng thương xót thì chỉ xong công tác làm chứng đạo chứ không thể chinh phục được một ai.
IV. MỘT ĐỜI SỐNG TƯƠNG GIAO VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI:
GaGl 4:19
EsIs 4:31
Cong Cv 1:14
2:42
4:31
6:4
ITe1Tx 5:17
LuLc 18:1
ISa1Sm 1:27
Phao lô đã chiến đấu cầu nguyện cho sự cứu rỗi linh hồn tội nhân. Ông cầu nguyện trước khi họ được cứu và cũng cầu nguyện cho họ sau đó nữa. một Cơ Đốc Nhân thiếu cầu nguyện là một đời sống thiếu quyền năng. Những kết quả chinh phục linh hồn trong sách Công vụ bởi Đức Thánh Linh xuyên qua các sứ đồ chỉ có thể giải thích bằng những đời sống chiến đấu cầu nguyện mà Tân ước đã ký thuật. Không một ai có thể giao thiệp thành công với con người nếu đã không hằng giữ sự tương giao liên tục với Đức Chúa Trời. phải cầu nguyện và cầu nguyện không thôi. Cầu nguyện trước, trong và sau khi chứng đạo. . người mẹ khi sanh đứa con đã mang tặng, đẻ dau như thế nào; thì cũng vậy, thai nghén thuộc linh cũng đòi hỏi sự đau đớn, quặn thắt, sự chiến đấu cầu nguyện bằng mọi giá cho đến khi linh hồn ấy được sinh ra torng gia đình Đức Chúa Trờithì những chiến sĩ thuộc linh cũng có thể nói như bà Anne ngày xưa : “Vì cớ những đứa trẻ này mà tôi cầu xin và Đức Chúa Trời đã ban cho tôi y như điều tôi khẩn nài “.
Mat Mt 18:19
LuLc 11:1, 13
Mat Mt 6:6
GiGa 15:5
Exe Ed 3:17-19
KhKh 3:1
Bất cứ một chi hội nào cũng có thể được phấn hưng môt khi có một vài Cơ Đốc Nhân bắt đầu chịu chiến đấu, tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời một cách không ngưng nghỉ; để đòi cho kỳ được sự tuôn đổ Thánh Linh, với quyền năng chinh phụcnhững linh hồn. Bí quyết thành công này đã được phơi bàycho mỗi con cái Đức Chúa Trời, cho nên nếu không đạ được yêu cầu đó thì sự truyền giảng của chúng ta là vô ích. Khi một Hội Thánh ngưng chiến đấu cầu nguyên tức là ngưng phát triển. Một Cơ Đốc Nhân chểnh mảng kêu cầu tức là tái phạm tỏ tường tội kinh xuất số phận của các bạn bè thân thiết mình, vì đã không cảnh cáo họ con đường xuống hỏa ngục. Cơ Đốc Nhân ấy chỉ có tiếng là sống nhưng mà là đã chết .
 

V. MẶC LẤY QUYỀN PHÉP:
LuLc 24:47-49
Cong Cv 1:8
GiGa 16:7-11
RoRm 1:16
GiGa 1:13
Cong Cv 5:3-5
Cong Cv 4:24-33
Cong Cv 6:10
Điều kiện tiên quyết để thành công trong công việc chinh phục linh hồn chính là từng trải đặc biệt về sự mặc lấy quyền phép từ trên cao. Chỉ có quyền phép của Đức Chúa Trờimới có thể lên án và cải hoà tội nhân. Chỉ một mìng Đức Chúa Trời mới có quyền tái tạo và giải cứu họ. Và Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Lý do tại sao chính quyền Lamã hoặc toà Công Hội Do thái hay tất cả quyền lực của âm phủ cũng có thể chận đứng cơn phục hưng đã bao phủ các môn đồ ở phòng cao tại Giêrusalem, ấy là vì không có một thế lực nào ở trần giancó thể địch lại nổi Đức Chúa Trời vì Ngài là Chúa toàn năng . Thánh Linh là Đấng có quyền phép lớn lao phi thường. Con người dường như muốn hết sức mình để chận đứng những làn gió hoặc sức nước chảy ào ào của dòng thác Niagra như để ngăn chặn sự haành động của Thánh Linh, nhưng vô ích mà thôi.
LuLc 1:35
GiGa 3:8
GiGa 7:38-39

VI. GƯƠM CỦA THÁNH LINH
Eph Ep 6:17
HeDt 4:12
Cong Cv 8:26-38
IITi 2Tm 4:3
IITi 2Tm 3:16
Tit Tt 1:11
IITi 2Tm 2:24-26
Không một Cơ đốc nhân nào có thể chinh phục linh hồn thành công nếu không biết sử dụng Gươm của Thánh Linh là Lời của Đức Chúa Trời cho đến khi người biết cách áp dụng từng trường hợp một. Mặc dầu chúng ta không phải là những luật sư song chúng ta là những Nhân chứng , chúng ta biết cách cảnh cáo những người chê trách, phê phán, khớp miệng những tay ngụy biện, nhờ vào Lời Chúa được sử dụng cách bền bỉ, chịu khó và mềm mại để hướng sử dẫn những kẻ đối địch hầu gỡ họ ra những lưới rập của ma quỷ.
VII. MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ:
LuLc 19:10
GiGa 20:21
1/ Đừng bao giờ bắt đầu bằng sự phê bình Mat Mt 7:1
2/ Đừng bao giờ bắt đầu bằng sự lên án GiGa 3:17. Chúa không đến để kết án song để tìm và cứu kẻ hư mất. “Như Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các ngươi hể ấy.” GiGa 20:21
GiGa 4:20-21
EsIs 53:7
LuLc 23:9
HeDt 7:25
RoRm 1:16
3/ Đừng tranh luận. IITi 2Tm 2:24-26. Tôi tớ Chúa không nên tranh biện nhưng phải được lòng mọi người. khi gặp những tay biện bác hung hăng, chúng ta đừng nản lòng nhưng phải nhẫn nại, bền bĩ, mềm mại để thuyết phục họ. Xin Chúa giúp chúng ta giải cứu họ khỏi lưới của Satan.
4/ Đừng bao giờ chống cự ai: Mat Mt 10:16. ChCn 11:30. Dầu chứng đạo viên ra đi như chiên giữa dòng muông sói … song chúng ta đừng nên khích bác với tội nhân. Chúng ta phải trở nên giống như Cứu Chúa. đôi khi chúng ta cũng cần phải làm chứng bằng sự IM LẶNG , nín chịu hơn là phải nói LỚN TIẾNG . “Phải khôn ngoan như trắng và đơn sơ như chim bồ câu”
5/ Hãy bắt đầu bằng lời khen chân thành: GiGa 1:42-47. Chúa Jêsus đã chinh phục được lòng của Simôn (có nghĩa là đấ, cát), khi n hứa khiến ông trở nên Sêpha (nghĩa là ĐÁ CỨNG ). Một Simôn nông nổi hay thay đổi đã trở nên một Phierơ can đảm, đầy kiên quyết, có tia nhìn tràn ngập hy vọng về sự ra đi giải cứu tội nhân. Chúng ta phải học theo gương của Phierơ và nhìn xem những gì Chúa đã làm qua ông. hãy tin cậy Đức Chúa Trời và Phúc Âm của Ngài.
6/ Dùng lạc điểm hiện tại để giới thiệu những sự kiện đời. Qua LuLc 5:1-11 ta thấy khi các nngư phủ thất vọng trong nghề nghiệp của họ, họ chẳng mẩy may quan tâm đến vấn đề tôn giáo thì Chúa Jêsus liền dựa vào bối cảnh ấy để giới thiệu và đề nghị họ hãy sẵn sàng cho một công việc mới mà họ đã chịu đáp ứng. Họ đã sẳn sàng ngay cho công tác đời đời.
GiGa 4:1-14
7/ Hãy trình bày sứ điệp Thiên Thượng trong bối cảnh hiện tại của đối tượng, đừng vội vàng muốn họ giống như chúng ta. chúng ta hãy quên rằng những thuật ngữ tôn giáo của chúng ta như là những Tiếng Lạ đối với người chưa tin. chúng ta pah3i giải thíhc những chữ như: Được cứu , hư mất , tái sanh … Hãy học nghệ thuật đặt câu hỏi cho đến khi người nghe chịu mổ xẻ vấn đề. Hãy tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách ứng dụng những câu Kinh Thánh một cách chung chung.
8/ Hãy làm chủ vấn đề tìm cầu sự thông cảm. LuLc 5:1-11. Hãy chinh phục hoàn cảnh, hãy chăm chú đến công việc của người nghe nếu muốn người nghe chăm chú đến câu chuyện của Phúc Âm. Tuy nhiên, phải luôn nhạy bén tho sự hướng dẫn của Thánh Linh để can đảm lợi dụng lạc điểm mà trình bày chân lý một cách hữu hiệu. Đừng nói dông dài, hãy đi ngay vào cơ hội để chinh phục được linh hồn ấy cho Đấng Christ.

Câu hỏi bài 2
1/ 6 bước thanh công để chinh phục linh hồn trong bài nầy là gì?
2/ Thử đề nghị thêm 4 bước nữa
3/ Xin trưng dẫn tuộc lòng những câu Kinh Thánh: Thi Tv 51:10-13
4/ Xin trưng dẫn thuộc lòng câu IITi 2Tm 2:21
5/ Dùng Kinh Thánh chứng tỏ sự liên hệ giữa sự ngự trị của Đức Thánh Linh vuột đời sống thanh sạch, được biệt riêng ra cho Chúa?
6/ Theo bạn, thế nào là một đời sống thánh khiết và phước hạnh theo IGi1Ga 1:1-10?
7/ Xin trưng dẫn thuộc lòng RoRm 12:1-2. Theo 2 câu nầy có 3 điều kiện nào giúp chúng ta biết chắc ý muốn của Đức Chúa Trời?
8/ Xin trưng dẫn tuộc lòng IICo 2Cr 5:14. Qua câu nầy có những bước thành công nào cho công tác chinh phục?
9/ Theo Mat Mt 22:37-38. Thất bại trong việc yêu mến Chúa là một trọng tội. Tại sao?
10/ Xin trưng dẫn thuộc lònng IITi 2Tm 2:3-4. Đưa ra những điểm phân đoạn nầy đề cập đến một đời sông dâng hiến cho công tác ra đi chinh phục linh hồn.
11/ Ngoài tình yêu Đấng Christ, theo IICo 2Cr 5:10-11 thì còn có điều gì khích động chức vụ của Phaolô vì cớ những linh hồn hư mất?
12/ Dựa vào Kinh Thánh hay kinh nghiệm cá nhân, sự hững hờ trong việc tìm kiếm những linh hồn sẽ đưa đến hậu quả đáng thương nào?
13/ Hãy nhận xét kỹ càng thế nào các môn đồ đã được chuẩn bị đủ cho Ngày lễ Ngũ Tuần. Đoạn 1 của sách Công vụ các sứ đồ chuẩn bị thế nào cho đoạn 2?
14/ Trưng dẫn thuộc lòng Cong Cv 20:24. Từ câu nầy cũng như thương hạ văn,hãy mô tả lòng thương xót của Phaolô đối với kẻ hư mất
15/ Trưng dẫn thuộc lòng Thi Tv 126:6 Qua câu nầy có những bước thanh công nàotrong công việc chinh phục?
16/ Cho địa chỉ những câu Kinh Thánh nói về vấn đề. “Rao giảng Lẽ thật bằng tình yêu thương.”
17/ Thế nào là người say mê chinh phục linh hồn?
5+2

