God Entered My Room After Watching This Video!




Buddhist woman converts to Jesus after Heavenly encounter.




Phân tích triết lý vô ngã của nhà Phật

Dẫn nhập:

Cột trụ của Phật giáo là thuyết VÔ NGÃ. Thuyết Vô Ngã do chính Phật Thích Ca, giáo chủ của Phật giáo giảng dạy. Trong kinh Pháp Cú 20:5-7 ghi lại lời dạy của Phật Thích Ca như sau:

“Chư Hành vô thượng (Mọi sự vật bị giới hạn đều là vô thượng – luôn biến đổi)
“Chư Hành là khổ (Mọi sự vật bị giới hạn đều là khổ – đời sống không có sự vui thỏa)
“Chư Pháp vô ngã (Mọi pháp là vô ngã -“pháp” bao gồm sắc pháp tức vật lý và tâm pháp tức tâm lý)

Chữ “pháp” là một thuật ngữ độc đáo trong Phật học, nó bao gồm tất cả những gì thuộc về thế giới vật lý lẫn những gì thuộc về thế giới tâm lý, nó bao gồm cả Niết bàn. Theo giáo lý Nguyên Thủy (Theravàda) không có Ngã trong các pháp (mọi sự vật) cũng như không có Ngã trong con người. Trong Trung Bộ Kinh,Phật Thích Ca dạy rằng:

“Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian – quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?”

Từ thuyết Vô Ngã, Phật Thích Ca khai mở một chủ thuyết, về sau chủ thuyết này trở thành giáo lý cột trụ của một tôn giáo lớn gọi là Phật giáo. Hơn 