6 x 2
11
5 + 5
15 + 3
2 + 6
5 x 3
5 5
15 + 5
250×100/100=100
18/ Trưng dẫn thuộc lòng GaGl 4:19. Câu nầy dạy gì về sự cầu thay của phô đối với những người hư mất?
19/ Căn cứ vào 6 chương đầu của sách Công vụ, hãy mô tả bức tranh của sự cầu nguyện phấn hưng ?
20/ Hãy giải thích ISa1Sm 1:1-28. Thể nào bà ne hình bóng về những Cơ Đốc Nhân nhậnbiết tình trạng son sẻ của mình là sự kiện bất thường nên phải cầu xin Đức Chúa Trời giải quyết cho vấn đề ấy.
21/ Sự cầu xin quấy rầy theo LuLc 11:1-5418:1-43, có liên hệ gì về vấn đề chinh phục linh hồn?
22/ Trưng dẫn thuộc lòng Exe Ed 3:17-14. Đưa ra những trách nhiệm đối nại nào của người canh trong vấn đề chinh phục linh hồn?
23/ Điều kiện tiên quyết để chinh phục linh hồn là gì? Xin dùng Kinh Thánh để minh chứng và cho biết địa chỉ của 2 câu.
24/ Hãy trưng dẫn Kinh Thánh về quyền năng không thể kháng cự được của Đức Thánh Linh trong việc truyền giáo.
25/ Trưng dẫn thuộc lòng Eph Ep 6:17
26/ Theo Cong Cv 8:26-38, chứng đạo viên phải hiểu biết Kinh Thánh như thế nào để hướng dẫn tội nhân qui phục Chúa ? 27/ trưng dẫn tuộc lòng IITi 2Tm 2:24-26. Đầy tớ của Đức Chúa Trời phải là người thế nào đối với kẻ ưa tranh biện?
NHỮNG CÂU KINH THÁNH CẦN HỌC THUỘC LÒNG
Thi Tv 119:11
Sự cứu rỗi được ban cho như một món Quà, song sự hiểu biết về Kinh Thánh phải đến từ việc làm. Tác giả Thi Thiên đã xác nhận: “Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa” Điều nầy có nghĩa là “đặt một điều tốt trong một chổ tốt có mục đích”Học thuộc lòng Kinh Thánh không chỉ ích lợi cho sự tăng trưởng thuộc linh cá nhân mà còn là sự hổ trợ thiết thực cho công tác Truyền Giáo nữa.
Một vài học viên có thể sẽ bực bội vì phải học thuộc lòng quá nhiều câu Kinh Thánh trong mỗi bài học, song chúng ta không nên hạ thấp tiêu chuẩn nầy. Một câu Kinh Thánh không những chỉ học thuộc lòng mà còn phải học cho đến khi chúng ta nhớ nằm lòng, không thể nào quên được nữa. Vì vây các học viên phải cố gắng học thuộc để có thể trích ẫn một cách chính xác, ít nhất là những câu đã được đề nghị trong mỗi bài học, và một vài phương pháp ôn lại trọn câu và địa chỉ cho đến khi trọn vẹn.
Sau đây là một phương pháp học thuộc lòng Kinh Thánh:
1/ Viết câu Kinh Thánh cần học thuộc lòng trên tấm card 7x3cm. Nếu muốn học thuộc lòng câu Mat Mt 5:14 hãy viết câu Kinh Thánh ấy trên tấm card như sau :
2/ mặt kia của tấm card, chúng ta ghi địa chỉ của câu Kinh Thánh, đồng thời ghi số thứ tự tấm thẻ và câu Kinh Thánh thuộc bài học nào.
3/ Hãy học thuộc lòng câu Kinh Thánh nầy luôn với địa chỉ
4/ hãy đọc câu Kinh Thánh vừa học thuộc vào hộp thuộc về ngăn : Ôn Lại Hằng Ngày .
5/ Khi đã cảm thấy học thuộc câu Kinh Thánh ấy rồi, hãy đặt vào ngăn : Ôn lại Hằng Tuần
6/ Khi đã chắc chắn học thuộc lòng câu Kinh Thánh ấy rồi, hãy đặt vào ngăn: Ôn lại Hằng Tháng
7/ Khi đã thuộc lòng câu Kinh Thánh nầy không thể quên nữa, hãy dời nó ra khỏi hộp và bỏ vào một hộp khác: hộp của những câu Kinh Thánh đã thuộc làu cách chắc chắn
xin đừng chán nản và bỏ cuộc. hãy noi gương các Thánh Đồ. Hãy luyện tập đứ c tin một cách thận trọng. Những cố gắng đầu tiên là những bước khó khăn nhất, song hãy kiên trì, giống như bạn tập thể dục, càng tập, các bắp thịt càng ngày càng nở nang và rắn chắc. Hãy yêu mến học hỏi và sống với Thánh Linh .
Tại sao sự học thuôc lòng các câu Kinh Thánh là quan trọng:
I. ĐỜI SỐNG THUỘC LINH TĂNG TRƯỞNG:
IPhi 1Pr 2:2
IIPhi 2Pr 3:18
Gie Gr 18:16
HeDt 5:11-14
Sự tăng trưởng thuộc linh bao giờ cũng đi song song với sự thèm khát Lời Chúa. Như một trẻ sơ sinh kêu khóc đòi sữa để cơ thể được mau lớn thể nào, thì con cái Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu tâm linh bằng cách thèm khát Lời Chúa cũng thể ấy- Kém thiếu sự đói khát Lời Chúa là dấu hiệu rõ ràng về một đời sống nghèo nàn thuộc linh.
II. ĐƯỢC THẦN CẢM TRONG SỰ GIẢNG DẠY:
HeDt 4:12
IPhi 1Pr 1:23
Eph Ep 5:26
IITi 2Tm 5:26
Cong Cv 2:1-47
7:1-60
GiGa 14:26
Một bài giảng được dầm thấm trong Lời Chúa, sẽ đầy quyền năng và dễ bắt phục. Khi tâm trí chúng ta đầy dẫy Lời Chúa thì Đức Thánh Linh qua đó sẽ khiến người nghe chịu thuyết phục và thay đổi. Bởi Lời Đức Chúa Trời tâm linh con người được thánh hòa, nhờ Lời Chúa Cơ Đốc Nhân được mạnh mẽ . Đó là lý do Phao lô căn dặn Timôthê phải chuyên tâm giảng dạy lời Chúa và đã chinh phục vô số linh hồn vì Chúa. Khi lời Chúa được các đầy tớ Ngài đầy rẫy những Thánh Linh rao giảng, sẽ tạo nên những cơn phục hưng hoặc những biến động – Phierơ đã giảng lời Chúa và đã chinh phục vô số linh hồn cho Chúa, Êtiên cũng vậy nhưng lại bị ném đá. Trong mỗi trường hợp đều đã sử dụng phương pháp thuộc lòng . đức Thánh Linh sẽ nhắc cho chúng ta nhớ đến lẽ thật của Đức Chúa Trời khi chúng ta đã học thuộc lời Ngài.
III. THẠNH VƯỢNG TÂM LINH
Gios Gs 1:8
Thi Tv 1:1-8
GiGa 14:15
GiGa 14:21
Một tâm linh phong phú sẽ để thì giờ học hỏi và nghiền ngẫm Lời Chúa. Đức Chúa Trời đánh giá sự thành công của chúng ta không bằng tiền bạc nhưng bằng sự chúng ta hiểu biết và vâng lời theo Đức Chúa Trời. sự học thuộc lòng lời Chúa mới dễ giúp ta suy gẫm lời ấy ngày và đêm, và sự vâng lời là kết quả tất nhiên của một đời sống được lẽ thật hướng dẫn. Chúng ta phải vâng theo Lời Chúa đó là lý do khiến tâm linh ta được thanh vượng.
Bài hát sau đây đã chứng thực điều đó:
Tin cậy vâng lời?
Nào nhờ cách gì trong đời?
Muốn hưởng phước Thiên thượng ai ơi!
Hằng duy tin cậy vâng lời.
Dù học thuộc Lời Chúa là quan hệ song cũng chỉ là phụ thuộc khi so sánh với sự quan hệ phải bước theo linh của lẽ thật . Nếu một đời sống không chịu từ chối để mình để được Thánh Linh của Chúa Jêsus cai trị bởi Ân điển Ngài, thì thay vì ra đi Chinh Phục Linh Hồn, người ấy sẽ ngăn trở kẻ khác tin Chúa. Chúng ta rất cần trang bị Ân điển là lẽ thật. Nếu cần phải chọn điều gì trước, ta phải chọn Ân điển trước rồi mới đến lẽ thật. Trong Chúa Jêsus chúng ta đầy Ân và Lẽ Thật. Nếu chúng ta không thể chia xẻ Chân lý bằng tình yêu thì tốt hơn nên yên lặng. Mỗi Chứng Đạo Viên phải học thuộc lòng I Côrinhtô 13,nghiền ngẫm lã thật nầy cho đến khi tâm linh chúng ta được chìm ngập trong tình yêu của Chúa Jêsus rồi mới ra đi làm chứng. Một người như vậy chắc chắn sẽ sanh bông trái thì tiết vạm sự người làm đều sẽ thạnh vượng.
IV. XÁC TÍN MỘT CÁCH CÁ NHÂN
Thi Tv 119:42
Mat Mt 7:28-29
HeDt 4:12
Thi Tv 19:7-8
EsIs 1:8, Mat Mt 3:5
ITe1Tx 1:5 2:13;
IITi 2Tm 1:7
Cong Cv 5:29
Cong Cv 16:16-18
Phi Pl 2:14-16
Khi ra đi làm chứng, hãy để cho lời nói của chúng ta được dần thấm trong Lời Đức Chúa Trời . Lời nói của chúng ta rất yếu đuối và có lúc sai lầm nhưng “chứng cớ của Đức Chúa Trời đã chắc chắn ,làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan , giềng mối của Đức Giêhôva là ngay thẳng , làm cho lòng vui mừng ”. Lời làm chứng lộ thiên và những buổi ttruyền giáo ngoài đường phố sẽ trở nên quí báu, giốngnhư những âm vang về những Lời hứa bảo đảm chắc chắn, nên Chứng nhân phải nói với uy quyền. Nhưng uy quyền của chúng ta không dựa vào kinh nghiệm mà là trên LỜI CHÚA . Đôi khi chúng ta đã ra đi làm chứng một cách vô nghĩa. Những lời chứng của chúng ta thiếu đi sự tin quyết vào Chúa Thánh Linh. vì vậy, có nhiều lúc người nghe lấy làm lạ vì họ thấy chúng ta chỉ là những người tin suông mà thôi. Nếu Chứng nhân không tin chắc những điều mình rao giảng thì đừng mong người nghe hưởng ứng. Phi nhìn chăm người nghe và nói: “Đức Chúa Trời phán như vầy ”, để khuấy động và bắt phục tội nhân về sự cứu rỗi. Nhưng lời làm chứng bằng môi miếng ra từ những kinh nghiệm giả dối sẽ càng đưa người ngoan cố xuông hỏa ngục nhanh hơn.
Cong Cv 2:1-47
Mat Mt 3:3
Điểm 5 7
4
8
8
5
3 3 3 3
6
Vì rao giảng bằng Lẽ thật nóng cháy sẽ lôi cuốn người nghe, còn truyền đạt Chân lý với lòng băng giá hãy dẹp bỏ đi! Sốt sắng học Lời Chúa với lửa của Thánh Linh, chẳng bao lâu, bạn sẽ gây nên một Hội thánh bùng cháy. Có lẽ diễn đàng của bạn lúc đầuchỉ ở nơi đồng vắng hay trên một góc đường nào đó, nhưng nếu bạn hết lòng rao giảng thì Đức Chúa Trời sẽ khiến trở nên một kết quả lạ lùng.
Câu hỏi bài 3
1/ Trưng dẫn thuộc lòng Thi Tv 119:1
2/ 7 bước để học thuộc lòng một câu Kinh Thánh là gì?
3/ Xin niêu ra 4 lý do chúng ta phải học thộc lòng Lời Chúa.
4/ trưng dẫn câu Kinh Thánh và địa chỉ nói về một hài nhi trinh Đấng Christ được lớn lên
5/ trưng dẫn câu Kinh Thánh và địa chỉ nói về thái độ của Tiên tri Giê-rê-mi trong Lời Chúa
6/ Dùng lời riêng của bạn để mô tả tình trạng thuộc linh của một số người đọc đề cập trong HeDt 5:11-14
7/ Cho địa chỉ những câu Kinh Thánh nói về
a. Lời Chúa là Lời quyền năng
b. Lời Chúa còn đời đời
c. Lời Chúa thanh hóa đời ta
8/ Theo Gios Gs 1:8 thì sự thanh công của một Cơ Đốc Nhân tăng trưởng là gì?
9/ Tương phản giữa Người Công Bình và Kẻ Ac trong Thi Tv 1:1-8 là gì? Tại sao Đức Chúa TrờiĐức Chúa Trời ban phước cho người Công Bình?
3
5 16
8
12
7
4
15
10/ Kinh Thánh ở đâu chép Chúa Jêsus đầy Ân điển và Lẽ thật?
11/ Trưng dẫn thuộc lòng ICo1Cr 13:1
12/ Trưng dẫn 2 câu địa chỉ nói về giá trị của sự sử dụng Lời Chúa trong công tác Chứng đạo cá nhân.
13/ trưng dẫn câu Kinh Thánh nói Chúa Jêsus giảng dạy một cách có uy quyền.
14/ Theo ITe1Tx 1:5ITe1Tx 2:13, Hội thánh ở Têsalônica đã tiếp nhận Lời chứng của Phaolô như thế nào? Xin trưng dẫn từng câu một và gạch dưới câu trả lời.
15/ trưng dẫn thuộc lòng IITi 2Tm 1:7. Nếu tinh thần nô lệ cho sự sợ hãi không đến từ Thiên Chúa, thì đến từ đâu?
16/ Đọc qua Mat Mt 3:1-17 và viết ra bí quyết thành công của chức vụ Giăng Báptít.
17/ trưng dẫn thuộc lòng Phi Pl 2:14-16.
TỪNG TRẢI CHẮC CHẮN VỀ ƠN CỨU RỖI.
ITe1Tx ITe1:5
RoRm 1:14-16
ICo1Cr 15:1-4, 18
Tit Tt 2:11-13
IICo 2Cr 13:5.
HeDt 10:38
IGi1Ga 3:9
Gia Gc 2:14-17
ICo1Cr 15:2
IGi1Ga 2:4
IITi 2Tm 1:9
ITe1Tx 1:5-6
Tin lành bảo chứng đã được rao giảng được rao giảng đến thanh Têsalônica. Vì sứ đồ dũng cảm Phaolô đã tuyên bố rằng ông không hề hổ thẹn khi rao giảng Tin Lành quyền phép ấy ra khắp nơi khắp chốn. Ong mạnh dạn nói về quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin đến Đấng Christ là Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì tội lỗi loài người, đã được chôn và đã sống lại, “Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại, nhưng về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời”. Vì vậy Cơ Đốc Nhân đi ra rao giảng về điều mình tin, phảisáng quyết chắc chắn trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời rằng chính mình đã được giải thoát khỏi sự kiện cáo của tội lỗi trong quá khứ , khỏi quyền lực của tội lỗi trong hiện tại và khỏi sự hiện diện của tội lỗi trong tương lai .
Một người từng trải chắc chắn về ơn cứu rỗi không cần phải cố gắng trấn áp những những đòi hỏi của xác thịt để bị làm nô lệ cho sự tái phạm tội. Thì chắc chắn người ấy chưa thật sự được giải cứu đâu . Nếu những gì người ấy đã TIN mà không có tác dụng trong cách thế sống, thì đó là đức tin giả hiệu. một chứng nhân thành công trong việc chinh phục linh hồn phài biết rõ
và kinh nghiệm về quyền phép của Đấng Christ. không những người ấy không nghi ngờ gì về từng trải cứu rỗi mình mà còn phải được chính những kẻ nghe người chịu huyết phục vì cớ thấy rõ người thực sự là một tạp vật mới trong Chúa Cứu Thế Jêsus.
Bài nầy sẽ niêu ra phương diện chắc chắn của sự cứu rỗi:
I. BỞI LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
IGi1Ga 5:13
GiGa 3:36
GiGa 3:16
RoRm 5:1
Cong Cv 10:43
13:38
GiGa 5:24
GiGa 3:18
GiGa 3:16
GiGa 1:12
Eph Ep 2:8
GiGa 3:17
IGi1Ga 5:13; 5:10-12
Tit Tt 1:2
GiGa 17:17
HeDt 11:1
RoRm 10:9-10
Lời Đức Chúa Trời tuyên bố về kẻ tin 1/ Có sự sống đời đời 2/ Được xưng công bình 3/ Được tha thứ mọi tội lỗi 4/ Không đến sự đoán phạt 5/ Không bị hư mất 6/ Được quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời 7/ Được cứu Những chổ khác trong thư tín của mình, sứ đồ Giăng nói kẻ tin BIẾT CHẮC mình có sự sống đời đời. Cơ Đốc Nhân chấp nhận lời chứng của Đức Chúa Trời như một uy quyền tối hậu. Đức Chúa Trời không hề nói dối. Lời Ngài là thật. Những điều nầy không căn cứ vào cảm xúc nhưng trên đức tin . Đức tin là một sự xác tín chắc chắn rằng những gì Đức Chúa Trời phán là Chân Thật. Đức tin không phải là sự hy vọng. Tin Đức Chúa Trời không phải là hy vọng về một thuộc thể nào đó nhưng là BIẾT RÕ Đấng chúng ta tin một cách rõ ràng căn cứ vào những phán quyết thiên thượng . cũng không phải chỉ là những yếu tố tinh thần nhưng cũng là những vấn đề đạo đức nữa. Nó vượt qua lý trí để đi thẳng vào tâm khảm, cả hai lãnh vực lý trí và cảm tình, đầu và tim đều xác nhận rằng Đức Chúa Trời là THẬT . Và những gì Ngài ĐÃ PHÁN đều là chân thật.
II. CÔNG VỤ CỦA ĐẤNG CHRIST
HeDt 9:24 10:22;
Cong Cv 17:31
IGi1Ga 1:7
HeDt 9:22
IPhi 1Pr 1:18-19
RoRm 5:9
Sự đảm bảo chắc chắn về sự cứu rỗi được đặt trên nền tảng là Jêsus Christ đã làm thỏa mãn sự Thánh Khiết và sự công bình của Đức Chúa Trời về mọi tội lỗi của chúng ta. Khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại, Đức Chúa Trời bảo đảm rằng sự cứu chuộc cho loài người đã được hoàn tất. Ngài đã chịu hòa lại cùng loài người và loài người được kêu gọi là hãy hòa thuận với Đức Chúa Trời. bất cứ ai phủ nhận tuyệt đối về Huyết của con Đức Chúa Trời không tì vít, thì người ấy không hề được bảo đảm cho sự cứu rỗi vì :
1/ Huyết Chúa tẩy sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi
2/ Qua dòng huyết của Chúa, tội lỗi chúng ta được bôi xóa
3/ Chúng ta được giải cứu, nghĩa là bởi huyết Chúa, chúng ta được buông tha khỏi ách nô lệ của tội lỗi . Thánh Phierơ cũng nói rằnc giải cứu khỏi mọi sự hư không của cuộc đời vô mục đích và bởi huyết Ngài, chúng ta được cứu khỏi mọi chủ nghĩa của truyền thống con nguời. Đó là sự giải cứu trọn vẹn chắc chắn.
4/ chúng ta được xưng công bình bời huyết Chúa
5/ Qua huyết, chúng ta được chuộc khỏi mọi tội ác.
– Nói rằng Đấng Christ chuộc chúng ta, có nghĩa là qua sự chết của con Ngài, cơn thanh nộ công nghĩa của Đức Chúa Trời về tội lỗi của chúng ta đã được giải quyết. Sự đói hỏi công bình đã được đáp ứng, rằng qua sự kiện ấy đã khiến Đức Chúa Trời sẳn sàng tha thứ trọn vẹn mọi quá phạm, Ngài cất đimọi gian ác và ban cho tội nhân một địa vị công nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời Chí Thánh. Từ khước Đấng Christ như một lễ chuộc tội, tức là lao mình vào cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, nhưng tiếp nhận Chúa có nghĩa là thoát được cơn thanh nộ hầu đến.
HeDt 10:26
HeDt 10:17
Trong chương 9 và 10 của thơ Hêbơrơ, luận rõ về sự dâng “tế lễ một lần đủ cả” của Đấng Christ, khác hẳn mọi của lễ trong Thời Cựu Ước. Của lễ thởi Cựu Ước là sự lặp đi lặp lại, không phải là sự tha thứ dứt khoát, một sự nhớ lại tội lỗi chứ không phải là sự cất bỏ. Nhưng qua sự dâng tế lễ một lần đủ cả, Đấng Christ đã CẤT BỎ tội lỗi chúng ta đi. lời Đức Chúa Trời phán cùng kẻ tin Ngài rằng “Ta không còn nhớ đến tội lỗi của các ngươi nữa”
III. CHỨNG CỚ CỦA THÁNH LINH
RoRm 8:16
GiGa 16:13
Có nhiều Cơ Đốc Nhân biết cchắc chắn mình đã được cứu, dầu họ không thể trưng dẫn một câu Kinh Thánh và cũng có nhiều Cơ đốc Nhân biết rõ họ đã thật được tái sanh dầu họ không thể chứng tỏ được chỗ nào và lúc nào. việc họ biết chắc chắn mình được cứu cũng giống hệt như sự họ đang hiện hữu. Những sự kiện như thế có thật không? Đức Thánh Linh đã đoán chắc rằng những kẻ ấy là con của Đức Chúa Trời. Thánh Linh là Linh của Lẽ thật, Ngài không hề nói dối. Lời chứng của Ngài là đáng tin, lại cũng có một Linh đồng làm chứng ấy là tâm linh trong con người . Tâm linh ấy cũng làm chứng với Thánh Linh rằng kẻ nào bước theo Thánh Linh ấy là con cái của Đức Chúa Trời. Sự bảo đảm quyền làm con và quyền hưởng cơ nghiệp giúp tâm linh chúng ta làm chứng rằng chúng ta có thể kinh nghiệm chắc chắn về vai trò của Đức Thánh Linh :
RoRm 8:2
RoRm 8:4-5
RoRm 8:6-7
RoRm 8:4
RoRm 8:16-18
RoRm 8:26-27
RoRm 8:1
RoRm 8:35
RoRm 8:28
GiGa 15:26-27
GiGa 16:7-11
Cong Cv 6:10
GaGl 4:4-6
1/ Giúp chúng ta tự do khỏi mọi tội lỗi
2/ Giúp chúng ta bước theo Thánh Linh
3/ Giúp chúng ta hiểu theo Thần trí chứ không theo lý tánh.
4/ Được Đức Thánh Linh dẫn dắt.
5/ Sự đau khổ bây giờ xác thực cho sự vinh hiển sẽ đến
6/ Đức Thánh Linh cầu thay cách hiệu quả
Chương 8 của sách Rô-ma được khởi đầu bằng câu: “Không có sự định tội nào nữa”, kết thúc bởi “sự không có gì có thể phân rẽ chúng ta khỏi Đức Chúa Trời”, và đoạn giữa là : “mọi sự hiệp lại làm ích”. Những ý tưởng nầy phô bày một Cơ Đốc Nhân kiểu mẫu có đời sống hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Thánh Linh .
Khi một người được cứu bởi quyền năng của Đức Chúa Jêsus Christ, thì Thánh Linh kết hợp, Ngài ngự vào và chứng thực cho. những gì thuộc thế gian và sẽ bị kết án, bị thuyết phục và được thay đổi để Đấng Christ được tôn vinh. Đó là chứng cứ không thể bày bác được, là sự đảm bảo về đặc quyền của một tội nhân đã được giải cứu.
IV. MỘT ĐỜI SỐNG ĐỔI MỚI LẠ LÙNG:
IICo 2Cr 5:17
IICo 2Cr 5:17
Do phép lạ, thế giới đã được dựng nên, cũng sử dụng do phép lạ tội nhân cũng trở nên Thánh nhân. Một khi tội nhân quy phục Đấng Christ là mỗi lần chứng tỏ một phép lạ đỗi mới do Đức Chúa Trời. những phép lạ thay đổi ấy gồm có:
IICo 2Cr 6:14-18
IGi1Ga 3:14
5:1
2:4
2:15
2:29
3:9
Mat Mt 7:15-20
Mat Mt 13:30
RoRm 2:16
ITe1Tx ITe1:9
Mat Mt 18:3
1/ Sự khao khát thông công cùng những con cái thật của Cha.
2/ Một tình yêu chân thật của mỗi một phần tử trong gia đình Ngài.
3/ Một đời sống phục vụ.
4/ Sự ham mến thế gian và mọi sự trong thế gian nhường chổ cho tình yêu đối với Đức Chúa Trời.
5/ Một đời sống ngay thẳng.
6/ Chấm dứt mọi thói quen phạm tội
Nếu một người đang giảng dạy về sự cứu rỗi nhưng lại chưa từng rãi ơn cứu rỗi, đó là điều nguy hiểm! Nếu tiêu chuẩn của THánh Linh được xem như một phạm trù phân biệt giữ điều nầy với điều kia, thì Cơ Đốc Nhân bao gồm những hạng Cơ Đốc Nhân đóng kịch và giả hình .
Giăng, vị sứ đồ của tình yêuđã lên án rằng nếu những người không sống đúng với Lời họ rao giảng thì đó là những người giả dối.Dầu không phải là đoán xét nhưng xem trái sẽ biết cây. Lúa mì và cỏ lùng, cả hai đều được để cho lớn lên đến mùa gặt, nhưng trong những ngày cuối cùng ấy, sự phân biệt sẽ được rõ ràng và thật chính xác.
Có một số người đã qui phục giáo hội, giáo điều hay một giáo phái để trở thành một giáo sĩ hoặc một nhà Truyền Đạo, nhưng nếu họ không chịu qui phục Đấng Christ thì khốn nạn thay! Một trong những chướng ngại lớn nhất trong công tác chinh phục linh hồn, ấy là những người cho mình hiểu biết sâu nhiệm về Chúa nhưng lại có đời sống mâu thuẫn. Ngược lại, không có gì thuyết phục tội nhân hữu hiệu nếu có những đời sống thực sự được biến đổi. Đó là những hào quang rực rỡ của quyền năng cứu rỗi. Lời biện minh tốt nhất của Phúc âm chính là đời sống được biến đổi.
Điểm : 4 15+3
3 5 7×1 2×3
4
5
10×5 10×1
6×5
CÂU HỎI BÀI 4
1/ 4 phương diện đảm bảo sự cứu rỗi là gì?
2/ trưng dẫn thuộc lòng : RoRm 1:4-16 Tại sao Phaolô không hổ thẹn về việc rao giảng Tin Lành cho cả đế quốc La mã?
3/ Tin Lành theo ICo1Cr 15:14 là gì?
4/ Trưng dẫn thuộc lòng ICo1Cr 1:18.
5/ Theo Tit Tt 2:11-13 thì ân điển của Đức Chúa Trời có tác dụng gì trên chúng ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai?
6/ Mục đích những lời khích lệ trong IICo 2Cr 13:5HeDt 10:38 là gì?
7/ Hãy giải thích Kinh Thánh sẽ có tác dụng gì đối với những kẻ tin một cách luống nhưng?
8/ Trưng dẫn thuộc lòng IGi1Ga 5:3
9/ Trưng dẫn hai câu Kinh Thánh sau đây và cho biết mỗi câu có những lời hứa đảm bảo nào?
a) GiGa 3:36
b) GiGa 3:16
c) Cong Cv 13:39
d) RoRm 5:1
e) Cong Cv 10:43
f) GiGa 5:24
g) GiGa 3:18
h) GiGa 2:8
i) GiGa 2:8
j) IGi1Ga 5:13
10/ Huyết của Đấng Christ bảo đảm cho chúng ta như thế nào qua các câu Kinh Thánh sau đây:
a) 1:7
6 x 1
5 6
5+2
6×2
5+2
2
5
5 x 5 5 x 2
3
3
5
(238×100):238 =100
b) HeDt 9:22
c) IPhi 1Pr 1:18-19
d) RoRm 5:9
e) RoRm 3:25
11/ Ý nghĩa và tính chất của sự cứu chuộc là gì?
12/ Xin so sánh công tác tế lễ của Đấng Christ đã trọn vẹn trên thập tự giá với công tác chưa trọn vẹn trong Cựu Ước
13/ Trưng dẫn RoRm 8:16. Hai phương diện về phận làm con trong câu nầy là gì?
14/ Nêu ra 6 bằng chứng Đức Thánh Linh xác nhận kẻ tin thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời?
15/ trưng dẫn thuộc lòng Cong Cv 5:32. Câu nầy có liên hệ gì đến đề tài chúng ta đang học để làm chứng?
16/ Cơ Đốc Nhân dựa vào ai để lên án về tội lỗi của thế gian, về sự không công bình và về sự phán xét?
17/ Trưng dẫn thuộc lòng IICo 2Cr 5:17
18/ Trưng dẫn những câu sau đây và nói rõ từng câu về những phép lạ Chúa làm trong sự biến đổi đời sống kẻ tin:
a) IGi1Ga 3:14
b) 5:1
c) 2:29
d) 2:29
e) 3:9
19/ Câu Kinh Thánh nào cho chúng ta bié6t cách phân biệt một người là tốt hay xấu như cách chúng ta phân biệt trái vả và bụi gai?
20/ ITe1Tx ITe1:9 dạy gì về sự qui đạo?
21/ trưng dẫn thuộc lòng Mat Mt 18:3
THẾ NÀO LÀ MỘT CUỘC SỐNG ĐẮC THẮNG ?
ICo1Cr 3:1
3:1
3:3
3:4
5:2
HeDt 10:32-30
HeDt 5:14
IITi 2Tm 2:19
RoRm 8:29
Trong thơ viết cho Hội Thánh Côrinhtô , Phlô đạ phân biệt rõ hai hạng tín đồ: xác thịt và thuộc linh .
Hạng tín đồ xác thịt là con đỏ thuộc linh , hạng nầy lấy bản ngã làm trung tâm, chớ không phải Đấng Christ. bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, hạng người nầy luôn luôn bộc lộ sự phàn nàn và sự không thỏa lòng. Cũng có lúc tín đồ xác thịt lộ vẻ đáng yêu, ấy là những khi họ được nuông chìu mơn trớn,khuyên dỗ. Song chúng ta thấy họ chẳng bao giờ tăng trưởng. Hạng Cơ Đốc Nhân xác thịt cũng giống y như của Saulơ đầy dẫy sự ghen tương. Vì thế lúc nào saulơ cũng cầm sẵn trong tay ngọn giáo để sẵn sàng giết chết bất kỳ kẻ nào mà nhà vua nghi là sẽ chiếm vị mình.
Tín đồ xác thịt luôn gây chia rẽ anh em mình, tạo bè phái và kiêu căng. Người cói vẻ như hãnh diện về kinh nghiệm nào đó hãy còn lờ mờ trong quá khứ, nhưng lại thích đem ra sử dụng trong hiện tại như một đời sống gắng gượng xanh xao. Dù có lúc có vẻ thành công trong việc sử dụng thức ăn cứng, nhưng sớm bị trúng thực nên cứ lại phải ăn sữa. Người tín đồ xác thịt rất biếng nhác về những trách nhiệm thuộc linh. tất cả những điều trên không phù hợp với tiêu chuẩn thuộc linh mà Kinh Thánh đã đề ra. Vì vậy hỡi những ai tự xưng mình là Cơ Đốc Nhân hãy mau mau toát ra khỏi tình trạng tội ác ấy. Con cái thật của Đức Chúa Trời phải được nhìn nhận là giống hệt hình ảnh của Cha mình. Kiểu mẫu lý tưởng mà Tân Ước đã đưa ra cho mỗi con cái Đức Chúa Trời là một đời sống đắc thắng tội lỗi, thắng chính mình và thắng Satan. Một đời sống như thế không phải chỉ thể hiện trong một lúc đặc biệt nào đó mà phải là liên tục. Kiểu mẫu ấy được Thánh Linh trình bày dưới nhiều hình ảnh và dạng thức khác nhau: Hiểu biết Đấng Christ phải được tôn làm chủ ngôi lòng không quan trọng bằng chính mình phải thực hiện điều đó. một sự tranh chiến nội tâm sẽ diễn ra trước khi có sự đắc thắng. Đời sống bản ngã cố chống cự Thánh Linh sẽ có lúc kêu khóc thảm thiết: “Ai sẽ cứu tôi?” và chắc chắn sẽ được giải đáp: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”.
RoRm 6:14
IICo 2Cr 2:14
RoRm 7:24-25
GaGl 5:17
RoRm 7:24-25
I. CỰU ƯỚC :
Những Bức Tranh về Đời Sống Đắc Thắng trong Cựu Ước:
1/ Đồng Đi cùng Đức Chúa Trời: SaSt 5:22, HeDt 11:5
Hênốc chưa kinh nghiệm đồng bước đi cùng Đức Chúa Trời cho đến khi ông sanh ra Mêtusêla. Kinh nghiệm đáng quí đ1 được diễn ra trong 300 năm.
2/ Phải tống đuổi mẹ con của người Nữ Nô lậ: SaSt 16:21, GaGl 4:30-31.
Sự chấm dứt cuộc tranh chấp giữa íchmaên và Ysác, giữa Aga và Sara là hình bóng về trận chiến tâm linh giữa xáx thịt và Thánh Linh. cảm tạ Chúa về ngày giải phóng đó có thể xảy ra.
HeDt 3:4
RoRm 7:24-25
Gios Gs 5:2-9
CoCl 2:11
RoRm 5:12-21
GaGl 2:20
3/ Vượt qua Giôđanh: Gios Gs 1:2, HeDt 4:1
Có nhiều Cơ Đốc Nhân cứ lang thang quá nhiều trong sa mạc hoang vắng. Mục đích của Đức Chúa Trời là giải cứu dân Ngài ra khỏi ách nô lệ Ai Cập để đưa họ vào Đất Hứa Canaan (PhuDnl 8:7-10). Nhưng sự tiến chiếm Canaan chỉ được xảy ra khi chúng ta chịu vượt qua Giô đanh
4/ Chịu cắt bì tại Ghinh Ganh: Gios Gs 5:5
Ghinh Ganh là chỗ dân Ysơraên phải chịu cắt bì. Phép cắt bì có nghĩa là cắt bỏ mọi tội lỗi của xác thịt, mọi sự lằm bằm của dân Đức Chúa Trời trong chiến đấu và phải hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa để chiếm toàn xứ
5/ Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải loại bỏ người cũ và mặc lấy người mới, cũng như đã đóng đinh xác thịt rồi mới có sự sống mới. Cả lịch sử Cựu Ước cũng đã bày tỏ chân lý nầy:
a) không phải Ađam
+ Nhưng là Đấng Christ
b) không phải Cain
+ mà là Abên
c) họng phải Íchmaên
+ nhưng chính Isác
d) không phải Êsau
+ mà là Giacốp
e) không phải Manase
+ mà là Ép ra im
f) không phải Môise
+mà là Giôsuê
g) không phải Saulơ
+nhưng là Đa vít
h) không phải Ađônigia
LuLc 9:23
IGi1Ga 5:4
Eph Ep 2:1-3
+ Nhưng là Salômôn
Những hình ảnh trên đây dạy chúng ta nguyên tắc căn bản của đời sống Cơ Đốc Nhân đắc thắng là: “KHÔNG PHẢI TÔI NHƯNG LÀ ĐÁNG CHRIST ”.
II. TÂN ƯỚC : Nhiều phương diện khác nhau của một đời sống đắc thắng được T6an ước diễn tả:
1/ Đời sống trao nộp: RoRm 6:13, RoRm 12:1-2
Từ “Nộp mình” theo nguyên văn Hilạp, thì quá khứ (Aorist): Parastésate chỉ được dùng như một hành động dứt khoát của chúng ta một cách đặc biệt đối với Đức Chúa Trời. Nhưng trong RoRm 6:16, động từ trên lại được ở trong hiện tại diễn tiến và kéo dài , Paristánete. Nói một cách chung, có một thời điểm dứt khoát rõ ràng , Cơ Đốc Nhân đã chấm dứt , thôi lấy sức riêng mình để áp chế các chi thể và đã đầu hàng đã bằng lòng trao nộp mọi đem mê của mình cho một ĐẤNG DUY NHẤT có thể trị phục được, đó là Chúa Cứu Thế Jesus . Nhưng trên phương diện khác,sự thuận phục của đời sống nội tại được TIẾP TỤC MỖI NGÀY . Một đời sống đã phó dâng cho Chúa một lần đủ cả se không khó khăn gì để liên tục thuận phục Đấng Christ .
2/ Đời sống được Thanh Hóa: IICo 2Cr 7:1, ITe1Tx 4:3, 7
Một đời sống đắc thắng sẽ giúp chúng ta thắng được thế gian. Thế gian được hiểu là đời sống xã hội loài người đã loại bỏ quyền tể trị của Đức Chúa Trời, bị cai trị của các thế chế của Satan, thống trị và liên minh những tâm hồn những con người xa cách Đức Chúa Trời bằng cách lôi cuốn và cám dỗ về nhiều phương diện nhằm bóp chết sự thăng tiến thuộc linh. Trong IICo 2Cr 6:14-18, Cơ Đốc Nhân được lệnh truyền phải : “ra khỏi giữa chúng nó ”và sau đó là một lời hứa: “thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi . ta sẽ làm cha các nguơi , các ngươi sẽ làm con trai con gái ta , Chúa toàn năng phán vậy ”
Rồi qua IICo 2Cr 7:1-16, Chúa truyền dân sự Ngài phải làm cho sạch mình khỏi mọi dơ bẩn trong xác thịt và trong tâm linh. một lần nữa động từ Hi lạp thì quá khứ (Aorist) nhấn mạnh đến một yêu cầu thoát ly một cách dứt khoát không cần phải thực hiện lần thứ hai. Nhưng đi sai đó là một thì hiện tại kéo dài nhấn mạnh đé6n yêu cầu đeo đuổi một cách trường kỳ đời sống thanh khiết và tẩy sạch . Phải từng trải kinh nghiệm Đôi nầy. Nếu với một từng trải thuộc linh của 10 năm trước mà ngày nay không sanh một quả mới thì nào thì ích lợi gì! Tác giả thơ Côrinhtô thích mục đích những đời sống thành công trong hiện tại hơn là cứ nghe những quả cũ trong quá khứ mà trái nược cuộc sống hiện tại.
3/ Đời sống Dâng Hiến: RoRm 12:1-2
Sự dâng thân thể chúng ta cho Đức Chúa Trời qua Thánh Linh phải là một sự hiến dâng trọn vẹn. Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là thái độ và thực chất sự dâng hiến đó . Có nghĩa là phải dâng một của lễ SỐNG. khi một đời sống đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi thì không được phép lấy lại những gì đã đặt nơi bàn thờ. Của dâng thuộc về Ngài đời đời. Đáng thương thay cho kẻ nào ăn cắp Đức Chúa Trời cách trắng trợn. Có lẽ chúng ta không phải làhạng người như thế, nhưng trong sự thờ phượng hằng ngày, trong sự hưởng các ân huệ Ngài, trong ân điển vô hạn ấy và trong thái độ sống của chúng ta, chúng ta không biết rõ là mình ĐÃ LÀ CỦA RIÊNG thuộc về Ngài rồi .
4/ Đời sống đầy dẫy Thánh Linh: Eph Ep 5:18, Cong Cv 2:4
Biến cố Lễ Ngũ Tuần không phải chỉ là một sự kiện lịch sử. Các môn đồ đã được đầy dẫy Thánh Linh trong ngày ấy nhưng cũng là những đổi thay xảy ra trong suốt đời sống họ nữa. Biến cố ở Gôgôtha cũng là một sự kiện lịch sử nhưng nó chỉ có ý nghĩa đối với những ai đã có kinh nhiệm về cứu ân mà thôi. sự đầy dẫy Thánh linh là kinh nghiệm ắt phải có ,nhưng cũng còn có suy đầy dẫy liên tục nữa . Cách dùng của thì quá khứ dứt khoát (Aorist)ở đây trong Cong Cv 4:8, 31; 9:17; 10:44; 13:9 nói đến những kinh nghiệm cần thiết và tất yếu. nhưng vẫn còn có kình nhiệm liên tục nữa. Kinh nghiệm đã được đầy dẫy và cứ sẽ liên tục được đầy dẫy Thánh Linh được phô bày rõ ràng và chắc chắn trong các phân đoạn Kinh Thánh sau: Cong Cv 6:3-5, 11:24; 13:52, Eph Ep 5:18, GiGa 7:37-39.
5/ Đời sống đã bị đóng đinh: RoRm 6:10-11, GaGl 2:20
Có vài điều nào đó tất yếu về sự chết, nghĩa là nó kết thúc một loại sự sống. Theo bài nầy tức là nó chấm dứt cuộc sống của bản ngã, tiêu diệt cốt lõi của đời sống gian ác. Sự ích kỷ và tội lỗi. Mọi tội phạm đều ra từ tội ích kỷ, cách diệt trừ ác căn nầy chính là SỰ CHẾT. Và để chết đi người cũ một cách dứt khoát chính là phải ứng dụng hàng ngày sự đóng đinh xác thịt mình vào thập tự giá với Chúa Jêsus ở Gôgôtha.
RoRm 6:2, 11
LuLc 24:17
LuLc 24:25
LuLc 24:31-31.
6/ Từ Trãi Sự Phục Sinh: RoRm 6:4-11; CoCl 3:1
Một Cơ Đốc Nhân đắc thắng chính là chết đối với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời . Cúu Chúa Sống của chúng ta chiến thắng mọi quyền lực thù địch và Ngài thật đã sống lại. Nhưng ngày nay vẫn còn quá nhiều môn đồ đang đi trên con đường Emmaút đầy sợ hãi. Sự không tin và lòng cứng cõi của họ đã làm mù lòng họ. Họ rất cần một tấm lòng đốt cháy với đôi mắt được khai mở mà chỉ có Đấng Christ mới thực hiện được. Mặc dù chân lý về Chúa Phục Sinh đã tiềm tàng trong Kinh Thánh Cựu Ước trải qua bao thế kỷ và chính Đấng Christ đã dạy dỗ kỷ càng trước về sự thương khó và sự phục sanh của Ngài trong suốt cuộc đời chức vụ của Ngài cho các môn đồ, nhưng họ chẳng hề biết chân lý ấy. tuy nhiên có một ngày, một giờ, một giấy phút Cứu Chúa Phục Sinh đã hiện ra. Bị thuyết phục bởi sự kiện ấy, các sứ đồ đã đi ra làm chứng cho thế giới đang thù hịch họ và đã khiến hàng triệu người qui phục Đấng Christ . Sự thuyết phục ấy vẫn còn có hiệu năng làm chuyển động các môn đồ Đấng Christ cho công tác chinh phục linh hồn. Gặp gỡ Chúa Phục Sinh phải là một kinh nghiệm tất yếu cho một chức vụ chinh phục linh hồn thành công.
Chuyện kể rằng một ngày kia mà Martin Luther đã khoác bộ áo tang màu đen khi thấy chồng bà đã đánh mất sự can đảm. Khi nhà đại cải chánh hỏi rằng: “Ai đã chết?” thì bà trả lời: “Tôi nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã chết nên vẻ
SaSt 1:26, 28
RoRm 5:21-27
RoRm 8:35, 39
KhKh 12:11
Cong Cv 6:15
Phi Pl 1:13
Cong Cv 20:24
mặt ông ấy buồn bã ”. Ngày nay cũng có nhiều Cơ Đốc Nhân đánh mất sự can đảm như vậy. sự vô tín đã làm cho họ phiền muộn. Vậy sự nhận biết quyền năng của Đấng Đã Phục Sinh cho đờing mình chính là người từng trải cho sự đắc thắng.
7/ Một Đời Sống Dự Phần Cai Trị: RoRm 5:17; 6:14;, KhKh 12:11
Mục đích Nguyên Thủy của Đức Chúa Trời cho loài người là họ được quyền cai trị. Nhưng khi tội lỗi xâm nhập thì quyền cai trị đó đã bị đánh mất. Đấng Christ , đam thứ hai đã lấy lại tất cả những đặc quyền ,à con người đã đánh mất khi họ sa ngã. Và ân điển của Chúa đã vận hành trong nội tâm kẻ tin để họ đối phó vói mọi hoàn cảnh bên ngoài. khi một đời sống muốn qui phục Đấng Christ , phải nhường ngôi cai trị lòng
mìnhcho Đấng Christ . và ở trong Đấng Christ là Vua Muôn Vua, có nghĩa là quyền làm chủ đời mình đã chuyển qua cho Đấng Christ , Cơ Đốc Nhân thừa hưởng sự đắc thắng dư dật. Qua Đấng Christ , tội lỗi không còn hiện diện nữa. Bởi quyền năng của Đấng Christ và bởi Lời của Ngài, con cái Đức Chúa Trời trở thành kẻ chiến thắng ngay trong sự chết và cho đến chết. Tuy ở trong địa vị của một tù nhân, nhưng Phaolô đã sống như một ông hoàng. Ông đã viết một Thư Tín Vui Mừng cho Hội Thánh Phi-líp khi ông bị giam ở tại Lamã. Ông đã hoàn tất được trách nhiệm bởi lòng vui mừng vì cớ được Đấng Christ chủ trị và ông, trong ý nghĩa đó, xem mình là kẻ tù của Đấng Christ .
8/ Đời Sống Được yên Nghĩ:
HeDt 4:10 Mat Mt 11:29-30.
GiGa 1:15
HeDt 11:30
HeDt 4:10
2 5 4 + 20
10
10
35
10 + 5
15
20
Có hai sự yên nghĩ được đề cập trong Mat Mt 11:29-30. Sự yên nghĩ thứ nhất liên hệ đến sự cứu rỗi. Sự yên nghĩ thứ hai liên hệ đến sự phục vụ. Canaan là nơi yên nghĩ (không phải theo ý nghĩa vật lý) của dân Ysơraên. Nhưng đó là nơi họ chứng kiến những việc lạ lung mà Chúa đã thực hiện vì cớ họ. Bổn phận của họ là tin cậy và vâng lời . Công việc của Đức Chúa Trời sẽ tùy thuộc vào đức tin của họ. Khi một người ngưng làm việc, có nghĩa là thôi cậy sức riêng và để Chúa bắt đầu hoạt động thì chắc chắn không một ai có thể làm được những việc am Chúa làm. con người không thể nhưng Chúa có thể .
CÂU HỎI BÀI 5
1/ Phaolô đã đề cập hai hạng tín đồ nào?
2/ Xin mô tả một trong hai hạng tín đồ trên?
3/ Hãy trưng dẫn trong Cựu Ước một vài gương chứng về đời sống đắc thắng. xin giải thích bốn hình ảnh về đời sống đắc thắng.
4/ Giải thích RoRm 6:13, 16 và nói lên ý nghĩa cuộc sống trao nộp cho Chúa.
5/ Giải thích IICo 2Cr 7:1, qua câu nầy xin niêu phương cách để có được đời sống đắc thắng?
6/ Trưng dẫn thuộc lòng IICo 2Cr 6:14-18ITe1Tx ITe4:3-7.
7/ Trưng dẫn thuộc lòng RoRm 12:1, 2 và diển tả thế nào là một đời sống đắc thắng.
8/ hãy phân tích sự khác nhau giữa sự đầy dẫy Thánh Linh và tình trạng liên tục sẽ kết quả sau đó.
9/ trưng dẫn tuộc lòng Eph Ep 5:18GiGa 7:37-39
10
5 10
5
5 5
5
15 + 4
10/ Thế nào là một đời sống bị đóng đinh ? hãy cắt nghĩa qua Kinh Thánh, qua kinh nghiệm cá nhân hoặc qua tài liệu nào đó…
11/ Trưng dẫn thuộc lòng RoRm 6:11
12/ Sự phục sinh của Đấng Christ có liên quan gì đến đời sống đắc thắng của Cơ Đốc Nhân?
13/ Theo SaSt 1:26, 28 mục đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời cho loài người là gì?
14/ Điều chi đã cản trở mục đích ấy
15/ Ân điển đã can thiệp thế nào để đem lại sự chiến thắng tội ác?
16/ Theo RoRm 8:35-39, Phaolô đã diễn tả thế nào về Cơ Đốc Nhân là người đắc thắng có thừa?
17/ trưng dẫn tuộc lòng Mat Mt 11:29-30HeDt 4:10 và giải thích rõ ràng thế nào về một đời sống được yên nghĩ?
(200 x 100) : 200 = 100
ĐỂ BƯỚC VÀO CUỘC SỐNG ĐẮC THẮNG
KhKh 3:7
LuLc 1:53
KhKh 3:16
GiGa 1:14
Mat Mt 20:28
LuLc 19:10
Một đời sống Cơ Đốc Nhân thất bại chính là bóp chết khả năng chinh phục linh hồn. Thật khó để kết hợp hai bài học nầy thành một đề tài chung. Mặc dù đã có nhiều lời đề nghị trong bài trước về bản chất của một đời sống đắc thắng, nhưng đề tài nầy hãy còn nhiều trạng huống khiến nhiều người nên hướng bài học nầy về sự thực hành hơn. Nghĩa là làm sao cho họ có sự khao khát được kinh nhiệm cuộc sống đắc thắng ấy. Những người tự thấy mình “giàu có rồi, không cần cho nữa”, thì đề tài nầy chẳng giúp ích cho họ. Nhưng Đức Chúa Trời chúc phước cho kẻ nào có tâm linh nghèo khó và Ngài lại đuổi kẻ kẻ giàu về tay không. Hội thánh Laođixê đã khiến Chúa phải NÔN MỬA . Hầu hết những tín hữu trong Hội Thánh chúng ta rất cần biết điều nầy thì tỏ ra không quan tâm. Khi bàn đến đời sống Cơ Đốc Nhân đắc thắng, chúng ta thường mắc phải sai lầm nầy ấy là chỉ nói nó ở trên ngôn từ thôi. Một đời sống không chỗ chê trách được đánh giá hơn ngàn pho sách đầy luận lý. Có nhiều người tranh biện về thần học nhưng lại sở hữu ân điển quá ít. Chúa Jêsus là Đấng đầy rẫy Ân điển và Lẽ thật. Chứng cớ độc nhất về một đời sống được đầy dẫy Thánh Linh chính là bắt chược tâm tánh của Chúa Jêsus. Chúa Jêsus đã đến để phó mạng sống mình hầu cứu được nhiều người. Nên một người đầy dẫy Thánh Linh cũng sẽ sống cuộc đời tìm kiếm kẻ hư mất. Sau khi học xong bài nầy trước khi trả lời những câu hỏi, đề nghị học viên hãy quì gối kêu xin lời ứa ban cho Thánh Linh cách đầy dẫy. Học viên hãy ân cần cầu xin Đức Chúa Trời một cách nóng cháy để Ngài đáp ứng nhu cầu của mình cách tràn đầy. Nguyện xin Chúa giúp hết thảy các học viên kinh nghiệm sự bước qua Giôđanh để vào được Đất Hứa. Những bước dẫn vào đời sống thánh khiết không cố định và máy móc, nhưng ít nữa, 4 nguyên tắc sau đây: Nhận thức, Đầu Phục, Trao Phó và truyền đạt, sẽ giúp đưa Cơ Đốc Nhân ra khỏi vũng lầy thất bại để có thể đặt chân lên nền tảng vững chắc là Jêsus Christ của một đời sống đắc thắng.
I. NHẬN THỨC :
Phi Pl 4:19
Mat Mt 5:6
Gio Ge 1:20
2:12-19
IICo 2Cr 7:14
KhKh 2:3
Mat Mt 5:1-48
1/ Nhận thức Nhu Cầu Của Mình: EsIs 41:17, 44:3, Mat Mt 5:6, GiGa 7:37.
Phải thành thật nhận biết nhu cầu của mình. Thần của Đức Chúa Trời qua sách tiên tri Ê-sai giống như Nước Sống được chuẩn bị cung cấp cho kẻ bị chết khát. Đức Chúa Trời không bao giờ xài phí các ơn phước của Ngài, Ngài chỉ đáp ứng cho chúng ta đúng như NHU CẦU. Đối với người sắp chết khát thì nhu cầu là NƯỚC. đối với những miền bị hạn hán, cằn cỗi mọi sinh vật đều dùng nước, thì nhu cầu là MƯA. Khi nhà tiên tri Giôên thấy rõ nhu cầu của Siôn, ông kêu gọi họ hãy than khóc và ăn năn thanh khẩn để kêu xin ơn mưa móc và sự cứu giúp. Hội thánh ngày nay phải ý thức như vậy. Mỗi một cá nhân tín hữu phải thanh thật ăn năn trước khi nhận được cơn phấn hưng cho chính mình. Chúa không phán “Phước thay cho kẻ mạnh khỏe”, hoặc “Phước thay cho ai biết rõ được các bí quyết của đời sống”; nhưng chính là “Phước cho cho kẻ đói khát sự công bình vì sẽ được no đủ”. lịch sử các cơn phục hưng cho thấy Đức Chúa Trời không hề tuôn đổ Thánh Linh đầy dẫy trên bất cứ Hội thánh hay công đoàn tín hữu nào cho đến khi những người trong họ nhận thức đúng về nhu cầu của mình và cần kíp một sự can thiệp thiên thượng.
LuLc 24:49
LuLc 3:21
Cong Cv 1:14
Cong Cv 4:31
GaGl 3:2, 5
2/ Sự Cung Ứng Của Đức Chúa Trời: LuLc 11:1-13, GiGa 7:37-39.
Lời hứa ban Thánh Linh trong LuLc 11:13 đã cho thấy tầm quan trọng của sự cầu xin đốc đổ mới nhận được ơn phước. Một đời sống thiếu cầu nguyện chẳng bao giờ từng trải chắc chắn về Đức Thánh Linh. Đấng Christ đã cầu xin cho đến khi Trời mở ra và Thánh Linh ngự xuống . Các môn đồ cũng đã cầu xin Thánh Linh giáng trên họ ngày lễ Ngũ Tuần. cho nên: “Khi đã cầu nguyện thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh”. bất cứ nơi nào nhận thức đúng đắn về nhu cầu tâm linh thì nơi đó được ơn phước thiên thượng đáp ứng. Một đời sống cầu nguyện sẽ đến chổ yên nghỉ trong sự thông công với Đức Chúa Trời là Đấng đặt đức tin mình cách đơn sơ để xin cho được điều đã hứa.
II. ĐẦU PHỤC
SaSt 32:24-28
Eph Ep 4:5
1/ Đối với Đức Chúa Trời: RoRm 12:1 RoRm 6:13
Sự hòa giải đích thực giữa chúng ta với Đức Chúa Trời chính là một “sự đầu phục trọn vẹn” và “yên nghỉ hoàn toàn”. Nhưng đối với người xác thịt thì vấn đề nầy hầu như vô nghĩa. Vì xác thịt thù địch cùng Đức Chúa Trời, sẽ chống cự Ngài, không chịu khuất phục quyền tể trị của Ngài bao giờ. Để bước vào cuộc sống đắc thắng, chúng ta buộc phải ĐÌNH CHIẾN và buộc phải ĐẦU HÀNG Đức Chúa Trời hoàn toàn. Giacốp, cuối cùng đã khám phá rằng ông không thể chống cự nổi vị thiên sứ mà ông đã xáp chiến trọn đêm. Cuối cùng, trong sự thật bại vì bị thương ở bắp vế, ông đã đầu hàng Đức Chúa Trời và đã được biến đổi. Như bàn máy đánh chữ hoàn toàn được người sử dụng điều khiển thể nào, thì con cái Đức Chúa Trời hãy giao phó mình trong bàn tay điều khiển kỳ diệu của Chúa thể ấy.
2/ Đối với Đấng Christ ; LuLc 6:46.
Nhận thức quyền cai trị của Đấng Christ trong đời sống mình, đó là nếp sống bình thường của Cơ Đốc Nhân. “Chỉ có một Chúa”. Khi hoàn toàn biết mình thất bại, các thanh nhân kiên định lập trường về Chúa mình và không còn đặt nghi vấn cùng Đấng làm chủ đời sống họ nữa.
3/ Đối với Đức Thánh Linh: RoRm 8:14
Một Cơ Đốc Nhân thực thụ chẳng khác gì một con ngựa chứng trong bầy, hô không chịu phục, nếu họ chịu phục, chịu huấn luyện thì hữu dụng biết bao. Một Cơ Đốc Nhân đắc thắng chắc phải trải qua kinh nghiệm đó để xác chứng là mình đã đầu phục Chúa tức là Thánh Linh.
III. TRAO PHÓ
Dan Ds 5:5-7
LeLv 6:1-7
Mat Mt 5:23-24
Mat Mt 9:9
Eph Ep 2:8-9
Mac Mc 10:28
LuLc 14:33
Mac Mc 10:30
LuLc 6:38
RoRm 12:2
1/ Quá phạm: IGi1Ga 1:9
Đức Chúa Trời phải tẩy sạch những chiếc bình rồi mới tuôn đổ Thánh Linh Ngài vào. Mọi tội lỗi, mọi thất bại của qua khứ phải được xưng ra. để được phước và những ơn lành, gia đình ta phải sửa lại mọi trật tự và mọi vi phạm phải được xưng ra. như lời đã hứa, bất cứ ai xưng tội mình cùng Đức Chúa Trời, tin cậy một mình Ngài mà thôi, thì Ngài tha thứ mọi tội và làm cho chúng ta sạch mọi tội bất nghĩa.
2/ Mọi sở hữu: Mac Mc 10:29-30.
Gia đình, bạn hữu, mọi mong ước về danh vọng, địa vị, vật chất và mọi sự hưng vượng về đời nầy chẳng bao giờ được liên minh với người làm môn đệ của Đấng Christ , là người nhận được sự kêu gọi thánh từ trên cao. dầu người đang làm ruộng hay buôn bán, đang có một nghề nghiệp hay một chức vụ nào đó thì tiếng gọi phục vụ Chúa phải được đáp ứng TRƯỚC NHẤT . Sự kêu gọi nầy, sự dâng hiến nầy đắt quá phải không ? Để được cứu chúng ta không tốn gì cả nhưng để bước theo Chúa chúng ta phải TÍNH LẠI ĐIỂM MỘT. Người theo Chúa, cổ phần thiên thượng thật lớn thay, gấp trăm lần hơn. Thật vậy, ý Chúa muốn nói là nếu chúng ta tính ra được vì nó bội gấp trăm lần hơn. Có lẽ theo toán học sự ước tính nầy là Một ngàn phần trăm (1000%) Theo toán học của Đức Chúa Trời thì “ mất tất cả tức là được tất cả và càng phân phát ra mỗi điều ta có chính là làm cho ơn phước sẽ tăng gấp bội ”. Chẳng ai bất gì hết
nếu bây giờ họ chịu thua lỗ lợi lộc trần gian để đeo đuổi một đời sống thật trọn vẹn phước hạnh theo ý muốn Đức Chúa Trời.
IV. TRUYỀN ĐẠT
Mat Mt 3:11
GaGl 5:22-23
6:1-2
GiGa 20:19-22
GaGl 6:1-2
1/ Dâng hiến đời sống để phục vụ và gây dựng Hội Thánh: ICo1Cr 12:12-27
Một đời sống chỉ bày tỏ sự dâng hiến chiếu lệ, trước đám đông, trước chổ cầu nguyện hoặc thánh ở một nơi đặc biệt thì chưa xứng đáng. Đức Chúa Trời muốn mọi thánh đồ của Ngài sốt sắng thờ phượng Ngài thì cũng sốt sắng hầu việc Ngài. nếu một người chỉ nói yêu Chúa mà không chịu làm việc cho Ngài thì chẳng có gia trị chi. Nếu đã gặp gỡ được Ngài ở phòng cao thì rất tốt, nhưng lại lẫn tránh công việc ở nơi thấp thì thật đáng trách. Người ấy đáng bị lên án. Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho kẻ biết vâng lời. Mạng lịnh của Ngài quá rõ ràng: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người”.
Nếu một người thật được phục hưng, người sẽ đốt nóng những chức vụ hâm hẩm, cha lành mọi kẻ đau đớn về thể xác và tâm linh. còn quá nhiều tín hữu đang bị thương trầm trọng về đời sống tâm linh. Họ cần được chữa lành. Nếu kẻ nào khai thông được con đường cho Nước Sống tuôn chảy, thì Đức Chúa Trời sẽ chịu trách nhiệm cung ứng không hề thiếu. Mỗi đời sống đầy dẫy Thánh Linh sẽ khiến cho cả HỘi thánh được tràn đầy ơn phước. Nguyện chúng ta sẽ là kẻ tìm cầu ơn phước của đời sống thánh khiết, tràn đầy Thánh Linh và đắc thắng, những đời sống ấy sẽ khiến vô số người khác được hưởng phước.
RoRm 1:14
Điểm 15
10
5
5
5 15 10
15
5
10
2/ Đối với thế giới: Cong Cv 1:8; RoRm 1:14-16
Cơ Đốc Nhân là nhưng CON NỢ. họ mắc nợ cả thế gian về Phúa Âm Cứu Rỗi. Và bằng chứng rõ ràng nhất của một đời sống đầy dẫy thanh linh chính là làm chứng về Chúa bằng lời nói và đời sống mình dù ở bất cứ nơi nào .
CÂU HỎI BÀI 6
1/ Trưng dẫn thuộc lòng : EsIs 41:744:3
từ những câu nầy xin giải thích điều kiện tiên quyết để bước vào cuộc sống đắc thắng là gì?
2/ Tổng lược sách Giôên, qua đó chúng ta thấy nhà tiên tri cũa Lễ Ngũ Tuần đã kêu gọi và cảnh cáo sự ăn năn để được phục hưng là gì?
3/ Xin đưa ra vài nguyên tác cuộc sống phướchanh theo Mat Mt 5:1-14
4/ Theo Gia Gc 5:16-18, tiên tri êli đã cầu nguyện xin MƯA như thế nào? Ngày nay Hội thánh cũng cần phải làm gì?
5/ Xin giải thích LuLc 11:13 theo ý bạn.
6/ trưng dẫn thuộc lòng GiGa 7:37-39.
7/ Bạn áp dụng câu trên như thế nào để giúp cho người muốn bước vào cuộc sống phong phú?
8/ trưng dẫn tuộc lòng RoRm 12:16:13, xin giải thích rõ ràng sự đầu phục. Vì sao khó có thể khiến người ta đầu phục để làm theo ý Chúa?
9/ Làm thế nào để nhận thức được quyền tể trị của Chúa giúp chúng ta biết đặt những quyết định đúng đắn cho đời sống?
10/ trưng dẫn thuộc lòng: RoRm 8:14. Gaỉi thích tóm tắt câu nầy về vai trò của Thánh Linh và sự liên hệ giữa chúng ta với Ngài.
10
15
10
20
(150×100) = 100
11/ trưng dẫn thuộc lòng: IGi1Ga 1:9. Theo câu nầy tình trạng của chúng trong quá khứ, hiện tại và tương ali sẽ thế nào?
12/ trưng dẫn thuộc lòng: Mac Mc 29:30. Câu nầy dạy chúng ta thể nào về một đời sống dâng hiến cho Chúa?
13/ Nêu ra một số phước hạnh mà Cơ Đốc Nhân phải chuyển đạt cho Hội Thánh theo những câu Kinh Thánh đã được trích dẫn.
làm sao để trả món nợ nầy?
14/ Cơ Đốc Nhân mắc nợ ai? Theo RoRm 1:14-15 thì làm sao để trả món nợ nầy? Xin trưng dẫn thuộc lòng RoRm 1:14-16
TÓM TẮT PHẦN MỘT Mục đích của 6 bài học đầu trong loạt bài CHINH PHỤC KINH HỒN là nhằm chuẩn bị TÂM LINH, một công tác hàng đầu. Phần tiếp theo của bài học là nhưng phương cách giúp chúng ta làm chứng cho nhiều thành phần. Trước khi bắt đầu Phần Hai, mỗi học viên hãy tự hỏi mình rằng: “Chúa có hài lòng về đời sống cá nhân của tôi trong lúc nầy chăng?” Bạn có thật được tẩy sạch, có lòng tận hiến, sốt sắng và giữ sự thông công thân thiết với Chúa mình không? Bạn thật được đầy dẫy Thánh Linh chăng? Có sốt sắng học thuộc lòng các câu Kinh Thánh, có trải lòng ra sẵn sàng đáp ứng với đòi hỏi dưới ánh sáng của Lời Ngài không? Bạn có tin chắc vào lời Chúa, có hật được bảo đảm từ Hưá Ngôn ấy, công việc Ngài, Thánh Linh Ngài và đổi mới, nghĩa là được kinh nghiệm sự tái sanh theo tiêu chuẩn của Kinh Thánh chưa? Bạn có đang kinh nghiệm cuộc sống đắc thắng? Là hạng tín đồ xác thịt hay thuộc linh? Có đầu phục Chúa trong mọi đường lối, có để Thánh Linh Chúa chủ trị mọi sự mình có không? Có nhờ cậy ơn điển của Chúa để chia sẻ ơn phước không? Có nhường ngai lòng mình để tôn Chúa lên ngôi tể trị không? Có từng trải cuộc tranh chấp thuộc linh nội tâm quá khứ? Có được bình an trong hiện tại chăng? Nếu chưa, ngay giây phút nầy trong mọi lúc, bạn hãy để cho Đức Chúa Trời có cơ hội làm mới lại tâm linh bạn bằng sự tìm kiếm Chúa mỗi ngày.
THIẾU NHI
I. ƯU TIÊN PHẢI TRUYỀN GIÁO CHO THIẾU NHI:
Trong tác phẩm sau nầy với nhan đề sự qui đạo trong tuổi thơ ấu , tấn sĩ Charles Haddon Spurgcon đã viết: “Một số trẻ em bị bỏ rơi vì cớ chúng đã bị lãng quên. Nhưng giá trị linh hồn không tùy thuộc vào hạng tuổi. Đức Chúa Trời ắt tha thứ cho ai biết mình đã từng khinh thường các trẻ em. Bạn có giận khi tôi cho rằng cứu một thiếu nhi hơn cứu một người lớn? Dù Ân Điển Chúa kịp thời cứu một cụ già 70 tuổi, song đời sống già nua ấy còn làm được việc gì cho Ngài? Khi chúng ta đã đến tuổi 50 hay 60 rồi, nếu suốt quãng đời đó đã dâng cho ma quỷ cai trị thì còn lại cái gì cho Đức Chúa Trời? Nhưng những thiếu nhi gái trai đầy thương mến nầy nếu được chinh phục sớm sẽ ích lợi vô cùng. Nếu bây giờ chúng dâng mình cho Chúa, thì sẽ có một cuộc sống lâu dài trong Phước Hạnh và Thánh Khiết để có thể phục vụ Chúa suốt đời.
Người viết chương nầy nhắn nhủ với mỗi một Cơ Đốc Nhân mỗi một gia đình Cơ Đốc hãy lưu tâm đến trẻ em, hãy đem đến cho chúng sự cứu rỗi trọn vẹn khi chúng còn ở trong vòng 10 tuổi. Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn chúng ta thu hái những quả mới nầy đúng lúc. Khi trẻ đã được huấn luyện nhuần nhuyễn sẽ sớm trở thành một Cơ Đốc Nhân chân thật, cũng như sẽ sốt sắng và nhiệt thành trong công tác Hội Thánh.
Có nhiều bậc cha mẹ hay đàn anh, nhưng Cơ Đốc Nhân lớn tuổi đã làm cho thiếu nhi vấp ngã. Cha mẹ nói yêu con cái mình nhưng lại chống đối, phỉ báng đầy tớ Chúa cùng các con cái khác của Chúa, hành động của họ có gian ác không? Thật đau đớn thay nếu cha mẹ trở thanh kẻ giết con mình. vì thế, sự truyền giáo cho thiếu nhi phải đưởc cổ vũ mạnh mẽ trong mỗi gia đình, mội Hội thánh một cách xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời vì cớ linh hồn của chúng ta vì cớ Đấng Christ .
Đấng Christ đã dạy dỗ về tầm quan trọng phải Chinh Phục Linh Hồn thiếu nhi cho Ngài. Trong cả ba Phúc âm đề cập nhiều đến lời Chúa dạy về thiếu nhi và bậc làm cha mẹ. Nhưng chữ “ĐỨA NHỎ” được dùng đi dùng lại trong Mat Mt 18:1-4; 19:3-5; Mac Mc 10:13-16LuLc 18:15-17. Mạng lệnh của Chúa là “ĐỪNG CẤM CHÚ`NG NÓ” hay “ĐỪNG KHINH DỄ CHÚNG NÓ”. Và mạng lệnh quan hệ trong Mat Mt 18:6 ngăn cấm chúng ta gây vấp phạm cho bất cứ “MỘT ĐỨA NÀO TRONG NHỮNG ĐỨA NHỎ NẦY” thật trang trọng thay. Nếu không, chúng có thể bị tiêu diệt. Ví dụ của Chúa trong Mat Mt 18:10-14 về con chiên đi lạc, ngụ ý rằng Chúa muốn nói về thiếu nhi . Ngài nói “những đứa trẻ nầy là kẻ tin ta ”nhấn mạnh rằng trẻ em có thể trở thành những Cơ Đốc Nhân . Ngài muốn nói rằng trẻ em bị ngăn trở sẽ cảm thấy buồn tủi chứng tỏ rằng nó có đủ khả năng tin nhận , trong khi đó sự truyền giáo cho người lớn đòi hỏi họ phải chạy đến với Chúa để được cứu với một quyết định mạnh mẽ.
Kinh Thánh không giới hạn lứa tuổi nào mới cần ăn năn tin Chúa. bài thơ sau nầy do Edith Goreham Clark cho đăng trong tạp chí Trường Chúa Nhật , đã đặt vấn đề trên một cách tha thiết:
PHẢI ĐỢI ĐẾN TUỔI NÀO
“Mẹ ơi”, cô gái nhỏ thưa mẹ
“Xin nói cho con biết,
nếu con muốntrở thanh một Cơ Đốc Nhân
phải đợi đến tuổi nào
“Hỡi con cưng của mẹ
phải đợi đến tuổi nào?”
thì: “Khi nào con biết yêu mẹ”
“Mẹ ơi, lúc nào con cũng yêu mẹ,
yêu mẹ từ khi con hãy còn bé thơ
“Con sẽ yêu mẹ mãi mãi,”
cô gái nhỏ xin thưa
Nơi bờ vai mẹ
Con mãi mãi nghiêng đầu.
“Hỡi con gái ta:phải đợi bao lâu nữa?
À, trước khi con biết tin cậy ta.”
“Thưa mẹ, con xin hứa
lúc nào con cũng tin tưởng mẹ.”
“Hỡi con: Phải đợi bao nhiêu tuổi?”
đợi khi con biếtlàm theo ta.”
Cô gái nhỏ nhìn lên và nói:
“Con vâng lời mẹ kể từ hôm nay”
“Cũng vậy, hỡi con, nếu muốn là một Cơ Đốc Nhân,
Đừng đợi khi nào con khôn lớn
Hãy nói với Chúa Jêsus rằng
“Thưa Chúa bây giờ con xin đến
để trở thanh con của riêng Ngài”
Cô gái nhỏ đơn thành quỳ xuống:
“Lạy Chúa”nếu được thì hôm nay
Con muốn trở thanh một Cơ Đốc Nhân”
Chúa đáp: “Phải … ngay chính giờ nầy.”
II. PHƯƠNG CÁCH TRUYỀN GIÁO CHO THIẾU NHI:
Nhớ lời cầu nguyện và truyền đạt Phúc Âm cứu rỗi cách đơn giản, Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ hành động trong tâm khảm của thiếu nhi. Bất cứ một giáo viên hay cha mẹ của đứa trẻ hay người mà nó tin cậy, có thể đặt một câu hỏi cùng nó rằng: “Em có món nhận lãnh món qua cứu rỗi, tức là mời Chúa Jêsus ngự vào lòng em không?” nếu đứa trẻ sẵn sàng nói: “Dạ, con muốn”, thì bạn hãy mở Kinh Thánh ra, tìm một chỗ yên tĩnh, và nói cùng em:
1. Một vài câu hỏi rồi cầu nguyện
2. Đặt quyển Kinh Thánh vào tay thiếu nhi, và chỉ cho em đọc câu RoRm 3:23. Hãy hỏi đứa trẻ: “Có bao nhiêu người đã phạm tội?” “Em có thuộc vào số người đó không?” Bảo em hãy đọc lớn câu Kinh Thánh nầy và đổi chữ “MỌI NGƯỜI” thành “EM” hay “TÔI”
3. “Bây giờ chúng ta hãy đọc một câu khác, RoRm 6:23. “Tiền công hay tiền lương, tức là công giá hưởng được qua việc làm. ba má làm để có tiền nuôi gia đình. Câu nầy nói rằng nếu một người phạm tội thì tội lỗi cũng trả tiền công, tiền lương cho, và tiền công đó là SỰ CHẾT. “Sự chết” không phải nói về cái chết nhắm mắt, tắt thở của thể xác rồi bị người ta đem chôn. Nhưng câu Kinh Thánh đặt chúng ta trước một quyết định lựa chọn giữa sự sống và sự chết đời đời tức là vĩnh viễn được giao thôn với Đức Chúa Trời mãi mãi hay sẽ bị xa cách Ngài mãi mãi?
4. Nếu đứa trẻ bằng lòng nhận lấy món quà cứu rỗi là Đức Chúa Jêsus Christ, xin hãy giúp em đọc GiGa 1:12 . Hãy hướng dẫn tin Chúa cách dứt khoát.
5. Kết luận bằng câu 3:16 và giải thích người tin Chúa sẽ nhậnlấy món quà của Đức Chúa Trời tức là sự sống đời đời.
6. Khuyên em nên đọc Lời Chúa mỗi ngày giống như để dành tiền vào ống. Hãy có sẵn phương pháp đọc Kinh Thánh theo thứ tự và có ghi chú, giải thích rõ ràng cho em dễ hiểu.
7. Nếu đứa trẻ đó cón một quyển Kinh Thánh rồi, hãy ghi tên em và đưa em theo học một lớp trường Chúa Nhật.
8. Nếu trẻ được cha mẹ thỏa thuận, chúng ta đề nghị mở một lớp Kinh Thánh tư gia tại đó. lớp Kinh Thánh sẽ giúp chính em và gia đình được lớn lên trong Lời Chúa được rao giảng ra.
III. MỘT VÀI HƯỚNG DẪN TỔNG QUÁT
1. nếu thỏa thuận, hãy gặp gỡ các em một cách riêng
2. Luôn luôn sử dụng lời Chúa làm Kinh Thánh.
3. Chỉ dùng một vài câu Kinh Thánh liên quan nhau
4. Hãy cho đọc vài câu chỉ về tội lỗi và về sự cứu rỗi chắc chắn.
5. hãy hướng dẫn em tiến đến quyết định dứt khoát tin Chúa khi thấy lòng em có sự ước muốn.
6. trước khi từ giã các em, hãy cho em biết chắc mình đã được cứu.
7. hãy giúp em biết cầu nguyện.
8. Giúp các em phải xưng nhận Đấng Christ cho bạn bè mình
9. hãy giúp các em can đảm đưa bạn bè mình tin Chúa.
10. Một Ban Cầu Nguyện Thiếu Nhi hoặc Thiếu Niên sẽ được tổ chức trong hội thánh để các em họp lại cầu nguyện, làm chứng và thờ phượng hằng tuần. Ban cầu nguyện nầy se trở nên nhiệt thành và kết quả để gây dựng cuộc sống thuộc linh một cách thíchhợp cho các em cũng như cho người lớn.
Điểm
5
5
5 5
10
10
5×8
11
7×2
100
Câu Hỏi Bài 7
1/ Hãy dùng lời riêng của bạn để diễn tả lời phát biểu của Tấn sĩ SPURGON về việc qui đạo tuổi thơ ấu.
2/ Những lợi ích nào Timôthê đã nhận được từ chính gia đình mình? Có điểm bất lợi nào không?
3/ Trưng dẫn thuộc lòng: IITi 2Tm 3:15
4/ Tại sao Đấng Christ nghiêm nghị quở trách thái độ của người lớn thường hay đối xử với trẻ em là có hại?
5/ Tại sao những tín hữu nói nặng lời cùng Mục sư mình trước những trẻ em là có hại?
6/ Xin đưa ra ít nhất là 5 điểm Đấng Christ dạy dỗ về công tác Truyền đạo cho thiếu nhi.
7/ Hãy nói rõ những bước bạn cần dẫn đưa một thiếu nhi tin Chúa.
8/ Sau khi đã dẫn đưa một thiếu nhi tin Chúa, những bước tiếp theo đó là gì?
9/ Nêu ra ít nhất 7 điểm tổng quát về việc truyền giáo cho thiếu nhi.
NGƯỜI QUAN TÂM
GiGa 2:23-25
GiGa 12:42-43
Gia Gc 2:19
Cong Cv 16:30-31
Cong Cv 1:14
Cong Cv 2:42-47
Cong Cv 2:24-32
Cong Cv 13:3
IGi1Ga 2:4
2:9
2:15
3:9-10
3:14
3:14
Trong khi đi chinh phục linh hồn, một số Cơ Đốc Nhân đã không cần chờ đợi Thánh Linh hành động, họ không cần phải thuyết phục linh hồn tội nhân về tình trạng tuyệt vọng của người từ chối Đấng Christ , họ chủ trương chỉ cần áp dụng cách khôn ngoan câu: “Hãy itn Chúa Jêsus Christ , thì ngươi và cả nhà sẽ được cứu rỗi ”. Vì thế, khuynh hướng cho rằng nguời ta “Dễ Tin ” khiến chúng ta có thể nhận định rằng công tác chinh phục linh hồn của Hội Thánh phải chăng đã trở nên hời hợt, quá nông cạn và thiếu quan tâm.
Bài học nầy đề cạp đến hạng người quan tâm đến Đạo Chúa, nhưng sự quan tâm ấy phải thật sự chu đáo. Để đạt đến kết quả ấy, chúng ta phải cầu nguyện một cách nổ lực trong Cuộc Chinh Phục Linh Hồn. Hội thánh sẽ không kết quả xứng đáng nếu không nổ lực làm việc. Chúng ta thường mắc phải căn bệnh tổ chức quá nhiều chiến dịch truyền giảng mà trước đó chưa sẵn sàng tìm kiến Chúa một cách cá nhân. Hậu quả là phí nhiều sức lực, thì giờ và tiền bạc một cách vô ích.
Không hề có một nhà truyền giảng nào trên đất nầy trông đợi kết quả gặt hái nhiều linh hồn cho sự cứu rỗi mà lại gạt sang một bên sự cầu nguyện bền đỗ, nhiệt thành và liên tục. Nếu có nhiều linh hồn qui đạo đến từ những chức vụ không cầu nguyện, thì đó là những linh hồn sẽ chết yểu vì không được sanh ra bởi Thánh Linh. nhưng kết quả đó sẽ khiến cho những thiên sứ khóc lóc chứ không vui mừng. Những vị chủ tọa thích phô trương và khoe khoang về chính mình sẽ tạo nên một hội chứng xác thịt, yêu thế gian, và tín đồ của ông toàn là những người rất dễ phạm tội. Nếu phải thẩm định thực trạng của Hội Thánh ngày nay, chúng ta không có lời kết luận nào khác hơn là thơ I Giăng đã dạy, tức là những tín hữu nói trên chưa được tái sanh.
5:4
Mat Mt 8:18-22
LuLc 14:25-22
GiGa 6:66-68
Mat Mt 28:19
GiGa 15:14
Cong Cv 2:37
Cong Cv 16:30
10:1-48
Há Chúa Jêsus đã không tán thành việc làm môn đồ Ngài cách vội vã sao ? Ngài há không khuyên người ta hãy tính toán trước khi chịu làm môn đồ Chúa sao? Có gì nguy hiểm cho bằng một người xưng mình là kẻ theo Chúa mà cứ vẫn còn miệt mài trong tình trạng vô đạo đức, phóng túng và dâm đãng? Chúa Jêsus đã căn dặn Hội Thánh phaỉ dạy dỗ muôn dân giữ mọi điều Ngài đã truyền cho Hội Thánh – Nhưng Hội Thánh chỉ chú tâm vaò những LỜI HỨA của Đức Chúa Trời và bỏ qua những MẠNH LỊNH của Ngài. Chúa phán : “các ngươi sẽ là bạn hữu ta, nếu các ngươi làm theo những điều ta dạy bảo”. Nếu Đức Thánh Linh đã chuẩn bị xong cho một linh hồn sẽ bị thuyết phục, để tiếp nhận ơn cứu rỗi, thì Ngài cũng sẽ giúp cho họ có sự khao khát mong mỏi để được gặp Ngài. Vì vậy những phần Thánh Kinh sau đây sẽ giúp ích cho họ khi chúng ta được dịp tiếp xúc :
I. NHỮNG BÀI GIẢNG NGẮN CHO NGƯỜI THẬT QUAN TÂM :
A. Thơ Rô-ma:
1/. Đọc chậm rãi RoRm 3:9-20. Những câu nầy nói lên nhu cầu tìm kiếm và thiết đặt một nền tảng cho sự trình bày ơn cứu rỗi. Hãy đọc tiếp câu 23 và áp dụng cho cá nhân người nghe.
Chinh phục Linh Hồn là công tác chứng đạo CÁ NHÂN. Hãy để người nghe tự đọc câu Kinh Thánh trên chính họ: “Vì TÔI đã phạm tội, TÔI đã hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”. Một người bị gọi là TỘI NHÂN khi so sánh mình với ĐỨC CHÚA TRỜI CHÍ THÁNH. Vì những gì thuộc về con người chúng ta hôm nay đã hoàn toàn TƯƠNG PHẢN với người nguyên thủy mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng từ đầu. Sự sa ngã của loài người đã kéo họ ra khỏi Đấng Tạo Hóa mình một KHOẢNG CÁCH ĐẠO ĐỨC QUÁ XA. Tội lỗi đã kéo con người về phía tội chống nghịch Thiên Chúa, tạo nên giữa họ và Ngài một VỰC THẲM mà con người không thể vượt qua được. Nhưng chính Chúa Jêsus Christ đã bắt một chiếc CẦU, qua SỰ CHẾT của Ngài, con người tội lỗi được trở về giao thông cùng Chúa. Đo là ý bài thánh ca 172 câu 4, đã diễn tả: “ôi sông sâu liền cầu thiên, nhân tiếp nghinh do Gô – gô – tha”
2/ Rồi hãy lật đến rôma 5 và đọc câu 6-8. đây là tin tức tốt những người đã từng sống trong niềm tin xấu xa, hư không. sự cứu rỗi chỉ danh cho những tội nhân, là những người tuyệt vọng, bị hư mất “không có sức lực” , “không có đức chúa trời” , là kẻ “phản loạn, vô thần”. một người vô thần không hẳn là người ở giai cấp bắt buộc nào, người vô đạo chống nghịch tôn giáo không chỉ là người nguyền rủa. nhưng một người gọi là vô đạo, chống nghịch tôn giáo không chỉ là người nguyền rủa. nhưng một người gọi là vô đạo, vô thần là người cho rằng mình có thể sống mà không cần đến đức chúa trời là tư tưởng của người tự cho mình là đức chúa trời. ngoài đức chúa trời ra, con người chỉ là hư không, tuyệt vọng và hư mất. chỉ một mình đức chúa trời là đấng tuyệt đối.
Hãy chú ý đến mệnh đề: “đấng christ đã chịu khổ vì tội lỗi chúng ta “. bây giờ hãy đổi lại: “đấng christ đã chịu chết vì tội lỗi của chính tôi”. hãy giải thích cho đến khi người nghe chịu hỏi rằng ai đã chết ? tại sao đấng christ chết và ngài chết cho ai ? Rồi hãy đi đến câu 9 để nhấn mạnh đến “HUYẾT”là nền tảng của sự xưng nghĩa, tức là sự tương quan đúng đắn với Đức Chúa Trời mà Ngài đã thiết lập để làm thỏa mãn sự công nghĩa của Ngài.
3/ Cuối cùng xin lật đến đoạn 6 câu 23 để người nghe có thể đi đến một quyết định dứt khoát. thì khôn có gì khó. “Món quà của đức chúa trời chính là Đấng BAN CHO đang hướng về kẻ TIN NHẬN . Nhận món qùa sự sống đời đời ”. Chẳng ai có thể cho món quà ngoài ra người ban cho. Kẻ nhận cũng chẳng tốn kém gì. đức chúa trời là đấng ban cho. ngài ban sự sống đời đời. chúng ta khuyên mời đối tượng tiếp nhận món quà vô giá, đó là sự sống đời đời và đấng christ là sự Sống Đời Đời.
B.Phúc Âm Giăng:
1/ Xin lật đến phúa âm giăng chương 3 . chương này đề cập đến cuộc đối thoại giữa chúa Jêsus , nhà chinh phục linh hồn Nicôđem, nhà cai trị dân do thái. từ câu 1 -2 cho thấy Nicôđem không phải là một người vô thần hoặc hoài Nghi. Ông tin vào phép lạ, vào đức chúa trời và quả quyết rằng chúa Jêsus là một vị giao sư từ Trời đến. Nhưng ông chỉ thấy Chúa Jêsus là con người, một con người có Đức Chúa Trời ở cùng. Nicôđem, một người Pharisi mù lòa về phần tâm linh, không thể thấy được những gì sâu nhiệm hơn vì cớ ông chưa được tái sanh . Vì vậy, Chúa cho ông thấy địa vị hiện tại của ông và nói: “Nếu một người chẳng sanh lại thì không thể THẤY được Nước Đức Chúa Trời.
Khi Chúa Jêsus nói “một người” , ngài có ám chỉ chung cho bất cứ ai, nhưng qua nói với ngươi: các ngươi phải sanh lại.” ngài nói một cách chung chung những thực nghiệm cách cá nhân và riêng biệt. chữ ngươi chỉ trực tiếp là nicôđem, và “ngôi thứ ba số nhiều” các ngươi chỉ về những người mà nicôđem đang thay mặt cho. khi ngài nói “không thể”, ngài khẳng định rằng những người chưa được tái sanh chắc chắn không cho vào nước trời. khi chúa nói lại sự sanh bằng nước và thánh linh trong câu 5, thì không phải ngài nói về phép bấp têm đã được tái sanh đâu. thánh phaolô đã tuyên bố rằng dầu ông đã làm Báp Têm cho một vài tín hữu ở Côrinhtô song ông khẳng định rằng ông đã sanh họ ra bởi tin lành của chúa.
Hằng triệu người biết chắc rằng họ đã tái sanh và đã trở nên tạo vật mới trong Đấng Christ khi họ đặc đức tin mình vào CHÍNH CHÚA là Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại vì sự xưng nghĩa chúng ta.
2/ Chúa Jêsus tiếp tục giải thích thể nào những nhà lãnh Đạo Do Thái là những người khiến kẻ khác bị lầm lạc, tự lấy sức riêng để đạt đến sự cứu rỗi. Chúng ta đọc đến câu 14-16 và cho thấy sự chết của Chúa là tối cần thiết: “con người phải bị treo lên”. Chỉ đặt đức tin nơi Ngài, chúng ta mới được giải cứu linh hồn và được sự sống đời đời. Hãy nhấn mạnh đến sự kiện Đấng Christ chính là món quà của Đức Chúa Trời, là sự cung ứng, là đường cứu rỗi Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta khỏi sự chết, tức là sự xa cách Đức Chúa Trời.
3/ Để đưa tội nhân đến quyết định dứt khoát, chúng ta hãy tập trung đến câu 16. Hãy nhấn mạnh nó với niềm tin cá nhân: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương CHÍNH TÔI , đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ TÔI TIN Con ấy, TÔI không hư mất, nhưng được sự sống đời đời” Chính Đức Chúa Trời là Đấng BAN CHO, chúng ta là kẻ phải TIẾP NHẬN. Câu nầy cho thấy trách nhiệm CÁ NHÂN, chấp nhận hay chống đối, tiếp rước hay từ khước, tin hoặc không tin.
C. Tiên tri Êsai:
1/ Dùng EsIs 53:664:6 để bày tỏ về nhu cầu cứu rỗi.
2/ Dùng EsIs 53:4-5 cho thấy sự cứu rỗi đã được ban cho thể nào.
3/ Sau đó đến EsIs 1:1855:6-7 chỉ ra về lời hứa về sự cứu rỗi cho k3 nào tìm kiếm.
II. NHỮNG BÀI GIẢNG THEO TỪ CHỮ QUAN TRỌNG :
Như người hái từng quả chín một cách cẩn thận. Người chinh phục linh hồn phải khôn khéo truyền đạt chân lý cứu rỗi một cách đơn giản và nhấn mạnh:
1/ KÊU CẦU : RoRm 10:13
Câu Kinh Thánh nầy được dùng để hướng dẫn những thính giả đã hoàn toàn bằng lòng tiến lên xin cầu nguyện tin Chúa. Trong trường hợp nầy, chỉ cần mở câu Kinh Thánh RoRm 10:13 ra, đọc với tinh thần cầu nguyện và cẩn thận nhấn mạnh mỗi lời quan hệ trong cả câu. Câu gốc nầy đưa ra một điều kiện để được cứu ấy là KÊU CẦU. Kêu cầu, kêu xin là lời thường phát xuất từ một người đang bị ở trong tình trạng khốn lhổ, bị mất mát …, người đang cần một người khác cứu giúp mình. Câu nầy nhấn mạnh rằng sự kêu cầu chân thành sẽ được chính Cứu Chúa nhậm lời và giải cứu.
2/ QUAY VỀ : Exe Ed 18:32
Sự tin Đạo tức là QUAY VỀ. Quay bỏ tội lỗi để quay về cùng Đấng Christ. Quay về cùng Đức Chúa Trời và từ bỏ hình tượng. Tội nhân bị trói buộc bởi tội lỗi mình và chỉ còn có hy vọng là một ai đó đến giải thoát cho. Không phải quay về với Hội Thánh, với giáo điều, với giáo hữu hay nguyên tắc xã giao. Nhưng phải QUAY VỀ VỚI ĐẤNG CHRIST và Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời. Ngài là Đức Chúa Trời là Chúa Con. Để quay về cùng Đức Chúa Trời, người bắt buộc phải từ bỏ hình tượng. Hễ điều gì chúng ta ưa mến hơn Đức Chúa Trời thì điều đó là hình tượng. Chúng ta phải được chuẩn bị để từ bỏ bất cứ điều gì đã khiến chúng ta không yêu mến Chúa tột bực và không sống cho một mình Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không khoan dung cũng không đấu tranh. Chúng ta hãy dùng câu Kinh Thánh trên để hướng dẫn kẻ khát khao được trở nên Cơ Đốc Nhân bằng sự đổi mới một cách cương quyết.
3/ NHÌN XEM : EsIs 45:22
Chúng ta dùng câu nầy để giải quyết những nan đề khiến ngưòi đang tìm kiếm ơn cứu rỗi nhưng bị phân tâm. Cuộc sống đã tạo ra sự giả hình, khi người ta nhìn vào Hội Thánh, nhìn vào người nầy, người kia hoặc thất vọng về chính mình, nhưng muốn được cứu, tội nhân phải chỉ nhìn xem Chúa Jêsus mà thôi. “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi”. Chúng ta phải nhìn lên Ngài để đạt được mục đích quan hệ: “hãy nhìn xem Ta để các ngươi được cứu.” Chỉ cần một cái nhìn lên bởi đức tin giống như dân Israel khi Đức Chúa Trời đã căn dặn, không thêm, không bớt, cũng vậy, tội nhân chỉ nhìn lên Chúa thì trong phút giây tin cậy đó, họ nhận được sự cứu rỗi.
4/ NHẬN LẤY : KhKh 22:7
Động từ nầy nhấn mạnh đến nhu cầu tối cần thiết và cấp bách. Đức Chúa Trời đã ban cho. Con người chỉ việc nhận lãnh. Tội nhân phải đưa tay ra bởi Đức tin nhận lãnh “Nước sự sống ban cho nhưng không”, và nước sự sống ấy chính là Đấng Christ.
5/ HÃY ĐẾN : Mat Mt 11:28
Câu nầy Đấng christ phán cho mọi người, sonh dường như đặc biệt cho những ai đang mệt vì mỏi gánh nặng tội khiên. Nếu một người đến với Chúa mà không chịu thuyết phục thì họ cũng sẽ ra đi không quay lại. Khi sức nặng tội ác đè ép, khiến linh hồn người phải kêu xin Đấng Christ sự tha thứ và lòng bình an, thì người chắc chắn được yên nghỉ. Hãy dùng câu Kinh Thánh nầy cho trường hợp người đang đau ốm về tội lỗi cần sự yên nghỉ.
III. NHỮNG CÔNG TÁC TIẾP THEO :
Mỗi một tân tín hữu rất cần người chăm sóc thuộc linh. số người tin chúa đứng vững nhiều hay ít điều tùy thuộc vào thái độ và đức tin của người phục vụ Chúa, là kẻ có trách nhiệm đặc để sự hiểu biết về Chúa trong họ.
Những bước chăm sóc tân tín hữu sẽ là:
1/ Biết rõ địa chỉ hiện tại của mỗi một tân tín hữu
2/ Sau 48 giờ, hãy liên lạc bằng điện hoại hoặc danh thiếp để xin được đến thăm người mới tin.
3/ hãy tìm hiểu đối tượng đã thật sự biết chắc mình được cứu hay chưa.
4/ Hướng dẫn người về tầm quan trọng của LỜI CHÚA. Dạy người đọc Kinh Thánh theo phương pháp đơn giản nhất. Nêu lên một số câu hỏi hoặc giải thích những gì người đang thắc mắc. Giúp tân tín hữu vững tâm nắm chắc những bí quyết thành công của Cơ Đốc Nhân.
5/ dạy tân tín hữu biết sự quan trọng của việc CẦU NGUYỆN với lòng tạ ơn Chúa trong mỗi một việc. Phi Pl 4:6-7. Hãy cùng cầu nguyện với tân tín hữu, hãy hướng dẫn người tự biết cầu nguyện.
6/ Lưu ý tân tín hữu về sự quan hệ của công tác LÀM CHỨNG NHÂN. RoRm 10:9-10
7/ Giải thích sự cần thiết tương giao với các tín hữu khác. HeDt 10:25 , nếu được hãy mời tân tín hữu tham gia một buổi nhóm càu nguyện tư gia. Hãy giới thiệu tân tín hữu cùng những giáo hữu trong Hội Thánh để có thể giúp người được tăng trưởng trong Chúa.
8/ Dạy tân tín hữu biết vai trò ĐỨC THÁNH LINH. Ngài là:
a. Giáo sư
b. Đấng hướng dẫn
c. Đấng cung cấp
d. Đấng cầu thay và cứu giúp
e. Đấng giúp ta đắc thắng
f. Đấng ban quyền năng cho chúng ta làm chứng.
9/ Giúp những tân tín hữu thanh niên biết trách nhiệm trong sự phục vụ Cơ Đốc .
ITe1Tx 1:9; Eph Ep 2:8-1-10; ITi1Tm 2:15
10/ hãy chăm sóc tân tín hữu cho đến khi biết chắc họ đa trưởng thành
11/ hãy giúp tân tín hữu sốt sắng tham gia thờ phượng Chúa và sinh hoạt ở một chi hội nào thuận tiện để được nuôi dưỡng bằng sữa và thịt, tức là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời.
Câu Hỏi Bài 8
1/ Xin Giải Thích Thế Nào Là Hạng Người “Dễ Tin”
2/ Câu Kinh Thánh Cong Cv 16:31 đôi khi không mấy hữu hiệu trong công tác cá nhân chứng đạo, tại sao?
3/ Từ sách Công vụ, xin cho thấy vai trò của sự cầu nguyện trong công tác truyền giáo.
4/ Căn cứ vào Thư I Giăng, xin đưa ra ít nhất 4 phương cách chứng tỏ một người được tái sanh.
5/ Trong trường hợp nào, Chúa Jêsus đã không tán thành việc hối thúc ai đó trở thành môn đệ Ngài cách vội vã.
6/ Thử dùng Rô-ma để giúp đỡ người thật lòng tìm kiếm Chúa.
7/ Bằng cách nào bạn sẽ sử dụng sách Tin Lành Giăng.
8/ Có thể sử dụng sách Ê-sai ra sao?
9/ trưng dẫn thuộc lòng chới địa chỉ của 5 câu Kinh Thánh có những chữ ngắn quan trọng để giai bày Chân lý cứu rỗi.
10/ 7 bước đầu của việc chăm sóc theo bài nầy là gì?
11/ xin trưng dẫn Kinh Thánh , địa chỉ các câu ấy, một cách hích hợp cho mỗi bước.
12/ Làm thế nào giới hiệu về Đức Thánh Linh cho tân tín hữu ? Xin trưng dẫn Kinh Thánh nói về Đức Thánh Linh trong từng vai trò đặc biệt của Ngài.
13/ Trưng dẫn thuộc lòng: Eph Ep 2:8-10 và giải thích sự liên quan giữa sự cứu rỗi và sự phục vụ Chúa.
NGƯỜI HAY TỪ CHỐI:
IICo 2Cr 4:3-4
Ma quỷ là cha của sự lừa dối. Bởi sự làm mù lòa tâm trí của những người vô tín, ma quỷ đã thành công trong việc cầm giữ con người trong ngục tù buồn thảm để mong chờ những điều vô vọng. Ma quỷ thường lừa dối con người và đặt vào lòng họ một sự “tự bào chữa” để khước từ Chân lý.
Khảo sát ví dụ về TIỆC YẾN LỚN trong LuLc 14:15-24, chúng ta sẽ thấy những lời từ chồi của các hạng người được mời đều là giả dối. Tiệc đã được dọn sẳn và đầy tớ đã được sai ra đi mời những khách đã đượ dự dịnh. Hạng thứ nhất đã khước từ với lý do là anh ta phải đi mua một thửa đất ấy. Chúng ta thấy thể nào người ấy cũng chịu mua một vật mà người chưa hề thấy trước. Một điều đang giả dụ là thật để rồi từ chối một bữa tiệc thật sự đã được dọn sẵn và chính anh là người được mời. Quả thật, hạng người nầy đã bị lầm lẫn.
Hạng thứ hai được mời nhưng cũng từ khước vì bận phải đi mua 5 đôi bò mà trước cũng chưa hề thấy bao giờ. Người đã từ chối bữa tiệc được chuẩn bị sẵn. Thật là buồn cười thay!
ChCn 1:24-33
Người thứ ba từ chối bữa tiệc viện lẽ: “tôi mới cưới vợ vì vậy tôi không thể đến được.” hôn nhân đã ngăn trở anh ta. vậy có một số người khước từ “sẽ không đến” và cũng có nhiều người quyết định dứt khoát rằng “không thể đến”
Đấng christ đã dọn sẵn tiệc phúc âm cho mọi hạng người. ngài là bánh của sự sống, “ai đến cùng ngài chẳng hề đói,và ai tin ngài chẳng hề khát.” nhưng mọi người đều không quan tâm đến thời gian. thiên chúa truyền lệnh các tôi tớ ngài đi mời khách hãy Đến, Đến, Đến, nhưng con người thì lại quá Bận, Bận, Bận, mù lòa và lo lắng cho sự sống, sợ hết thì giờ để hưởng thụ, họ muốn tự cứu lấy mình hơn. Vậy có gì ngạc nhiên khi ta thấy chủ tiệc phải nổi giận?
Tuy nhiên đầy tớ của Đức Chúa Trời là những người rất nhịn nhục đối với nhiều hạng người chuyên khước từ Chân Lý. Dầu có những trường hợp khước từ cách thành thật nhưng vì cớ “MỌI SỰ ĐÃ SẴN SÀNG RỒI”, nên chúng ta phải hối thúc mọi người hãy đến. Người chinh phục linh hồn hải lắng nghe những lời khước từ của tội nhân để rồi dùng lời Chúa chẩn đoán thực trạng của họ, hết lòng giúp đỡ họ thoát ra khỏi những ngục tù bị lừa phỉnh để đưa họ đến với ánh sáng của Phúc Âm cứu rỗi.
Sau đây là một số trường hợp TỪ CHỐI ta thường gặp:
I. “TÔI ĐÃ CỐ GẮNG NHƯNG THẤT BẠI :
Lời khước từ nầy có thể là thật và cũng có thể là không 1/ Hãy tạo hy vọng cho họ. Người Chinh Phục Linh hồn hãy vui vui vẽ chấp nhận một người đã thành thật tỏ bày rằng anh ta đã từng tin cậy Chúa và mong ước có một đời sống đắc thắng. Hãy nhắc nhở anh ta về sự thanh tín lớn lao của Đức Chúa Trời. Hãy làm sáng tỏ rằng một khi chúng ta thật biết mình yếu đuối thì đức tin nơi Chúa chắc chắn sẽ đem đến những phước hạnh. Hãy lưu ý rằng Chúa là Đấng ban cho ân điển cách dư dật. Ngài luôn luôn đáp ứng cho chúng ta trong mọi tình huống. Nhưng ẩn điển ấy chỉ dành cho những tấm lòng khiêm nhường và thật tâm tìm kiếm.
2/ Hãy lưu ý những NGUYÊN NHÂN ĐÃ ĐƯA ĐẾN SỰ THẤT BẠI: a. Cố gắng thay vì TIN CẬY: Bí quyết đắc thắng trong đời sống Cơ Đốc Nhân là phải đặt lòng tin cậy hoàn toàn vào Chúa trong mọi việc. Biết Chúa tức là tin cậy Chúa . khi Chúa là Cha và chúng ta là con của Ngài thì chúng ta phải tin cậy Ngài và không cần phải sợ hãi gì cả.
b. Nhìn xem thế gian thay vì NHỜ CẬY LỜI CHÚA: không chịu nghiền ngẫm, dầm thấm trong lời Chúa mỗi ngày nên đã rơi vào sự thất bại. Không chịu nuôi linh hồn bằng châu báu của Lời Chúa và đã để cho nhiều công việc của đời chi phối chúng ta.
c. Che dấu thay vì XƯNG RA: Đức Chúa Trời chỉ tha thứ tội lỗi cho những ai chịu xưng nhận tội lỗi mình. Khi những sai phạm bị che đậy hoặc bào cha khéo léo thì sự xưng tội và sự giãi hòa cần thiết biết bao. Sự thất bại trong sự thông công anh em cùng đức tin, cuộc sống khó tha thứ cho nhau, chắc chắn sẽ dẫn đến tai họa. Bằng chứng rõ ràng nhất của một Cơ Đốc Nhân hưởng đực sự tha tội chính là người đã sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác.
d. Tự bào chữa thay vì TỪ CHỐI MÌNH: Tự chọn cho mình con đường riêng chh là gốc rễ của mọi điều ác. Một người quá yêu CÁI TÔI sẽ thất bại chua cay. Người sẽ thấy một thập tự nặng nề đeo đuổi mình hơn bất cú những đau khổ thường gặp. Vậy, SỰ TỪ BỎ MÌNH, từ bỏ lối sống tư kỷ sẽ chứng tỏ chúng ta kinh nghiệm được từng rãi rằng con nguời cũ, con người thiên nhiên xác thịt đã bị đónh đinh với Đấng Christ .
3/ Hãy khuyên họ TRỞ LẠI NHỜ CẬY CHÚA:
Chưa hề có sự thanh công nào đưa đến với chúng ta mà không gặp thất bại. Nhưng, Đức Chúa Trời là Đấng KHÔNG HỀ THẤT BẠI bao giờ. Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời, VẪN Y NGUYÊN. Khi gặp một người nói rằng: “TÔI ĐÃ CỐ GẮNG NHƯNG THẤT BẠI”, thì hãy hướng dẫn họ TIN CẬY ĐẤNG KHÔNG HỀ BỊ THẤT BẠI. Hãy dùng mấy câu Kinh Thánh trong EsIs 26:3-4ChCn 3:5-6 để giúp hạng người lo sợ nầy biết đặt lòng tin kính vào Đấng đáng tin cậy trọn vẹn.
II. “TÔI SẼ CỐ GẮNG SỐNG TỐT HƠN ĐÔ
Một số người đã tự cho ơn cứu rỗi viện lẽ rằng họ đang đeo đuổi một tiêu chuẩn cần thiết trước khi có thể tin cậy Chúa . gặp hạng người nầy , chúng ta hãy nhờ cậy Đức Thánh Linh để phân biệt ai là thật tâm ai là giả hình, ai là kẻ từ chối ơn cứu rỗi, ai là kẻ thật lòng muốn được tốt hơn bởi ân điển. Nếu là người chân thật hãy cho người khác thấy rằng chẳng ai có thể tự làm cho mình được TỐT HƠN dưới cái nhìn của Thiên Chúa , bởi vì như con beo đã không thể đổi được vằn của nó. Người đó cần phải được SANH LẠI. Sự thay đổi hình dáng bên ngoài sẽ chẳng giá trị gì nếu trong lòng không được biến cải. Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải có đức tin chớ không hải một tiêu chuẩn đạo đức. Hãy đọc câu: “Chúa Jêsus đến để cứu vớt tội nhân chớ không cứu người tự xưng công bình”.
III. “SỐNG ĐỜI SỐNG CƠ ĐỐC NHÂN KHÓ QUÁ” :
Thật vậy, đời sống là khó cho những tội nhân. nhưng chúa jêsus phán rằng: “ ách của ta dễ chịu và gánh của ta nhẹ nhàng.” Lạc thú trong tội lỗi chỉ xảy ra trong giây phút ngắn ngủi, song sự khóc lóc và nghiến răng nơi hồ lửa kéo dài đến đời đời. Niềm vui trọn vẹn chính là cơ nghiệp của những ai chịu bước đi trong đường sự sống, con đường hẹp, con đường tâm giao với Đấng Christ. Hãy vững lòng, vì chúng ta tìm kiếm những ơn phước của Đức Chúa Trời thì không giống nhu lạc thú tạm bợ, chóng qua của thế gian nơi những hồ nước bị vỡ hoặc những hầm hố hôi thối. Niềm vui của Đức Chúa Trời ban cho loài người có tương quan đứng đắn với Ngài sẽ không thô thiển, cạn cớt và chóng qua. Đức Thánh Linh rất khao khát mong thấy tội nhân biết ăn năn. Vậy, là Người Chinh Phục Linh Hồn, chúng ta hãy cộng tác với Ngài bằng sự cầu nguyện, nổ lực trong công việc làm chứng, khóc thương cho linh hồn tội nhân và ra đi chinh phục họ, thăm viếng, chăm sóc cho đến khi linh hồn ấy thât được yên nghỉ trong chuồng chiên của Chúa .
IV. “TÔI ĐÃ KHÔNG THỂ BỎ ĐƯỢC NHỮNG THÓI HƯ TẬT XẤU” : Hãy đồng ý với hạng người nầy về thực trạng của họ và giở Kinh Thánh ra để hướng dẫn. Tội lỗi là sự nô lệ mà chỉ có Đấng Christ mới có thể giải phóng chúng ta thôi Vấn đề của hạng người nầy là KHÔNG THỂ hay là KHÔNG MUỐN. Trong bản chất con người nầy là KHÔNG CẦN đến hoặc là đã TUYỆT VỌNG rồi. Người có thể chọn lựa hoặc khước từ. Nếu chọn Chúa, người sẽ học biết cách cảm tạ Ngài đã giúp cho mình làm được những điều KÔNG THỂ làm bởi ĐỨC THÁNH LINH. Hãy hướng dẫn hạng người nầy đi vào con đường ăn năn. Nhấn mạnh đến HUYẾT của CHÚA JÊSUS có năng quyền giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội khiên. Bởi giá trị tuyệt đối trong Huyết của Đấng Christ , vấn đề của người nầy sẽ không còn là “anh CÓ THỂ mà chính là ANH CÓ MUỐN được giải phóng khỏi gánh nặng tội lỗi không?” Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ có quyền năng làm điều đó.
Câu Hỏi Bài 9
1/ ICo1Cr 4:3-4 dạy gì về sự mù lòa của người không chịu tin vào Phúc Âm Chúa ?
2/ 3 lời khước từ đối với Tiệc lớn trong LuLc 14:15-24 là gì?
3/ Tại sao Chúa lại nổi giận khi nghe phúc trình về những hạng người từ khước? Xin suy nghĩ và nêu ra 5 bằng chứng về sự giận đó.
4/ Xin đưa ra những điểm tương đồng giữa TIỆC LỚN và LỜI MỜI đến với TIỆC PHÚC ÂM?
5/ Trưng dẫn thuộc lòng cả đoạn câu của 2 câu Kinh Thánh gieo hy vọng cho người từ chối rằng: “tôi đã cố gắng nhưng thất bại”
6/ Qua bài nầy, những lý do nào đã dẫn cuộc sống thất bại?
7/ Trưng dẫn thuộc lòng câu và địa chỉ ít nhất của 1 câu Kinh Thánh dùng cho trường hợp giúp đỡ người bị thất bại.?
8/ Trưng dẫn thuộc lòng 2 câu Kinh Thánh giúp một người có thể trở lại.
9/ Trưng dẫn thuộc lòng một câu Kinh Thánh chỉ rõ sự cứu rỗi đến là do Ân điển chứ không do việc làm.
10/ Trưng dẫn thuộc lòng: Gie Gr 13:23 và giả thích để ứng dụng cho hạng người từ chối rằng “tôi sẽ cố gắng sống tốt hơn đã”
11/ Trưng dẫn thuộc lòng câu Đức Chúa Trời đòi hỏi đức tin chứ không phải tiêu chuẩn đạo đức
12/ Trưng dẫn thuộc lòng: ITi1Tm 1:15.
13/ Câu Kinh Thánh nào cho thấy đời sống Cơ Đốc Nhân không phải là khó quá.
14/ Câu Kinh Thánh nào cho thấy thú vui tội lỗi là ngắn ngủi.
15/ Câu Kinh Thánh nào cho họ thấy Chúa nói: “Ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng”
16/ Trưng dẫn thuộc lòng: GiGa 8:34. Câu nầy ứng dụng ra sao?
17/ Trưng dẫn thuộc lòng: GiGa 5:40
18/ Trưng dẫn thuộc lòng: IPhi 1Pr 2:18-19 và thử trình bày cách áp dụng câu nầy.
19/ Trưng dẫn thuộc lòng câu Kinh Thánh dạy rằng nếu không có đổ huyết thì không có sự tha thứ.
NGƯỜI HAY TỪ CHỐI (T.T)
V. “VÌ CỚ NGHỀ NGHIỆP TÔI KHÔNG THỂ LÀM MỘT CƠ ĐỐC NHÂN Hãy xem thử công việc làm ăn của người nầy là gì. Một số người tưởng rằng tin Chúa thì sẽ bỏ trọn thì giờ để theo Đạo và phải mất hết nghề nghiệp. Hãy giải thích rõ là Chúa Jêsus không kêu gọi chúng ta bỏ hết nghề nghiệp, nhưng Ngài chỉ muốn nhấn mạnh là “Truớc hết phải lo tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời” Nếu phải sinh sống với một nghề nghiệp không phù hợp với một nguyên tắc sống của Cơ Đốc , thì chúng ta phải lựa chọn một nghề khác. Đức Chúa Trời không hề lìa bỏ người nào thật tâm nhờ cậy và tôn vinh Ngài. Nếu là một nghề có thể tôn vinh Chúa, phù hợp với các tiêu chuẩn Cơ Đốc thì đừng nên do dự hoặc cho nghề ấy là tội lỗi. Phierơ đã quyết định rời bỏ lưới và thuyền để đi theo Chúa. Về sau ông đã chinh phục cho Chúa hàng ngàn linh hồn. Vậy nếu Phierơ đã không có quyết định đúng đắn thì hẳn ông cũng đã không thể từ bỏ chính mình và người khác. Một khi giá trị vật chất không đáng so với giá trị đời đời thì một người được cả thế gian để mất đi linh hồn mình thì có ích chi? Vậy người chinh phục linh hồn hãy nhẫn nại khi gặp một người lấy làm khó để trở thành một Cơ Đốc Nhân vì cớ nghề nghiệp mình. Hãy dẫn chứng một vài gương thành công của một số Cơ Đốc Nhân trong nghề nghiệp của họ
VI. “NẾU PHẢI XUỐNG HỒ LỬA, TẠI ĐÓ TÔI SẼ CÓ THÊM BẠN HỮU
Hãy xem nếu người tin có Hồ Lửa. Hãy dùng Kinh Thánh để mô tả Hồ Lửa là gì. Hạng người nầy đã dùng lý luận để khước từ chân lý. Hãy tưởng tượng rằng nếu những hành khách trên phi cơ thình lình bị tai nạn và tàu đâm đầu xuống đất rồi bị bốc cháy hết, thì những bà con thân quyến của nạn nhân há không còn đau đớn sao? Há những người trong Hồ Lửa muốn làm gia tăng sự đau đớn mình sao? Nếu bạn bè không tán thành việc lựa chọn Chúa mà khước từ Ngài, thì liệu họ có đem đến môt chút yên ủi nào cho mình trong Hồ Lửa không? Vì, vậy, đừng lấy gì làm ngạc nhiên khi phải khóc lóc và nghiến răng trong địa ngục, đừng lấy làm lạ tại sao người giàu mơ tưởng mình là nhà truyền giáo ở Ho Lửa đặng yêu cầu Ápraham vượt qua được hố sâu ngăn cách đó để sai một ai về cảnh cáo với anh em người, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn ấy chăng! Thật là điên rồ cho cái kiểu tôn giáo nể vì bạn bè hơn là kính sợ Đức Chúa Trời để rồi thấy mình cùng bị liệt vào số người “đầy sợ hãi” ở trong hỏa ngục chung số phận với “những người gian ác và trụy lạc”.
Người ta không thể chọn bạn ở nơi Hồ Lửa, bởi vì họ có thể bị bạn bè nhạo cười mình khi bị rơi vào hỏa ngục và không bao giờ ra khỏi đó nữa. Thật chẳng có gì đui mù và quỉ quái cho bằng cái tư tưởng cho rằng “Nếu phải xuống Địa Ngục, tại đó tôi sẽ có thêm nhiều bạn hữu”. Hãy trang trọng và chân thành cảnh cáo mạnh mẽ hạng người nầy sớm thoát khỏi cơn thạnh nộ hầu đến.
VII. “TÔI LÀ MỘT ĐẠI TỘI NHÂN ” “Dầu sùng kính và mộ đạo, nhưng tôi rất ngại phải tiếp nhận Chúa Jêsus một cách cá nhân. Tôi rất chân thành nhưng chưa thể tin nhận được. Quả Chúa Jêsus đã đến thế gian để cứu với kẻ có tội, kể cả những tướng cướp, nhưng sự kiện ấy chưa được thực nghiệm trong tôi. Tôi cũng nhận biết Thánh Linh đã từng cáo trách tôi nhiều, tôi biết trước mặt Chúa tôi là người phạm quá nhiều tội lỗi, tôi rất mong được giải cứu, nhưng tôi đang bị mặc cảm: “Tôi là một đại tội nhân”. Đừng bao giờ cho rằng người nầy không có tội, cũng đừng nghĩ rằng người không thể là một đại tội nhân. Vấn đề là làm sao chỉ ra môt cách đơn giản rằng người là một tội nhân nhưng không phải là một đại tội nhân đến nỗi Chúa Jêsus không thể cứu được.
Trong khi giải thích tội lỗi là “sự hụt mất vinh hiển của Đức Chúa Trời”, điều quan trọng là cả người chinh phục lẫn đối tượng phải THẬT HIỂU cái khoảng cách ấy là vực sâu đã phân rẽ tội nhân khỏi Đức Chúa Trời. Như Thiên Đàng xa cách Địa Ngục bao nhiêu thì người tội lỗi cũng bị xa cách Đức Chúa Trời bấy nhiêu. Bài Thánh Ca 172 đã mô tả: “Vực sâu ấy đã có Đức Chúa Trời bắc cho một cây cầu nối liền ở Gôgôtha” (Ôi! Sông sâu liền cầu thiên, nhân tiếp nghinh nơi Gôgôtha). Hãy nói rõ ràng dầu cho con người bị “xa cách Đức Chúa Trời đến đâu” cũng đều được đến gần Ngài bởi huyết báu của con Ngài.
Hãy hướng dẫn người là đại tội nhân bằng những khúc Kinh Thánh như EsIs 1:18, HeDt 7:25, IGi1Ga 1:7 và có thể kết thúc bằng câu GiGa 6:37 để khẳng định rằng bất cứ người nào chịu đến cùng Đấng Christ đều không bị Ngài loại bỏ.
VIII. “TÔI SỢ VÌ ĐÃ PHẠM ĐẾN TỘI KHÔNG THỂ THA THỨ ĐƯỢC”
Hãy hỏi đối tượng rằng tôi không thể tha thứ được tội gì? Một vài người là kẻ sát nhân, kẻ khác phạm tội tà dâm. Kẻ ác và người bất nghĩa đã phạm qua nhiều tội lỗi nhưng không có nghĩa là không thể tha thứ được. Vua Davít đã phạm cả tội tà dâm lẫn tội sát nhân, nhưng sau khi ông đã xưng tội và ăn năn thống hối thì nhận được sự tha thứ Thiên Thượng.
Chỉ có một tội căn bản không thể tha thứ được ấy là tội không tin. Vì một người không chịu tin thì không thể cứu được. Nhưng nếu một người bị kể là tội nhân theo cái nhìn chung và vì vậy họ không tin rằng họ có thể được tha, thì Đức Chúa Trời lại định rằng Ngài sẽ cứu hết thảy mọi người.
Khi sự vô tín đưa con người đi từng bước đến chỗ từ chối và chống cự lại ánh sáng của Đức Chúa Trời muốn gieo vào lòng người, chắc sẽ đến một lúc sự chống cự ấy sẽ xúc phạm đến Đức Thánh Linh là Đấng muốn đưa chúng ta đến với Đấng Christ để được Ngài tái sanh và ấn chứng đến ngày cứu chuộc. Mấy câu thơ sau đây đã cho thấy:
“Có một khoảng thời gian không rõ
Ở một nơi không biết chốn nào
Số phận con người đã an bài sẵn
Cho sự vinh hiển hoặc hư vong”.
(Căn cứ vào Mat Mt 12:22-32)
Tội không thể tha thứ chính là thái độ cho rằng công việc của Thánh Linh là công việc của ma quỉ. Người Pharisi đã cố ý nói về Chúa Jêsus rằng: “Người nầy nhờ Bê-ên-xê-bung là Chúa quỉ mà trừ quỉ đó thôi”. Đó là lối lý luận vô tín. Họ không tin rằng Chúa Jêsus là con của Đức Chúa Trời Hằng Sống. Họ đã từ chối lời chứng của Giăng Báp-tít (Mat Mt 11:18). Họ cũng đã khước từ trắng trợn về vương quyền Mêsia bởi “Các việc quyền năng của Ngài (Mat Mt 11:20-24). Họ không chịu đáp ứng lời mời gọi của Cứu Chúa dành ban cho kẻ chịu đến cùng Ngài để được “an nghỉ” (Mat Mt 11:25-30). Họ bắt bẻ và lên án Chúa đã làm việc trong ngày Sabát (Mat Mt 12:1-13). Họ họp bàn nhau tìm cách giết Ngài đi (Mat Mt 12:14). Nhưng Chúa đã lánh khỏi họ và Danh Ngài đã được các Dân Ngoại tin cậy (Mat Mt 12:14-21)
Ngay từ mấy câu đầu của Mat Mt 12:27-37, chúng ta đã thấy người Pharisi cứng lòng, chống đối lại ánh sáng của những việc quyền năng mà Chúa Jêsus đã chữa lành cho người bị quỉ ám vừa đui lại vừa câm. Họ cho rằng đó chẳng qua là sử dụng uy quyền của Bê-ên-xê-bun là Chúa quỉ. Sự vô tín của họ thật quá bướng bỉnh. Họ đã cố tình sỉ nhục Chúa Thánh Linh là Đấng ban quyền năng cho Đức Chúa Jêsus thi hành các phép lạ… tại chỗ nầy họ đã vượt khỏi lằn mức của sự chết và tứ ấn chứng cho mình số phận bị hủy diệt đời đời. Những hạng người như thế sẽ không còn khao khát chạy đến với Đấng Christ , vì khi Đấng Thánh Linh đã bị loại bỏ thì không còn có sự lôi kéo nào giúp họ đến được cùng Ngài. Đây không phải là tại Đức Chúa Trời không thể tiếp nhận họ nhưng là tại chính họ đã tạo cho mình những điều kiện như cứng lòng, cố chấp, vô tín, để rồi họ không còn muốn tìm kiếm Chúa để được cứu.
Một người tự bày tỏ rằng họ sợ vì đã phạm đến tội không thể được tha thứ thì không hẳn họ là hạng người đó. Hãy hỏi họ thử họ có phải là hạng người vô tín không. Tìm xem thử họ có phải liên tục từ chối nhận Jêsus là Con Đức Chúa Trời dầu họ tin Thần tánh của Ngài. Tìm xem thử cuối cùng lập trường của họ có kịch liệt chống lại ý tưởng cho rằng những việc quyền năng của Con Đức Chúa Trời là do ma quỉ. Nếu quả người ấy có lập trường đó thì trường hợp của người không đáng lo ngại. Hãy đọc lời hứa trong GiGa 6:37 và khích lệ người hãy mau mau chạy đến với Chúa Jêsus một cách không trì hoãn nữa. Hãy cảnh cáo người về sự nguy hiểm của thái độ đánh liều, buông trôi tẻ tách, đề rồi cuối cùng khinh miệt và lên án Đấng muốn giải cứu mình.
Đừng bỏ lỡ cơ hội rồi cố trì hoãn: “Người nào bị quở trách thường, lại cứng cổ mình, sẽ bị bại hoại thình linh, không phương cứu chữa”.
IX. MỘT SỐ LỜI TỪ CHỐI KHÁC, XIN DÙNG KINH THÁNH ĐỂ TRÀ LỜI
1/ “Tôi không tin Kinh Thánh “
GiGa 7:17; IGi1Ga 5:9-12, Mac Mc 16:16, IITi 2Tm 3:16-17
2/ “Tôi đang làm những công việc tốt mà tôi có thể làm”
EsIs 64:6, Eph Ep 2:8-9, Tit Tt 3:5
3/ “Tôi chưa có thể tin Chúa bây giờ được”
IICo 2Cr 6:2, HeDt 2:3
4/ “Tôi sợ không theo Chúa trung tín”
IPhi 1Pr 1:5, Giu Gd 1:24
5/ “Trường hợp của tôi khó quá”
IICo 2Cr 12:9-10, Mat Mt 19:26, Phi Pl 4:13
6/ “Tôi đã cố gắng tìm kiếm Chúa nhưng không thấy Ngài đâu cả”
Gie Gr 29:13, LuLc 19:10, GiGa 1:12.
7/ “Tôi không thể tha thứ cho người tổn thương tôi quá nhiều”
Mac Mc 11:25, Gia Gc 4:6
CÂU HỎI BÀI 10
1/ Bạn thử mở đầu làm chứng cho người từ khước rằng anh ta không thể trở thành một Cơ Đốc Nhân vì cớ nghề nghiệp hiện tại. Xin trưng dẫn thuộc lòng và địa chỉ ít nhất 3 câu Kinh Thánh cho trường hợp nầy.
2/ Áp dụng tương tự như vậy cho trường hợp người từ chối rằng: “Nếu tôi xuống Hồ Lửa, tôi sẽ có thêm nhiều bạn bè”.
3/ Trả lời thế nào cho người nói rằng: Tôi là một đại tội nhân”?
4/ Căn cứ vào đâu chúng ta tin rằng tội sát nhân và tà dâm không phải là những tội không thể tha.
5/ Xin giải thích cách cơ bản rằng: “Tội không được tha” là tội gì?
6/ Căn cứ vào Mat Mt 12:31-32, hãy giải thích câu 5 và cho biết các bước của thái độ vô tín sẽ dẫn đến lập trường cuối cùng là khước từ ánh sáng cứu rỗi.
7/ Trưng dẫn thuộc lòng các câu Kinh Thánh áp dụng vào một số trường hợp những người từ chối như:
a. Tôi không tin Kinh Thánh
b. Tôi đang làm những việc tốt mà tôi có thể
c. Tôi chưa có thể tin Chúa ngay bây giờ.
d. Tôi sợ tôi không thể trung tín
e. Trường hợp của tôi khó quá
f. Tôi đã cố gắng tìm kiếm Chúa nhưng không gặp.
g. Tôi không thể tha thứ được cho người đã làm tôi đau khổ quá nhiều.
NGƯỜI KHÔNG QUAN TÂM.
Có vô số tội nhân không quan tâm vì có quá nhiều Cơ Đốc Nhân không chịu quan tâm. Các cuộc phục hưng lớn lao bao giờ cũng bắt đầu từ chỗ đánh thức Hội Thánh hãy lưu tâm ngay đến những người chỉ quan tâm chút ít hoặc không hề để ý đến số phận tâm linh của họ
Cho nên để giải quyết cho việc truyền giảng Phúc Âm cách kết quả, chúng ta phải để những hạng người nói trên lên hàng đầu. Hội thánh phải ra đi trên những đại lộ, bước vào từng nhà, từng túp lều, ngay cả với những hạng người tội lỗi để giải cứu những kẻ đang bị đùa vào sự chết. “Người nào vừa đi (không phải ngồi lì ở nhà) vừa khóc, đem giống ra rải, ắt sẽ trở về cách vui mừng mang bó lúa mình”. Hội Thánh cần phải để nhiều thì giờ cầu nguyện, nhẫn nại và liên tục chinh phục linh hồn những người nầy cho Cứu Chúa. Chỉ có những Cơ Đốc Nhân đã được tỉnh thức về giá trị của linh hồn. Sẽ biết trước được giá trị muôn đời của sự cứu rỗi và vui lòng trả giá bằng sự hy sinh mọi sự cho công cuộc chinh phục những tội nhân.
Chúng ta là những LÍNH CANH của Đức Chúa Trời. Đang khi thế gian bị ngủ mê trong màn đêm để rồi bị phán xét và hủy diệt, thì những Cơ Đốc Nhân, chúng ta phải ra đi thổi vang kèn Phúc Âm để cảnh cáo con người hãy mau mau thoát khỏi cơn thạnh nộ hầu đến bằng cách tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ. Hội thánh phải chịu trách nhiệm về những hạng người KHÔNG ĐƯỢC CỨU của thế hệ mình vì nngười ấy sẽ phải rơi vào hồ lửa đời đời mà trước đó chưa được nghe một lời nào cảnh cáo, chưa hề thấy được một chút ánh sáng Phúc Âm, chưa hề được ai mở miệng cầu thay hay đổ nước mắt cho. Tiên tri Giô-na ăn năn thì Thành Ninive mới chịu ăn năn. Hội thánh hãy ăn năn sự không vâng phục sứ mạng truyền giáo mà Đấng Christ đã truyền. Hội thánh hãy chiếu sáng ngọn hải đăng trên biển đời đầy phong ba đang gào thét, Hội thánh hãy xưng tội vì cớ đã không vâng theo khải tượng từ trời. Hội thánh hãy tự xét đoán lấy mình, hãy làm mọi sự để thế gian chịu nghe và chịu lưu tâm đến. Nếu trong đêm tối, một người đang ngủ say không hay biết gì những việc chung quanh, nhưng rồi có người đến đánh thức người dậy vì căn nhà người đã bị phát hỏa. Người sẽ vô cùng cảm ơn kẻ đã đánh thức mình. Khi chúng ta biết chắc chắn rằng những kẻ vô tín sẽ bị hình phạt nhưng trước đó chúng ta không cảnh cáo họ, chắc chắn chính chúng ta sẽ bị lên án.
Gặp phải những người bị bỏ rơi, không phải chỉ trong phút chốc mà chúng ta có thể thành công. Nhưng hãy nắm lấy ngay cơ hội từ đầu để nối kết lại những chuỗi dịp tiện hầu liên tục dẫn đưa họ đến cứu rỗi. Chúng ta hãy lấy “mọi sự khôn ngoan” để răn bảo mọi người và dùng những phần Kinh Thánh mẫu như:
I. KẺ BỊ MẤT: LuLc 15:1-19:10; IICo 2Cr 4:3-4.
Lu-ca chương 15 đưa ra 3 ví dụ về tình trạng hư mất của con người. Ví dụ về CON CHIÊN ĐI LẠC khiến chúng ta hướng đến việc người chăn quan tâm đến 1 con trong 100 con. Số phận con chiên đi lạc đã khiến người chăn lưu tâm đến 99 con còn lại, dù phải “để bầy lại trong đồng vắng” chứ không phải trong chuồng trại như bài Thánh ca 87 mà chúng ta thường thích hát. 99 con chiên ấy tiêu biểu cho những người Pharisi kiêu ngạo, họ đã lằm bằm, phàn nàn về việc Chúa Jêsus đã tiếp nhận những tội nhân và ăn chung với họ. Rõ ràng là giới thâu thuế chính là con chiên bị mất
Kinh Thánh dạy rằng những tội nhân giống như những con chiên. Họ thích đi theo ý riêng. Khi đối diện với những hiểm nguy, bất lực trước những sức mạnh của ác thú, họ mới nhận biết số phận hư vong của họ. Và chỉ có người chăn có lòng tìm kiếm để đem chiên lạc trở về chuồng. Đấng Christ là Người Chăn và con người là chiên. Có sự khác nhau giữa con chiên lạc và 99 con kia nơi đồng vắng đầy muông sói. Có thể 99 con kia phải bị để quên vì cớ phải đi tìm con chiên bị mất. Nếu mỗi tội nhân tìm kiếm đều gặp được Cứu Chúa đang tìm họ. Sự tìm cầu của kẻ biết mình bơ vơ là hình ảnh một con chiên xa bầy cần được người chăn đi tìm. Đấng Christ đã nghe tiếng kêu xin và Thiên đàng sẽ mừng rỡ khi một tội nhân biết ăn năn. Nhưng thiên đàng không có sự vui mừng đối với 99 con còn lại vì chúng không cần phải ăn năn.
Con người không những chỉ là con chiên đi lạc. Họ còn giống như đồng bạc bị mất. Nhưng đồng bạc có biết mình bị mất không? Cũng vậy, một số tội nhân vẫn không ý thức được mình bị mất. Nhưng người đàn bà lo lắng đã thắp đèn lên, quét sạch nhà mình để tìm đồng bạc quí. Một số linh hồn lạc mất trong Giáo hội và nhà thờ. Nếu một chi hội dù nhỏ nhưng thắp sáng được Thánh Linh và được dọn sạch bởi Lời Chúa chắc chắn sẽ tìm được những linh hồn lạc lõng ngay trong khu vực mình. Công cuộc tìm kiếm linh hồn bị lạc mất là trọng trách của Hội Thánh như chính Đấng Christ. Làm việc nầy là chúng ta cộng tác với Ngài. Trong số 99 con còn lại ở trong đồng vắng không chừng cũng có 9 con hay 10 con là tín đồ hữu danh vô thực trong Hội thánh.
Người con trai hoang đàng ương ngạnh, quyết định đi phương xa.lạc thú và giàu có đã lôi cuốn xã hội loài người trong nhiều quốc gia từ bỏ nhà Cha là Đức Chúa Trời để lao đầu vào cuộc sống trụy lạc. Không phải là tất cả, nhưng nếu một linh hồn hướng tâm về nhà Cha chắc chắc sẽ kêu lên “Ta đây sắp phải chết đói”. Cho nên nhiều khi người chinh phục linh hồn phải chờ đợi rất lâu năm, phải nhẫn nại cầu xin, kêu van, trông ngóng… phải chuẩn bị “bò con mập” để ăn mừng. Đức Chúa Trời sẽ làm cho khô hạn hết mọi điều người nương nhờ, một cơn đói sẽ chấm dứt ước mơ riêng, như bà Naômi đã từng than thở: “Tôi ra đi được đầy dẫy nhưng Chúa đã khiến tôi quay về với tay không”.
Qua ví dụ LuLc 15:1-32, ta thấy rõ sự điên cuồng của tội lỗi, quyền tể trị của Đức Chúa Trời, trách nhiệm của con người và niềm vui khôn tả của kẻ lạc bước đã chịu từ bỏ kiếp đi hoang để trở về nhà Cha trong sự phục vụ trọn đời. Thái độ của người con cả phàn nàn về ân sủng mà Cha đã đối xử cùng em mình đã phản ảnh thái độ sùng kính của những nhà hành nghề Tôn giáo chỉ biết đứng ngoài cách giận dữ và từ chối bước vào nhà.
II. KẺ BỊ PHỤC DƯỚI TỘI LỖI: RoRm 3:19
Hầu như mọi người đều nhận mình là tội nhân ít nhất là trong một khía cạnh nào đó, nhưng rất ít người nhận mình bị phục dưới quyền của tội lỗi. Họ vốn là những tội nhân trước mắt Đức Chúa Trời. Trong thơ gởi cho người Lamã, Phaolô đã bày tỏ một cách lý luận, bởi sợ khải thị, xem xét thấu đáo rằng Nhân loại đã bị phục dưới quyền của tội lỗi và đương nhiên bị ở dưới sự chết. Hãy cảnh cảo những hạng người nầy là kẻ cho mình có thể đứng được trước sự phán xét của Đức Chúa Trời là Đấng tự biết Ngài là ai và những gì Ngài đã định làm
III. NGƯỜI BỊ LÊ ÁN : GiGa 31:18, 3:36
Khi một linh hồn biết mình bị phục dưới quyền tội lỗi, theo sự phán xét của luật pháp, người biết mình hoàn toàn bị kết án, nghĩa là bị phục dưới sự chết. Tuy nhiên, có một việc làm có tính cách pháp lý để Đức Chúa Trời có thể xưng nghĩa cho tội nhân. Luật ấy được thiết lập do chính Đấng Tể Trị tối cao là Đức Chúa Trời, bởi Ân Điển Ngài, qua Huyết báu Đấng Christ , một tội nhân bị kết án vẫn được xưng là công chính. Làm thế nào có được điều đó? Ấy là bởi Đức tin trong Huyết của Con Ngài là Đấng xá miễn, tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta, Ngài cho chúng ta quyền đứng vững trước mặt Ngài, Ngài mặc cho chúng ta áo công nghĩa và xem chúng ta như một người chưa hề phạm tội. Khi một người giày đạp huyết ấy, tức là từ bỏ, khinh bỉ và vô tín, chính là tự phó linh hồn mình cho cơn thạnh nộ công bình của Đức Chúa Trời.
IV. NGƯỜI BỊ ĐỊNH CHO SỰ ĐÓAN: KhKh 21:8, Mat Mt 25:46
Mat Mt 25:30
Đánh giá quá hời hợt về những tội trọng, quan niệm sai lầm về bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời, đó là những nguyên nhân khiến nhiều người coi thường lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời và cứ tiếp tục sống nếp sống buông thả. Một số người bất cần đến chân lý vì cớ họ sợ bạn bè dị nghị, sợ bị phê phán, bị khinh bỉ hoặc sợ mất tình thân hữu.
Hạng người nầy có lẽ là đứng đầu danh sách những phạm nhân trong KhKh 21:8, vì họ tự đánh giá mình là giai cấp xa cách nhất. Càng kinh hãi biết bao khi suy nghĩ rằng hàng triệu triệu sanh linh đau khổ trong địa ngục đến đời đời vì cớ những linh hồn ấy hằng ngày phải đối diện với những khuôn mặt bất kỉnh đối với Đức Chúa Trời, dù muốn chết đi nhưng không thể chết được. Họ cứ phải sống chung với nhau như vậy trong đau khổ cho đến đời đời. Cũng vậy cho đến đời đời, Đức Chúa Trời Thánh Khiết và công bình cũng không thể cứu được bất cứ là ai đã tự mình tách ra khỏi Con Một Ngài là Chúa Cứu Thế Jêsus
Nếu sự chết là số phận chung cho cả loài người thì có lý do gì mà nhà Tiên Tri đã quở lên: “Vì sao các ngươi muốn chết?” Nếu công giá của tội lỗi chỉ là sự chết về thân xác mà thôi, thì sự cứu rỗi vô nghĩa, Đấng Christ chịu chết là vô ích, những nguyên tắc đạo đức trở nên vô bổ và sự chịu cực khổ của người chịu công bình trong trần gian nầy cũng hoài công vô ích. Nếu vậy thì Đức Chúa Trời không thể là Đấng Thánh Khiết, Công nghĩa và Yêu Thương. Lời Ngài cũng trở thành giả dối nếu chẳng có số phận tương lai phân cách vĩnh viễn kẻ ác và người công bình, bất nghĩa và lương thiện.
Kinh Thánh đã bày tỏ sự vinh hiển của Thiên Đàng cũng như sự khủng khiếp của địa ngục. Nếu Đức Chúa Trời đã phán rằng: “Người công bình sẽ vào nơi hạnh phước đời đời”, thì Ngài cũng đã tuyên bố: “Người bất nghĩa sẽ đi vào chốn hình phạt đời đời”. Khi bị khổ hình nơi địa ngục, chẳng một tội nhân nào có thể kết liễu đời sống được, bởi vì Kinh Thánh không dạy về một cõi tịch diệt, hư vô mà là dạy rõ về sự hình phạt đời đời cho kẻ ác.
Cho nên trọng trách của chúng ta là phải kêu khóc một cách xót xa để ra đi giải cứu kẻ đang bị hủy diệt là những người tự giao mạng sống mình xuống biển tội. Trong chuyến du hành trên Con Sông Thái Bình ở biển Alberta, Gia nã đại, con tàu buộc phải dừng lại tại Mclennan. Số là một buổi sáng tinh sương, khi đang nói chuyện với một người trên bong tàu, tôi chợt thấy một luồng khói bốc ra từ phía cửa sổ cửa buồng ngủ ở phòng trệt của khách sạn đối diện với buồng kho. Khi chạy vào phòng ngủ, người ta thấy lửa cháy ở tầng trệt giống như một hồ lửa. Chừng 20 người đang ngủ say, tôi thấy mạng sống họ trong phòng ngủ đang lâm nguy. Họ đang đi vào giấc mộng nhưng thật sự họ đang ở trên bờ vực thẳm tai họa. Thế là phải đanh thức họ dậy. Tất cả hành khách đều giật mình, mỗi người đều nhận diện và thu dọn phòng cách khẩn trương và sau đó 10 phút căn phòng đã bị bỏ trống. Có gì xảy ra nếu cứ để cho 20 vị khách nầy ngủ say thêm 1 giờ nữa? Nếu ai đó ngăn trở tôi lại và lý luận thực hư thế nào? Nếu dừng lại để tra vấn tôi có liên hệ gì đến những vị khách ấy, thì sự hiểm nguy sẽ đến mức nào? Nhưng chỉ có một việc cần làm ngay là không ai biện luận gì, từ trẻ đến già, ai nấy đều phải trổi dậy để thoát khỏi cơn hỏa hoạn. Nếu có những người không chịu quan tâm đến lời cảnh cáo “LỬA CHÁY! LỬA CHÁY!” để rồi cứ đi ngủ lại thì hẳn họ trở thành những người bị hủy diệt.
CÂU HỎI BÀI 11
1/ Trong Kinh Thánh ở đâu chép: “Không ai lo đến hồn tôi?”
2/ Tại sao chúng ta không được phép bỏ lơ những hạng người không có lòng quan tâm đến đạo Chúa ? Xin trưng dẫn 2 câu Kinh Thánh.
3/ Trưng dẫn thuộc lòng: GaGl 6:9 và giải thích câu nầy liên quan gì đến bài học?
4/ Lời cảnh cáo nghiêm trang trong LuLc 12:47 đối với kẻ biết ý muốn Chúa mà không làm là gì?
5/ Giô-na đã nối lại về nhu cầu của Ni-ni-ve như thế nào? Ông đã làm gì khi được trao phó cho sứ mạng trong lần thứ nhất? Ông đã làm gì sau đó? Hội thánh giống Giô-na ở điềm nào?
6/ Câu nào trong Kinh Thánh dạy ta
7/ Hai hạng người nào Chúa Jêsus đã ám chỉ khi giảng về 3 ví dụ trong LuLc 15:1-32? Người chăn bỏ 99 con chiên đâu? 99 con chiên ấy tượng trưng về ai? Có bao nhiêu người thật không cần phải ăn năn? Tại sao? Loài người giống con chiên ở điểm nào?
8/ Tại sao tội nhân giống đồng bạc mất? Người đàn bà tượng trưng nơi nào? Ai phải chịu trách nhiệm về việc đánh mất, và ai chịu trách nhiệm phải tìm lại? Bà phải làm gì trước khi tìm được đồng bạc?
9/ Dùng Kinh Thánh để giải thích và niêu ra tại sao những quốc gia, gia đình và cá nhân thường quay bỏ Đức Chúa Trời để phiêu lưu theo ý riêng khi họ trở nên giàu có về vật chất?
10/ Qua câu chuyện người con trai hoang đàng, hãy làm sáng tỏ cách Đức Chúa Trời muốn chính con người đi lạc phải có trách nhiệm quyết định tự quay về?
11/ Trưng dẫn thuộc lòng: RoRm 3:19. Thử áp dụng câu nầy để làm chứng cho hạng người không chịu quan tâm.
12/ Trưng dẫn thuộc lòng: GiGa 3:18 và 3:36;
13/ Ai xưng chúng ta là công bình? Căn cứ vào đâu để chúng ta được xưng công bình? Và chúng ta được xưng công bình bằng cách nào? Xin trưng dẫn Kinh Thánh mỗi trường hợp.
14/ Trưng dẫn thuộc lòng: KhKh 21:8Mat Mt 25:46
15/ Tại sao lại có những quan điểm quá thiển cận về sự hình phạt đời đời?
16/ Xin đưa ra ít nhất 5 lý do tại sao bạn tin rằng công giá của tội lỗi không chỉ là sự chết thân thể mà thôi?
NGƯỜI THIÊN NHIÊN HAY XÁC THỊT
Những tín đồ xác thịt trong Hội thánh làm tổn thương thẩn thể Chúa hơn là những người chưa tin. Một khi Tín Đồ Con Đỏ cứ ở mãi trong tình trạng con đỏ, dầu họ đã được tái sanh rồi, nhưng không lớn lên trong ân điển và trong sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, khi họ cứ vẫn bước theo xác thịt thay vì bước theo Thánh Linh thì Hội Thánh cứ bị ở mãi trong nan đề trầm trọng của mình. Đó là một Hội Thánh dẫy chết, một bệnh truyền nhiễm đang lan ra, một loại UNG THƯ khiến những con bệnh càng ngày càng suy yếu, không giúp ích gì được.
Gie Gr 2:13
Tín đồ xác thịt sẽ miễn cưỡng ra đi chinh phục linh hồn kẻ khác, nhưng lại tỏ ra rất kiêu căng trong bất cứ công tác nào. Họ ít cầu nguyện và thiếu quan tâm. Họ thích các trò chơi hơn là học biết về Đức Thánh Linh. Họ hiểu các luật lệ bóng đá nhưng lại dốt nát về các nguyên tắc và phương pháp khiến đời sống thuộc linh tăng trưởng. Họ yêu mến thế gian, ưa tán gẫu, say mê các câu chuyện đời hơn là quan tâm đến suối nước của sự sống, họ xây đắp những hồ nước riêng của vật chất và ý người, nhưng hồ bể ra không chứa được.
Ngay đến những Hội Thánh Tin Lành chánh thống cũng gặp phải những tình trạng vị mục sư đơn sơ thì chỉ thấy tình trạng đó qua một cặp kính đen mà thôi, nhưng thật ra đó là dấu hiệu về các lý tưởng Hội Thánh toàn hảo đã bị sụp đổ hoặc bị xảo trá. Và trong thực tế, Hội thánh đầy dẫy những ham mê lạc thú của thế gian, xác thịt và không ít người trong họ là những Ông Bà đã chiếm giữ những chức vụ quan trọng trong Hội Thánh.
Gia Gc 1:14-15
Một số người gọi những hạng tín hữu nầy là những người tái phạm tội luôn, đó là một nhận xét khá chính xác. Tuy nhiên, từ “tái phạm tội” không thấy được dùng trong Tân Ước, có lẽ chúng ta gọi hạng người thích quay đi khỏi Chúa sau mỗi bước đi theo Ngài, đó là Lẩn Quẩn. Tánh xác thịt khiến họ sa ngã tái diễn do sự tham muốn của xác thịt. Người xác thịt là người lúc muốn lúc không, không có quyết chí theo Chúa, nhưng một linh hồn liên kết với Đấng Christ sẽ cứ càng ngày càng được lớn lên. Nếu tội lỗi bị bóp chết từ trong trứng nước thì nó sẽ không dẫn đến hậu quả tại họa đó.
Gặp phải hạng người thiên nhiên hay xác thịt, chúng ta phải chẩn đoán nguyên nhân, nhận xét hậu quả và tìm phương cách chữa trị.
I. NGUYÊN NHÂN :
1/ TRÔI NỔI: HeDt 2:1-4
Thơ Hê-bơ-rơ là thơ gửi cho những Cơ Đốc Nhân người Do Thái. Đã có lúc họ chịu khổ về Phúc Âm, vui mừng khi nhận lấy phước hạnh bởi “Ơn kêu gọi từ trên trời”. Tuy nhiên, những luật lệ của đời sống Cơ Đốc đã khiến họ nản lòng. Họ không muốn “tiếp tục tiến bước” nữa, nhưng muốn dừng lại trong chỗ mất lập trường. Họ bắt đầu trôi dạt và không nhớ là mình đã quay lại đời sống con đỏ thuộc linh từ dạo nào… Họ quả thật là hạng tín đồ xác thịt. Họ đã quay lại.
Vì vậy, thơ Hê-bơ-rơ đã mạnh mẽ khuyến cáo hãy tiếp tục hướng về mục đích phía trước và đưa ra lời cảnh cáo về số phận nguy hiểm của những ai muốn quay lại.
Một Cơ Đốc Nhân xác thịt quay khỏi Chúa là lúc người nghe lời Chúa mà không quan tâm (HeDt 2:1). Càng lúc người cứ duy trì tình trạng xác thịt, dù vẫn nghe lời cảnh cáo nhưng lại cứ không muốn để ý đến sự hướng dẫn thiên thượng. Nếu cứ tiếp tục tình trạng nầy thì nguy hiểm biết bao! “Nếu ai đó trái phép, nghịch mạng, bê trễ đối với cuộc sống cứu ân ngày nầy qua ngày kia
Ân điển của Đức Chúa Trời đem chúng ta đến với sự cứu rỗi, dạy chúng ta từ bỏ cuộc sống tội ác và tình dục thế gian để sống cách xứng đáng, ngay thẳng và công bình trong đời nầy. Tác giả của thơ đã hỏi một câu bao gồm cả chính ông rằng: “Nếu chúng ta trễ nãi sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao chúng ta tránh khỏi được?” Lời cảnh cáo nầy quá rõ ràng, không phải diễn tả thêm.
Phi Pl 2:13
Hãy cảnh cáo những tín đồ xác thịt nầy coi chừng tình trạng trôi nổi của mình, hãy để ý đến lời của Đức Chúa Trời và thực hành sự cứu rỗi cho chính mình với lòng run rẩy và sợ hãi, biết chắc Chúa có thể giúp ta vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.
2/ CHẲNG TIN: HeDt 3:7-19
Satan sẽ lợi dụng thái độ trôi nổi của một người để đưa người ấy đến chổ không tin. Tội không tin hủy diệt lòng nhiệt thành, nó đã khiến dân Ysơraên phải lang thang trong đồng vắng suốt 40 năm. Nếu đã có đức tin vững chắc thì họ đã sớm bước vào Canaan, đất “đượm sữa mật”, có nhiều khe suối, nước sâu phun lên trong trũng và trên núi; xứ có lúa mì, lúa mạch, dây nho, vây vả, cây lựu, dầu olive và mật; xứ đó người ta sẽ ăn bánh đầy đủ, không thiếu món chi”.
Tác giả Hê-bơ-rơ tiếp tục cảnh cáo: “Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng?”
3/ THOÁI HÓA: HeDt 5:11-14
Cơ Đốc Nhân trôi nổi, có lòng chẳng tin sẽ sớm thoái hóa, trở nên biếng nhác, lừ đừ, gầy còi thuộc linh và cuối cùng tiến đến chổ không thể khiến họ lại ăn năn nữa. Nhưng Lời của Đức Chúa Trời sẽ kịp thời giúp đỡ cho bất cứ ai muốn sống đúng đắn. Nên một người trôi nổi không lưu tâm, bất cẩn, sống gian ác và phàm tục, phải cần lắng nghe lời cảnh cáo nặng nề. Nếu sự cứu rỗi đã biến đi rồi thì sẽ không có hiện tại và cũng không còn trong tương lai. Cho nên Kinh Thánh không nhấn mạnh đến loại giải cứu cho khỏi hồ lửa nhưng là sự giải cứu khỏi quyền lực tội ác là yếu tố chính tạo nên hồ lửa đề dành cho kẻ cứ miệt mài trong cuộc sống tội ác.
4/ KHINH BỈ: HeDt 10:26-31
Nếu một Cơ Đốc Nhân không tìm thấy sự thích thú trong lời Chúa, chắc sẽ tiến đến chỗ khinh bỉ. Vì dù của lễ chuộc tội của Đấng Christ có toàn vẹn đến đâu, cũng sẽ bị coi thường và huyết báu của Ngài bị hạng người nầy coi khinh. Bởi vì họ là những người đi vòng quanh, lẫn quẩn.
Vậy, hỡi anh em là kẻ theo phái CALVIN (Tiền định độc đoán) hay phái ARMINIUS (Tự nhiên cá nhân), kẻ tin hay chưa tin, hãy để ý đến lời cảnh cáo rất nghiêm trọng nầy là “chớ khinh bỉ huyết quý báu của Đấng Christ là huyết đã đổ ra để chuộc tội lỗi cho chúng ta”
5/ TỪ CHỐI: HeDt 12:25-27
Lời cảnh cáo cuối cùng của thơ Hê-bơ-rơ lưu ý cho chúng ta về số phận hiểm nghèo của kẻ từ chối đấng đã truyền phán những mạng lịnh của Ngài cách có uy quyền, là Đấng sẽ làm rúng động cả trời và đất. Thật rồ dại thay khi chúng ta cứ miệt mài sống với những sự chắc phải qua đi trong khi Đức Chúa Trời đang cứ kêu gọi chúng ta hãy hướng đến một Nước không bao giờ qua đi! Cho đến kẻ trôi giạt khỏi lòng Chúa như HeDt 2:1-4 đã nói, kẻ cứng lòng không chịu lắng nghe Ngài như HeDt 3:7-8, sẽ càng ngày càng trở nên thoái hóa, khinh bỉ của lễ mà Đấng Christ đã dâng lên tại đồi Gôgôtha, để rồi cuối cùng phải đi đến chỗ hoàn toàn từ chối Ngài.
Thái độ không quan tâm đến Lời Chúa sẽ tạo hiểm nghèo cho đức tin mình
II. HẬU QUẢ :
1/THẤT VỌNG: Gie Gr 2:25
Một phần sách TIên tri Giê-rê-mi đã đặc biệt lưu ý đến những người chuyên tái phạm. Ong cho thấy sự tái phạm đưa đến tình trạng tuyệt vọng. Sự mất hy vọng là vũ khí hữu dụng nhất là Satan. Chúa Jêsus chúng ta chẳng bao giờ thất vọng vì Ngài không bao giờ thất bại. Con người bị nản lòng khi họ bị thất bại trong sự cầu nguyện để đặt niềm tin mình trên Đấng Toàn Năng. “Chúng ta sẽ chẳng hề thất vọng nếu biết kêu xin cùng Chúa Hằng Hữu”. Há chẳng phải những tín đồ xác thịt là sản phẩm của đời sống không cầu nguyện đó sao”? Cơ Đốc Nhân xác thịt là hạng thấy mình làm được tất cả. Người cố gắng chinh phục bạn bè và bắt người khác phải theo ý muốn mình, người chẳng bao giờ thấy mình bị rơi vào chỗ cần sự giúp đỡ để biết nhờ cậy đến một mình Đức Chúa Trời, là Đấng có trọn quyền cứu giúp.
Nhưng với một người nhận biết Đức Chúa Trời một cách thân thiết, người có thể hát trong cơn giông tố, “ Ngài là hòn đá tôi, cũng là sự cứu rỗi tôi”. Những hạng người nầy chẳng bao giờ thất vọng.
2/ Ô UẾ: Gie Gr 2:7
Khi một Cơ Đốc Nhân bỏ quên mối tương giao với Đức Chúa Trời thì sẽ tìm kiếm sự tương giao với kẻ vô đạo. Do đó, người sẽ bị trôi dạt đức tin, vô dụng đối với công việc nhà Chúa và trở nên ô uế đối với mọi người liên hệ đến. Thánh Giăng đã bảo chúng ta phải giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian. Giuđe thì khuyên chúng ta phải ghét cả đến cái áo đã bị xác thịt làm ô uế. Đức Chúa Trời chẳngbao giờ ngự giữa những kẻ không chịu tách mình ra khỏi thế gian. Ngài lánh mặt khỏi kẻ không vâng phục, ương ngạnh và phàm tục. Nếu hội thánh là vị hôn thê của Đấng Christ không biết giữ áo mình cho tin sạch nàng sẽ làm cho cả Hội chủng bị loại bỏ. Nếu Hội thánh không thể đưa tay thánh sạch lên trời mà cầu nguyện, chính là một Hội thánh xác thịt, Hội thánh đã quay về với thế gian. Một tín hữu đi nhóm với tay bất khiết với lòng không sạch thì chẳng hề nhận được dù chỉ MỘT ơn phước.
Nếu bạn là một Cơ Đốc Nhân đã từng góp phần thờ phượng, ca hát với tay và lòng bất khiết, thì bây giờ hãy vâng theo lời dạy bảo của Giacơ: “Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau sạch tay mình, có ai hai lòng hãy làm sạch lòng đi, hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hay đau thương khóc lóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa thì Ngài sẽ nhắc anh em lên”
3/GIAN TRÁ: Giêrêmi: 8-5
Tiên tri Giê-rê-mi nói về Giu đa rằng: “ Chúng nó khăng khăng giữ điều gian trá”. Giuđa vẫn giữ các hình thức tôn giáo dần đã bội nghịch. Họ có thầy tế lễ, tiên tri và những người phụng vụ tôn giáo. Nhưng họ vẫn quay hướng những người tiên tri theo ý riêng họ. Họ ghét Giê-rê-mi vì ông không chịu xoa dịu vết thương họ bằng những lời êm tai. Nhưng Đức Chúa Trời yêu thích kẻ nào lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Ngài. Những người khui đi cứ sống gian trá để lừa dối chính mình nữa. Cả người chưa tin đôi khi cũng không thể chịu được hình thức giả hình nầy.
4/BỘI NGHỊCH: Gie Gr 2:19
Sự tái phạm sẽ dẫn đến sự bội nghịch. Người con trai hoang đàng khi có nhiều tiền của thì đi phương xa, nhưng khi biết mình sắp chết đói thì quay về nhà Cha. Tiên tri Giê-rê-mi nhận thấy sự không vâng phục sẽ dẫn đến sự tuyệt vọng. Nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn hướng dẫn người chinh phục linh hồn có lòng cầu xin kêu van đến để cứu giúp những ai bội người con bội nghịch không chịu sự sữa phạt, đó là đứa con hoang.
III. PHƯƠNG CÁCH CHỮA TRỊ :
1/ HÃY ĂN NĂN: Thi Tv 51:1-19 KhKh 2:5, 16, 22; 3:3, 19.
IICo 2Cr 2:7
Sự ăn năn thật là đau đớn về tội lỗi. Động từ “ăn năn” trong nguyên văn Hê-bơ-rơ là Nacham. Có nghĩa là hối tiếc, kêu van, than khóc, đắng cay, đau khổ. Vì vậy ăn năn chính là sự thay đổi có mục đích. Đức Chúa Trời khiến kẻ ăn năn cảm thấy xót xa đau khổ về tội ác mình đã làm hoặc nếu tái phạm. Nếu những tín hữu Côrinhtô ăn năn, xấu hổ về những tội phạm của họ thì trước đó, Phaolô cũng đã xót xa càng hơn về tội ác của họ. Nếu đã thật sự ăn năn rồi thì không cần lặp lại nữa.
Một vài người chê trách Davít vì cớ những tội ông đã phạm. Thật sự tội phạm của Davít đã gây ra sự buồn bã và xúc phạm lớn …nhưng hãy suy ngẫm lại lời ăn năn thống hối của ông trong Thi Tv 51:1-19. Đavít đã ăn năn và ông để lại cho chúng ta một bản ĐIỀU TRẦN về lòng khiêm nhường và hạ mình của ông để kêu xin Đức Chúa Trời tỏ lòng thương xót xa miễn ông qua sự thống hối chân thành. Kinh Thánh không chỉ được viết để phô bày những đức tánh nhân bản, nhưng chính là phô bày Ân Điển Lớn Lao của Đức Chúa Trời đối cùng kẻ không xứng đáng được nhận. Nó cho thấy suối huyết tuôn trào để cuốn trôi mọi tội phạm. 5 trong 7 Hội thánh của sách KhKh 2:1-3:22 cần phải ăn năn. Thái độ không cần ăn năn sẽ giết chết Hội thánh ngày nay.
Sự ăn ăn luôn đi trước sự xưng tội.
2/ HÃY XƯNG TỘI: ChCn 28:13; IGi1Ga 1:9
Xưng tội tức là đồng ý với Đức Chúa Trời về thái độ của Ngài đối với chúng ta, và thái độ của Đức Chúa Trời là GHÉT TỘI LỖI, chúng ta cũng vậy. Tội lỗi phân rẽ chúng ta khỏi Đức Chúa Trời, phân rẽ con người với con người và phân cách tín hữu nầy với tín hữu kia.
Khi một tội phạm có tác hại chống nghịch Đức Chúa Trời, chúng ta phải xưng ra với chính Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nếu tội phạm ấy tác hại đến người khác, chúng ta cũng phải xưng ra với tất cả những ai ta đã làm tổn thương. Phải sữa đổi một cách thỏa mãn lại những gì đã sai trật. Làm hòa lại với Đức Chúa Trời chính là vâng phục Ngài để kiến tạo lại những gì thiện lành, tình thân hữu và sửa ngay lại những sai phạm trong mọi phạm vi có liên quan.
3/ TUYÊN BỐ LỜI HỨA: Gie Gr 3:12, 22
Đức Chúa Trời hứa tiếp nhận những người bội nghịch. Chắc chắn một ai đó quay lại cùng Đức Chúa Trời, nhìn xem, trông đợi Ngài giải cứu, thì chắc Ngài sẽ tha thứ dồi dào và làm sạch mọi sự bất nghĩa trong chúng ta.
CÂU HỎI BÀI 12
1/ Dùng lời dẫn nhập của bài học nầy xin bạn tự trình bày thể nào là một tín đồ xác thịt và hay tái phạm.
2/ Qua thơ Hêbơrơ, tội tái phạm gây ra bởi 5 nguyên nhân? Xin trưng dẫn Kinh Thánh trong mỗi trường hợp và giải thích những lý do của mỗi trường hợp đưa đến sự xa cách Đức Chúa Trời
3/ Trưng dẫn thuộc lòng: Tit Tt 2:11-12
4/ Đưa ra 5 lý do bạn tin rằng Thơ Hê-bơ-rơ được viết cho những người được gọi là Cơ Đốc Nhân.
5/ Theo Mat Mt 1:21; Tit Tt 2:14KhKh 22:11, có sự mâu chuẩn nào về tội lỗi trong đời sống Cơ Đốc Nhân không?
6/ Trưng dẫn thuộc lòng: HeDt 10:26-31. Theo phân đoạn nầy và văn mạch, tội cố chấp được đề cập với lời cảnh cáo như thế nào?
7/ Hậu quả thứ I của những người hay tái phạm, theo bài học nầy là gì? Tác hại của nó ra sao?
8/ Hậu quả thứ II là gì? Xin dùng Kinh Thánh để chỉ ra một số trường hợp những nguời cứ ở trong vòng lẩn quẩn nầy.
9/ Hậu quả thứ III là gì? Xin giải thích tội phạm nầy gây tác hại ra sao theo Lời tiên tri của Giê-rê-mi nói về Giuđa.
10/Hậu quả thứ IV là gì? Xin dùng Kinh Thánh giải thích
11/ Có 3 bước để chữa trị là gì?
12/ Xin nhấn mạnh ăn năn là gì?
13/ Kinh Thánh ở đâu chép về sự ăn năn của Đavít? Xin đưa ra 5 điểm về sự ăn năn ấy.
14/ Trưng dẫn thuộc lòng: ChCn 28:13, và GiGa 1:9
15/ Hãy giải thích cặn kẽ thế nào là một sự xưng tội cách chân thành và đầy đủ?
16/ Nếu những người tái phạm biết ăn năn dứt khoát và quay về cùng Đức Chúa Trời thì có còn lời hứa bảo đảm nào giải cứu họ không? Trưng dẫn thuộc lòng và địa chỉ ít nhất 3 câu Kinh Thánh .
NGƯỜI THEO CÔNG GIÁO LA MÃ
Lời dặn dò của Phaolô cho Timôthê trong IITi 2Tm 2:24-26 rất có ích cho Người Chinh Phục Linh Hồn trong công tác chứng đạo cho người theo Công Giáo La mã. Tôi tớ của Đức Chúa Trời phải rộng lượng, có tài dạy dỗ, nhẫn nại, nhịn nhục để sửa dạy những kẻ chống nghịch, gỡ họ ra khỏi lưới rập của ma quỷ, vì đã bị nó bắt sống đề làm theo ý nó. Nhưng tín hữu Cải Chánh Giáo đã biết rõ những khuynh hướng cố chấp của Lamã giáo trải qua nhiều thế kỷ, họ đã phải vì lẽ thật chiến đấu đến đổ máu trong những miền Lamã giáo thống trị. Nhưng Phaolô đã mạnh mẽ khuyên dạy tôi tớ của Đấng Christ “Không Nên Tranh Cạnh” với những hạng người nầy, dầu vậy ông cũng cảnh giác: “Hãy Giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 2:4)
Một Cơ Đốc Nhân phải giống như Đấng Christ , nghĩa là phải đầy Ân Điển và Lẻ Thật “Đấng Christ ở trong chúng ta”, đó là tất cả vấn đề
I. ĐỐI PHÓ MỘT CÁCH KHÔN KHÉO :
Khi sai các môn đồ ra đi như chiên xông vào giữa bầy muôn sói, Đấng Christ khuyên rằng Hãy Khôn Khéo! Sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời là Đấng ban cho cách rộng rãi những ai tìm cầu Ngài. Đó là sự khôn ngoan Gia-cơ đã mô tả: “Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hài lòng và giả hình” (Gia Gc 3:17). Những cuộc chạm trán giáo lý giữa tín hữu cải chánh với người theo Công Giáo Lamã ở những nơi Hội Cải chánh mạnh mẽ thì khác hẳn ở những miền Lamã giáo chiếm ưu thế.
Công tác cá nhân chứng đạo không nên máy móc. Vì có những người công Giáo ít đi xem lễ, không phục uy quyền của Linh mục, không tin vào Hồng Y hay Giáo Hoàng. Một số khác thì lại quá cuồng tín có thể nổi trận lôi đình hoặc tàn sát. Hãy học hỏi đức tình nhẫn nhục trong công tác chinh phục. Hãy xem xét từng trường hợp cụ thể, hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời, nài xin nơi Ngài sự khôn ngoan để đối phó.
I. ĐỐI PHÓ MỘT CÁCH SÁNG SUỐT Trước khi dạy ai chúng ta phải học. Tôi tớ của Đức Chúa Trời phải có tài dạy dỗ những kẻ chống đối. Vì vậy, chứng đạo viên phải học biết rõ Giáo lý của công giáo la mã để có thể đưa ra những điều mâu thuẫn của chính họ, những điều họ tin ngược lại những chân lý của Kinh Thánh . Nếu cần, chúng ta vạch ra những điều mâu thuẫn ấy ngay trong chính bản dịch Kinh Thánh của Giáo Hội La-mã như sự vô ngộ của Giáo hoàng, các Thánh tông đồ, sự hợp nhất, phổ thế tính .v.v.
1/ PHIERƠ và GIÁO HOÀNG: Công giáo La-mã dạy rằng Phierơ là Giáo Hoàng đầu tiên ở Lamã, là Hòn Đá mà Đấng Christ hứa lập Hội Thánh Ngài lên đó, vì ông đã được phong chức bởi Đức Chúa Trời để cai trị cả thế gian. Phierơ được ban cho mọi chìa khóa Nước Trời, có quyền mở và đóng cửa thiên đàng đối với ai, có quyền bắt tội hoặc xá tội ai và uy quyền đó được ủy thác lại cho những vị Giáo Hoàng kế tiếp mà không ai có thể phá hủy được.
TRẢ LỜI: a- Chẳng có một đoạn Kinh Thánh Công Giáo nào chứng tỏ rằng Phierơ đã giữ chức vụ Giáo Hoàng tại La-mã. Nếu có thì Phaolô hẳn sẽ đề cập rõ về Phierơ trong thơ ông gởi cho người La-mã và nhất là phải gởi lời chào đặc biệt đến Phierơ như ông đã chào thăm rất nhiều người tại Rôma. Thật ra, Phierơ chỉ là Sứ đồ cho những người đã chịu cắt bì. Phierơ đã viết thơ IPhi-e-rơ của ông tại Babylôn gởi cho những Cơ Đốc Nhân rải rác trong cõi A-Si (Tiểu Á Tế Á). Trong thơ thứ II, Phierơ cũng không đề cập đến Rô-ma dầu lúc ấy ông sắp qua đời
b- Tiếng Hy Lạp, chữ Phierơ là TTÉTPOS (PETROS) nghĩa là “Một viên đá”, cón chữ ĐÁ, VẦNG ĐÁ dùng chỉ về Đấng Christ là TTÉPA (PETRA). Có phải Đấng Christ nói trong Mat Mt 16:18 là Ngài sẽ xây Hội Thánh Ngài trên Phierơ chăng? Bản Kinh Thánh không hề nói như vậy. Chính Phierơ và các sứ đồ khác cũng không hề giải thích như vậy. Phaolô nói rõ rằng chỉ Đấng Christ là nền tảng duy nhất của Hội Thánh. Ông nói thêm rằng”Jêsus Christ LÀ ĐÁ GÓC NHÀ” và cả Đức Chúa Trời được xây trên đá ấy và TRÊN NỀN CỦA CÁC SỨ ĐỒ CÙNG CÁC ĐẤNG TIÊN TRI chớ Ngài không chỉ đặc biệt một cá nhân nào cả. Điều nầy nhấn mạnh rằng cả Cựu Ước và Tân Ước đều dạy như vậy. Chính Phierơ cũng đã xưng ĐẤNG CHRIST LÀ ĐÁ GÓC NHÀ VÀ ĐÃ CÓ LÚC CHÍNH NGÀI BỊ NGƯỜI TA VẤP CHƠN.
c- Phierơ chẳng bao giờ tuyên bố rằng ông nắm quyền cai trị trên thế gian. Nhưng uy quyền của cả trời và đất đã thuộc về tay Đấng Christ cho đến kỳ chung kết đời nầy. Trái lại, Phierơ bảo chúng ta phải vâng phục nhà cầm quyền chớ không nói rằng “Hãy vâng phục tôi” Ông bảo những tôi tớ của Đức Chúa Trời hãy chăn bầy của Ngài không phải như cai trị phần cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, nhưng là thực hành sự thuận phục lẫn nhau trong sự khiêm nhường và thành thật. Phaolô diễn đạt rằng Đấng Christ là đầu “mọi sự”, không những trong đời nầy mà trong đời hầu đến nữa” (Eph Ep 1:19-23)
d- Thật là sai lầm khi nói rằng Đấng Christ đã trao cho Phierơ quyền đóng và mở cửa Thiên Đàng cho con người. Đấng Christ là CÁI CỬA CỦA SỰ CỨU RỖI. Và lời hứa rằng: “Nếu ai bởi ta mà vào thì sẽ được cứu, họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ”. Hơn nữa, quyền mở và buộc mà Chúa nói cùng Phierơ trong Mat Mt 16:19 cũng có giá trị cho bất cứ ai tin cậy và cầu nguyện một cách hiệu quả. (Mat Mt 18:18-20)
Uy quyền Sứ đồ là loại uy quyền được ủy thác, không phải là uy quyền tập trung vào một cá nhân nào. Ví dụ, Phierơ giảng trong ngày là Ngũ Tuần: “Hãy ăn năn, ai nấy phải nhơn danh Chúa Jêsus chịu bấp têm để được tha tội mình.” Với lời giảng ấy. Phierơ chỉ nhắc lại một uy quyền đã có sẵn. Sau đó, khi chữa lành một người què từ thưởng sanh ra, Phierơ giải thích: “Hỡi người Israel, sao các ông lấy làm lạ về việc nầy? Sao ngó sửng chúng tôi, dường như chúng tôi đã nhờ quyền năng riêng hay là sự kỉnh kiền riêng của mình mà khiến người nầy đi được ư? Đức Chúa Trời của Ápraham… đã tôn vinh Con Ngài là Jêsus Christ và ấy là bởi đức tin trong Danh Ngài là Danh đã khiến người nầy được mạnh (Cong Cv 3:12-16). Cũng có một cách ấy, khi giảng cho dân ngoại bang, Phierơ đã giải thích “Hết thảy các tiên tri đều làm chứng cho Ngài thì nhờ Danh Ngài mà nhận được sự tha tội.” Phierơ nương cậy loại uy quyền bởi đức tin để được tha tội căn cứ trên lời dạy của cả Cựu Ước (Các tiên tri), đã tiên tri về Đấng Christ, mà cả Tân Ước đã chứng thực cho Kinh Thánh là Lời chứng của Đức Chúa Trời, có thẩm quyền thiên thượng. Không có uy quyền nào cao hơn quyền của Đức Chúa Trời. Đấng Christ, vốn là Đức Chúa Trời đã có quyền tha tội bất cứ kẻ nào tin nhận Đấng Christ cũng đều có quyền sử dụng uy quyền mà các Tiên tri và Sứ đồ để lại trong Kinh Thánh đều có quyền sử dụng uy quyền mà các Tiên tri và Sứ đồ để lại trong Kinh Thánh . Vì vạy, khi một kẻ tin Chúa trong thế kỷ 20 nầy, người ấy cũng có thể tuyên bố rằng “tội lỗi của tôi đã được tha thứ”, thì người không cần phải tìm một vị có chức thánh hoặc nhờ cậy giới Linh Mục của Công Giáo La-mã. Trái lại, người có quyền ấy một cách thiêng liêng từ Lời Đức Chúa Trời đã cho phép, tức là những lời đã trở thành Cựu Ước và Tân Ước, mà ngày nay chúng ta hiểu là Phúc Âm.
e- Thật là sai lầm khi chúng ta bảo Phierơ là Giáo Hoàng đầu tiên tại Tô-ma và đó là Giáo Hội Công Giáo La-mã đầu tiên. Không có Hội Thánh đầu tiên tại Giêrusalem, và từ đó Tin Lành được rao truyền khắp cả thế gian (Cong Cv 1:8). Hội Thánh phát triển và có sự tranh chấp về sự chịu cắt bì, thì một Giáo Hội Nghị đã nhóm tại Giêrusalem để giải quyết dứt khoát (Cong Cv 15:2)
Mãi cho đến đầu thế kỷ 4 SC, khi máu của những tuận đạo nhân đã đổ ra hầu như rửa sạch những con đường ngoại giáo tại Rôma, thì Constantine đã qui đạo, vị Hoàng đế nầy đã mở cửa cho Tin Lành tràn đến thế giới Ngoại Giáo. Ấy là lý do tại sao một vài sử gia đã gọi những giờ huy hoàng nhất của Cơ Đốc Giáo là những giờ đen tối nhất ( Thời ám thế). Những Thầy Tư Tế Ngoại giáo qui đạo đã gieo rắc niềm tin cũ của họ vào Hội Thánh Cơ Đốc. Thay vì thờ phượng những nữ thần, họ thờ một người đàn bà khác, đó là Mari. Sự kiện nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử Cơ Đốc Giáo suốt 400 năm đầu. Nhưng từ khi Constantine gã Giáo Hội cho chủ nghĩa Ngoại giáo, thì sự thỏa hiệp gian ác đã xảy ra, vì vậy mới có những chủ trương sai lầm như:
Năm : – Sự cầu nguyện cho người chết
1100 SC- Thờ lạy các Thánh, các thiên sứ, lễ Misa
1123- Áp dụng chủ nghĩa Độc Thân trên thế giới Linh Mục và Tu Sĩ
1190- Bán bùa xá tội
1215- Biến Thể Tuyết (chủ trương bánh và rượu nho thành thịt và Huyết thật của Chúa Kitô)
1215- Xưng tội riêng với Linh Mục
1438- Ngục luyện tội
1854- Chủ trương Mari vô nhiễm nguyên tội
1870- Giáo Hoàng vô ngộ
1950- Mari ngự lên trời
2/. MARI : a. Nếu Mari là Đức mẹ Chuá Trời thì bà phải có trước Chúa Trời và Chúa Trời không phải là Đấng Đời Đời nữa. Với sự tin tưởng này, Giáo Hội Công Giáo La-mã đã tự chống lại họ một cách mù lòa. Giáo Hội Công Giáo La-mã sẽ vô ích chỉ để tìm một câu Kinh Thánh hỗ trợ cho điều Chúa Jêsus khẳng định Mari thật là Mẹ Ngài. Nhưng Chúa Jesus đã nói rõ về Mari là người nữ mà chính Ngài là “dòng dõi của người nữ ấy” theo phương diện nhân tánh, nhưng Ngài là Emanuel, nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”. Về phương diên Thần Tánh, Ngài là Đức Chúa Trời, vì ngài có trước muôn vật
b- Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo La – mã dạy rằng: “vì chỉ có một Thiên Chúa và cũng chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người” (bản nguyễn thế thuẩn) (ITi1Tm 2:5). Nếu điều nầy là đúng thì Giáo Hội Công Giáo La-mã đã đặt Mari vào vị trí của Đấng Christ sao? Chỉ có một Đấng trung gian, không thể có hai. Như vậy, Giáo Hội Công Giáo La-mã làm sao vô ngộ được khi phản lại chính Kinh Thánh của Giáo Hội mình?
c- Nói rằng Mari là cửa Thiên Đàng là rõ ràng chống nghịch lại Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo La-mã ở GiGa 10:9
d- Không phải Mari, song chính Đấng Christ là Đấng cầm quyền trên linh hồn con nguời. Chính Mari không thể giữ được Chúa Jêsus, con bà, nhưng đã bị lạc Ngài tại Giêrusalem.
GiGa 15:16
e- Không có một sứ đồ hay tông đồ nào trong Tân Ước đã cầu nguyện cùng Mari. Nhưng hễ ai cầu nguyện thì được quyền nhơn Danh Con là Jêsu xin Cha là Đức Chúa Trời.
LuLc 1:47
f- Mari đã xưng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa tôi. Nếu không phải là một tội nhân, bà Mari chẳng hề cần đến Cứu Chúa nào cả.
g- Nếu thân xác bà Mari được cất lên trời, thế thì tại sao, phải mất 19 thế kỷ sau mới khám phá chuyện ấy
Cong Cv 1:14 đề cập đến Mari lần chót. Trong các thư tín các sứ đồ cũng không còn đề cập đến bà nữa. Chỉ Đấng Christ là Trạng Sư và Đấng cầu thay cho chúng ta (IGi1Ga 2:1-2). Người giàu trong LuLc 16:1-31 đã cầu khẩn cùng Ápraham nhưng cả đến một vị Thánh như Ápraham cũng chẳng giúp gì được cho Ngài. Trong LuLc 11:27-28 Chúa Jêsus tôn quý Lời Đức Chúa Trời trước mặt Mari và quở trách ai có ý đề cao hoặc tôn vinh bà. Trong Mat Mt 12:46-50, Chúa Jêsus hoàn toàn không lưu tâm gì đến lời yêu cầu của mẹ Ngài.
Câu hỏi bài 14
1/ Trưng dẫn thuộc lòng câu IITi 2Tm 2:24-26IITi 2Tm 4:2. Xin làm sáng tỏ sự quan trọng các câu nầy trong việc dùng để áp dụng trong sự làm chứng cho người theo Công Giáo La-mã
2/ Trưng dẫn thuộc lòng Mat Mt 10:6Gia Gc 3:17 và cho biết cách áp dụng.
3/ Để đối phó một cách sáng suốt với Người Công Giáo, Chứng Đạo Viên phải làm gì?
4/ Xin đưa ra ít nhất 5 điều Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy Phierơ là Giáo Hoàng.
5/ Xin dùng Kinh Thánh để trả lời lại 5 điểm trên.
6/ Xin kể ra ít nhứt 6 điều Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy về Mari
7/Xin dùng Kinh Thánh để trả lời lại 6 điều trên.
8/ Trưng dẫn thuộc lòng LuLc 11:27-28 và giải thích cách áp dụng.
9/ Xin đưa ra những bằng chứng tại sao constantine qui đạo đã khiến cho Giáo Hội bước vào thời kỳ Am Thế?
10/ Xin đưa ra 5 niên hiệu của 5 thuyết Giáo Hội La-mã đặt ra trãi nhiều thế kỷ qua.
150 x 100/150 = 100
NGƯỜI THEO CÔNG GIÁO LA-MÃ
(TIẾP THEO)
3/THÁNH LỄ MISSA:
Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy rằng: “ Thánh Lễ Missa của lễ không lưu huyết của Thân và Huyết Chúa Jêsus Ki -Tô. Thánh lễ ấy giống hệt như của lễ ở trên Thánh Giá vì là cùng một của lễ và một Thầy Tế Lễ là Chúa Jêsus Ki-Tô” (Tín Điều Giáo Hội La-mã). Họ dạy rằng Bánh Thánh trong tay Linh Mục được trở thành thịt thật của Chúa (Transubstantialio: Biến Thể Thuyết). Kể từ Cộng đồng Vatican 2 thì Thánh Lễ Misa không cần phải cử hành bằng Tiếng Latinh nữa. Có 2 Thánh lễ Missa: Thượng Missa và Hạ Missa. Trong Lễ Thượng Missa đèn thắp nhiều hơn, trầm đốt nhiều hơn, âm nhạc dồi dào hơn và Lễ lớn hơn. đôi khi giá cả của Lễ Thượng Missa đòi hỏi phải cao hơn Lễ Hạ Missa.
Thánh Lễ Missa được thiết lập khoảng năm 1100, Biến Thế Thuyết năm 1215. Tín đồ không được dùng chén năm 1415. Từ “MASS” ra từ gốc Latinh “MISSA”, là một quá khứ phân từ giống cái của động từ mitto nghĩa là sai đi. Chữ ấy có nghĩa là sự tha thứ vì đuổi Tội Lỗi đi xa, Kinh Thánh có dạy những điều vừa nêu ra đó chăng?
TRẢ LỜI
a- Trong bản Kinh Thánh Công Giáo: Hipri 10:11-12” và trong khi mọi tư tế ngày ngày đứng lên tế tự và dâng đi dâng lại nhiều lần cũng như tế lễ một kiểu, những tế lễ không bao giờ có thể khử được tội lỗi, thì sau khi dâng lễ tế độc nhất của Ngài vì tội lỗi, Ngài đã lên ngự mãi mãi bên hữu Thiên Chúa”. “Vì nhờ chỉ dâng một của lễ, Ngài làm cho những kẻ nên Thánh được trọn vẹn đời đời. Bởi hễ có sự tha thứ thì không cần dùng của lễ vì tội lỗi nữa” (HeDt 10:14). Vì vậy, căn cứ vào Kinh Thánh, Chúa Jêsus đã dâng chính mình Ngài một lần đủ cả và chỉ một lần để cất tội lỗi đi.
b- Biến Thể Thuyết: đã đi ngược lại sự dạy dỗ chung của các sứ đồ. Trong thư ICo1Cr 11:23-24, Phaolô truyền lại sự thiết lập lễ tiệc Thánh, ông nói sau khi cầu nguyện Tạ ơn và Bẻ bánh thì Bánh đó vẫn là bánh. Trong Mat Mt 26:26-30, khi Cứu Chúa thiết lập lễ nầy, Ngài phán về rượu là nước nho chứ không phải là huyết thật. Các nhà Thần học la-mã Giáo phân biệt rằng Bánh và Nước dùng làm tượng trưng đó “đã trở thành biểu hiện”. Nhưng chúng ta thấy Chúa Jêsus nhận lấy bánh thì bánh hoàn toàn khác biệt với thân Ngài. Chén cũng không còn chứa huyết thật của Chúa. Vì lúc ấy Ngài chưa chịu đổ huyết cho đến khi bị treo thân trên thập tự giá, hơn nữa, các phép lạ về Chúa chẳng bao giờ mâu thuẩn lại ý nghĩa chính, trái lại nó xác nhận cho ý nghĩa. Liệu những tín hữu Công Giáo La-mã khi ăn bánh Thánh họ có quả quyết rằng đã ăn thịt người sao?
c- Hai yếu tố chính trong Thánh lễ Missa là bánh và rượu nho. Cả bánh và rượu nho đều được Hội thánh đầu tiên dùng (ICo1Cr 11:23-26). Chính Chúa Jêsus Chirt ban lệnh Ăn bánh cũng ban lệnh Uống Chén (Mat Mt 26:27). Một sự thay đổi khác một cách khéo léo bởi cộng đồng Vatican 2 thì bây giờ cả giớ tu sĩ lẫn giáo hữu đều nhận Rượu và Bánh Thánh một lúc .
d- Vì nhận thấy rằng phần lớn dân chúng không hiểu được lẽ Missa trong tiếng Latinh nên Giáo Hội Công Giáo La-mã đã quyết định cho phép Thánh Lễ được cử hành bằng ngôn ngữ phổ thông cho cả hội chúng
e- Hãy chỉ tín hữu Công Giáo La-mã đọc Kinh Thánh của họ về sự tha thứ tội lỗi là điều quí báu nhất cần được thực nghiệm và là cơ hội cho bất cứ ai chỉ tin cậy vào một mình Đấng Christ mà thôi. Jêsus Kitô là chiên con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Mọi sự đòi hỏi của tội lỗi đã được thanh toán ở Gôgôtha, Chúa chỉ đòi hỏi mỗi chúng ta rằng “bạn đã ứng dụng sự chết của Chúa cho chính bạn chưa”
4NGỤC LUYỆN TỘI:
Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy rằng ngục luyện tội là nơi những linh hồn người nghĩa, sau khi qua đời nầy thì thanh tẩy trong lửa để được tiêu hủy sạch mọi tội còn sót lại hầu đã sẳn sàng để lên Thiên đàng. Và muốn thu ngắn thời gian đau khổ tại ngục luyện tội cho người nhà mình, thân nhân có thể dâng của lễ cho họ, như điều giáo hội dạy là Giáo Hoàng có quyền buộc hay mở cho những linh hồn ấy tùy thuộc vào số tiền thân nhân cúng tế vào nhiều hay ít.
TRẢ LỜI:
a- Không có một câu nào trong bản Kinh Thánh Công Giáo dạy về Ngục luyện tội.
Phi Pl 1:23
b- Nhưng Kinh Thánh chép rõ nếu là con cái thật của Chúa thì khi chết sẽ: “được đi cùng Chúa là điều có phước hơn”. bản Kinh Thánh Giáo Hội Công Giáo La-mã IICo 2Cr 5:8 chép: “tôi ước mong thoát ly và được ở cùng Chúa”. Rõ ràng bản Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo La-mã không hề sai bao giờ, Kinh Thánh dạy trong giây phút lìa bỏ thân xác nầy thì chúng ta được ở trong sự hiện diện của Chúa
LuLc 23:43
c- Sự phán xét tội lỗi đã thực hiện xong trong quá khứ rồi. Đây, chúng ta hãy đọc một câu rất quí báu trong bản Kinh Thánh Công Giáo “Quả thật, quả thật, ta báo các ngươi: kẻ nghe lời ta và tin Đấng đã sai ta, thì có sự sống đời đời, và khỏi đến toà phán xét nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống” (GiGa 5:24) (bản dịch LM. Nguyễn Thế THuần). Tên trộm cuối bên cây thập tự giá đã đi thẳng đến Pharadi với Đấng Christ chớ không vào ngục luyện tội. Chỉ huyết báu của Đấng Christ thanh tẩy mọi tội ác chúng ta chớ không phải thanh sự đau khổ. Không thể nào chúng ta dùng tiền bạc mà cứu được thân nhân chúng ta ra khỏi ngục luyện tội bao giờ, vì không hề có ngục luyện tội và cũng chẳng có người nào ở đó cả.
5/.PHÉP THANH TẨY (BÁP TÊM) Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy rằng “Thánh lễ Báp – têm (phép thanh tẩy) tẩy sạch mọi nguyên tội (tội tổ tông), khiến chúng ta trở nên Cơ Đốc Nhân và có con cái của nước Thiên Đàng” (Tín điều Butler). Nếu được hỏi rằng “Thánh Lễ Báp- Têm có tẩy sạch những tọi lỗi đã phạm không?” Giáo Hội Công Giáo La-mã trả lời rằng “Vâng tẩy sạch cả những hình phạt nữa.”. Một số Linh mục dạy rằng “Những trẻ em chưa Báp-Têm sẽ đến một nơi gọi là Limbo (đây là một quan điểm, không phải là một chủ trương chung).
TRẢ LỜI :
a- GiGa 1:12-13GaGl 3:26 dạy rằng một người trở nên con cái Đức Chúa Trời là do sự tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ, tin cạy Ngài cưú mình ra khỏi sự hình phạt và ban cho sự sống đời đời. Nhờ Huyết Chúa mà chúng ta được tẩy sạch chứ không phải nhờ nước. Các Tín Hữu Hội Thánh Côrinhtô được tái sanh không phải nhờ Báp-Têm nhưng nhờ tiếp nhận Phúc Âm của Đấng Christ. Tên trọm bên Thập Tự Giá đã được cứu dù không chịu phép thanh tẩy. Xachê cũng không thấy chịu Lễ nầy, còn Cọt-nây được cứu trước khi chịu phép thanh tẩy .
b- Không có một ẩn ý hay bóng gió nào trong Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo La-mã gợi cho thấy về Limbo (Lâm- bô). Nhưng đây là hình thức tống tiền do Giáo Hội đặt ra, lợi dụng tình cảm của những bà mẹ, những vị Linh Mục Công Giáo đe doạ từ chối phép Thanh Tẩy cho con cái họ nếu chúng không muốn qui phục Giáo Hội. Hỡi những bà mẹ, những phụ nữ tín hữu Công Giáo, Quí chị em không cần phải khuất phục những lời đe doạ ấy. Chúa Jesus đã phán : “hãy để mặc các trẻ và đừng ngăn chúng đến với Ta, vì nước trời thuộc về những người như thế” (Mat Mt 19:14– Bản dịch Lm. Nguyễn Thế Thuần). Khi con của Đa-vít do Bát-sê-ba sanh ra đã chết, Đa-vít nói : “chính Ta, Ta sẽ đến với nó” (Bản dịch L.m Nguyễn Thế Thuần). Đa-vít hẹn sẽ gặp đứa trẻ ở đời sau trong chỗ nó ở nhưng chắc chắn không phải là Limbo của Giáo Hội Công Giáo .
6/ CHỦ NGHĨA ĐỘC THÂN :
Năm 1123, Giáo Hội Công Giáo La-mã ban hành luật sống độc thân cho tất cả các giới Tu Sĩ Công Giáo. Kinh Thánh Công Giáo có dạy điều đó không? Không bao giờ.
a- HeDt 13:4 : “Mọi người hãy tôn trọng sự hôn nhân”
b- ICo1Cr 9:5, 6 : “ Há tôi không có phép dắt một chị em để làm vợ như các sứ đồ đã làm và như anh em của Chúa chúng ta hoặc như Sê-pha (Phierơ) đã làm đó sao ?”
c- ITi1Tm 3:2 : “ Giám mục chỉ là chồng của một vợ”
7/. KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NGOÀI LA-MÃ GIÁO :
Một trong những điều thay đổi được cho phép sau Cộng đồng Vaticn 2 đó là sự kết hôn với người ngoài Công Giáo. Trách nhiệm này được ủy thác cho đàn trai hoặc đàn gái thuộc phía Công Giáo. Lời thề nguyện cho một cuộc kết hôn như vậy được xác định như sau : “Tôi tái xác nhận niềm tin mình nơi Chúa Jesus Kitô và với sự giúp đỡ của Chúa Trời, tôi hứa nguyện sẽ tiếp tục sống trong niềm tin của Giáo Hội Công Giáo La-mã… tôi hứa sẽ hết sức chia xẻ niềm tin Công Giáo này cho con cái chúng tôi và cho chúng được dự Thánh Lễ Thanh Tẩy để trở nên người Công Giáo La-mã .
Tu sĩ hoặc những vị đại diện hay quản lý phaỉ xin giấy phép để được ban lễ do vị Giám Mục cấp và chứng thực “lời hứa” trong giấy đòi hỏi hai bên đương sự đồng ý xin được tổ chức, phía gia đình Công Giáo phải ký trước sự hiện diện của vị Giám mục …, phía gia đình ngoài Công Giáo được thông báo và được đòi hỏi phải biết rõ lời hứa của sự vâng phục của phía Gia Đình Công Giáo.
Nếu một Cơ Đốc Nhân (Cải chánh ) thề nguyện như vậy trước một Linh mục hay Giám Mục Công Giáo thì người ấy không những không vâng phục theo lời Kinh Thánh “chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin”, nhưng còn từ chối Đấng Christ cách công khai và tự xem mình là người bội đạo. Đánh mất sự sáng của một Cơ Đốc Nhân chân chánh tức là phó mình vào sự tối tăm trở lại. Đối với Giáo Hội Công Giáo La-mã thì hôn nhân là một Thánh Lễ phải do Giáo Hội cho phép. Cho nên , đối với Giáo Hội Công Giáo La-mã, nếu một cuộc hôn nhân xảy ra giữa Tín hữu Công giáo và Tín hữu Tin Lành, và nếu lễ do Mục sự Tin Lành chủ Lễ thì không có giá trị vì không được Giáo Hội Công Giáo cho phép. Bất chấp các luật lệ riêng (Gia Nã Đại), các Tu sĩ Công Giáo La-mã cho phép những góa phụ Công Giáo có thể tái hôn với người Tin Lành do mục sư Tin Lành chủ Lễ và cũng đòi hỏi phải có lời thề giống như hình thức lời thề đã nêu trên.
III. ĐỐI PHÓ CÁCH NHẪN NẠI :
Tôi tớ của Đức Chúa Trời không những phải khôn khéo, sáng suốt, nhưng còn phải nhẫn nại và đeo đuổi đối tượng cho đến cùng. Một người bị chìm sâu trong sự sợ hãi Giáo Hội Công Giáo phải được chúng ta yêu thương, cầu nguyện chiến đấu và kiên trì chinh phục. Chúa Jêsus truyền lệnh chúng ta phải ra đi giảng đạo cho muôn dân. Và công tác nầy cũng khó khăn muôn phần hơn đối với những đối tượng đã bị lôi cuốn sâu vào con đường lầm lạc. Nhưng ta hãy giúp họ biết phân biệt uy quyền của một Giáo Hội sai lạc với uy quyền của Thiên Chúa qua lời Ngài khi Kinh Thánh chép: “nầy là Lời Thiên Chúa phán”.
Giáo Hội Công Giáo La-mã với công tác Giáo Thuyết Hóa các con chiên, họ đã tỏ ra mình là người chống đỡ niềm tin và nắm giữ vai trò chủ quyền các Lẽ thật trong Kinh Thánh để rồi thừa hành một cách độc quyền rằng Giáo Hội có bổn phận giữ các con chiên, nhưng đã giữ lại trong sự giải thích Lời Chúa một cách mê muội để rồi bị trở nên kẻ thù địch lại với Lời của Đức Chúa Trời.
Mối tình thân hữu giữa anh em Công Giáo la-mã với anh em Tin Lành đã càng ngày càng trở nên lạnh nhạt, thái độ lạnh nhạt đó ảnh hưởng đến sự tự do của chúng ta. Chúng ta đã phạm tội vì đã yên lặng. Cơ Đốc Nhân là Nguời Phải sẳn sàng xông pha. Sẳn sàng đương đầu và hoạt động vì mạng lệnh hãy đi dạy dỗ muôn dân không phải đó chỉ là một thách thức. Nếu chúng ta chống lại mạng lệnh ấy tức là gây tổn thương cho Hội Thánh. vậy, chúng ta cần một sự phục hưng để chữa lành những rạn nứt giữa hai Giáo Hội để cứu rỗi hàng triệu triệu Linh Hồn Tín Hữu Công Giáo đang bị đe dọa bởi lửa phán xét đời đời.
Câu Hỏi Bài 15
1/ Giáo Hội Công Giáo La-Mã Dạy Gì Về Thánh Lễ Missa?
2/ Biến Thể Thuyết là gì?
3/ Phân biệt Thượng Lễ Missa và hạ Lễ Missa.
4/ Giáo Thuyết trên được đặt ra khi nào và phát triển như thế nào?
5/ Thơ HeDt 10:10-12 phản lại Thánh Lễ Missa ra sao?
6/ Xin giải thích rõ Biến thể Thuyết không có nền tảng Kinh Thánh và vô lý.
7/ Dùng Kinh Thánh giải thích hai yếu tố của Tiệc Thánh là gì?
8/ Khi ban Thánh Lễ, nếu dùng một ngôn ngữ không ai hiểu thì sai lầm ra sao?
9/ Trưng dẫn thuộc lòng các câu và địa chỉ Kinh Thánh dạy rằng sự tha tội lỗi là sự sở hữu hiện tại cho bất cứ kẻ nào tin.
10/ ba điều Giáo Hội Công Giáo La-mã đã dạy để ngục luyện tội là gì?
11/ Trưng dẫn thuộc lòng hai câu Kinh Thánh và địa chỉ, nói rõ tình trạng của trẻ em đối với Đức Chúa Trời khi chúng nó qua đời.
12/ Xin giải thích thế nào là sự phán xét tội lỗi của Cơ Đốc Nhân đã qua rồi?
13/ Giáo Hội Công Giáo La-mã dạy gì về phép thanh tẩy?
14/ Xin trưng dẫn 5 chữ trưng dẫn trong Kinh Thánh nói về phép Báptêm không cứu rỗi được ai?
15/ Tại sao chúng ta chống đối sự dạy dỗ của Giáo Hội Công Giáo La-mã về Lim-bo?
16/ Xin trưng dẫn 3 chỗ trong Kinh Thánh dạy rằng Chủ Nghĩa độc thân cho giới Tu Sĩ là không có nền tảng Kinh Thánh.
17/ Một Tín hữu Tin Lành khi kết hôn với người Công Giáo phải tuyên hứa trước Giáo Hội Công Giáo điều gì?
18/ Nếu một Tín hữu Tin Lành chịu thề nguyện như thế thì sẽ nguy hiểm như thế nào?
19/ Xin trình bày nhẫn nại phải có khi chúng ta làm chứng cho người Công Giáo La-mã.
TÓM TẮT PHẦN HAI
Khi ra đi chinh phục linh hồn bất cứ thành phần nào, Chứng Đạo Viên phải nương cậy hoàn toàn trên Lời của Đức Chúa Trời để nhấn mạnh về phép lạ Tái Sanh . Sự cứu rỗi là một sự thay đổi căn bản, nó cho ta thấy rõ một sự Thánh Khiết và sự yêu thương của Đức Chúa Trời. Hãy nhiệt thành và tha thiết khuyên mời tội nhân đến cùng Đấng Christ , vì Ngài là Cứu Chúa. Có một số người chỉ vào Giáo Hội, tin vào Linh Mục, Mục Sư chứ không tin vào Cứu Chúa Jêsus Christ. Qua lời Kinh Thánh, hãy giúp những hạng người như thế biết rõ về quyết định của họ. Hãy giúp những ai muốn quay về cùng Chúa song còn e ngại về nghề nghiệp, giúp những người sớm thoát khỏi tình trạng con đỏ thuộc linh để có thể tập ăn được những đồ ăn cứng. Giúp họ biết rõ rằng bất cứ sự tin đạo chân thật nào cũng đều bao gồm hai yếu tố quan trọng : ăn năn đối với Đức Chúa Trời và tin nhận đối với Đức Chúa Jesus Christ. Hãy giúp cho kẻ tin thấy rõ rằng đời sống mỗi Cơ Đốc Nhân khởi đầu bằng cách giao thông mật thiết với Chúa Jesus qua sự cầu nguyện và học Kinh Thánh cũng như liên tục ở bên cạnh Chúa. Hãy khích lệ Tân Tín Hữu biết làm chứng và chinh phục người khác cho Đấng Christ .
16. CHỨNG NHÂN CỦA GIÊHÔV 17. CHỨNG NHÂN CỦA GIÊHÔV (tiếp theo) 18. GIÁO HỘI SABÁT HAY CÔ ĐỐC PHỤC LÂM 19. HỘI CƠ ĐỐC KHOA HỌC 20. HỘI CÁC THÁNH NGÀY SAU (Giáo phái MORMON) 21. PHONG TRÀO TÂN THỜI ĐẠI TÓM TẮT PHẦN BA
CHỨNG NHÂN CỦA GIÊ HÔ VA
I. LỊCH SỬ : Charles Taze Russell sanh năm 1852 tại Pittsburgh, là người lập ra Hội Chứng Nhân của Giê Hô Va. Từ khi còn nhỏ Russell đã kịch liệt chống đối lại giáo lý “sự khổ hình đời đời” và đã nuôi ước vọng sẽ hệ thống hóa lại các Tôn Giáo. Năm 1870, lúc 17 tuổi, Russell tổ chức một lớp học Kinh Thánh ở Pittsburgh và được nhóm này tôn xưng Ông làm Mục Sư của nhóm năm 1876. Năm 1879, Russell thành lập một tờ báo lấy tên là Tháp canh Siôn (Zio’s Watch Tower) mà ngày nay có tên là Tháp canh tuyên rao Vương Quốc của Giê Hô Va (The watch – tower Announing Jehovah’s Kingdom). Năm 1956, tờ báo này đã xuất bản gần 2,5 triệu bản mỗi tháng. Tác phẩm vĩ đại của Russell là Bộ khảo luận về Thánh Kinh (STUDIES IN THE CRIPTURES) gồm 7 bộ xuất bản liên tục từ 1881 – 1917. Tháng 7 năm 1956, Russell thành lập tổ chức “Tháp Canh Kinh Thánh và tạp chí xã hội (The watch tower Bible and Tract Society), có 63 chi nhánh truyền giáo khắp 104 nước. Tổ chức xã hội có một cơ sở lớn chuyên xuất bản, gồm trụ Sở Trung Ương và Đài Phát Thanh cùng một Viện cao Đẳng Thánh Kinh đã phái đi hơn 1.000 giáo sĩ. Một Mục Sư Báp Tít ở Hamilton, Ontario, đã xuất bản một sách nhỏ tình bày về “kiểu cách một Mục Sư ích kỷ” để lên án ông Russell là một người “Phản lý trí, phản khoa học, phản Thánh Kinh, phản Cơ Đốc và chống nghịch Phúc Âm của con yêu dấu Đức Chúa Trời”. Russell đã kiện Ross (tên vị Mục Sư Báp tít nói trên) về tội “Mạ lỵ và phỉ báng”. Nhưng Russel đã sớm bị mất uy tín, giáo thuyết của ông không được thích hợp và ông bị kể là tên phản bội. Nếu ai muốn truy tìm bằng chứng về sự hạ nhục Russell, sự vô đạo đức và chức vụ Mục Sư đầy nguy hiểm của ông ta, thì có thể xem lý lịch này trong hồ sơ ở Toà án Hamilton, Ontario ngày 9-12-1912 và ngày 7-2-1913 cũng như trong hồ sơ của Tòa Án Tối Cao Ontario về vụ kiện giữa Russel kiện Ross về tội “Mạ lỵ , phỉ báng” tháng 3 năm 1913. Năm 1916 Russel qua đời, tổ chức Society đã đề cử ông Joseph Franklin RutherFord vốn là một luật sư để thay thế. Nhưng Rutherford không phải thật là một luật sư cũng như Russell cũng không phải thật là một luật sư, Rutherford tìm cách thuyết phục bạn bè tin rằng ông là nhân chứng cuối cùng của Giê Hô Va cho mọi dân tộc, và kể từ đó phong trào này được mang tên chứng nhân của Giê Hô Va. Dưới tài lãnh đạo của Rutherford Giáo Phái Chứng Nhân của GiêHôVa phát triển nhanh chóng, ông trứ tác 100 cuốn sách và bài viết. Những tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng. Rutherford chết năm 1944. Sau đó Nathen H.Knorr được cử làm Hội Trưởng. Ông thành lập một trung tâm huấn luyện truyền giáo là Viện : Gilead Missionary Training School ở South Lansing – Nữu Ước và tổ chức một Hội Nghị Quốc Tế của Giáo Phái Chứng Nhân Giê Hô Va tại Vận Động Trường Jennkee, Nữu Ước, muà hè năm 1953.
II. DANH XƯNG :
Tên “ CHỨNG NHÂN CỦA GIÊ HÔ VA” được trích từ EsIs 43:10-12. Với ý nghĩa của danh sưng này, chúng ta thử xem xét chủ trương của Giáo Phái này có phù hợp không.
1/ Câu : “Các ngươi là kẻ làm chứng cho ta” trong EsIs 43:10 nguyên thủy được gửi cho dân Israel.
2/ Tân Ước dạy rằng chúng ta là Chứng Nhân của Đấng Christ (Cong Cv 1:8). Chứng nhân về sự chết và sự sống lại của Chúa và sự tha thứ tội lỗi (Cong Cv 5:30-32. 10:39-43). Nhưng nhóm Giê Hô Va Chứng Nhân chối sự sống lại của Chúa Jesus về phương diện thể xác, và vì vậy chứng tỏ họ là “Những người làm chứng dối” (ICo1Cr 18:15). Tân Ước dạy chúng ta rằng Một Chứng Nhân thật là có Đức Chúa Con tức là có sự sống đời đời, người ấy biết mình có sự sống đời đời dựa vào yếu tố căn bản là Đức Chúa Trời ban Con Ngài cho chúng ta” (GiGa 5:10-13). Kinh Thánh dặn “Thánh Linh làm chứng rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Bất cứ ai là người tiếp nhận Đấng Christ tức là người có quyền làm Chứng Nhân cho Đức Giê Hô Va (RoRm 8:16-18; GiGa 1:12).
3/ Đấng phán những câu trong EsIs 43:10-12 là Giê Hô Va Đức Chúa Trời. chúng ta hãy nêu ra những tương quan giữa Giê Hô Va trong Cựu Ước và Jêsus trong Tân Ước :
a-GiêHôVa là Đấng Sáng Tạo EsIs 43:1,7,15
+ Đấng Christ cũng vậy : GiGa 1:1-3 ; CoCl 1:16; HeDt 1:1-3
b- GiêHôVa là Đấng Giải Cưú. EsIs 43:11
+ Đấng Christ cũng vậy: IPhi 1Pr 1:18-19
c- GiêHôVa là Cứu Chúa duy nhất. EsIs 43:11
+ Đấng Christ cũng vậy : Cong Cv 4:12
d- Giê Hô Va là Đấng Đầu Tiên và là Cuối Cùng. EsIs 44:6.
+ Đấng Christ cũng vậy : KhKh 1:8
+ Đấng Christ cũng là Đức Chúa Trời : GiGa 1:1; Mat Mt 1:23; RoRm 9:5; Tit Tt 2:13; IGi1Ga 5:20.
f- Giê Hô Va là Đấng chăn chiên. Thi Tv 23:1-6.
+ Đấng Christ là Đấng chăn chiên hiền lành GiGa 10:1-42; IPhi 1Pr 5:4; HeDt 13:20
g- GiêHôVa là Đấng chữa bệnh. Xuất 15:26;
+ Đấng Christ thể hiện muôn phép lạ. Trong các sách Phúc Âm và Gia Gc 5:15
h- Giê Hô Va là sự công bình của chúng ta. Gie Gr 23:6
+ Đấng Christ là sự công bình, sự nên Thánh, là sự cứu chuộc của chúng ta. IGi1Ga 1:30.
III. CÁC CHỦ TRƯƠNG:
1/.PHẨM VỊ CỦA CHIST:
Phái chứng nhân của Giê Hô Va dạy rằng :
a- Đấng Christ được tạo dựng, căn cứ vào CoCl 1:15KhKh 3:14 và Mục Sư J.E. Rutherford trong tác phẩm : Harp of God (cây thụ cầm của Đức Chúa Trời), đã giải thích một cách sai lầm rằng “LOGOS (Đạo) là vật thọ tạo đầu tiên và trực tiếp từ Đức Giê Hô Va”.
b. Trong tác phẩm : “The Truth Shall Make You Free (Lẽ thật sẽ buông tha các ngươi), L.E. RutherFord giải thích tiếp : “Đấng Christ chẳng bao giờ và sẽ chẳng bao giờ là Đức Chúa Trời, Ngài là Đức Chúa Trời Quyền Năng nhưng không phải là Đức Chúa Trời Toàn năng. Danh Ngài là Giê Hô Va”.
c- Trong tác phẩm khác, khảo học Thánh Kinh, : C.T. Russell đã viết : “Đấng Christ chỉ là một người sống trên đất và chết đi như bao nhiêu người khác, con người Jêsus đã chết và chết đời đời”.
d- Cũng trong tác phẩm trên, C.T Russell viết tiếp : “Đấng Christ là một Thiên Sứ đã được dựng nên, Thiên Sứ ấy tên là Michael, đại diện cho Đức Chúa Trời”.
J.E. RutherFord cũng đồng ý với quan niệm trên, và nói :”với chức vụ ấy (Con Một Thiên Chúa, đứng đầu Tạo Vật). Ngài mang một tên khác ở Thiên Đàng, ấy là tên Michael, có nghĩa là Đấng giống như Đức Chúa Trời”. (xin xem tác phẩm : Lẽ thật sẽ buông tha các ngươi).
TRẢ LỜI :
a- Đấng Christ chẳng bao giờ được dựng nên, trái lại Ngài là Đấng Tạo Hoá (CoCl 1:16). ‘vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài”. Họ thêm vào các chữ “khác” sau chữ “muôn vật” như họ đã dịch lại trong bản dịch New World Translation (N.W.T) nghĩa là : “ vì muôn vật khác …”. Thật họ đã giả mạo lời Đức Chúa Trời và dịch như thế là vô căn cứ.
Đấng Christ chẳng hề là một tạo vật cùng một lúc với Tạo Vật Đấng Tạo Hóa đã dựng nên, kể cả các Thiên Sứ nữa. Nhưng chữ: “Đấng sanh ra đầu hết thảy muôn vật” phải được hiểu khi so với câu trong CoCl 1:17 : “trước nhật từ trong kẻ chết”. Điều này không những nói nên Chúa là Người Đầu Tiên Sống lại từ kẻ chết nhưng còn là sống lại đầu tiên trong thân xác, là trái đầu mùa của những kẻ ngủ, tức là những kẻ liên hợp với Ngài bởi đức tin. “Bởi biết rằng Đấng Christ từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa, sự chết không còn cai trị trên Ngài.
Qua sự sống lại của thân thể Đấng Christ , Ngài bao gồm tất cả những kẻ tin cũng sẽ được sống lại như vậy. Đó là ý nghĩa “Sanh đầu nhứt” cũng như chữ “đứng đầu mọi thọ tạo”. Tiên tri Esai đã luận về điều này rằng :”ví có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một Con Trai ban cho chúng ta”.
Trong văn tự Hy Bá Lai Ở SaSt 1:1 chử ELOHIM mô tả sự cộng tác của nhiều Ngôi nhưng lại dùng động từ BARA ở số ít để chứng tỏ sự hiệp nhất về hành động. Như vậy cả ba ngôi Đức Chúa Trời đều dự phần vào trong công cuộc tạo hóa. Khi Giăng nói trong KhKh 3:14 về Đấng Christ ông viết : “Ngaì là Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời” cũng như ông mô tả đồng một quan niệm đó trong GiGa 1:1-3 rằng : “Ngài là Logós (đạo) Ngài ở cùng Đức Chúa Trời từ ban đầu và chính Ngài là Đức Chúa Trời”. Vậy nếu nói rằng Đấng Christ là đầu cuộc sáng tạo tức Ngài là vật thọ tạo đầu tiên của Đức Chúa Trời, ấy là cượng giải lẽ thật.
b- Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời và mãi mãi là Đức Chúa Trời. Ngài là Đức Chúa Trời bởi vì :
(i) Danh Ngài là Thánh : EsIs 9:6; Mat Mt 1:23; GiGa 1:1.
(ii) Ngài được thờ phượng.
Mat Mt 2:11; 14:33; 28:9; LuLc 24:52; HeDt 1:6; Phi Pl 2:10-11; KhKh 5:8.
Nếu chúng ta tôn thờ ai khác ngoài Đức Chúa Trời, đó là phạm tội thờ hình tượng. (XuXh 20:4-5). Phierơ lẩn Phao-lô và Banaba đều lên án sự thờ phượng một đối tượng khác ngoài Đức Chúa Trời (Cong Cv 10:25-26; 14:11-15).
(iii) Ngài làm những việc mà chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể làm được mà thôi :
+ Ngài tha tội : Mac Mc 2:5-7
+ Ngài kêu kẻ chết sống lại : GiGa 11:43
+ Ngài tự khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. GiGa 2:19
+ Ngài tạo dựng thế gian. CoCl 1:17; HeDt 1:3
+ Những phép lạ Ngài làm đã bày tỏ sự vinh hiển của Thần Tánh Ngài. GiGa 2:11
(iv) Những thuộc tánh bày tỏ Đấng Christ là Đức Chúa Trời :
+ Jêsus Christ là Đấng Toàn Năng : Mat Mt 28:18.
+ Jêsus Christ là Đấng Toàn Tri : GiGa 2:17; 2:25;; 16:30.
+ Jêsus Christ là Đấng Toàn Tại : Mat Mt 28:20.
+ Ngài còn đến đời đời : GiGa 1:1; CoCl 1:17; GiGa 8:58.
(v) Như đã đề cập trong phần DANH XƯNG II 3/ của bài này, danh hiệu Giê Hô Va của Cựu Ước chính là Đấng Christ trong Tân Ước.
(vi) Danh xưng của Đấng Christ đồng với Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh cho chúng ta kết luận rằng : cả ba ngôi Đức Chúa Trời đồng đẳng nhau. Mat Mt 28:19; 20:13-14; GiGa 10:30. Khi Đấng Christ phán Đức Chúa Trời là Cha Ngài thì người Do Thái hiểu rằng Ngài bình đẳng với Đức Chúa Trời. (GiGa 5:18), nên những thầy Tế Lễ Cả và những thầy Thông Giáo đã kết tội Ngài là lộng ngôn, phạm thượng nên đã kết án Ngài (LuLc 22:70). Ngày nay cũng vậy, nhiều tà thuyết, nhiều giáo phái cũng đồng thanh kêu lên: Hãy Trừ Hắn đi, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự…
c- Christ là Đấng Trời – người :
Quả thật, Đấng Christ đã trở nên người, Ngài là Đức Chúa Trời tỏ ra trong xác thịt. Nhưng Đấng Christ không phải để sang một bên thần tánh của Ngàikhi Ngài bằng lòng trở nên xác thịt. Phaolô giải thích rằng: “Ngài vốn bình đẳng với Đức Chúa Trời, nhưng đã mặc lấy (mặc lấy không phải bỏ bớt đi nhưng đã thêm vào) hình thể tôi tớ và trở nên giống như loài người. “Đức Chúa Trời đã ở trong Đấng Christ”, để khiến thế gian quay lại hòa với chính Ngài. Khi nói Đấng Christ chết rồi, hay chết đời đời, thì những người là Chứng nhân của Giêhôva tự tỏ ra họ là “những người làm chứng dốu”. Quá nhiều bằng chứng tỏ ra họ là những chứng nhân giả hiệu nếu ta đọc trong Cong Cv 1:3ICo1Cr 15:1-58.
HeDt 1:4-6
d- Đấng Christ chẳng bao giờ là Thiên Sứ Michael: Nhưng Đấng Christ còn vuợt trội hơn Thiên Sứ nữa. Chính Thiên Sứ phải thờ lạy Đấng Christ. Chương 1 sách Hê-bơ-rơ cho thấy rằng Đấng Christ cao trọng hơn các Thiên sứ bội phần:
+ Trong sự Tương Giao: Con được tôn trọng hơn các tôi tớ.
+ Trong Bản Chất: Người được cao trọng hơn những kẻ thờ phượng.
+ Trong Vị Trí: Đấng Christ là Chúa Tể Trị, được tôn cao hơn hết và các Thiên Sứ phải phục vụ Ngài.
+ Trong Sự Thánh Khiết: Đấng Christ kết án những Thiên Sứ phạm tội. Thiên sứ MIchael chỉ được Thiên Chúa ra lệnh tranh chiến cùng ma quuỷ để giành lại xác Môise điều đó đã khẳng định và phân biệt vị Thiên sứ ấy với Đấng Christ.
Chúng ta cũng cần ghi nhớ chữ Thiên Sứ có nghĩa là những sứ giả, cho nên đừng bao giờ lầm lẫn khi Kinh Thánh muốn nói rõ chức vụ của sứ giả. Vì khi viết thư cho 7 hội thánh trong Khải thị thì KhKh 2:3 Ngài lại gọi những sứ giả ấy là những vi Thiên Sứ. Vả lại, cũng đồng một cách, Tiên tri Malachi được xưng là Sứ Giả của ta, chữ ấy cũng được dùng để chỉ Giăng báptít và cho Đấng Christ (MaMl 3:1).
Tiên tri Xachari đã dùng chữ: Thiên Sứ của Giêhơva và Giêhôva lẫn lộn nhau, đồng nghĩa nhau (XaDr 1:12-13). Christ là vị thiên sứ của Giêhôva trong ý nghĩa Ngài chịu làm Sứ giả của Đức Chúa Trờiđể chuyển đạt sứ điệp Ngài cho loài người.
Câu Hỏi Bài 16
1/ Xin nêu ra 6 sự kiện lịch sử quan tri sống Charles T. Russell..
2/ J.E.Ruther Ford đãđóng góp gì vào phong trào Chứng nhân Giêhôva?
3/ Sau Ruther Ford thì ai làm HỘi Trưởng Giáo phái Chứng Nhân của Giêhôva? Ông đã đóng góp gì?
4/ Xin trưng dẫn thuộc lòng EsIs 43:11; Cong Cv 4:12Cong Cv 1:8.
5/ khi những người nầy tự qui họ là những chứng nhân của Giêhôva chứ không phải của Đấng Christ, vậy những sự dạy dỗ của họ đi ngược lại Kinh Thánh Tân Ước như thế nào?
6/ Xin trưng dẫn Kinh Thánh bày tỏ Giê-xu Christ là Giêhôva.
7/ Dựa vào 3 câu Kinh Thánh nào, nhóm Chứng Nhân của Giêhôva đã cho rằng Chúa Jêsus là một vật Thọ tạo?
8/ Chúng ta trả lời cho họ như thế nào?
9/ Nêu ra ít nhất 10 câu Kinh Thánh bày tỏ chúng ta tin vào Thần Tánh của Đấng Christ.
10/ Bạn bài bác thế naò về quan điểm cho rằng Christ là Vật thọ tạo, là Thiên sứ Michael?
11/ Trưng dẫn 10 câu trong tân ước nói về Đấng Christ thờ phượng (Trưng dẫn tự do).
CHỨNG NHÂN CỦA GIÊHÔVA (tiếp theo)
2/ SỰ HÌNH PHẠT ĐỜI ĐỜI
a- Nhóm Chứng Nhân của Giêhôva dạy rằng Hồ Lửa, Âm Phủ, Sheol, Gehanna và Hades đều đồng nghĩa nhau. Trong tác phẩm Ẩn Danh do nhà xuất bản “Tháp canh và Tạp Chí Xã Hội” với nhan đề LET GOD BE TRUE (tạm dịch: Hãy hiểu đúng về Đức Chúa Trời) Dạy rằng: “Hồ lửa theo Kinh Thánh có ý nghĩa rõ ràng mồ mả hay nghĩa địa, nó đơn giản đến nỗi một em bé cũng hiểu được, nhưng lại khó hiểu cho một nhà Thần Học Tôn Giáo. “Trong trang 68, ta đọc tiếp: “Chủ trương về một địa ngục đầy lửa là một học thuyết của lọai tôn giáo nhục mạ Thiên Chúa”. Đến trang 80 thì tác giả lại nhấn mạnh:”Rõ ràng là hồ lửa hay Sheol hay Âm phủ đều có một ý nghĩa là mồ mả, nghĩa địa, đó là những nơi mọi người tốt hay xấu đều nằm đó để chờ ngày sống lại”.
b- Cơ Hội Thứ Hai: Nhóm Chứng Nhân của Giêhôva dạy rằng tất cả những ai chết ngoài Đấng Christ sẽ có một cơ hội thứ hai để nghe giảng Phúc Âm. Nếu lần thứ hai nầy họ lại từ chối thì sẽ bị Tịch Diệt (Annihilated: bị tiêu hủy không còn gì hết). Trong quyển hãy hiểu đúng về Đức Chúa Trời. Họ chủ trương: “Gehenna là một hình ảnh hoặc một biểu tượng về một trạng thái tiêu hủy hay tận diệt hoàn toàn, và không hề có sự khổ hình đời đời”. Trang 80 viết rằng Gehenna là một nơi hủy diệt, tại đó ma quỷ cùng sứ giả của nó lẩn những người chống lại chế độ Thần Quyền của Giêhôva Đức Chúa Trời, bị ở đó và sẽ không tìm lại được sự sống lại”.
Những ai từ chối cơ hội thứ hai sẽ bị tịch diệt bởi sự chết thứ hai, tức là sự tiêu biến mất, không còn chi nữa. Thật Đức Chúa Trời quá tốt lành, vì cớ theo họ, nếu cứ duy trì một sự thật hữu một cách vô lý khi chủ trương rằng Đức Chúa Trời sẽ cứ kéo dài sự thực hữu của thực thể đó trong sự đau khổ đời đời.
TRẢ LỜI :
– Trong tiến Hê-bơ-rơ, từ “MỘ”, “PHẦN MỘ” là QEBER (phát âm là “KAWBAR”). Được dùng 67 lần trong Cựu Ước. Số nhiều và số ít đều như nhau. Từ nầy có nghĩa là một chỗ người ta đào lên chỗ họ mua để đặt người chết xuống rồi lắp đất hay phủ tro lên. Chẳng hạn như:
+ Mộ là tài sản được đào trong sứ mình (SaSt 50:5)
+ Có nhiều ngôi mộ (XuXh 14:11).
+ Có thể sử đụng đến ngôi mộ (Dân số ký 19:16-18;).
+ Người ta than khóc bên phần mộ (IISa 2Sm 3:32).
+Thi hài người chết đặt nơi mộ (IVua 1V 13:30).
+ Mộ được chôn dọc nhau, cái nầy với cái khác IISa 2Sm 19:37).
+ Những xác chết có thể chung trong ngôi mộ (IVua 1V 14:13).
+ Người ta có thể rãi tro trên mộ (IIVua 2V 23:6).
Trong tiếng Hêbơrơ, từ SHEOL được dùng 65 lần trong cựu Ước. Trong bản dịch Authorized Version, từ nầy được dịch là:
+ MỘ: 31 lần
+ HỒ LỬA: 31 lần
+ VỰC SÂU: 03 lần
Nhưng từ SHEOL cần phải được phân tách và hiểu cách chính xác, vì SHEOL không phải là ngôi mộ.
a- Mặc dầu trong bản Authorized Version ở SaSt 37:35 nói Gia Cốp sẽ đi đến Mộ để gặp con mình (Bản Kinh Thánh Việt ngữ dịch Sheol là Âm Phủ: Ta để tang luôn xuống chôn Âm Phủ cùng con ta).vậy thì, trong tiếng Hêbơrơ, từ SHEOL thể dịch là mộ hay phần mộ được, vì Giacốp biết rõ con mình là Giôsép đã bị thú dữ ăn thịt và không được chôn cất. Giacốp cũng không thể cứ khóc mãi dầu đến khi đã bị chôn xuống mồ rồi. Chẳng ai có thể đi đâu khi đã chôn xuống phần mộ.
b- Trong PhuDnl 32:32: chữ SHEOL được dịch là hồ lửa. Đây là cách dịch lầm lẫn. Câu nầy ta lưu ý chữ LỬA có liên hệ với SHEOL là phần mộ thì cơn giận của Đức Chúa Trời không thể đến phần mộ. (Bản dịch Kinh Thánh Việt Ngữ chỗ nầy là Âm Phủ, rất chỉnh).
c- Trong IISa 2Sm 22:6: mô tả nỗi buồn ở SHEOL. Vậy chết, nằm nơi mồ mả thì không còn buồn bã nữa. (Bản Kinh Thánh Việt Ngữ dịch chữ nầy là Địa Ngục)
d- Trong Giop G 11:8: nói chiều sâu của SHEOL tương phản lại chiều cao của Thiên Đàng. Vậy, nếu Sheol là phần mộ thì làm sao đối lại được với Thiên Đàng? Xin so sánh Thi Tv 139:8AmAm 9:2 (Cả 3 câu nêu trên bản Kinh Thánh Việt Ngữ đều dịch là Âm Phủ).
e- Trong Thi Tv 9:17: câu nầy nói những kẻ ác bị giam cầm tại SHEOL. Chẳng ai có thể tưởng tượng được rằng tất cả kẻ ác nằm chung trong Ngôi Mộ. Nhưng chúng ta phải biết rõ là ở trong một khu vực gọi là SHEOL (Bản Kinh Thánh Việt Ngữ dịch là Âm Phủ).
f. Trong Thi Tv 16:10 nói đến một linh hồn sa xuống SHEOL. Điều này nói đến sự tiêu hủy thân xác bị hư nát. Câu này nói Tiên Tri về chức vụ Mếtsia của Đấng Christ mà Phierơ đã ứng dụng trong bài giảng của ông – (Bản Kinh Thánh Việt ngữ dịch là Âm Phủ
Trong Cong Cv 2:31 cũng nhằm chỉ về SHEOL và HADES đồng nghĩa nhau. từ Hibálai (Hêbơrơ) SHEOL trong Thi Tv 16:10 là từ HADES trong tiếng Hi lạp. Kết hợp hai ý tưởng Tân Ước và Cựu Ước,chúng ta có thể nói trong thế giới bên kia chính là SHEOL – HADES: Âm Phủ.
g- Trong Thi Tv 55:15 cho thấy những kẻ ác đã chết nhưng linh hồn chúng còn sống và sa xuống SHEOL (Bản Kinh Thánh Việt Ngữ dịch là Âm Phủ). Cảnh trạng nầy rõ ràng là mô tả về SHEOL, âm phủ hơn là phần mộ).
h- SHEOL kết hợp với sự đau khổ như Thi Tv 116:3 đã cho thấy. không có sự đau khổ khi nằm trong mộ ( Bản Kinh Thánh Việt Ngữ dịch là Âm Phủ).
i-Nhà của phường đĩ điếm dẫn xuống SHEOL . Nếu Sheol là mồ mả thì người kỹ nữ và người nữ tinh sạch chết đi cũng như nhau. Hơn nữa, những khách lăng loàn nầy ở dưới chốn sâu của Sheol” (ChCn 7:27; 9:18 (cả 2 chỗ nầy bản Kinh Thánh Việt Ngữ đều dịch là Âm Phủ). Cho nên, nếu dạy rằng SHEOL là mồ mả tức là ném bỏ hết những luân lý, đạo đức, xem tội lỗi là một trò đùa và giống như kẻ cho rằng “Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mặt chúng nó.”
j- Kẻ ác dẫn xuống SHEOL ( EsIs 14:9). Chữ SHEOL ở đây bản Authorized Version lại dịch là Hell HỒ Lửa, sang đến câu 11 lại dịch là Phần mộ (GRAVE). Ta thấy giữa SHEOL và GRAVE (phần mộ) không đồng nghĩa nhau. (chỗ này Bản Kinh Thánh Việt Ngữ dịch cả 2 là Âm Phủ).
k- ChCn 27:20. EsIs 5:14 SHEOL chẳng bao giờ đầy ngập , trái lại phần mộ có thể tràn ngập xác chết (Chỗ này Bản Kinh Thánh Việt Ngữ cũng là Âm Phủ ).
Tiếng Hy lạp, từ HADES Tân ước dùng 11 lần và được dịch:
+HỒ LỬA: 10 lần
+PHẦN MỘ: 01 lần
Ở nơi Hades, con người vẫn:
LuLc 16:19-21
+Tự nhận thức được
+ Có thể nói chuyện được
+Biết đau đớn
+ Biết bị ngăn cách xa khỏi những người có thể yên ủi mình
+Có thể nhớ lại quá khứ
+ Biết mình đang ở trong lửa
+ Dù kêu xin một giọt nước Ân điển cho mát lưỡi, vẫn không được chấp thuận. Đấng Christ đã cho chúng ta thấy sự mặc khải nầy để biết được những gì xảy ra bên kia sự chết cho kẻ gian ác là tương phản với người công bình.
IICo 2Cr 12:2
Dường như có sự giống nhau giữa Linh Hồn và Thân Thể trong sự cảm xúc. Phaolô cũng khó phân biệt sự khác nhau giữa 2 lãnh vực nầy. Ngay cả khi chúng ta thuật lại nhưng giấc mơ thì cũng khó mà quyết đoán nó xảy ra trong lĩnh vực Tâm lý hay THể Xác vật Lý. Hơn nữa chúng ta cũng không có cơ sở nào để bảo rằng một Tâm Linh trong một thực thể ngoài thân xác là mất đi những cảm giác như thấy, biết, chịu đau đớn .v.v.
Như vậy con người được dựng nên cũng giống ảnh tượng của Đức Chúa Trời tức là có thể thấ, biết, nghe, cảm xúc và tự biết mình: mặc dầu mình đã ra ngoài thân thể. Dầu sao chăng nữa thì sau khi người nhà giàu trong LuLc 16:1-31 đã bị mai táng, nghĩa là sau khi thân xác ông đã bị tiêu tan, ông vẫn ngước mắt lên và có thể thấy, có thể ước ao xin ột giọt nước vì quá đỗi đau đớn.
1- Từ GEHENNA:
Mat Mt 10:28
Tiếng Hylạp GEHENNA được dùng 11 lần trong Tân ước và được dịch là hồ lửa. Chúa Jêsus nói rõ rằng GEHENNA là một Hồ Lửa, nơi “lửa không hề tắt”. Trong 11 lần nói trên thì đã 8 lần nói đến lửa đời đời, LỬa chẳng hề tắt. Như vậy GEHENNA khác biệt xa với GRAVE phần mộ.
m- Cách dùng chữ Đời Đời: là để diễn tả một thời gain vô tận để chỉ về Đức Chúa Trời là Cha, Đức Chúa Trời là Con và Đức Chúa Trời là Thánh Linh. cũng chỉ về phước hạnh vô tận của những thánh đồ ở cùng Chúa, đồng thời cũng chỉ về khổ hình đời đời kiếp mà những kẻ ác phải chịu đau khổ suốt đời vô cùng. Sách Khải Thị đã dùng một số từ diễn tả thời gian đời đời như “Vo cùng” “Đời nầy qua đời kia” “từ rày cho đến đời đời” .v.v. (Xin xem KhKh 1:6; 4:9-10; 5:13; 7:12; 10:6; 11:15; 14:10-11; 19:3; 20:10. Bao lâu Đức Chúa Trời còn thực hữu thì bấy lâu kẻ ác bị đau khổ.
TRẢ LỜI VỀ QUAN NIỆM TỊCH DIỆT :
a- KhKh 21:8 không nói rằng Hồ Lửa tạo ra sự chết thứ hai nhưng Hồ Lửa chính là sự chết thứ hai. Kinh Thánh cũng không phô diễn một sự chết tiêu biến mất hay một hình phạt không có thực tế. Cũng không có nghĩa là làm cho thực thểđó bị xấu đi, bị giảm giá trị đi một phần nào.
b- Hư mất không có nghĩa là bị hủy diệt hoàn toàn: Khi đổ rượu vào bầu da, Mat Mt 9:17 nói, bầu bị nứt ra, tức là bị hư, không hoàn tất được mục đích. Khi một linh hồn bị hư mất, điều đó có nghĩa là Linh hồn ấy không hoàn tất được mục đích Đức Chúa Trời tạo dựng là để Tôn Vinh Ngài. (CoCl 1:16)
c- Bị huỷ diệt không có nghĩa là tịch diệt: Tiên tri Ô-sê kêu than cùng dân Israel rằng: “Dân ta bị diệt vì cớ thiếu sự thông biết”. Sự “bị diệt” này không có nghĩa là tiêu biến đi hết. khi Chúa Jêsus nói “Hãy hủy phá đềnt hờ nầy và trong 3 ngày ta sẽ dựng lại”. Ngài không có ý nói đền thờ sẽ tiêu biến mất. Một vài người chủ trương rằng tội lỗi sẽ ảnh hưởng đến linh hồn kẻ ấy không còn tồn tại nữa. nếu linh hồn bị tiêu biến mất không còn gì nữa thì kẻ phạm tội nhiều nhất sẽ được tiêu biến trước, thế thì sự hình phạt không cón thích hợp nữa.
d- Về Cơ Hội Thứ Hai. Kinh Thánh không hề dạy về cơ hội thứ hai. Trái lại, Kinh Thánh chỉ dạy về cơ hội HIện Tạo để tiếp nah65n ơn Cứu Rỗi mà thôi. Sau khi chết, con người phải đi đến chỗ bị đoán xét. Kinh Thánh dạy: “Người bị quở trách thường, lại cứng cổ mình, sẽ bị bại hoại thình lình, không phương cứu chữa”. Có rất nhiều câu Kinh Thánh cho biết tình trạng của kẻ ác khi chết là: + Ở trong Hồ lửa đời đời + Ở trong sự tối tăm + Khóc lóc và nghiến răng + Đau khổ + Bị hình phạt đời đời. + Ở dưới sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời + Đó là sự chết thứ hai + Bị huỷ diệt đời đời.
3/ NƯỚC CỦA ĐẤNG CHRIST
Nhóm chứng nhân của Giêhôva dạy:
a- Nuớc của Đấng Christ đã hoàn toàn thiết lập xong năm 1914 (xin xem NIỀM TIN căn bản về Tân Thế Giớ (BASIC FOR BELIEF IN A NEW WORLD) – Tháp canh: 1953)
b- Sự tái lâm lầnthứ hai của Đấng Christ là vô hình, giống như gió vậy (GiGa 14:19)
c- Có nhiều dữ kiện xảy ra hiệp lại là dấu hiệu cho đến lần thứ hai của Ngài đề làm VUA.
d- Và trong những ngày cuối cùng của thế giới cũ nầy tức là trước thềm của Tân Thế Giớ, những chứng nhân của Giêhôva sẽ rao giảng Phúc Âm để kiến tạo Vương quốc, và điều nầy chỉ xảy ra khi trận chiến AMAGHÊĐÔN bùng nổ để tẩy sạch quả đất khỏi sự gian ác và mở cửa cho thời kỳ Thái Bình Vô Tận. Sự rao giảng nói trên sẽ tạo nên một sự phân rẽ. Vì một số được bước vào Tân thế giới, số còn lại sẽ chống nghịch (Mat Mt 25:31-46). Sẽ có nhiều người dấy lên chống nghịch lại những Chứng Nhân của Giêhôva như đã báo trước.
TRẢ LỜI: a- Nước của Đấng Christ hoàn toàn không thiết lập vu vậy hiến tranh đã chấm dứt và những nước bây giờ ở trên đất đã trở thành nước của Đấng Christ rồi. Khi Vua đã đến thì ý chỉ của Ngài đã được thể hiện trên đất cũng như trên trời.
b- Đấng Christ sẽ ngự đến lần thứ hai cách rõ ràng
c- Trong 24:1-51: Những dấu hiệu về sự tái lâm của Đấng Christ sẽ baó cáo trước rằng phải có sự xuất hiện của người đại tội và cơn đại nạn. Sau đó thì con người là chính Đấng Christ mới hiện ra. Đấng Christ bảo các môn đồ Ngài chớ nên lẫn lộn những điều ấy.
d- Phúc Âm trong Mat Mt 24:14 là Phúc Âm mà chíng Đấng Christ cùng các môn đồ Ngài đều rao giảng là cùng một Phúc Âm. Phúc Âm nầy của Nước Đức Chúa Trời không khác với Phúc Âm mà Phaolô rao giảng, cũng chính là Phúc Âm các tôi tớ trung thành của Chúa đang rao giảng hôm nay và cho đến khi đời nầy được kết thúc.
Câu Hỏi Bài 17 :
1/ Nhóm chứng nhân của Giê Hô Va dạy gì về Hồ Lửa ?
2/ Họ dạy gì về cơ hội thứ hai ?
3/ Trong tiếng Hơbơrơ chữ Phần Mộ là gì ? Nó được dùng trong Cựu Ước thế nào ?
4/ Căn cứ vào từ Sheol, xin so sánh Cựu Ước đã dùng từ nầy với cách dịch của Bản Authorized Version, Sheol khác với Phầm mộ ra sao?
5/ Xin đưa ra những điểm tương đồng giữa hai từ Sheol Cựu Ước và Hadès trong Tân ước
6/ Tân Ước dạy gì về Hades? TỪ HIlạp đã hiểu như thế nào? Nó được dịch ra sao?
7/ Kinh nghiệm của Phaolô trong IICo 2Cr 12:1-2 là gì? Có liên hệ mật thiết nào giữa các kinh nghiệm vật lý và tâm lý không?
8/ Từ Hilạp Gehenna được dùng như thế nào? Xin chứng tỏ Gehenna không phải là Mộ Phần-Xin phân biệt Gehenna và Hades
9/ Tân Ước dùng từ “Đời Đời” thể nào để nói về sự hình phạt kẻ ác?
10/ Xin chứng tỏ Tiệt Diệt Thuyết của Russell là không có nền tảng Kinh Thánh .
11/ Xin chứng tò chủ trương cơ hội thứ hai chống lại sự dạy dỗ của Thánh Kinh.
12/ Nhóm chứng nhân của Giêhôva dạy gì về nước của Đấng Christ ?
13/ Dùng Kinh Thánh chứng tỏ Nước Đấng Christ chưa xuất hiện năm 1914.
14/ Xin trưng dẫn Kinh Thánh dạy về Đấng Christ sẽ tái lâm cách hiển nhiên rõ ràng.
15/ Xin đưa ra những dấu hiệu báo trước sự tái lâm của Chúa.
16/ Dùng Mat Mt 24:14 chứng tỏ chỉ có một Phúc Âm của Đấng Christ .
GIÁO HỘI SA BÁT Hay CƠ ĐỐC PHỤC LÂM
I- LỊCH SỬ
William Miler ở Law Hampton, Nữu Ước, đã giảng dạy và tuyên bố rộng rãi rằng Đấng Christ sẽ tái lâm năm 1844. Ông đã dựa vào lời Tiên Trị ở DaDn 8:14 mà giải thích và tuyên bố như trên.
Bà len G.White, trong tác phẩm cuộc tranh chiến giữa Đấng Christ và Satan (The Controversy Between Christ Anh Satan), đã vết… “Tuần lễ thứ 70 đã bắt đầu từ năm 457 T.C và chấm dứt năm 34 SC. Ngày nầy chúng ta không khó để tính ra hời khoảng 2.300 ngày, 70 tuần 490 ngày. Lấy 2300 -490 ta còn 1810 ngày. Sau khi 490 ngày hcàyya61m dứt thì s4 trọn 1810 ngày, 1810 ngày bằng 1810 năm, vậy từ năm 34 tức đúng 1844 năm. Vì vậy 2.300 ngày của 8:14 chấm dứt năm 1844. Một lời đại Tiên Tri đã xác nhận ngay thời kỳ nầy là : “ thời ky thanh tẩy nơi Thánh”. Đó là thời kỳ thanh tẩy…”
Nhưng Đấng Christ đã không tái lâm năm 1844 và để bào cha lỗi lầm nầy của ông Miller, bà White, là một người nhiệt thanh theo thuyết Miller, đã quả quyết rằng Đấng Christ đã trở lại năm 1844 và Ngài ngự vào nơi Thánh là giai đoạn 2 của công cuộc Cứu Chuộc để khởi đấu cuộc điều tra phán xét, như ở trang 481, bà White viết tiếp:
“Như những người đã theo anh sáng lời tiên tri nầy và thấy, thay vì tái lâm vào năm 1844, thì Đấng Christ đã ngự vào nơi Thánh để làm sạch nơi ấy, để hoàn tất sự cứu chuộc chuẩn bị cho sự tái lâm hiển hiện của Ngài sau đó”. Cũng theo bà White, có 3 giai đoạn của công tác Cứu Chuộc Đấng Christ:
+ Giai đoạn 1 là Ngài chịu chết trên Thập Tự Giá, đó là công tác, theo bà, là công tác so sanh với Tế lễ ở bàn thờ bằng đồng.
+ Giai đoạn 2: Ngài bắt đầu năm 1844, khi Ngài vào nơ Thánh để thi hành sự điều tra phán xét, tức tra xét những người có danh sách đặc biệt là người giữ luật pháp và nhất là giữ Điều răn thứ tư.
+ GIai đoạn 3: Khởi đầu vào ngày Cứu chuộc. Khi Đấng Christ sẽ vào nơi chí Thánh để đặt mọi tội lỗi ta trên Con để chuộc tội do Satan đòi hỏi, hầu nó mang tội lỗi của chúng ta vào sự quên lãng. Về điều nầy, bà White viết: “Bà thấy Đấng Christ đang vào công tác điều tra trong nơi Thánh và Ngài chỉ vào Điều Răn thứ 4 bảo hãy vâng giữ ngày Sabát”. Vì thế, sự dạy dỗ nầy đã lên đến địa vị tuyệt điểm của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm. Bà White viết tiếp trong trang 497:
“ Họ bị lên án rất nghiêm vì đã vi phạm Đấng Tạo Hóa “về ngày yên nghỉ của Ngài. Họ phải tôn kính Ngài bằng cách tìm bết ý muốn của Đức Chúa Trời, phải nhận bết mình luôn luôn vấp phạm luật Thánh, phải hằng buồn bã trong lòng và phải bày tỏ trung thành với Đức Chúa Trời bằng cách giữ ngày Sabát làm ngày Thánh.”
Đó là lý do họ mang tên “Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm giữ ngày tứ bảy”. Thật rất ngạc nhiên vì tà thuyết nầy hoạt động rất thành công. Đài phát thanh của họ là tiếng nói của lời tiên tri (Voice of Prophecy) lại phát đi mỗi ngày chúa nhật trên các trạm tiếp âm đến các lục địa để dẫn dụ hàng ngàn linh hồn bất cả6n sa vào bẩy lưới họ. Chúng ta cũng rất ngạc nhiên vì có nhiều học viên các chương trình học Kinh Thánh hàm thụ tự do lại đăng ký học các giờ học Kinh Thánh của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm.
Satan quả có nhiều viên thuốc đắng được bọc đường. Với nhiều quỷ kế, những hội viên hội Sabát đã đi khắp nơi đã có những bước chân truyền giáo, để cám dỗ những người mới theo đạo mà những Hội Truyền Giáo nói trên đã trải qua nhiều năm lao khổ, để rồi lôi kéo những người ấy theo hội mình. Theo thiển ý, những người nầy không chịu làm công tác truyền giáo tiên phong mà chỉ xem vào một cách quái dị để làm trệt hướng đi những kẻ đã giài phóng khỏi tội lỗi, biến họ trở thành kẻ tin theo luật pháp. Để trở thanh một tổ chức kiếm lợi, Giáo Hội Phục Lâm đã mua chuộc và lợi dụng những người vốn đã có lòng dễ yêu mến thế gian và lợi lộc vật chất.
II. CHỦ TRƯƠNG
XuXh 20:8,11
16:22,29
35:2-3
Dan Ds 15:32-36
XuXh 31:13-18
GaGl 3:10
RoRm 11:6
Eph Ep 2:8-9
EsIs 64:6
1/NGÀY SABÁT
a- Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm dạy rằng Giáo Hoàng chính là ti – Christ đã đổi Ngày Sabát ra Ngài Chúa Nhật, và tất cả những ai nhóm vào ngày Chúa Nhật là kẻ mang dấu của Âm Phủ và chắc chắn phải đi vào Hồ Lửa vì đã vi phạm Luật Sabát của Đức Chúa Trời
b- Một số người cho đó là Hoàng Đế Constantine, Hoàng Đế của La mã đã đổi ngàyấy.
c- Họ cho rằng ngày thứ bảy đã được chính Đức Chúa Trời thiết lập lúc cuối cùng cuộc sáng tạo, vào ngày đó Đức Chúa Trời yên nghỉ. Ngài đặt một kiểu mẫu yên nghỉ cho tất cả mọi người rằng: “Hãy giữ ngày Sabát và biệt ra Thánh”. Vậy sự thiết lập giữ ngày Sabát nầy không hề bị phá bỏ.
TRẢ LỜI:
a- Có rất nhiều Giáo Hoàng và không có vị nào cai trị cùng một lúc. Trong thời các Sứ Đồ, Giăng nói có nhiều Anti-Christ xuất hiện (IGi1Ga 2:18). Nhưng cũng cùng một đoạn ấy, Giăng nói về Anti-Christ sẽ hiện ra trong ngày cuối cùng. Anti-Christ ấy sẽ xuất hiện và cai trị thế giới ngay trước khi Đấng Christ đến, và lúc ấy Anti-Christ sẽ bị hủy diệt, bị quăng vào Hồ Lửa. Nhưng Anti-Christ đổi ngày Sabát ra ngày Chúa Nhật là không có căn cứ. Vả lại, những ai giữ ngày Chúa Nhật không thể là người mang dấu của con thú được. Theo KhKh 13:16-18 việc mang dấu con thú không có liên can chi tới việc giữ ngày Chúa Nhật cả.
b- Căn cứ vào lịch sử thì không có chuyện ConSeaticantine đổi ngày. Trái lại, khi ông làm Hoàng Đế La mã, ông trở lại với Cơ Đốc Giáo thì cho phép áp dụng những cuộc thờ phượng Thánh và chọn ngày Chúa Nhật làm Ngày Thánh cho toàn dân trong cả đế quốc.
RoRm 14:5-6
c- Chúng ta tin rằng con người được cứu rỗi không phải do giữ ngày thứ bảy hay Chúa Nhật. “Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, Kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau, ai nấy hãy tin chắc ở trí mình. kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa”. Đời sống Cơ Đốc Nhân được chứng thực vào nếp sống Cơ Đốc Nhân sâu nhiệm, chớ không phải trên sự việc giữ “ngày, tháng, mùa, năm”.
Vả, Đức Chúa Trời dạy chúng ta về ngày Sabát trong Cựu Ước để chuẩn bị sự cứu chuộc như thế nào? Thập Tự Giá là bằng chứng của lịch sử. Có phải đây chỉ là sự yên nghỉ vật lý không thôi sao? Không, Đức Chúa Trời đã tìm kiếm con người rãi qua các thời đại để đem thế gian bất an nầy được yên nghỉ trong chính Ngài nhờ sự Cứu rỗi và sự phục vụ Chúa.
Trước khi cuộc sáng tạo thứ I bị nhiễm tội thì Đức Chúa Trời đã yên nghỉ rồi. Ngài không cần phải nghỉ vì cớ quá lo lắng hay mệt nhọc vì Ngài là Thần Linh. Đức Chúa Trời không hề mệt mỏi vì Ngài là Đấng Toàn Năng. Nhưng khi tội lỗi kéo con người ra khỏi sự thông công với Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời bắt đầu thực hiện sự cứu chuộc cho con người và khi thời hạn đã trọn rồi, Đức Chúa Trời bèn sai con Ngài đến để hoàn thành sự cứu chuộc cho chúng ta. Vì thế niêu trên Thập Tự Giá Chúa Cứu Thế đã kêu lên: “Mọi sự đã trọn”. Ngài đã mở cho chúng ta một con đường đến thẳng với Đức Chúa Trời. Đấng Christ đã được tôn lên Ngồi bên hữu Ngai Đức Chúa Trời. Ngài đã hoàn tất sự cứu chuộc cho chúng ta rồi và Ngài khuyên mời thế giới đầy lo lắng nầy rằng: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta. Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” Bất cứ kẻ nào bước vào sự yên nghỉ của của Chúa thì chấm dứt công việc mình.
Tại sao Đức Chúa Trời rao báo hình phạt trên những kẻ làm những việc cấm trong ngày Sabát? Như kẻ lượm mana, lượm củi, hay ngay cả đi xa khỏi nhà trong ngày Sabát cũng vi phạm luật chết. Chúng ta phải đọc rõ: “Đấng rủa sả thay là kẻ không bền đổ trong mọi sự đã chép ở sách Luật, đặng làm theo những sự ấy (không phải chỉ cố gắng để làm)”. Chúng ta cũng nhớ rằng Đức Chúa Trời đưa ra tiêu cchuẩn ấy để chứng tỏ con người đạt đến mức quá thấp trong sự cố gắng của họ. Điều nầy cho thấy rằng sự Khải Thị của Đức Chúa Trời về sự cứu chuộc thật là trọn vẹn. Không phải con người hãy cố gắng làm hết mọi sự rồi mới đặt lòng tin vào công việc đã hoàn tất của Đấng Christ . Không, con người được Cứu hoàn toàn do Ân Điển mà thôi, vì sự Công Bình của họ như chiếc áo nhớp, họ chỉ phải chạy đến cùng Chúa mới được Cứu, như Lời Bài Thánh Ca 171 như sau:
“Bên Góc Thập Tự Giá, tôi quỳ.
Bàn tay trắng, chẳng bạc.
Vàng chỉ nguyện ban áo phủ thân trần tôi,
Cầu ơn cứu giúp kẻ mồ côi
Đem ác tâm lại suối linh lại bằng không,
Chết mất đi Ngài ôi!”
Mat Mt 11:28-29
Những lời ca trên đây đã bày tỏ bản chất đặc biệt của Cơ Đốc Nhân là hoàn toàn khác biệt với mọi Tôn Giáo về quan điểm của sự Cứu Rỗi.
Sự yên nghỉ ấy được ban cho kẻ nào tin là bước vào sự cứu rỗi được gọi là sống và phục vụ. Đó là lời sống trong đó chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào công việc quyền năng của Đức Chúa Trời, chỉ không do sự cố gắng vô ích, xác thịt chẳng làm chi được!. Đó là ý bài thánh ca 227 do tiến sĩ A.B. SIMPSON đã sáng tác.
“Xưa từng chăm ơn phước hoài
quyết nay chăm mặt Ngài
Xưa hằng tu nhân, thí tài
Biết nay công việc Ngài
Jêsus, xưa tôi nắm tay Ngài
Nay Jêsus nắm tay tôi!…”
Đó là hình ảnh của một Canaan yên nghỉ mà Đức Chúa Trờiđã giải cứu dân Ngài khi họ vượt qua sông Giô đanh để chiếm lấy 7 thành lớn, manh và đông hơn họ gấp bội phần. Đức Chúa Trời ban cho họ đất nầy, thật Đấng Giêhôva đã phó những kẻ thù vào tay họ. không lấy gì làm khó để Đức Chúa Trời hành động. Nguyên tắc trãi qua các đời ấy là “Ấy chẳng phải là bởi Quyền Thế, cũng chẳng phải bởi Năng Lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giêhôva Vạn Quân phán vậy”
Cơ Đốc Nhân khi bước vào sự yên nghỉ nầy họ không cần làm gì nữa, nhưng chính Đức Chúa Trời sẽ làm qua họ
Cho nên ngày phục sanh của Đấng Christ , ngày Chúa từ kẻ chết sống lại, đã cho thấy rằng cuộc tạo hóa mới mà Ngài thiết lập căn cứ vào sự chuộc tội đã thực hiện xong .
“Ngày Sabát thứ I đã chiếu bóng nó trên Cựu Ươc thì đã được trọn vẹn trong Tân Ước và trong mỗi một đời sống của kẻ được dựng nên mới trong Chúa Jêsus” Bước đi trong Thánh Linh, kẻ tin đến Đức Chúa Jêsus Christ sẽ được tự do, họ được buông tha khỏi Luật của Sự Tội và Sự Chết.
2/ SỰ CỨU RỖI:
a- Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm dạy rằng: “Sự giữ luật pháp là điều cần thiết để được Cứu Rỗi”. Những kẻ tin không giữ ngày thứ bảy đều bị hư mất. Khi Đấng Christ Tái Lâm chỉ có 144.000 người sẽ được cứu, tức là những i trông đợi Chúa phục lâm (ADVENTISTS) là những kẻ không mang dấu của con thú. “Đức tin vào Đấng Christ chỉ có thể Cứu chúng ta khỏi mọi tội lỗi thuộc về quá khứ, còn tuân giữ Luật Pháp là tiêu chuẩn cho bản chất và đời sống con người được thử nghiệm trong khi phán xét” (Xem: CUỘC TRANH CHIẾN LỚN GIỮ ĐẤNG CHRIST VÀ SATAN) (The Greate Controversy Between Christ and Satan)
b- Dựa vào lịch sử Cứu Chuộc, Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm dạy rằng: có 3 giai đoạn của công tác Cứu chuộc của Đấng Christ . Thập tự giá là giai đoạn 1. Giai đoạn 2 bắt đầu từ Năm 1844 khi Đấng Christ bước vào nơi Thánh để khởi đầu cuộc điều tra phán xét. Giaiđoạn thứ 3 là lúc tội ác chúng ta được đặt trên con dê Satan bị đuổi đi trong ngày chuộc tội.
TRẢ LỜI
a- Sự Cứu Rỗi được ban cho không bởi việc làm, càng không thể nhờ sự hỗ trợ công việc của con người vào huyết vô tội của Đấng Christ đã chịu đổ ra. Chỉ một mình Jêsus là Cứu Chúa và chỉ có một cứu Chúa mà thôi. Đức tin chúng ta đặt vào CHÚA tức là không nhìn vào chúng ta mà chỉ nhìn xem một Cứu Chúa mà thôi. cố gắng đạt đến sự Cứu Rỗi bằng cách thuận giữ Luật Pháp, đó là một sự phí công vô ích mà thôi. “ vì có chép rằng đáng rủa sả thay kẻ không bền đổ trong mọi sự đã chép ở Sách Luật ( CẢ NGŨ KINH) đặng làm theo những sự ấy” (không phải chỉ cố gắng làm nhưng phải vâng phục trọn vẹn)
Trong Công vụ chương 15, chúng ta đọc thấy: “Nhưng có mấy kẻ về Đảng Pharisi đã tin Đạo, đứng dậy nói rằng phải làm phép cắt bì cho những người ngoại, và truyền họ phải tuân theo luật pháp Môi se”. Nhưng các sứ đồ và các trưởng lão biểu quyết: “Chúng ta đã nghe có một vài người trong chúng ta đến làm rối loạn các người bởi những lời làm cho biến lòng các ngươi, nói rằng, “Các anh pah3i chịu cắt bì và tuân giữ Luật pháp.” Đối vơng người ấy Chúng ta chẳng truyền cho họ mạng lệnh nào cả.” Há có ai là một trong số 144.000 người đó có thể nói cho chúng ta biết là họ thuộc về chi phái nào của dân Isarael không?
b- Theo IGi1Ga 1:29, thì Đấng Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Đấng Christ mang tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ đã dạy rõ ràng về Đấng Christ đã dâng chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta đời đời, và chỉ một của lễ mà Ngài hoàn tất sự chuộc tội cho chúng ta.
Không phải đợi đến năm 1844 Đấng Christ mới vào Kinh Thánh , nhưng Ngài đã hoàn tất sự giải cứu ấy tại chính Thập Tự Giá, rồi được tôn lên ngồi bên hữu của Đấng ngự trong nơi Rất Cao ở trên trời và làm Thầy Tế Lễ Tối Cao của chúng ta trong nơi Thánh để cầu thay cho chúng ta.
3/ SỰ BẤT TỬ:
Chỉ những kẻ được sự sống đời đời mới có sự sống bất tử. CARLYLE B. HAYNES trong tác phẩm: “Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm giữ ngày thứ bảy -Công việc và những sự dạy dỗ của họ (Seventh Day Adventist – Their Work and Teaching) đã viết: “Con người phải chết. Con người chỉ có một hy vọng cuối cùng để có thể sống đời đời ấy là phải hòn toàn tất lệ thuộc vào điều kiện nầy tức là kết hiệp với Đức Chúa Trời qua Đấng Christ Cứu Chuộc, Đấng đã hứa ban sự sống đời đời cho ất cứ kẻ nào tin”. “Về sự yên nghỉ, họ nói rằng trong đời sau sẽ Tịch diệt, không còn sự hiện hữu nữa. Ho cho rằng tất cả Satan, tác nhân của tội ác, kẻ ác, đều bị thiêu hủy bởi lửa trong ngày cuối cùng để trở thành một trạng thái vô hữu
TRẢ LỜI
Sự sống đời đời có ý nghĩa siêu việt hơn là sự hiện hữu Đời Đời. Mọt cái ghế dù hiện hữu nhưng không có sự sống. Trong IGi1Ga 5:12 chúng ta đọc thấy: “Ai có Chúa Con tức là có sự sống Đời Đời và đó là sự sống của Con Đức Chúa Trời. Sự sống theo Kinh Thánh chính là sự tương giao với Đức Chúa Trời thì Đấng Christ đã đến để cho con người được tương giao với Đức Chúa Trời thì Đấng Christ đã đến để con người được sống. Thật là rồ dại khi nói rằng mộ tội nhân” chết trong sự quá phạm và tội ác mình” tức là không chiện hữu nữa. Thật là buồn cười nếu hiểu biết như trên thì Đấng Christ phán câu “hãy để kẻ chết chôn kẻ chết lẽ có nghĩa là: hãy để kẻ không hiện hữu chôn kẻ không hiện hữu”
Về sự chết, Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâmcho rằng đó là sự hoàn toàn ngưng nhgỉ, nhưng Kinh Thánh dạy sự chết vật lý là sự tạm chia lìa giữa linh hồn và thân xác cho đến khi được tái hợp tức là được sống lại. Nhưng Phaolô mô tả trạng thái đình chỉ nầy là “lìa khỏi thân thể đặng ở cùng Chúa”. Sau 1.000 năm đau khổ trong Hồ Lửa, Con Thú và Tiên Tri giả vẫn còn hiện hữu (xem KhKh 19:2020:10). Nếu một sự thể không hiện hữu làm sao có thể bị đau đớn? Nhưng Thánh Kinh cho biết rằng Ma quỷ phải chịu đau đớn, khổ hình cho đến đời đời. (20:10)
4/ LINH HỒN NGỦ:
Về Thuyết Linh Hồn Ngủ, Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm dạy: “Lương tâm con người nhận thức được tùy thuộc và sự sống khi còn trong thân xác. Khi hai yếu tố nầy chia lìa lúc chết, tức là con người bị rơi vào trạng thái không còn hiểu biết chi nữa. Nên khi chết, con người bị rơi vào trạng thái vô thức (UNVONSCIOUSNESS). Kinh Thánh gọi trạng thái nầy là ngủ. Trạng thái ngủ nầy sẽ kéo dài cho đến lúc con người được sống lại từ kẻ chết”.
TRẢ LỜI
Linh hồn không hề bị lệ thuộc vào hoạt động hay sự ý thức khi nó chiếm hữu thân xác con nguời. Nếu không, Đức Chúa Trời và các Thiên sứ cùng những “Linh Hồn ngưoời Nghĩa” sẽ chẳng ý thức, cũng chẳng hành động gì cả. Các phân đoạn Kinh Thánh như:
+Thi Tv 6:5; 146:4
+ TrGv 9:10
+ DaDn 12:2
+ Mat Mt 9:24
+ GiGa 11:11
+ ICo1Cr 15:51
+ ITe1Tx ITe4:14
Sẽ không được phép hiểu sai để giải thích cách sai lạc.
Những đoạn nói trên mô tả trạng thái vật lý trong thể xác con người. Người nhà giàu trong LuLc 16:19-31, nếu thật chỉ ngủ thì ông đang bị một cơn ác mộng khủngkhiếp (Bị MỘc đè). Sau khi bị chém đầu chết, những linh hồn tử đạo đã kêu lên:
“Lạy Chúa là Đấng Thánh và Chơn Thật, Chúa từ hưỡn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?”. Vậy nếu những linh hồn nầy yên ngủ thì họ ngủ không yên. Phaolô đã từng trải vài lần về kinh nhiệm nầy khi ông được đem đến từng trời thứ ba, ỏ đó nghe những điều không thể nói ra được, lại cũng không được phép nói ra”. Chính Phaolô khôngbiếrằn lúc ấy ông đang “ở trong hay ở ngoài thân thể”. Thật là vô lý hay ngạo mạng khi một người nói: “Tôi mong lìa bỏ thân xác đặng đi cùng Chúa “ mà sự ở nầy lại xảy ra trong cõi vô thức là cõi hiện diện đầy sự vui mừng cùng Chúa .
– Các vị lãnh đạo Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm đạ họp một Hội Nghị, có sự hiện diện của DONALD grey BARNHOUSE, WATERR. MARTIN thuộc tạp chí Eternity và George Cannon, thuộc Viện Truyền Giáo NYACK cho biết đã có một số thay đổi trong Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm. Khi đệ trình 40 câu hỏi lên Giới lãnh đạo Cơ Đốc Phục Lâm, Ông Martin đã nhận được một thư trả lời rất dài. Ông đã đúc kết mấy điểm trả lờ của thư như sau:
+ Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm ngày nay không còn xem tác phẩm của bà ELLENG. WHITE là ngang hàng với Kinh Thánh nữa
+ Chúa Jêsus không phải là một vật thọ tạo.
+ Giữ này Sabát không có nghĩa là để được Cứu Rỗi
+ Họ tin vào công tác Cứu Chuộc đã xong của Đấng Christ. Họ cho rằng con dê gánh tội chúng ta đi vào sự quên lãng là một sự “thương lượng có tính các pháp lý” nhưng không phải là sự đền tội ở Thập Tự Giá
+ Họ vẫn tin vào thuyết: “Cuộc điều tra phán xét”
+ Việc giữ ngày Sabát là cần thiết cho bất cứ Cơ Đốc Nhân nào muốn đi trong sự vâng phục các điều Răn của Đức Chúa Trời.
+ Họ vẫn tin chắc vào “sự bất tử có điều kiện” (như linh hồn và kẻ ác bị tịch diệt)
Những điều nầy được trích lại từ những tác phẩm xuất bản của bà White, là người được Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm sùng kính. Đó là một vài sửa đổi của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm như đã nêu trên. Chúng ta hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ có nhiều thay đổi nữa trong Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm
Câu Hỏi bài 18
1/ Ông Miller và Bà White đã đi đến kết luận nào về biến cố 1844?
2/ Theo bà White, 3 giai đoạn chuộc tội Đấng Christ thực hiện là gì?
3/ Xin nói rõ tại sao Giáo Phái nầy được mệnh danh là Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm giữ ngày Thứ Bảy?
4/ Họ dạy thế nào về ngày Sabát
5/ Chúng ta trả lời thế nào từng điểm một về 3 điều chủ trương trên?
6/ Họ dạy thế nào về sự Cứu Rỗi?
7/ Chúng ta phải trả lời thế nào?
8/ Họ dạy gì về sự bất tử?
9/ Chúng ta trả lời ra sao?
10/ Họ dạy thế nào về Linh Hồn Ngủ?
11/ Chúng ta trả lời thế nào?
HỘI CƠ ĐỐC KHOA HỌC
I. LỊCH SỬ Nhận xét một cách chung ở bên ngoài, người ta có thể cho Hội Cơ Đốc Khoa Học là một đạo Thuần Chánh. Nhưng xét kỹ nội dung của nó thì Hội Cơ Đốc Khoa Học phủ nhận và chống lại niềm tin chân chánh Đức tin Cơ Đốc. Nó chẳng phải là Cơ Đốc, cũng chẳng phải là khoa học. Phong trào nầy do bà MARRY BAKER EDDY sáng lập. Trong tác phẩm: “ Cơ Đốc Khoa Học là chìa khóa tri thức Kinh Thánh (Christian Science With key to the Scriptures), do Bà đay viết và những môn đệ của Hội Cơ Đốc Khoa Học cho tác phẩm ấy là chìa khóa để hiểu Kinh Thánh. Bà đay tuyên bố rằng sách đó được hà hơi và xuất bản năm 1875. Bà đay sớm nhận được những khả năng xuất chúng trong cách trình bày hệ thống triết lý của bà, sau khi bà được một nhà thôi miên chữa lành bệnh động kinh, người ấy tên là bác sĩ P.P.Quimby, ông bác sĩ nầy đã viết chừng 10 bộ sách trình bày phương pháp cha bịnh thần kinh không cần thuốc men. Khi còn trẻ, Bà đay bị mắc chứng động kinh thường hay vật bà ngã xuống nền nhà, khến bà bất động và vô cảm xúc. Chính Thân phụ của bà đã xác nhận rằng: “ Kinh Thánh có luật về Mari Mađơlen bị 7 quỷ ám vào, nhưng Mari con ta bị ám bởi 10 con quỷ” Thế nhưng, Bà vẫn có chồng tên là George Washington Glover năm 1853. Nhưng sau đó họ cũng ly dị. Đếnnăm 1877, ông Asa Giblert cưới bà, sau tức là Dr. Eddy, vốn là chủ một công ty buôn bán máy may. Mẫu hội ở Boston, Hội Thánh đầutiên của các nhà khoa học gia (First church of Chirst, Sciencetist) đã ảnh hưởngmạnh đến nhiều giới trí thức tại Mỹ và Gia nã đại. Hội chuyên truyền giảng thuyết lý siêu hình và đơc một số đông người vốn đang gặp phải nhiều đau khổ và nan đề trong cuộc sống chấp nhận. Tờ báo Cơ Đốc Khoa Học đã xuất bản liên tục tronghàng trăm năm rồi. Họ tin Đấng Christ đã tái lâm rồi. Một số báo tháng 12 năm 1948 đã viết: “ Cơ Đốc Khoa Học chính là sự tái Lâm của Đấng Christ , sự xuat con người mệnh danh là Con Đức Chúa Trời đã đến với lương tâm con người để hủy diệt những nguyên tắc tố ác”
II. TÀ THUYẾT :
1/ VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI
a- Trong tác phẩm: Khoa học và Sức Khoẻ, chìa khóa để hiểu Kinh Thánh (Science anh Health With key to the Scrip-tures), Bà Eddy viết: “Đức Chúa Trời là vô hình, Thiêng Liêng, Tối Cao, Vô Hạn, Thần Linh là linh ồn, nguyên lý, sự sống lẽ thật và tình yêu”. Ngài không có ngôi vị, Ngài chỉ có một nguyên lý Tối cao mà thôi.
b- Đức Chúa Trời không có ba ngôi “Lý thuyết về Đức Chúa Trời Ba Ngôi giống như Đa thần Giáo chứ không phải ở trong một hứa thể như Đức Chúa Trời đã tuyên bố ta là”
TRẢ LỜI
a- Nếu chúng ta từ chối Ngôi Vị của Đức Chúa Trời, chúng ta cũng phải từ chối phẩm cách riêng của chúng ta, vì cớ “loài người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời”. Ngôi vị của Đức Chúa Trời được xưng tụng rĩ ràng như: Cha, Đấng chăn Chiên, Đấng Chỉ Huy, Chồng, Chủ, Đấng Giải Cứu, Vua v.v.Những phẩm cách ấy chứng tỏ Đức Chúa Trời có Ngôi Vị. Ngôi vị hoạt động như tha tội, abn ơn phước, giải cứu, phán dạy, muốn che chỡ, cung cấp, phán hứa, kết ước …, đó là những hoạt động của Ngôi Vị.
b- Đức Chúa Trời đồng một thể nhưng hoạt động trong Ba Ngôi Tiêng Biệt và đời đời đó là Cha, Con và Linh. Trong tiếng Hêbơrơ, Đức Chúa Trời là ELOHIM là một danh từ số nhiều những hoạt động trong một hướng dẫn duy nhất, nên SaSt 1:1 dùng động từ ở số ít để chỉ rằng Đức Chúa Trời là Ba Ngôi nhưng hiệp làm một. Từ ELOHIM nhấn mạnh đến sự hiệp nhất. Thần tánh của Đấng Christ Xin xem bài Giáo Phái của Chứng Nhân Giêhôva), và Thần Tánh của Đức Thánh Linh đều được dùng cho Ba Ngôi Đức Chúa Trời về danh xưng, thuộc tánh, lẫn về công tác và sự kết hợp, Thần Thượng bởi những công việc quyền năng Ngài trong Cựu Ước là cùng một Thánh LInh trong Tân Ước.
2./ VỀ CHÚA JÊSUS CHRIST
Về Chúa Jêsus và sự từ chối vật chất, Hội Cơ Đốc Khoa Học dạy: “Chúa Jêsus xuất hiện trong đời sống bằng sự kết hợp giữa Thần và Nhân, Ngài xuất hiện như một người, nhưng sự hiểu biết Ngài là Thần Thượng, tuy nhiên vai trò Christ của Ngài thực hữu hoàn toàn khác biệt với thân xác Ngài, dầu thân xác Ngài cũng hoạt động như mọi người. Ngài có thể cha lành kẻ đau, kêu kẻ chết sống glại, cứu rỗi tội nhân nhưng tất cả công việc nầy Ngài tách biệt Ngài khỏi niềm tin vào vật chất. Ay là nhờ sự hiểu biết vô hạn trong một hữu thể trọn vẹn mà Ngài có thể đem lại sự cha lành về phương diện vật lý”. (Trích bài thuyết trình ở Denver và tạp chí Denver Colorado Post, 26/3/1968).
TRẢ LỜI
Tất cả những phép lạ Chúa Jêsus đã thi thố, người ta đều cảm nhận cách rõ ràng, Vì chính Chúa Jêsus đã trực tiếp nghe, thấy, rờ đến kẻ phung, Ngài đi bộ, làm việc, ăn uốngngủ và nói chuyện. Chỉ có nhưng người điên khùng hoặc bị quỷ ám mới đặt ra những ý nghĩ điên rồ về Đấng Christ như đã niêu trên.
3/ VỀ ĐỨC THÁNH LINH:
“Đấng yên ủi của Lời Hứa ấy chính là KHoa Học Thần Thông”. Giáo Hội Cơ Đốc Khoa Học dạy rằng: “Chỉ trong Cơ Đốc Khoa Học chính Cơ Đốc Khoa Học là sự khải thị trọn vẹn về Đức Chúa Trời và Đấng Christ “ (trích từ một sách nhỏ 32 trang do nhà sản xuất Cơ Đốc Khoa Học năm 1939 với nhan đề: A Prophet Whith Honor) (Vị tiên tri được tôn trọng).
TRẢ LỜI
Đây là một lời phạm thượng. Đấng Yên ủi Được Hứa Ban đã đến trong ngày Ngũ Tuần và qua chức vụ phước hạnh của Ngài. Loài người được thuyết phục về tội lỗi. (Hội Cơ Đốc Khoa Học chối bỏ lẽ đạo nầy), đ63 quay lại cùng Đấng Christ và được hướng dẫn trong Đường Lối Thánh Khiết và Đắc Thắng.
4/VỀ TỘI LỖI
a- Hội Cơ Đốc Khoa Học dạy: “tội lỗi, Bệnh Tật, và sự chết đều bị liệt kê cùng một loại với những sai lầm” (Khoa Học và Sức Khỏe).
b- Con người bất lực trước tội ác, bệnh tật và sự chết
ChCn 21:4 ChCn 24:9 IGi1Ga 3:4 RoRm 1:18, 24-30 Gie Gr 17:9
TRẢ LỜI
a- tội lỗi là một vấn đề rất phổ thông vì:
+ Lời của Đức Chúa Trời dạy rất tỏ tường về tội lỗi
+Nhu cầu ăn năn cũng rất là phổ quát.
+ Sự chết là điều hiển nhiên, phổ thông cho cả mọi người
+Nhu cầu của con người cũng rất là phổ thông
+ Tội ác rất phổ thông
b- Con người đều phạm tội một cách ý thức và năng động vì:
+ Mọi người đều bất nghĩa trong tội lỗi
+Điều gì không bởi đức tin đều là tội lỗi
+Biết điều lành mà không làm là tội lỗi
+ Con mắt kiêu ngạo, lòng tự cao, và mọi đường lối kẻ ác đều là tội lỗi .v.v.
5/ VỀ KINH THÁNH:
Mặc dầu bà Marry Baker đay đã xuất bản tác phầm nhằm giúp cho người ta một chìa khóa để mọi sự hiểu biết về Thánh Kinh nhưng thật ra đó là chìa khóa dẫn vào sự vô lý cùng cực. Ví dụ tên đam có nghĩa là: Bà Eddy nói “Sự ngăn trở”. Tại sao bà cắt nghĩa như vậy? Bà trả lời: “đam được kết hợp bởi hai chữ A và Đam, vì vậy đam là một sự ngăn trở”.
Ngoài ra, chúng ta hãy trích dẫn lời của Tấn Sĩ WILBUR M.SMITH trong tác phẩm Kinh Thánh và Thế Giới Ngày Nay (The Bible and The World Today), đề cập đến quyển Sức khỏe và Khoa Học của Bà Eddy rằng: “Trong mỗi trang sáh đều không có luận đến thánh Kinh, ngoại trừ bốn chương đầu sách Sáng Thế Ký, Thi Tv 23:1-6 và 3 chương Sách Khải Huyền KhKh 10:1-11, 12:1-18, 21:1-27, nhưng 8 chương được đề cập cũng chỉ đề cập khái quát chớ không đi sát. Hãy lưu ý chẳng có trang nào bà bàn luận về sách Phúc Âm cũng không nói đến các thư tín. Phần lớn Kinh Thánh đều bị bà loại bỏ.
Như vậy, làm sao có thể gọi tác phẩm của bà là chìa khóa để hiểu biết Kinh Thánh được?
Câu Hỏi Bài 19
1/ Ai là người sáng lập ra Hội Cơ Đốc Khoa Học, và trong một tác phẩm nào Bà ta đã đặt ra các Tín Lý của Hội Cơ Đốc Khoa Học?
2/ Do ai và thể nào Bà đay nhận được những khả năng xuất chúng để trình bày hệ thống triết lý của bà.
3/ Hãy mô tả phẩm cách của bà đay và cuộc đời hôn nhân của bà.
4/ Hội Thánh đầu tiên của hội Cơ Đốc Khoa Học là gì? Nó ảnh hưởng thể nào trên thế giới ấy?
5/ Sự tái lâm của Đấng Christ có liên hệ gì với Hội Cơ Đốc Khoa Học theo như lời của một tờ báo Cơ Đốc Khoa Học đã diển tả.
6/ Hội Cơ Đốc Khoa Học dạy gì về Đức Chúa Trời?
7/ Xin trả lời từng phần về những điều dạy dỗ sai lầm nói trên, dùng ít nhất 3 câu Kinh Thánh để luận đến 2 điểm đã nêu ra trong bài học
8/ Cơ Đốc Khoa Học chủ trương về Chúa Jêsus và vật chất như thế nào?
9/ Qua Kinh Thánh , chúng ta trả lời thế nào về sự tuyên bố đầy nguy hiểm của họ?
10/ Họ dạy gì về Đức Thánh Linh?
11/ Tại sao chúng ta tin rằng đây là những giáo lý phạm thượng?
12/ Họ dạy gì về tội lỗi?
13/ Xin đưa ra 5 bằng chứng tội lỗi rất là phổ thông, xin trưng dẫn Kinh Thánh trong mỗi chỗ?
14/ Xin chứng tỏ con người có khả năng phạm tội (tự ý phạm tội). Dùng Kinh Thánh để chứng tỏ.
15/ Xin nói rõ sự vô lý của họ khi họ tuyên bố rằng giúp con người chìa khóa để hiểu biết Kinh Thánh ?
TÓM TẮT PHẦN BA
Khi tiếp xúc những người say mê tà thuyết. Người Chinh Phục Linh Hồn không nên tỏ vẻ khinh khi hoặc kiêu căng. Cũng đừng quá nhu nhược hay không kiên định lập trường. Người phải tỏ ra có khả năng khiển trách hoặc sửa sai, nhưng phải thật nhẫn nại và vững vàng trong Chân Lý. Đối thoại một cách xác thịt chỉ tạo sự căng thẳng và phô bày sự giả dối. Khí giới của chúng ta không thuộc xác thịt, song là những khí giới thuộc linh, mạnh mẽ đến từ Đức Chúa Trời. Người chinh phục linh hồn phải mặc lấy quyền phép từ trên Cao, phải biết vận dụng ân điển bằng sự cầu nguyện, là kẻ thường xuyên đồng đi cùng Đức Chúa Trời và được cai trị bởi tính yêu của Đấng Christ , để trở thành khí mạnh Thánh Khiết, giải phóng những người bị Satan bắt làm nô lệ, cả đến những người bị nô lệ trong Tà Thuyết hay những phong trào sai lầm. Sáu bài học của PHẦN BA nầy, đã khái lược về lịch sử và các CHỦ TRƯƠNG của SÁU TÀ THUYẾT. Học có thể tìm đọc những sách tham khảo có giá trị về TÔN GIÁO THAM CHIẾU hoặc CÁC GIÁO PHÁI và TÀ GIÁO để hiểu rõ thêm vấn đề, hầu có thể trở một Người Chinh Phục Linh Hồn cách có hiệu quả.
Chúc bạn thành công
HỘI CÁC THANH NGÀY SAU
(Giáo Phái MORMON)
I. LỊCH SỬ:
Trong trào nầy được bắt đầu ở Mỹ năm 1927, khi Joseph Smith và những đồ đệ của ông ở Fayette, Seneca County, Nữu Ước vào tháng 6 năm 1830 nghe lời Smith thuật rằng MORONI, nhà sáng lập đạo Mormon sống khoảng năm 42 SC đã nhận được những chỉ thị Thánh để nói lại cho ông Smith hầu rao truyền ra trong những ngày sau rốt.
Khi Josept Smith được 14 tuổi, một vị Thiên sứ đẽ đến nói với ông, Ngài xưng tên là MORONI. Những sự KHải Thị Than1h đó đã được Thiên sứ Moroni rao truyền và được ghi khắc trên một chiếc đĩa vàng chôn trong khu vườn ở Giữa Palmyra và manchester, Nữu Ước.
Bốn năm sau, tức vào tháng 9 ngày 22 năm 1827, Josept Smith đã tìm ra được chiếc đĩa vàng nói trên, mệnh danh là những lời giả thích (Urim và Thummin). Từ đó, Smith truyền cho thế giới một tác phẩm mang tên là: sách của Mormon. Cổ bản đã được dịch ra ấn hành năm 1830.
Josept Smith sanh ngày 23/12/1805. Mẹ ông là một bà thầy bói. Josept vốn là con người mộng mị, chiêm bao và ưa những điềm lạ, cũng là một người vô đạo đức …, đó là những yếu tố khiến ông Smith sau đó đã lập ra một tôn giáo vô luân và Tín điều đầu tiên là cho cưới vợ nhiều lần. Chính Josept có đến 49 bà vợ. Smith chết năm 1844 tại Carthage Illinois, vì bị những chủ trang trại vùng ấy phẫn nộ, bắt nhốt tù ông, bởi ông đã lấy những đứa con gái của họ làm vợ. Họ vây quanh khám tù đã nhốt ông và giết ông chết tại đó.
Brigham Young kế tục Josept Smith, làm tiên tri của Hội Mormon, sinh năm 1801 chết năm 1977. Vào năm 1837, Young được cử làm 1 trong 12 Sứ đồ của Hội Mormon. Sau khi Josept Smith chết năm 1844, Young được cử làm Hội trưởng, nhưng sau đó bị đuổi khỏi Illinois, Young và đồng bọn chạy lánh nạn sang Great Salt lake tại đó họ lập Salt Lake City năm 1847. Young có 17 bà vợ và 47 đứa con. Trong trụ sở Trung Ương Hội Hormon tại Salt Lake, người ta có thể thấy một bức chân dung khổng lồ nhưng bà vợ của Brigham Young
Sau cuộc lánh nạn đầy gian nan ấy, họ định cư tại Utah, từ đó Giáo hội Mormon được thanh lập. Nhưng những người theo ông Josept, mệnh danh là Josephites bắt đầu xưng chính họ mới là Hội Mormon vì ông Smith không chủ trương đa thê. Sự chia rẽ bắt đầu xưng lan rộng, cuối cùng phe của ông Brigham Young thắng hơn nên lập ra Hội Mormon của Brighamites, đặt trụ sở trung ương tại Salt Lake City, chủ trương tác phẩm Hòn Ngọc Quý Giá (Pearl of Great Price) là tác phẩm được hà hơi. Nhưng phía Mormon Josephites lại đặt trụ sở tại Independence, Missouri và tự gọi họ là tái tổ chức Hộc các Thánh ngày sau (The Reorganized Church of The Latter – Day Saints), cho tác phẩm Hòn Ngọc Quý Giá nói trên không được hà hơi.
Dầu chải phe Josephites bà Braghamites kình chống nhau nhưng đều cho rằng:
+ Josept Smith là vị tiên tri lớnnhất sau Chúa Jêsus
+ Cả hai đều xem sách Mormon được Hà Hơi. Từ Mormon còn có nghĩa là “Cả hai”, nghĩa là
+ Cả Kinh Thánh và sách Mormon đều là căn bản của nền tảng đức tin
+ Cả hai đều xưng hội mình là Latter Days Saints, Hội Các Thánh Ngày Sau.
+ Cả hai đều thừa hành và truyền dạy Chủ nghĩa đa thê khi cơ hội cho phép
+ Cả hai đều đồng ý một Bản Tín Điều có 22 khoảng
Theo sự giải thích của Hội Mormon, thì Exe Ed 37:19-20 “Chúa Giêhôva phán như vầy: Nầy, ta sẽ lấy cây gậy của Josept và của các chi phái Israel là bạn ngươì, là gậy ở trong tay Ép-Ra-Im. Ta sẽ hiệp lại với gậy Giuđa đặng làm nên chỉ một gậy mà thôi, và cả hai cái sẽ cùng hiệp một trong tay ta. Ngươi khá cầm những gậy mà ngươi đã viết chữ ở trên hệp lại trong tay ngươi cho chúng nó thấy”. Hội thánh Mormon cho rằng đây là lời tiên tri Hiệp Kinh Thánh và sách của Mormon lại làmmội, cây gậy của Giuđa chỉ về Kinh Thánh và cây gậy của Josept chỉ về sách Mormon.
Nhưng, xin chúng ta lưu ý câu nầy không nói về Kinh Thánh mà chỉ nói đến các chi phái của dân Israel mà thôi
BÀI BÁC Ý KIẾN TRÊN
+ Lời tuyên bố của Josept Smith rằng ông đã đọc được chữ cải cách Ai cập, những dòng chữ trên đĩa vàng do Moroni là nhờ dùng URIM VÀ THUMMIN. Đây là một vấn đề gieo nhiều nghi vấn. Chỉ có người điên khùng nhất mới tin rằng một cậu bé không có học lại có thể đọc được một loại ngôn ngữ cách 2.000 năm, là tứ ngôn ngữ ngay đến học giả Ngôn Ngữ hiện đại cũng không hiểu được. chỉ có những người quá ngu đần mới tin rằng một chiếc đĩa vàng có khắc chữ bị vùi chôn cách đây 1.800 năm mà không hề bị suy sứt biến dạng chút nào cả, để rồi Josept Smith có thể đọc một cách thông thạo và phiên dịch ra.
Chính tấn sĩ WILBUR M.SMITH đã đọc và phân tích rằng: “Trong 428 trang đầu của sách Mormon có 289 câu được trích dẫn từ Kinh Thánh theo bản dịch King James (Được in năm 1611 SC). Ngoài ra có nhiều chương hoàn toàn lấy ra từ Kinh Thánh để đặt vào một sách gọi là Mormon.
Nào có gì lạ khi Josept Smith nói ông đọc bản cải cách Ai Cập được viết cách 9ây 2000 năm, rồi dịch từng câu giống hệt bản King James, do các Học giả đã dịch từ Cổ bản Hilạp và Hê-bơ-rơ năm 1611. Đó là một trò lừa bịp, một lối ăn cắp trắng trợn!”
+Sách Mormon chép rằng: Họ là con cháu của Tổ tiên đã 3 lần di cư sang Mỹ Châu. Lần thứ I do Giêrệt (SaSt 5:15; LuLc 3:37), sau cuộc hoạn lạc ở Babên. Lần thứ II do LêHi, 600 TC thuộc chi phái Manase, người mà Kinh Thánh không có niêu tên. Và lần thứ III do một nhóm người Israel qua đó cách 11 năm sau.
+ Sách MOrmon cối thêm rằng Đấng Christ đã đến Mỹ Châu năm 34 và 35 SC để nhắc lại bài giảng trên núi và chọn 12 sứ đồ toàn là người Mỹ.
Tất cả những chi tiết trên đều không có bằng chứng lịch sử gì cả và Đấng Christ cũng không hề đến Châu Mỹ bao giờ.
Thật Mormon là một Hội đại lừa bịp, mộ trường hợp xúc phạm trắng trợn một Tôn Ggiáo xúc phạm đến chính Ngôn Ngữ của Thánh Kinh.
Trụ sở Trung Ương của Mormon ở UTAH Hoa Kỳ, hy vịng rằng chỉ trong vòng 2 năm, họ phải phái mỗi toán truyền giáo 2 người để đi truyền bá Giáo Lý Mormon khắp nơi. Đầu tiên là đến các nước như các quần đảo Phi Luật Tân… và thật họ đã lập được chi nhánh lờn ở Manila. Tại Nam California, Khu Westwood, ngoại Loa Angeles (Năm 1957), đã có đến 70.000 hội viên, chưa kể đến Salt Lake City
II. TÀ THUYẾT
1/ VỀ KINH THÁNH
Hội Các Thánh Ngày Sau hay Giáo Phái Mormon dạy rằng:
a- Chúng tôi tin Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, một lời được dịch rất đúng đắn, chúng tôi cũng tin sách của Mormon là Lời Đức Chúa Trời vậy.
b- Những sách sau đây được Hà Hơi như Kinh Thánh:
+ Giáo Lý và giao ước (Doctrines and Convenants)
+Hòn Ngọc Quý Giá (Pearl of Great Price)
+ Những đoản văn (Jounal of Discourses)
+ Các Vấn Đề Của Đức Tin (Articles of Faith)
+Chìa Khóa Của Khoa Học Và Thần Học (Key to Science and Theology)
+ Giáo Lý Cương Yếu (A Compendium)
TRẢ LỜI
“Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (IITi 2Tm 3:16. Nếu mục đích của Kinh Thánh là “Dạy người trong Sự Công Bình” mà lại chủ trương Đa thê thì đã phản bội lại Kinh Thánh, chứng tỏ sự dạy dỗ của Mormon là phản Kinh Thánh. Dù Kinh Thánh có đề cập đến sự đa thê song không phải là Kinh Thánh cho phép, bất cứ ai có hơn một vợ đều phải gặp vô số nan đề.
Trong IIPhi 2Pr 1:21, chúng ta đọc thấy Lời được Hà Hơi là Kinh Thánh chằm giúp các Thánh Đồ trở nên phương tiện truyền đạt Lời Chúa cho loài người. Nhưng Josept Smith đã tự chứng tỏ ông không phải là một người Thánh. Chúng ta khôngthể tin rằng tác phẩm của Josept Smith là ngang hàng với kcho loài người. Nhưng Josept Smith đã tự chứng tỏ ông không phải là một người Thánh. Chúng ta khôngthể tin rằng tác phẩm của Josept Smith là ngang hàng với Kinh Thánh .
Sứ điệp cuối cùng mà Đức Chúa Trời đã phán cho loài người trong những ngày cuối cùng nầy ấy là qua Jêsus Christ Con của Đức Chúa Trời và Kinh Thánh mà Ngài đã chọn các Sứ Đồ truyền đạt lại, hướng dẫn họ bởi Thánh Linh, là Đấng dẫn dắt chúng ta vào mọi Lẽ Thật. Loài người không được phép thêm gì vào Kinh Thánh.
2/ VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI
a- Giáo phái Mormon củ trương rằng: “Đức Chúa Trời là đam khi cha chúng ta là đam đã vào khu vườn để sống với Eva, thì Ngài là người từ trời đến, mang lấy xác thịt để sống với Eva, 1 trong những người vợ của Ngài … Ngài là Cha, là Đức Chúa Trời chúng ta, và cũng chỉ là một Đức Chúa Trời mà chúng ta đã tôn thờ” (Brigham Young’s. Những đoản văn)
b- Rõ ràng, Đức Chúa Trời Cha chúng ta là một Hữu Thể, Ngài mặc lấy một hình thể rõ ràng và Ngài bày tỏ hũu thể đó như những chi thể của thân xác. Chúng ta tin rằng cả Cha và Con đều mang lấy hình thể mẫu người hoàn toàn nhưng mỗi vị chiếm hữu mỗi thân thể hữu hình, nhưng trong sạch và toàn vẹn, kèm với sự Vinh hiển cực kỳ, dầu là trong một thân thể bằng xương và thịt” (James Talmage’s book, các vấn đề của Đức Tin)
TRẢ LỜI
a- GiGa 4:24 Đức Chúa Trời là Thần.
b- LuLc 24:39 Ngài là một Đức Chúa Trời không thấy được
c- Gie Gr 23:24 “Đức Giêhôva phán: có người nào có thể giấu mình trong nơi kín hoặc đừng thấy chăng? Đức Giêhôva phán há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?”
e- GiGa 1:18 “Chẳng hề có ai thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha là Đấng giải này Cha cho chúng ta biết.”
Quả thật, Đức Chúa Trời có hình thể, Đấng Christ trước khi trở nên xác thịt thì Ngài có hình Đức Chúa Trời, nhưng từ Hilạp, chữ Morphe đơn giản là một toàn thể bản chất của một sự cụ thể. Jêsus Christ bao gồm bản chất của Đức Chúa Trời và như Đức Chúa Trời. Ngài không hề có một hình thể vật lý: Thịt và Huyết trước khi Ngài nhập thể (lấy hình thể loài người) đâu. Những chi thể xác thịt không phải là những yếu tố nhân cách. Đức Thánh Linh là một ngôi vị nên Ngài có thể ngự vào lòng kẻ tin. Satan cũng nhập vào Giuđa với một hữu thể hoàn toàn nhưng người ta vẫn nhận thức được rằng Thiênng hữu tể bằng Linh.
3/ VỀ CON NGƯỜI
Giáo hội Mormon dạy rằng:
a- “Một trong những chân lý kỳ diệu đã được bày tỏ cho loài người qua sự khôi phục Phúc Âm trong thời đại nầy, và một trong những tia sáng ấy đã chiếu lên, tức là mọi người đều đã được sống với Đức Chúa Trời và với Chúa Jêsus Christ trong thế giới Thần Linh trước khi họ sống làm người trên đất nầy (một công tác kỳ diệu và một kỳ quan) (A marvellous Work and a wonder, Le grand Richards).
b- “Con người trước kia vốn ở cùng Đức Chúa Trời, vốn thông minh trong sự sống và Chân Lý, họ không phải được tạo dựng hay làm nên” (JOsept Smith’s Book, Giáo Lý và Giao Ước)
c- Những gì Đức Chúa Trời đã có thì ta cũng ậy, những gì Đức Chúa Trời hiện có, chúng ta cũng sẽ có” (Cẩm nang của Hội Mormon, (Manual of the Mormon Church).
TRẢ LỜI
Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng con người đầu tiên đã được dựng nên là AĐAM. Nếu dạy rằng con người đầu tiên vốn là tiền hữu hoặc Đồng hiện hữu với Đức Chúa Trời ấy là một sự suy diễn không có nền tảng Thánh Kinh. Không hề có một phần tử nào của dòng dõi đam có thể phảnchiếu hay lưu lại một chi tiết tền hữu nào của họ khi họ ở với Đức Chúa Trời. Chỉ có một Đức Chúa Trời vốn tiền thực hữu. Ngài có trước muôn vật. Lý luận rằng con người vốn có địa vị tiền hữu dựa trên Gie Gr 1:5 hoặc bất cứ câu Kinh Thánh nào nói về quyền lựa chọn theo sự tể trị của Đức Chúa Trời, chính là xúc phạm đến sự khôn ngoan, sự biế trước và sự toàn tri của chính Đức Chúa Trời.
Thật là phạm thượng khi Hội Mormon chủ trương rằng những gì Đức Chúa Trời vốn có thì con người cũng vốn có vậy. Cho rằng một Đức Chúa Trời chí Thánh giống y như những con người bất toàn là một điều phạm thợng. Chỉ một điều dạy dỗ nầy cũng đủ cho chúng ta kết luận rằng Giáo phái Mormon là phản Cơ Đốc.
4/ VỀ SỰ CỨU RỖI
a- Giáo phái Mormon dạy rằng: “Phúa âm của Jêsus Christ được mệnh danh là một chương trình cứu rỗi.” Chúng ta tin rằng những nguyên tắc là luật định đầu tiên của Phúa Âm là:
+Đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ
+Ăn năn
+Báp têm dầm mình để được tha tội
+ Chịu đặt tay để nhận lãnh Ân tứ là Thánh Linh. (Các tín điều của Đức Tin của Hội Thánh Chúa Jêsus của Các Thánh Ngày sau. Điều thứ tư (Fourth Articles of Faith of the Chruch of Jêsus Christ og Latter- Days Saints).
b- Sự đặt tay chỉ được thực hiện do những giới tư tế của Hội Mormon do quyền Đức Chúa Trời đã chỉ định. “Nếu không bởi sự phong chức thánh và được nhìn nhận là đến từ Đức Chúa Trời nên Giáo Hội cũng không thừa nhận” (những tia sáng Rays of living light).
c- Báp têm là Thánh Lễ căn bản cho sự Cứu Rỗi (James E.Talmage, các vấn đề Đức Tin).
“Giáo Hội Mormon dạy và thi hành lễ báp têm cho người chết. Những tín hữu Mormon có thể chịu báp têm cho người nhà mình là người khi còn sống chưa theo Hội Mormon.” (Charles W.Penrose. những tia sáng)
d- Sự Cứu Rỗi có thể cung ứng cho những kẻ đã chết rồi. Bất kỳ những kẻ nào khi còn sống trên đất mà không có cơ hội để nghe sứ điệp của Mormon, thì sẽ được ban cho một cơ hội thứ hâu khi chết.
Charles W.Penrose viết “Nếu trong những ngày mà các sứ đồ và những tôi tớ được chỉ định của Đấng Christ công bố Phúc Âm, và trong suốt thời kỳ sự tối tăm bao phủ dày đặt thế gian nầy cho đến những ngày được mệnh danh là thời kỳ của Các Thánh Ngày Sau nầy. Thì Hội Thánh của Đấng Christ , những Sứ Đồ Thánh,s ẽ rao giảng ra Phúc Âm Toàn vẹn nầy một cách đầy đủ. Nếu hàng ngàn người nhân Đức đã qua đi mà chưa được Tái Sanh vì chưa có cơ hội để tiếp nhận Đấng Christ vì chưa có cơ hội để tiếp nhận Đấng Christ, thì liệu họ có bị hủy diệt hết thảy không? Họ có bị định cho sự hủy diệt hết thảy không? Liệu Cha đời đời của chúng ta ghét bỏ tất cả con Ngài vì không vâng theo Luật Pháp Ngài chỉ vì họ chưa có dịp nhận lãnh Phúc Âm phải không?
TRẢ LỜI
RoRm 11:6
a- Được Cứu Rỗi là nhồ Ân Điển, bởi đức tin chớ không bởi việc làm, đó không phải chỉ là một chương trình mà là một Đấng, không phải là một Hệ Thống Giáo điều con người cần nhưng là một Cứu Chúa. Chẳng có một nguyên tắc hay một Cứu Chúa. Chẳng có một nguyên tắc hay một Thánh Lễ nào để con người nhờ đó mà được cứu, song chỉ nhờ cậy một mình Đấng Christ mà thôi.
b- Thật là kiêu ngạo khi cho rằng chỉ một mình giới Tư Tế hay Tiên Tri của Mormon mới đem lại sự Cứu Rỗi. Nhưng sự Cứu Rỗi chính là món quà của Đức Chúa Trời dành cho bất cứ ai đến và tiếp nhận được nước sự sống ban cho cách nhưng không. Chẳng có một câu nào trong Kinh Thánh dạy chúng ta phải tìm kiếm Sự Cứu Rỗi qua các việc tuân giữ những Thánh Lễ đặc biệt. Song chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người đó là Đức Chúa Jêsus Christ, là nguời. Giả định như Mormon là Đấng Trung Bảo cần cho sự Cứu Rỗi thì sẽ không có một người nào được cứu, ấy là những người từ thời các sứ đồ cho đến lúc Josept Smith xuất hiện giữa thế kỷ thứ 19 SC.
c- Dạy rằng Thánh Lễ Báp Têm là điều kiện căn bản để được Cứu thì mọi Thánh Đồ thời Cựu Ước không thể được cứu, cả đến chính Chúa Jêsus cũng chẳng cứu được ai (vì Ngài không làm báptêm cho a cả). Xachê và tên trộm cướp bên cây Thập Tự Giá cũng không thể được cứu. Nếu nói rằng Phaolô không có rao giảng một Phúc Âm Toàn Vẹn cũng không kinh nghiệm Phúa Âm ấy, thì sao chính Phaolô đã biện bạch về Tin Lành và phân biệt giữa Tin Lành với Thánh Lễ Báp têm như:
“ Đấng Christ đã sai tôi không phải để làm Báptêm nhưng để Giảng Tin Lành”
Đức Thánh Linh đã giáng xuống trên những người ngoại bang tin nhận Ngài trước khi họ chịu Báp têm. Trái lại, “nếu người nào không có Thánh Linh của Đấng Christ thì người ấy chẳng thuộc về Ngài”. Hơn thế nữa, sự nhận lãnh Thánh Linh không phải do sự đặt tay. Chỉ có một lần trong lịch sử Hội Thánh Samari và Ê-phê-sô gồm những người ngoại bang và Do Thái được đặt tay mà thôi. Đó là một chi tiết về lịch sử không phải mộ tiêu chuẩn về Thần học. Đức Chúa Trời là Đấng có quyền Ban Thánh Linh Ngài như một ban tứ. Đức Chúa Trời mặc lấy Thánh Linhcho Chúa Jêsus cũng mặc lấy Thánh Linh cho Chúa Jêsus cũng mặc lấy Thánh Linh cho bất cứ kẻ nào làm Con Cái Ngài vậy.
d- Kinh Thánh không hề dạy chúng ta sẽ có một cơ hội thứ hai để ăn năn sau khi chết
e- Thật rất sai lầm để gieo niềm tin làm phép Báptêm cho người chết khi chỉ dựa vào một câu trong ICo1Cr 15:29. Thật ra, Phaolô đang lý luận về niềm tin thể xác sẽ sống lại chắc chắn bằng cách nói bóng về niềm tin thể xác sẽ sống lại chắc chắn cách nói bóng về một phong tục ngoại giao họ làm phép rửa cho người chết vì họ tin sự sống ở đời sau. Cả đoạn 15 sách Côrinhtô, Phaolô chằm trình bày chính chắn về sự sống lại của kẻ chết đó là niềm tin phổ quát của lương tâm con người.
5/ VỀ ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST :
HeDt 9:27
IICo 2Cr 6:2
Cong Cv 17:30
ICo1Cr 15
Giáo phái Mormon dạy rằng:
a- “Thân xác của Chúa Jêsus được sinh ra phải có cha mẹ theo phần xác. Vì vậy cha mẹ Jêsus phải sống cuộc đời vợ chồng theo phần xác. Thế thì nữ trinh Mari cũng đã có lúc là người vợ hợp pháp của Đức Chúa Trời là Cha Ngài”.
“Chúa Jêsus không hề được sanh ra bởi Đức Thánh Linh ” vì vậy, giáo pháo Mormon không tin Chúa Jêsus được sanh ra bởi nữ đồng trinh Mari.
b- “ Quả Chúa Jêsus đã cưới Mari, Mathê tại Canaan để làm vợ Ngài, vả dĩ nhiên Ngài hẳn thấy được các con Ngài đã sanh ra trước khi Ngài chịu đóng đinh trên Thập Tự Giá ” (son hyde, tập san (Journal ) bộ II )
TRẢ LỜI
a- Đối với chúng ta thì tin rằng Kinh Thánh dạy rất rõ ràng về việc Ngài sanh ra bởi nữ đồng trinh và cách Ngài ra đời đã được Cựu Ước nói tiên tri đầy đủ và đã ứng nghiệm rõ ràng: SaSt 31:22; Mat Mt 1:18-25; LuLc 1:30-35, GaGl 4:4
b- Nếu nói Chúa Jêsus là người có nhiều vợ thì có nghĩa là từ chối mọi lời Ngài dạy vì Ngài không đáng được tôn trọng, không đáng được Thờ Phượng.
6/ VỀ HÔN NHÂN
Giáo phái Mormon dạy:
a- “Thiên Chúa đã trù định rằng giao ước hônnhân có giá trị cho đời nầy và cho cả cỏi đời đời. Còn sự thực hành phép hôn nhân và chủ trương rằng “sự chết lìa bỏ” và chấm dứt cuộc sống vợ chồng ấy không do chúa truyền, mà chỉ do giáo thuyết con người lập nên”. (Le Grand Richard’s Book một việc kỳ lạ và một kỳ quan)
b- “Quyền cử hành những Thánh lễ của Đức Chúa Trời không được thiết lập trên đất vì cớ đã có một cuộc đại loạn xảy ra, mãi cho đến những thế kỷ sau nầy quyền ấy mới được thừa hành. Chừng 17 thế kỷ đã trôi qua, một phần đông bán cầu đã bỏ đi quyền hạn ấy. Trong suốt những thời kỳ nầy các cuộc hôn nhân đã được thiết lập theo các tập tục và do chính quyền cùng những nhân vật không được lãnh quyền hành trực tiếp từ chính Đức Chúa Trời. Vì cớ ấy, tất cả những cuộc hôn nhân của họ, các Thánh Lễ Báp têm do họ cử hành, thảy đều bị kể là bất hợp pháp trước mặt Đức Chúa Trời”. (son pratt, người nhìn thấy)
TRẢ LỜI
a- Những người Mormon đã lầm không hiểu Kinh Thánh và cũng không hiểu quyền phép của Đức Chúa Trời là thế nào, vì đến khi sống lại, người ta không cưới vợ, cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy” (Mat Mt 22:30; RoRm 7:3 cho thấy hôn nhân chỉ có giá trị cho cuộc sống trên đất nầy mà thôi)
b- Dạy rằng ngoài hôn nhân của Hội Mormon ra tất cả các cuộc hôn nhân khác đều là bất hợp pháp thì thật là điên cuồng và quái gỡ. Phaolô cũng như tất cả các Sứ đồ đều nhận định rằng hôn nhân là một sự kết hợp tình nguyện, không bởi một quyền binh nào ép buộc cả. Nếu có cuộc hôn nhân bất hợp pháp, nếu chồng là kẻ vô tín kết hợp với vơ là kẻ tin, tức là chấp nhận những đứa con bất hợp pháp. nhưng Phaolô đã khước từ quan điểm ấy. Trái lại, ông cho rằng trong quá khứ, nếu đã kết hôn với một cuộc hôn nhân bất đồng như vậy, nhưng nay, bởi Đức Tin của vợ hoặc chồng đã tin, sẽ có thể khiến những đứa con bất hợp pháp đó được trở nên Thánh nhờ cách ăn ở Thánh của mình” (ICo1Cr 7:13-14)
Câu Hỏi Bài 20
1/ Josept Smith giải thích thế nào về nguồn gốc của sách Mmon?
2/ Xin kể ra ít nhất 5 điểm về Josept.
3/ Xin kể vài sự kiện về nguời kế vị Josept
4/ Xin cho biết sự chia rẽ nào đã dẫn đến phong trào Mormon?
5/ Dựa vào khúc Kinh Thánh nào Giáo phái Mormon cho rằng Kinh Thánh và sách Mormon kết hiệp thành MỘT. Xin cho biết ý kiến riêng của bạn.
6/ Cho biết một vài chi tiết lịch sử mà ông Smith tuyên bố là không có cơ sở
7/ Hoạt động của Hội Mormon ra sao? Trụ sở Trung Ương của họ ở đâu? Hội đã phát triển như thế nào?
8/ Giáo pháo Mormon dạy gì về Kinh Thánh ? Bạn trả lời thế nào cho họ?
9/ Giáo Phaí Mormon dạy gì về Đức Chúa Trời? Bạn đối đáp thế nào?
10/ Họ dạy gì về loài người? Bạn trả lời thế nào?
11/ Tin Lành là gì theo sách Mormon?
12/ Giáo Phái Mormon dạy gì về sự quản lý và các Thánh Lễ?
13/ Họ dạy gì về Thánh Lễ Báptêm?
14/ Xin trưng dẫn địa chỉ 4 câu Kinh Thánh nói về sự cứu rỗi không do việc làm.
15/ Xin cho biết ý kiến của bạn rằng không thể chấp nhận giới Tư Tế của Hội Mormon là những Trung gian cho sự Cứu Rỗi.
16/ Tại sao bạn tin rằng Lễ Báp Têm không phải là điều kiện căn bản cho sự Cứu Rỗi
17/ Tại sao làm Báptêm cho người chết là sai lầm?
18/ Giáo Phái Mormon dạy gì về Chúa Jêsus Christ?
19/ Bạn trả lời vấn đề trên ra sao?
20/ Họ dạy gì về hôn nhân? Bạn trả lời ra sao?
PHONG TRÀO TÂN THỜI ĐẠI
I. LỊCH SỬ :
Các lý thuyết của phong trào tân Thời Đại dựa vào biến cố tại vườn ÊĐEN. Ba vấn ề chính của Tân Thời Đại chủ trương nghịch lại Thiên Chúa, đã dựa vào bản ký thuật sự sa ngã của loài người Trong Sáng Thế Ký Chương 3:
1/ Chống lại thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời (SaSt 3:1).
2/ Chống lại lời đe dọa hình phạt chết nếu phạm tội (3:4)
3/ Chủ trương con người là những vi thần (3:5)
Phong trào tân thờiđại là một thuyết hỗn hợp những sự kiện thuộc linh và mê tín, đã từng hồi từng lúc dấy lên trong lịch sử đạo Cơ Đốc, đặc biệt là ở tại Hoa Kỳ. Năm 1988 vừa qua tại EDMONTON ALBERTA, Gia Nã Đại, đã lập nên một trụ sở trung ương của phong trào nầy. Nhưng tác phẩm nòng cốt của phong trào Tân Thời Đại là sách của Bantam với nhan đề là Tân Thời Đại (NEW AGE), trong thập niên vừa qua đã xuất bản hơn gấp 10 lần. Sách của SHIRLEY MACLAINE, một nữ tài từ Hollywood (Hoa Lệ Ước) đã quay lại với Phong TRào Tân Thời Đại và đề xướng những quan điểm mới qua 5 tác phẩm, đã bán được trên 8 triệu quyển.
Không ai có thể biết đích xác Phong Trào Tân Thời Đại bắt đầu do ai, ở đâu và lúc nào. Nhưng Tấn sĩ Constance Cumbey trong tác phẩm những hiểm nguy sau chiếc mống (The Hidden Dangers of the Rianbow). Bà Tấn sĩ nầy đã cho biết bắt đầu năm 1875 khi Hội Thông Thiên Học nầy chủ trương phổ truyền chân lý bằng nhiều phương pháp khác nhau. Những sự dạy dỗ nầy bị giữ kín đáo cho đến năm 1975 mới được phổ biến ra dưới một tác phẩm nhan đề là Lucifer (Satan)
Phong trào Tân Thời Đại đã triệu tập một Hội nghị tên là Planetary Congress (Hội nnghị Toàn Cầu) ở Toronto tháng 6 năm 1983, gồm 20 nước được mời họp trong 4 ngày. Hội nghị kêu gọi thành lập một Hệ thống kinh tế, Liên Kết các quốc gia lại để thành lập một chính quyền tối cao cho toàn cầu.
Phong trào Tân Thời Đại tiên đoán rằng sẽ có sự khủng hoảng trầm trọng trên khắp hoàn vũ để Maitreya tức Đại Phật Tổ Buddha Tái Giáng. Theo Bách Khoa Tự Điển Encycopaedia Britannica, thì tên Maitreya đọc trại theo tiếng Phạn (Sankrit) là Maitri (Lòng từ thiện). Theo truyền khẩu của những Phật Tử, Maitreya hiện ngự ở Phật Đài (BUDDHA – TO – BE) trên Niết Bàn và khi những lời dạy của Phật Thích Ca (GAUTAMA BUDDHA) và Giáo Hội Phật Giáo suy sụp thì Ngài sẽ ngự đến thế gian để tái truyền bá Phập Pháp.
Theo Tấn sĩ Robert J.LBurrows trong tờ báo Cơ Đốc Giáo Ngày Nay (Christianity Today) tháng 5 năm 19986, nhan đề làTôn Giáo Tân Thời Đại (That New Age Religion) thì: “Cái gọi là Tôn Giáo Tân Thời Đại là một Tôn Giáo Phiếm Thần (Pantheism) (Trời là tất cả vũ trụ và tất cả vũ trụ là trời). Đã bắt đầu ở vùng cận Đông trong những thập niên 1960 khi giới trẻ Âu Mỹ hướng về những phong trào khác nhau cách cuồng nhiệt như Thần Bí Học Đông Phương (Mysticism) và Huyền Bí Học Tây Phương (Occultism). Sỡ dĩ phong trào Tân Thời Đại nổi lên vì đã ảnh hưởng tinh thần Thái Bình ngàn năm của một số quan điểm ề Thiên Hy Niên, cũng như là lời tiên tri của Khoa Chiêm Tinh tiên đoán thời vận suy vi của Thời Đại Sao Bảo Bình (Aquarian Age) vào cuối thế kỷ nầy. Cuộc tiến hóa vận mệnh con người đã đến cựu điểm, đó là chủ trương nổi bật nhất của Phong Trào Tân Thời Đại.
Tấn sĩ Burrows đã nói lên những chi tiết ngắn như trên nhưng đã đúc kết được những nét chính của Tân Thời Đại. Thuyết nầy vay mượn các triết lý của Phiếm Thần Luận, Phật Giáo, Ấn Giáo, Khoa Chiêm Tinh, các Tôn Giáo, và Huyền Bí Học Ngọai Giáo nên nó không có gì mới cả. Nó vốn xưa như trái đất (As old as Eden). Thuyết này cho thấy cả những người thông thái lẫn người ngu dốt đều ở ngoài Đấng Christ , là ánh sáng của thế giới, tất cả đều không được cứu. Thật, Tân Thời Đại là một phong trào cuồng loạn, vô chủ. Điều này cho thấy những ngày cuối cùng đã hầu gần và cuộc chiến giữa Vua của sự sáng và Vua tối tăm sắp diễn ra tức giữa Đấng Christ và ti Chirst, giữa chủ thuật và vua trên muôn vua, Chúa trên môn Chúa với chủ giả dầu được mệnh danh là Mairteya hay là gì đi nữa, cũng đều là con rắn xưa, là Ma Quỷ là kẻ đi lừa dối tổ phụ loài người chúng ta trong vườn Êđen xưa.
Phong trào Tân Thời Đại có khuynh hướng Thiên Nữ (Mother Earth) sẽ chiếm đoạt hay chiếm vị Cha Trời (Father God), cũng như chiếm lãnh tất cả địa vị các sứ thần trên trời để khôi phục lại bổn thể xa xưa của nàng như các Nữ Thần Isis, Cybele, là những Nữ Thần tượng trưng cho những sự Thạnh Vượng, Màu Mỡ, dục tính, sự tưởng tượng, nghi lễ cúng bái .v.v. Để quay về với vị ĐẠI NỮ THẦN, Phong Trào TânThời Đại chủ trương khôi phục lại các hình thức của Ma thuật, Bói toán, lõa thể, mặc niệm … và công khai hóa sự thờ phượng Nữ Thần.
II. TÀ THUYẾT :
1/ VỀ KINH THÁNH
Phong Trào Tân Thời Đại cho rằng :
a- Kinh Thánh là mâu thuẫn
b- Kinh Thánh không có Thần Quyền.
c- Kinh Thánh không thực tế, không tích ứng được, khó hiểu và lỗi thời.
d- Chân lý bị dựa vào kinh nghiệm chủ quan.
.TRẢ LỜI :
a- Kinh Thánh là chân lý (GiGa 17:17)
b- Đức Chúa Trời phán qua Kinh Thánh (HeDt 1:1-2)
c- Kinh Thánh rất thực tế (Gia Gc 2:14-16) – Kinh Thánh rất thích ứng (LuLc 10:25-37) – Kinh Thánh có thể hiểu được i – Kinh Thánh rất hợp thời (IITi 2Tm 3:1-9).
d- Chân lý của Kinh Thánh không bị lệ thuộc vào kinh nghiệm kẻ tin vì kinh nghiệm của người này có thể khác với kinh nghiệm của người kia, nhưng Đức Chúa Trời phán lời của Ngài cho chúng ta qua con Ngài là lời thành nhân và qua Kinh Thánh là lời thành văn.
2/ VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI :
Phong Trào Tân Thời Đại dạy rằng :
a- Đức Chúa Trời không có ngôi vị.
b- Đức Chúa Trời không phải là Đấng Tạo Hóa.
c- Đức Chúa Trời là vạn vật, vạn vật là Đức Chúa Trời.
d- Đức Chúa Trời là Đấng không ai biết được.
TRẢ LỜI :
a- Đức Chúa Trời có ngôi vị :
+ Ngài biết (Thi Tv 139:1-24)
+ Ngài phán (Mat Mt 3:17; 17:5)
+ Ngài yêu (IGi1Ga 4:10)
+ Ngài cười (Thi Tv 2:4)
+ Ngài muốn (DaDn 4:34) Tất cả những chi tiết nầy khẳng định Ngài co nhân cách. Ngoài ra Đức Chúa Trời còn lựa chọn, từ chối, nhớ lại, vui mừng, giải cứu, ra lịnh dạy do Ngài la Cha, Đấng Giải Cưú, Đấng chăn chiên, Cưú Chúa, Đấng Giải Phóng, Đấng Bênh Vực, Đấng Chữa Bênh, Đấng Thánh Hoá chúng ta, Ngài là Vua.
b- Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá Ngài không phải là tạo vật (RoRm 1:25)
c- Vạn vật không phải là Đức Chúa Trời, trái lại Đức Chúa Trời là Đấng cai trị trên tất cả (RoRm 9:5)
d- Đức Chúa Trời là Đấng mà chúng ta có thể hiểu biết được (GiGa 17:3)
3/ VỀ LOÀI NGƯỜI :
Phong trào tân thời đại chủ trương :
a- Con người là Thần .
b- Con người không bị diệt vong .
c- Sự sa ngã của con người là chuyện Thần Thoại .
TRẢ LỜI
a- Nam và nữ đều là con người. Được tạo dựng giống như hình Đức Chúa Trời, tuy nhiên sự sống như hình Đức Chúa Trời không phải Thần Linh như Đức Chúa Trời.
b- Con người sẽ bị diệt vong (RoRm 5:12; HeDt 9:27). Tuy nhiên, sự chết là sự phân rẽ linh hồnvà thân thể (Mat Mt 10:28; Phi Pl 1:20-24). Sau khi chết con người phải bị xét đoán (HeDt 9:27)
c- Sự sa ngã của loài người là một sự kiện không thể chối chãi được (ITi1Tm 1:15; RoRm 3:9-19). Nếu mổi người là Đức Chúa Trời hay là một phần tử của Đức Chúa Trời như Phong Trào Tân Thời Đại chủ trương thì những kẻ sát nhân, nhưng kẻ tà dâm, những người lừa dối cũng là Đức Chúa Trời sao ? thật là phạm thượng !
4/ VỀ NƯỚC ĐỨC CHÚA TRỜI :
MiMk 4:17
HaKb 2:14
Mac Mc 13:1-37
LuLc 21:1-38
Phong Trào Tân Thời Đại chủ trương :
a- Họ tiên đoán một thời đại sẽ do chính quyền tối cao toàn cầu cai trị
b- Họ bảo sẽ có một cơn đại khủng hoảng xảy ra báo trước thời đại nói trên.
c- Đức Phật Metreya sẽ đến để cai trị thế gian.
d- Khoa chiêm tinh đã đoán rằng thời đại sao bảo bình đã suy vong vào cuối thế kỷ này.
e- Tân Thế Giới sẽ được kết hợp lại, sẽ không còn chiến tranh và là một Thế Giới Thần Linh.
TRẢ LỜI :
a. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh cũng nói trước sự xuất hiện của một chính quyền tối cao toàn cầu nhưng được đặt dưới quyền cai trị Thiêng Thượng (Thi Tv 2:1-12; EsIs 2:1-22; DaDn 2:1-49; KhKh 11:15, 9:11-16)
b- Tân Thời Đại đã tiên đoán quá trễ về cuộc khủng hoảng nói trên, trái lại các chi tiết này đã do các Tiên Tri Cựu Ước nói rõ và chính Đấng Christ cũng đã báo trước qua bài giảng trên núi Olive trong Mat Mt 24:1-25:46 cũng như Giăng trong sách Khải Thị. Tân Thời Đại đã nói tiên tri trễ sau 2000 năm.
c- Không phải một Maitreya có tích cách huyền thoại, nhưng chính là Đấng Chủ Tể cuả chúng ta, là Chúa Jesus Christ, Ngài sẽ nắm quyền cai trị như EsIs 9:6-711:1-9 đã nói : “quyền cai trị sẽ nâng lên vai Ngài” khoa chiêm tinh nhiều khi không chính xác, như lời tiên tri trong Kinh Thánh là những lời Thiên Chúa mặc khải, không phải là sự chuẩn đoán của con người, và Kinh Thánh không thể sai lầm.
Tuy không một ai biết rõ lúc nào Đấng Christ sẽ tái lâm, song Vương quốc của Ngài là một nước liên kết tất cả, không còn chến tranh, một nước thuộc linh nhưng thực tế, rõ ràng còn đến đời đời, phổ quát và là một nước vui mừng đời đời. (Mat Mt 6:10; 25:21, 23; KhKh 19:1-16)
Các Cơ Đốc Nhân cần phải lưu ý rằngcó một khỏang cách của quan điểm Tân Thời Đại và quan điểm của Cơ Đốc Giáo về thế giới nầy. Ví muốn nhận chìm lời của Đức Chúa Trời trong lối sống triết lý của họ, Phong Trào Tân Thời Đại đã ý thức hặc không ý thức mở cửa chomột nền đạo đức buông thả, một cuộc sống Vô Thần, và mở màn cho thời đại của An-ti Christ tức kẻ địch lại Đấng Christ .
Lời của Chúa đã hứa rằng : “Các cửa Âm phủ cũng không thắng được Hội Thánh của Ngài” (Mat Mt 16:18), đó cũng là một lời tiên tri. Những Tôn Giáo Phương Đông cùng với những phong trào như kiểu Tân Thời Đại, có thể là những động lức do Satan chủ trị, dấy lên để tranh chiến cùng Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống. Đó sẽ là giờ trọng đại nhất của Hội Thánh. nhưng Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đã toàn thắng mọi đối phương. Hội Thánh hãy trang bị mọi khí giới của Đức Chúa Trời để được đứng vững trong thời đại gian ác nầy. (Eph Ep 6:10-18)
Câu hỏi bài 21 1/. Căn cứ vào sáng thế ký chương 3, Phong Trào Tân Thời Đại đã đưa ra 3 lời dạy dỗ căn bản nào? 2/. Xin nêu tên hai tác giả quảng bá thuyết Tân Thời Đại và kể tên những tác phẫm mà họ tôn sùng ? 3/. Mục đích của Tân Thời Đại là gì? 4/. Bởi tác phẫm nào tỏ ra phong trào tân thời đại muốn nắm quyền cả toàn cầu ? 5/. Xin giải thích ý nghĩa của chữ MITREYA theo thuyết Tân Thời Đại ? 6/. Hãy giải thích điều gì chứng tỏ Phong Trào Tân Thời Đại chú trọng đến phái nữ ? 7/. Thế nào là một người bị gán cho tên:”Kinh nghiệm tôn giáo” ? 8/. Tân Thời Đại chủ trương gì về Kinh Thánh? 9/. Dùng một câu Kinh Thánh bác lại 1 trong những quan điễm chống lại Thánh Kinh của Tân Thời Đại trong câu 8. 10/. Họ dạy gì về Đức Chúa Trời ? 11/. Cho biết 10 lý do bạn tin rằng Đức Chúa Trời có Ngôi Vị (không cần chưng dẫn đaị chỉ Kinh Thánh). 12/. Xin chưng dẫn câu Kinh Thánh và địa chỉ nói về Đức Chúa Trời là một Đấng Siêu Việt. 13/. Xin chưng dẫn môt câu Kinh Thánh và địa chỉ nói về Đức Chúa Trời là Đấng mà chúng ta có thể hiểu biết được 14/. Tân Thời Đại dạy gì về con người ? 15/. Xin đưa ra một câu Kinh Thánh chống lại 1 trong 10 chủ trương của Tân Thời Đại về con người trong câu 14. 16/. Tân Thời Đại dạy gì về Tân Thế Giới? 17/. Xin phân tích những điểm ĐÚNG và SAI của Tân Thời Đại chủ trương về Tân Thế Giới
200



CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI HƯ MẤT

Xin gioi thieu voi moi nguoi bai hat  Mot ngay co Chua

Phần lớn trong chúng ta thấy khó khi cầu nguyện cho ai đó được cứu vì chúng ta không biết phải nói gì, “Chúa ơi, xin hãy cứu người này.” Chúng ta cảm thấy thật ngu dại khi cứ cầu nguyện cùng một lời như thế lặp đi lặp lại nên chúng ta thường hay bỏ cuộc và ngưng cầu nguyện. Tuy nhiên, loại cầu nguyện này liên hệ đến bốn lĩnh vực : cá nhân, người làm chứng, lời Chúa và sự phấn hưng. Khi chúng ta học cầu nguyện cụ thể trong những lĩnh vực này, lời cầu thay của chúng ta sẽ trở nên đầy thách thức và hiệu quả.

Để bắt đầu, chúng ta cầu nguyện cho cá nhân đó bằng cách nêu tên, xin Chúa làm năm điều trong đời sống người đó. Trước hết, chúng ta xin Chúa thánh hóa người đó. Điều này nghe hơi lạ nhưng đây là cách Chúa bắt đầu công việc cứu chuộc trong đời sống của từng cá nhân. Ngài luôn luôn thánh hóa hay «biệt riêng» người đó cho sự cứu rỗi trước khi Ngài cứu rỗi người đó.

Kinh Thánh dạy rõ lẽ thật này trong 1Phi-e-rơ 1:2, “đã được chọn lựa theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha và được thánh hóa bởi Đức Thánh Linh để vâng phục và được rảy huyết của Chúa Cứu Thế Giê-su.” Chúng ta thấy cùng sự nhấn mạnh này trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-14, “Đức Chúa Trời đã chọn anh chị em từ ban đầu Ctd: như những trái đầu mùaAnchorđể được cứu rỗi nhờ Thánh Linh thánh hóa và nhờ tin chân lý. . .”

Như là Đức Chúa Trời vẽ một vòng tròn vô hình quanh người đó và rồi bắt đầu đem ảnh hưởng của Ngài tác động người đó. Thật dễ để thấy rằng bất cứ điều gì đến “bên trong” cái vòng đó đều trực tiếp ảnh hưởng đến người đó. Khi chính Đức Chúa Trời bước vào cái vòng đó, nhiều điều kì diệu bắt đầu xảy ra, như bạn thấy khi bạn đọc lời làm chứng cá nhân ở phần sau của sách này.

Lẽ thật kì diệu này là lời khích lệ lớn lao cho những ai trong chúng ta cầu nguyện cho người khác vì chúng ta có thể an tâm rằng Đức Thánh Linh là Chúa của mùa gặt lu-ôn luôn theo dõi người này, một khi Ngài thánh hóa người đó! Một sinh viên đại học, tự cho mình là vô thần, lần nọ đã viết cho C.S. Lewis giải thích rằng anh đã quen biết với một số sinh viên cơ đốc đã làm chứng sốt sắng cho anh về đức tin của họ. Một số điều họ nói đã làm cho anh phải suy nghĩ; anh đang trải qua một sự tranh chiến dữ dội. Tiến sĩ Lewis suy nghĩ gì? Lewis viết hồi âm : “Tôi nghĩ anh đã “cắn câu” rồi – Đức Thánh Linh đang theo dõi anh. Tôi đoán là anh không thể trốn thoát nổi” (Dunn 118).

Bây giờ chúng ta xin Chúa chúc phước cho người đó. Khi Chúa Giê-su sai các môn đồ vào “mùa gặt của Ngài,” Ngài ban cho họ những lời dạy cụ thể là “Trước hết hãy nói, ‘Bình anh cho nhà đó’” (Lu 10:1-5). Vì luôn luôn là chính sự tốt lành của Đức Chúa Trời dẫn người ta đến sự ăn năn (Rô 2:4). Nên bắt buộc là chúng ta xin Chúa ban phước cho họ.

Nhưng đôi khi lời cầu nguyện của chúng ta cho người khác được cứu không mang lại kết quả nhanh chóng, chúng ta có khuynh hướng thất vọng và thiếu kiên nhẫn, thầm ước ao Chúa “dùng roi hoạn nạn dạy cho họ một bài học.”

AnchorKhi dân chúng làng Samari khướt từ Chúa, các môn đồ muốn Chúa thiêu đốt họ. Ngài quở các môn đồ, rằng, “Các ngươi không biết điều gì cảm các ngươi. Vì Con Người đến không phải để tiêu diệt con người mà để cứu rỗi” (Lu 9:52-56). Nếu chúng ta muốn sánh với Cứu Chúa yêu dấu của chúng ta, chúng ta phải liên tục ước ao điều tốt nhất của Ngài dành cho mọi người. Chúng ta nên đặt biệt xin phước lành tốt nhất của Ngài đến trên những người mà chúng ta cầu nguyện.

Thứ ba, chúng ta xin Chúa cáo trách người đó, vì sự cáo trách thật cần thiết cho sự cứu rỗi. Chỉ Đức Thánh Linh mới có thể cáo trách ai đó nên chúng ta hãy nài xin Giăng 16:8-11 trong lời cầu nguyện của chúng ta. Về căn bản sự cáo trách nghĩa là cáo trách về lỗi lầm. Lỗi lầm hay nan đề của người hư mất nằm ở chổ “không tin Chúa Giê-su” và đây là TỘI mà Đức Thánh Linh cáo trách (Gi 16:9).

Người ta đều biết “tội” của họ là gì, ngoại trừ tội không tin Chúa Giê-su. Vì đây là tội duy nhất kết án người ta xuống địa ngục nên satan che mắt con người về tội này. Vì thế, Đức Thánh Linh cáo trách hay thuyết phục người hư mất về mỗi tội này, bày tỏ cho họ thấy Chúa Cứu Thế Giê-su trong sự vinh hiển của Ngài để họ có thể được cứu. Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng sự cáo trách không tự động đảm bảo sự cứu rỗi. Như Phao lô “giải thích về sự công chính, sự tiết độ và phán xét hầu đến, Phê-lít run sợ . . .” (Công vụ 24:25). Nhưng không có bằng cớ trong Kinh Thánh cho thấy ông ta được cứu.

Kế tiếp, chúng ta xin Chúa soi sáng tâm trí người đó về lẽ thật. Ngay cả sau khi một người bị thuyết phục về nhu cầu cần được cứu, một tâm trí bị che mắt khỏi Phúc âm có thể vẫn còn đóng kín với ánh sáng của Phúc âm vinh hiển của Chúa Giê-su và người đó vẫn còn sốngAnchortrong tối tăm thuộc linh (2 Cô 4:6). Một khi tấm lòng và tâm trí đã được mở ra với lẽ thật, Chúa dùng cơ đốc nhân giải thích Phúc âm cho người đó. Dù hoạn quan Ê-thi-ô-pi là người tìm kiếm chân lí, và đã đến Giê-ru-sa-lem thờ phượng Chúa cách công khai và cũng có Kinh Thánh, ông nhìn nhận rằng ông không thể hiểu “ngoại trừ có ai đó hướng dẫn tôi” (Công vụ 8:26-39).

Câu chuyện hấp dẫn nhất là câu chuyện của Cọt-nây (Công vụ 10). Ông là người “tin kính và cả nhà ông đều kính sợ Chúa, bố thí cho người ta và cầu nguyện với Chúa luôn.” Này, ông còn tốt hơn nhiều cơ đốc nhân mà chúng ta biết, tuy nhiên, ông vẫn còn hư mất – ông không hiểu con đường cứu rỗi. Ông được một thiên sứ dạy bảo hãy sai người mời Phi-e-rơ là người sẽ “cho ông biết ông nên làm gì.” Cọt-nây và người thân của ông rất mở lòng với Phúc âm nên ngay sau khi họ nghe “Đạo Chúa” thì Đức Thánh Linh giáng trên họ và họ được cứu đang khi Phi-e-rơ vẫn còn giảng!

Hãy xin Chúa mở trí mở lòng của người hư mất – Ngài sẽ làm! Sau đó, người ta sẽ được cứu cách kì diệu.

Giờ thì chúng ta sẵn sàng để xin Chúa cứu người đó. Tuy nhiên, chúng ta phải sẵn sàng để Chúa làm bất cứ điều gì cần thiết xúc tiến sự cứu rỗi của người đó, vì Đức Chúa Trời đã sắp đặt các biến cố trong đời sống người đó nhằm đem người đó đến sự ăn năn.

Khi chú giải về Luca 19:10, “Vì Con Người đến tìm và cứu kẻ bị hư mất,” Chafer có nói, “Đây còn hơn là cố gắng tìm người chưa được cứu, vì họ có mặt khắp mọi nơi. Từ ngữ này gợi ý một sự chuẩn bị của Chúa cho người chưa tin để đem họ đến sự thay đổi theo những điều kiện cần thiết để được cứu rỗi.” (Chafer 3-4).

Gia đình của Tony Fontenot đã cầu nguyện cho anhAnchortin Chúa nhiều năm. Lời cầu nguyện của họ dường như vô dụng cho đến ngày 22, tháng Năm, 1982. Vào cái ngày định mệnh đó anh bị tai nạn máy bay và súyt chết. Đức Chúa Trời đã làm anh thức tỉnh và phần còn lại thật dễ dàng!

Lần nọ có một người chuẩn bị đón nhận Phúc âm, cần ai đó chia sẻ Phúc âm cho anh ta. Điều tự nhiên phải làm là cầu nguyện xin Chúa sai ai đó làm việc này. Sự thật thì đây là điều mà Ngài bảo chúng ta làm, “Mùa gặt thật trúng, nhưng thợ gặt thìýt. Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thêm thợ gặt vào đồng lúa của Ngài.” (Mat 9:37-38).

Vì những con gặt quáýt, nghĩa là “ít về mức độ, tầm mức, số lượng, thời gian hay giá trị” (Strong’s Dictionary), chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa giúp trong lĩnh vực này. Trước hết chúng ta cầu xin Ngài sai thêm con gặt. Từ Hy-lạp “ekballo” có ý niệm dùng đến sức mạnh – đẩy ra, ném ra, quăng ra.

Hãy nhớ Chúa gặp khó khăn khi sai Giô-na đến Nin-ive giảng Lời Ngài? Ngài “buộc” ông phải đi. Một tình huống tương tự xảy ra khi hội thánh do dự trong việc phổ biến Phúc âm bên ngoài ranh giới của họ. Chúa cho phép một “Trong lúc ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị bắt bớ dữ dội.” (Công vụ 8:1), nhưng “Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri.” (Công vụ 8:4).

Vì những con gặt không chỉ ít về số lượng mà cònýt về thời gian và giá trị, chúng ta xin Chúa trang bị cho họ những phẩm chất nhằm khiến họ thành chứng nhân hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng tất cả sự trang bị đến qua Đức Thánh Linh. Samuel Chadwick nói, “Quyền năng của Đức Thánh Linh không thể phân cách khỏi thân vị của Ngài . . . Đức Chúa Trời không để thất thoát thuộc tính của Ngài. Quyền năng của Ngài không thể cho mượn.AnchorNó không thể tách khỏi sự hiện diện của Ngài . . . Ngài không chỉ là Đấng ban cho quyền năng, Ngài dùng tới quyền năng. Không ai có thể làm điều đó” (Chadwick 89).

Đây là lí do Chúa Giê-su truyền lệnh cho các môn đồ hãy chờ đợi ở thành Giê-ru-sa-lem cho đến chừng «các ngươi sẽ chịu báp tem trong Đức Thánh Linh» (Công vụ 1:4-5). Rồi Ngài phán với họ, «Nhưng các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con, và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.” (Công vụ 1:8).

Dù sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là quyền thừa kế của chúng ta (Công vụ 2:38-39), hội thánh biết rấtýt về “quyền năng vĩ đại lớn lao dành cho chúng ta là kẻ tin” (Êph 1:19). Hậu quả là những linh hồn quanh chúng ta đang lao xuống địa ngục vì chúng ta bất lực không giúp gì được họ nếu không mặc lấy quyền năng của Đức Thánh Linh. Vì thế, chúng ta phải cầu nguyện xin Chúa đầy dẫy các công nhân của Ngài bằng Đức Thánh Linh, trang bị họ bằng quyền năng (khả năng và sức mạnh), sự can đảm (Công vụ 4:31), sự khôn ngoan (Châm 11:30), sự nhiệt thành (Cô 4:12-13), lòng trắc ẩn (Giu-đe 22-23) và sự hiểu biết thiên thượng (Giê 33:3). Và kết quả là nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi!

Sau khi chúng ta đã cầu nguyện cho những người được cứu và để các nhân sự làm chứng cho họ, bấy giờ chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho họ. Lí do làm việc này gồm hai điều : trước hết, không ai được cứu nếu không nghe lời Chúa (Rô 10:14) và thứ hai, satan ghét lời Chúa, liên tục tấn công lời Chúa, dùng mọi nỗ lực quỷ quyệt của nó ngăn cản người ta không nhận lời Chúa. Vì cần lời Chúa để cáo trách (Công vụ 2:37), để giải phóng (Gi 8:32), và để cứu rỗi (1Phi 1:23) người hư mất, satan cựcAnchorlực chống đối lời Chúa qua sự xao lãng (Lu 8:11-15), dựng các đồn lũy (2Cô 10:4-5), và dùng sự giả trá (2Cô 11:3-4).

Lời Chúa đối với satan như thuốc tê đối với siêu nhân – nó làm cho hắn yếu ớt và bất lực. Nó cũng làm cho nước của nó thu hẹp khi giải phóng các nô lệ của nó vì “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (Gi 8:32). Nhưng hãy để ý, không phải lẽ thật giải phóng bạn mà lẽ thật mà bạn biết. Nên satan làm mọi cách có thể để giữ không cho người ta biết lẽ thật.

Khi giải thích dụ ngôn của người gieo giống cho các môn đồ Ngài, Chúa Giê-su phán satan đến lập tức và cướp đi lời Chúa trước khi người đó hiểu được (Mác 4:15). Đây là lí do thật cần thiết chúng ta cầu nguyện để lời Chúa được chia sẻ cho người hư mất.

Khi cầu nguyện để Chúa dùng lời Ngài cứu rỗi người hư mất, chúng ta sẽ trình dâng năm nhu cầu cụ thể. Trước hết, Lời Ngài được “tự do” (2 Tê 3:1). Điều này đơn giản có nghĩa rằng lời Chúa không bị ngăn trở; rằng satan không cách nào ngăn cản sự vận hành của lời Đức Chúa Trời. Nó sẽ tìm cách ngăn cản lời Chúa bằng mọi cách nó nghĩ ra, cản ngăn và kiềm hãm không cho sứ điệp lời Chúa giảng ra, bóp méo lời Chúa, tiêu diệt Kinh Thánh, gieo rắc nghi ngờ về lời Chúa . . . và vân vân.

Kế đến, chúng ta cầu nguyện cho lời Chúa được tôn vinh (2Tê 3:1). Điều này có nghĩa là lời Chúa được tôn trọng và đánh giá cao giữa vòng những người nghe. Chúng ta sẽ có một sự tôn kính đối với lời Ngài khi chúng ta thấy rằng Ngài “tôn cao lời Ngài trên cả danh Ngài” (Thi 138:20. Thật ra, Đức Chúa Trời là lời Ngài hiện thân. “Ban đầu có Ngôi lời và Ngôi lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi là Đức Chúa Trời. . . Và Ngôi lời trở nên xác thịt và ngự giữa chúng ta. . .” (Gi 1:1,14).

AnchorChúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được gia tăng (Công vụ 12:24), vì một trong những quy luật của mùa gặt là, “Ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (2Cô 9:6).

Chúng ta cũng cầu nguyện cho lời Chúa được thắng thế hay phô bày sức mạnh (Công vụ 19:20). Giống như một hạt giống nhỏ có thể phá vỡ một lớp đất để đâm chồi nẩy lộc thì hạt giống lời Chúa được trồng trong tấm lòng cũng vậy.

Lời cầu nguyện tôi thích nhất đối với lời Chúa là lời Chúa sẽ kết quả. Công vụ 14:1 nói rằng các môn đồ “giảng, và vô số người cả do thái lẫn dân ngoại đều tin.”Chúng ta có thể nài xin Ê-sai 55:11, “Này, lời đã ra từ miệng Ta, sẽ không trở về cùng Ta vô hiệu quả, nhưng sẽ làm điều Ta đã định và hoàn thành việc Ta đã sai khiến nó.” Đức Chúa Trời muốn lời Ngài được kết quả; hãy xin Ngài biến lời Ngài kết quả thì bạn đang cầu nguyện theo ý muốn của Ngài và lời cầu nguyện của bạn sẽ được đáp lời!

Hãy để tôi nhắc bạn rằng Giu-đaých-ca-ri-ốt đã sống liên tục tiếp xúc với Lời hằng sống của Đức Chúa Trời nhưng ông đã chết và xuống địa ngục vì Chúa Giê-su phán, “Tốt hơn là người đó thà không sinh ra thì hơn” (Mác 14;21). Những người Pharisi – những con người sùng đạo nhất thời đó – thuộc lòng lời Chúa và có thể trích nhiều đoạn Kinh Thánh, nhưng họ xa cách Nước Đức Chúa Trời như bất cứ người nào.

Chúng ta phải hiểu rằng chỉ có Đức Thánh Linh mới làm sống động lời Chúa trong lòng người nghe thì người đó mới được cứu. Đây là lí do chúng ta phải cầu nguyện cho lời Chúa kết quả trong đời sống của những kẻ nghe!

Nếu chúng ta thật sự muốn nhìn thấy vô số được cứu thì chúng ta phải cầu nguyện cho sự phấn hưng. Câu Kinh Thánh kinh điển về sự phấn hưng bắt đầu cách này, “NếuAnchordân sự Ta, là dân gọi bằng danh Ta hạ mình xuống và cầu nguyện . . .” (2 Sử 7:14). Loại cầu nguyện được nói đến ở đây là cầu thay – cầu nguyện cho người khác. Chỉ sau khi Gióp cầu nguyện (cùng một từ trong tiếng Hê-bơ-rơ ở trên) cho các bạn ông mà Chúa thay đổi tình huống của ông (Gióp 42:10).

Trong thời gian phấn hưng, tất cả lời cầu nguyện là nhắm vào người khác. Duncan Campbell mô tả sự phấn hưng là “một sự bão hòa Đức Chúa Trời” (Edwards 26). Khi người ta bão hòa Đức Chúa Trời, họ quan tâm đến người khác hơn là bản thân. Lòng trắc ẩn của Chúa cho các linh hồn trở thành lòng trắc ẩn của họ.

Hãy nghe Finney mô tả ưu thế của sự cầu nguyện trong thời gian phấn hưng : “Tôi đã nói nhiều lần chính linh cầu nguyện đã chiếm ưu thế trong các cuộc phấn hưng này là một đặt điểm nổi bật trong các buổi nhóm này. Thông thường những người mới tin Chúa hay cầu nguyện, và trong một số trường hợp, họ thường ở lại cầu nguyện suốt đêm, và cho đến khi thể xác mệt nhoài, vì nhiều linh hồn tin Chúa xung quanh họ. Đức Thánh Linh tác động rất mạnh lên tâm trí của cơ đốc nhân; và họ dường như cùng mang gánh nặng về những linh hồn đời đời, thay vì nói chuyện, họ quì gối cầu nguyện.

“Không chỉ các buổi nhóm cầu nguyện được nhiều người tham gia … nhưng có tinh thần cầu nguyện mạnh mẽ. Cơ đốc nhân cầu nguyện rất nhiều, nhiều người để nhiều giờ cầu nguyện riêng. Trong trường hợp có hai người trở lên thì hãy nhận lời hứa này: ‘Nếu hai người trong các ngươi hiệp một cầu xin bất cứ điều gì họ cầu xin, Cha ta trên trời sẽ làm cho họ’ và xem ai đó thành đối tượng cầu nguyện; và thật kì diệu tầm mức mà những lời cầu nguyện hướng tới. Sự đáp lời cầu nguyện được bày tỏ trong nhiều phương diện, không ai thoát khỏi sự cáo trách mà Đức Chúa TrờiAnchorđáp lời cầu nguyện mỗi giờ, mỗi ngày” (Finney 141-42).

Đọc qua các cuộc phấn hưng sẽ thấy ngay hàng trăm, hàng ngàn và thậm chí hàng triệu linh hồn tin Chúa trong những thời điểm này. Jonathan Edwards xem phấn hưng là phương cách chính Chúa dùng mở mang nước Ngài (Edwards 26). Vậy nếu bạn muốn thấy những linh hồn được cứu, hãy cầu nguyện xin phấn hưng!




God Entered My Room After Watching This Video!




Buddhist woman converts to Jesus after Heavenly encounter.




Phân tích triết lý vô ngã của nhà Phật

Dẫn nhập:

Cột trụ của Phật giáo là thuyết VÔ NGÃ. Thuyết Vô Ngã do chính Phật Thích Ca, giáo chủ của Phật giáo giảng dạy. Trong kinh Pháp Cú 20:5-7 ghi lại lời dạy của Phật Thích Ca như sau:

“Chư Hành vô thượng (Mọi sự vật bị giới hạn đều là vô thượng – luôn biến đổi)
“Chư Hành là khổ (Mọi sự vật bị giới hạn đều là khổ – đời sống không có sự vui thỏa)
“Chư Pháp vô ngã (Mọi pháp là vô ngã -“pháp” bao gồm sắc pháp tức vật lý và tâm pháp tức tâm lý)

Chữ “pháp” là một thuật ngữ độc đáo trong Phật học, nó bao gồm tất cả những gì thuộc về thế giới vật lý lẫn những gì thuộc về thế giới tâm lý, nó bao gồm cả Niết bàn. Theo giáo lý Nguyên Thủy (Theravàda) không có Ngã trong các pháp (mọi sự vật) cũng như không có Ngã trong con người. Trong Trung Bộ Kinh,Phật Thích Ca dạy rằng:

“Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?”

Từ thuyết Vô Ngã, Phật Thích Ca khai mở một chủ thuyết, về sau chủ thuyết này trở thành giáo lý cột trụ của một tôn giáo lớn gọi là Phật giáo. Hơn 2500 năm đã trôi qua kể từ ngày Phật Thích Ca rao giảng thuyết Vô Ngã, hàng tỉ người trên thế giới đã tin vào thuyết này và cố gắng “tu tập” để có thể chiêm nghiệm được cái lý lẽ của thuyết Vô Ngã. Danh
từ “Phật” dùng để gọi một người đã quán triệt Vô Ngã, thể nhập Không Tánh. Phật Thích
Ca xưng rằng Ngài là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành, nhưng trên 2500 năm qua, lịch sử chỉ ghi nhận có mỗi một mình Ngài Thích Ca tự xưng là Phật. Nói cách khác, chỉ có mỗi một mình người lập ra thuyết Vô Ngã xưng nhận là mình đã chứng nghiệm được thuyết ấy.

Có phải thuyết Vô Ngã quá thâm diệu cho nên suốt hơn 2500 ngàn năm nay ngoài Phật Thích Ca ra không ai có đủ trình độ, khả năng, sự thông sáng, hoặc lòng nhiệt thành
để giác ngộ? Bài viết này nhằm phân tích và so sánh thuyết Vô Ngã của triết Phật và tín lý Hữu Ngã trong Thánh Kinh. Tác giả ước mong những điều được trình bày dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ sự tương phản giữa hai phạm trù nói trên.

Định nghĩa một số từ ngữ:

Ngã: Mỗi tôn giáo hoặc trường phái triết học có những định nghĩa khác nhau về Ngã,(Ngã là một danh từ Hán Việt). Một cách tổng quát, Ngã là một thực thể (một cái gì có thật), trường tồn và là một phần của con người, là một “cái tôi” tuyệt đối riêng biệt, không ai thay thế được, là phần làm chủ và trách nhiệm mọi tư duy, tình cảm, ý chí, hành động của con người. Tiếng Phạn (Sanskrit) gọi Ngã là “Atman”, tiếng Anhgọi là “Self”, tiếng Việt gọi nôm na là “cái Tôi” hoặc “cái Ta”. Cơ-đốc-giáo (Christianity) gọi là Linh hồn (Soul). Triết Phật dạy rằng, một Ngã như vậy không có thật, mọi quan niệm về Ngã chỉ là ảo tưởng, mọi nhận thức về Ngã chỉ là ảo giác.

Nhập Không Tánh: Trạng thái quán triệt Vô Ngã dẫn đến sự quán triệt Tánh Không của mọi pháp.(Tánh Không của mọi pháp là: vạn vật, kể cả “cái Ta” không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt nên thật ra không sinh không diệt. Sự sinh và diệt mà chúng sinh kinh nghiệm mỗi ngày chỉ là sự sinh và diệt của những ảo ảnh.) Nhập Không Tánh tức đắc đạo, tức nhập Niết bàn.

Niết bàn: Không phải là một nơi chốn như Thiên Đàng hay Hỏa Ngục mà là trạng thái giải thoát, an nhiên tự tại, nhờ thấu hiểu (giác ngộ) chân tướng của vạn vật là Không, nên chấm dứt và thoát ra ngoài mọi ý niệm, thoát mọi chấp Ngã (thoát khỏi sự cho rằng Ngã có thật), thoát mọi chấp pháp (thoát khỏi sự cho rằng mọi vật có thật, có tự tánh, có sinh, có diệt), thoát khỏi luân hồi, tức thoát vòng sinh tử.

Pháp: (1) Chư Pháp: Mọi sự vật, sự việc trong thế giới vật lý lẫn thế giới tâm lý, kể cả Niết bàn. (2) Phật pháp: Lời dạy của Phật Thích Ca. (3) Pháp môn: Phương cách tu tập để quán triệt Vô Ngã và Không Tánh. Theo Phật Thích Ca, có đến 84,000 Pháp môn. Các nhà Phật học không thống nhất với nhau về ý nghĩa của con số 84,000 pháp môn.
Dưới đây là luận giải của tác giả:

– Tứ Diệu Đế thiên biến = (4) X (1000) = 4000
– Bát Chánh Đạo vạn hóa = (8) X(10,000) = 80,000
– Pháp môn tu tập để Giác Ngộ =
Tứ Diệu Đế thiên biến + Bát Chánh Đạo vạn hóa (4000 + 80,000= 84,000 pháp môn)

Phật: Người quán triệt, tức giác ngộ Vô Ngã (thấy và hiểu sự vận hành của mọi “pháp” như chúng vốn là như vậy, tức vạn vật chỉ là ảo giác) dứt mọi ý niệm (nguyên cớ tạo ra ảo giác) nên thoát vòng sinh tử (ra khỏi luân hồi), nhập Không Tánh (thoát Khổ, trở về Chân Không, đạt Niết bàn), trở thành Phật, tức Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vô Minh: U mê, tăm tối, phát sinh ra những ý niệm không thật khiến tạo ra các ảo giác (các pháp của thế gian) dẫn đến những nhận thức sai lầm, tạo ra nghiệp lực, thu hút Tứ
Đại (tạo thành thân xác), giam giữ chúng sinh miệt mài luân chuyển trong 12 yếu tố của Duyên Khởi (luân hồi). Nếu có 84,000 pháp môn giải thoát thì cũng có 84,000 cảnh
giới vô minh.

– Ngũ Uẩn: Sắc, Thể, Tưởng, Hành, Thức (5) X (12) Yếu tố Duyên Khởi = 60 (sựChấp Pháp)
– Tam Độc: Tham, Sân, Si (3) X (8) Tám Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,Thân, Ý, Tống Truyền, Tàng = 24 (sựChấp Ngã)
– Khổ: Chấp Pháp + Chấp Ngã X thiên biến = vạn hóa (60 + 24 X 1000 = 84,000 cảnh giới)

* Khổ thiên biến mà thành ra vạn hóa: Khổ = thiên biến —> vạn hóa.
* Giác Ngộ vừa thiên biến mà vừa vạn hóa: Giác Ngộ = thiên biến + vạn hóa.

Chương I: Lập luận Vô Ngã (Anatta) của triết Phật

Phật Thích Ca lập thuyết Vô Ngã dựa trên các suy luận sau đây:

A. Nhận định Duyên khởi:

Được sinh trưởng trong môi trường văn hóa của Ấn giáo, ít nhiều gì Đức Thích Ca cũng ảnh hưởng thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo. Đối diện với cuộc sống, chứng kiến thế nhân sinh, lão, bệnh, tử – nhìn thấy vạn vật thành, trụ, hoại, diệt; Đức Thích Ca suy ra mọi sự vật đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau theo công thức sau
đây:

1) Cái này có thì cái kia có (vì có hột lúa nên có cây lúa)
2) Cái này sinh thì cái kia sinh (vì cây lúa sinh ra hột lúa nên từ hột lúa lại sinh ra cây lúa khác)
3) Cái này không có thì cái kia không có (không có hột lúa thì không có cây lúa)
4) Cái này diệt thì cái kia diệt (hột lúa bị diệt thì cây lúa – sẽ sinh ra từ hột lúa ấy – cũng bị diệt)

Theo Tương Ứng Kinh bộ II thì 12 yếu tố Duyên Khởi trong triết Phật là:

1. Vô Minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh Sắc
5. Lục Nhập
6. Xúc
7. Thể
8. Ái
9. Thủ
10. Hữu
11. Sinh
12. Lão – Tử (Ưu, Bi, Khổ não)

Vô Minh sinh ra Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh Sắc sinh ra Lục Nhập, Lục Nhập sinh ra Xúc, Xúc sinh ra Thể, Thể sinh ra Ái, Ái sinh ra Thủ, Thủ sinh ra Hữu, Hữu sinh ra Sinh, Sinh sinh ra Lão, Tử, (Ưu, Bi, Khổ não).

Từ nhận định đó (dựa vào thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo), Đức Thích Ca
lập ra thuyết Duyên Khởi, cho rằng mọi sự vật tương quan và luân chuyển trong
một vòng tròn của luật Duyên Khởi (duyên=sinh ra, khởi=bắt đầu).

B. Phân tích Ngũ Uẩn:

Khi suy tư về bản thể của con người, Đức Thích Ca nhận thấy con người là một tổng thể bao gồm các phần thấy được, đụng chạm được và các phần không thấy được, không đụng chạm được. Đức Thích Ca phân tích con người thành Ngũ Uẩn. Uẩn là một tập hợp, một nhóm. Ngũ Uẩn (năm tập hợp) đó là:

1) Sắc Uẩn: Tức Thân + Tâm (được cấu tạo bởi
Tứ Đại là đất +nước + gió + lửa), Sắc Uẩn bao gồm các Giác Quan (Căn)

2) Thể Uẩn: Tức là những Cảm Thể (cảm giác nhận được) do sự tiếp xúc
giữa 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

3) Tưởng Uẩn: Tức là những Tư Duy phát sinh từ những Cảm Thể, tạo ra các Khái Niệm

4) Hành Uẩn: Sự Lưu Chuyển của các Khái Niệm, biến Khái Niệm thành Hành Động.

5) Thức Uẩn: Sự Nhận Biết và Phân Biệt các Khái Niệm. Riêng Thức Uẩn chia làm 8 Thức khác nhau:

a) Nhãn Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mắt nhìn thấy vạn vật.

b) Nhĩ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do tai nghe từ vạn vật.

c) Tỷ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mũi ngữi được từ vạn vật.

d) Thiệt Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do lưỡi nếm lấy từ vạn vật.

e) Thân Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do thân thể tiếp xúc với vạn vật.

f) Ý Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm tổng hợp từ các khái niệm do 5 thức trên đem lại.

g) Mạt Na Thức (Manas Vijnãna) còn gọi là Ý Căn, là nơi phát sinh ra Ý Thức. Mạt Na Thức truyền các hệ quả (hạt giống – chủng tử) của những Khái Niệm đã biến thành hành động (pháp hiện hành) vào Tàng Thức và tống đưa các hệ quả đã nhuần thấm, chín mùi ra hiện hành, nên còn được gọi là Tống Truyền Thức. Mạt Na Thức khiến chúng sinh nhìn thấy một ảo giác về Ngã, là gốc của sự Chấp Ngã, là nguồn gốc của 4 phiền não
căn bản:

– Ngã Si (sự vô minh, u mê, ngu tối về bản ngã)
– Ngã Ái (sự yêu thương quyến luyến bản ngã)
– Ngã Kiến (sự nhìn thấy những sai lầm của bản ngã)
– Ngã Mạn (sự kiêu căng, ngạo mạn cho bản ngã là cao cả hơn hết)

Tương truyền Phật Thích Ca nói câu sau đây: “Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn”.
Nhiều người giải luận câu này cho rằng Phật Thích Ca có ý tuyên bố rằng: “Trên TrĐi Dưới Đất Chỉ Mình Ta (Phật Thích Ca) Đáng Tôn Quý”. Thật ra, nếu quả thật Phật Thích Ca có tuyên bố câu này, thì chỉ là nhằm kiên định cái thuyết Vô Ngã mà thôi. Ý của câu
đó có thể giải luận như sau: “Khắp vũ trụ (trên trời dưới đất) chỉ có cái NGÃ của chúng sinh là được chúng sinh tôn làm cao cả hơn hết (mặc dầu cái Ngã không có thực).

h) A Lại Da Thức (Alaya Vijnãna) còn gọi là Tàng Thức. Thức này bao gồm 3 chức năng:

– Năng Tàng: Chức năng chứa đựng, gìn giữ các chủng tử (hạt giống) của các pháp, tức chứa đựng nhữn  hệ quả của các hành động yhiện cũng như ác của chúng sinh.

– Sở Tàng: Chức năng ấp ủ, nhuần thấm những chủng tử được chứa trong Tàng Thức. Khi đã nhuần thấm, chín mùi thì các chủng tử này được Tống Truyền Thức tống đưa ra thành hành động.

– Ngã Ái Chấp Tàng: Chức năng duy trì một ảo giác về cái Ngã (Chấp Ngã), yêu thương cái Ngã, độc tôn cái Ngã, và đó chính là lực lượng qui tụ Tứ Đại để kết thành thân xác chúng sinh.

C. Suy luận Tánh Không:

Triết Phật không công nhận “Nguyên Nhân Đầu Tiên”. Triết Phật cho rằng duyên khởi là vì Vô Minh (u mê, ngu tối). Vì u mê, ngu tối cho nên chúng sinh mới tưởng các pháp (vạnvật) là có thật, tức Chấp Pháp. Vì Chấp Pháp (cho rằng vạn vật là có thật) nên chúng sinh tưởng rằng mỗi pháp đều có tự tính, dẫn đến Chấp Ngã (cho rằng mỗi con người có một bản ngã, còn gọi là “cái Tôi”, “cái Ta”, hoặc Linh Hồn.)

Ví như một lữ hành trong sa mạc nóng cháy, khao khát tìm được nước uống. Đến một
lúc nào đó, sự khao khát nước uống cho cơ thể thiếu nước khiến cho người đó bị ảo giác thấy một vũng nước hay một ốc đảo giữa sa mạc:

1. Vũng nước hay ốc đảo có hình ảnh hiện ra nhưng không có thật (sắc tức thị không: tưởng là có mà thật ra không có).

2. Vũng nước hay ốc đảo tuy không có thật nhưng vẫn có hình ảnh hiện ra (không tức thị sắc: dù là chẳng có thật nhưng vẫn hiện ra như có thật).

3. Sự khao khát nước uống, bóng mát làm cho người lữ hành nhìn thấy ảo ảnh của vũng nước hoặc ốc đảo mà tưởng là nó có thật (vô minh khiến chúng sinh tùy theo các ý niệm mà nhìn thấy những hình ảnh [Danh Sắc] của vạn vật [các Pháp] và tưởng các pháp là có thật, tức Chấp Pháp).

4. Cái mệt mõi, khát nước của thể xác khiến cho người lữ hành ý thức rằng: “Tôi mệt”, “Tôi khát”, “Tôi cần uống nước”, “Tôi cần nghĩ ngơi trong bóng mát” … nhưng bóng mát không có thật, nước uống không có thật nên không thoả mãn được nhu cầu, sinh ra Khổ.
(Vô minh khiến chúng sinh vì Chấp Ngã – tưởng mình là có thật, mà sinh ra
Chấp Pháp – tưởng các pháp là có thật. Ví như người lữ hành tưởng là thể xác mình có thật, cho rằng sa mạc có thật, mặt trời có thật, vũng nước có thật, ốc đảo có thật nên đau khổ vì cát nóng, nắng cháy, vì thân thể bị mất nước, vì thèm được uống nước nhưng vũng nước không có thật, vì thèm được núp bóng mát nhưng ốc đảo không có thật.)

D. Lập thuyết Vô Ngã:

Sự luận giải về thuyết Vô Ngã của triết Phật có thể tóm tắt như sau: Từ vô lượng kiếp, chúng sinh quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử, bởi vì trong một lúc nào đó, ở thời quá khứ vô cùng khởi (có thể đến hàng tỉ tỉ tỉ năm về trước!) vì u mê, ngu tối (Vô Minh) mà chúng sinh phát khởi các ý niệm hoặc thiện hoặc ác (Hành). Những ý niệm này hình thành các khái niệm (Thức). Các khái niệm tạo ra những hiện tượng tâm lý và vật lý tức là ảo ảnh về vạn vật (Danh Sắc). Ảo ảnh khiến sinh ra các giác quan và ý thức (Lục Nhập). Các giác quan và ý thức phát sinh ra sự đụng chạm và tiếp xúc (Xúc). Sự đụng chạm và tiếp xúc đem lại cảm giác và nhận định (Thể). Cảm giác và nhậnđịnh sinh ra sự ham muốn (Ái). Sự ham muốn tạo thành ý chí bám víu, giữ lấy (Thủ). Ý chí bám víu, giữ lấy kết tinh thành thực thể (Hữu). Thực thể trở thành sự sống (Sinh). Sự sống suy tàn rồi tiêu tan dẫn đến già cỗi và sự chết (Lão – Tử), cùng những lo, buồn, đau đớn. Chu trình này sẽ tái diễn đến vô lượng lần, mỗi lần là một kiếp, trong tương lai vô cùng tận.

Trong chu trình Duyên Khởi (12 yếu tố kể trên) mỗi yếu tố vừa là nhân của yếu tố này mà
là quả của yếu tố kia. Tùy theo những ý niệm phát sinh mà Tứ Đại (đất, nước, gió, lửa) kết thành thân xác của chúng sinh. Thân Tứ Đại sinh ra khi hội đủ Pháp hiện hành và
chết đi khi Pháp hiện hành đã hết, đó là một kiếp củachúng sinh. Tuy nhiên, trong một kiếp đó sự luân chuyển, thể hiện của các Pháp hiện hành đã tạo ra các nhân thiện hoặc ác khác (Chủng Tử) và được Tống Truyền Thức đem cất giữ vào Tàng Thức. Khi những
chủng tử này đã được thấm nhuần trong Tàng Thức thì Tống Truyền Thức phóng chúng ra thành các Pháp Hiện Hành mới, thu hút Tứ Đại, tạo ra một thân xác mới. Tiến trình này
được gọi là Nghiệp Lực. Nghiệp lực cứ khiến cho chúng sinh quay cuồng trong chu trình
bất tận của Duyên Khởi nghĩa là chúng sinh có thể trải qua vô lượng kiếp!

Trong 12 yếu tố của Duyên Khởi, nếu phá được Vô Minh thì diệt được Hành. Hành không
có thì diệt được Thức. Thức không có thì diệt được Danh Sắc. Danh Sắc không có thì diệt được Lục Nhập. Lục Nhập không có thì diệt được Xúc. Xúc không có thì diệt được Thể. Thể không có thì diệt được Ái. Ái không có thì diệt được Thủ. Thủ không có thì diệt
được Hữu. Hữu không có thì diệt được Sinh. Sinh không có thì diệt được Lão, Tử, Ưu, Bi, Khổ não.

Làm sao để phá được Vô Minh? Bằng cách quán triệt chân tướng của sự vật (các
pháp) chỉ là KHÔNG! Như vậy, muốn thoát khổ (được giải thoát) con người cần phải quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình. Khi quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình, thì sẽ Giác Ngộ, nghĩa là nhận ra vạn vật, trong đó có mình, chỉ là
ảo giác, không có thật. Có thể nói như sau: Những gì tôi nhận thấy chung quanh tôi hoặc về chính tôi chỉ là ảo giác. Tại tôi tưởng là chúng có thật cho nên có cái tôi yêu thích, có cái tôi ghét bỏ, có cái tôi khao khát, có cái tôi tìm cầu, có cái tôi muốn nắm giữ, có cái tôi muốn vứt bỏ… và khi không thoả mãn được ý mình thì tôi khổ. Cho đến lúc tôi nhận ra, vạn vật, trong đó có tôi, đều không có thật, đều Vô Ngã, thì tôi hết khổ, tôi nhập Niết bàn.




UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

(sưu tầm)

Trong Ê-phê-sô chương 5 Kinh thánh nói rằng người vợ phải phục dưới uy quyền của chồng mình trong mọi sự ( câu 24) cũng như Hội thánh phục dưới Đấng Christ.

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

(sưu tầm)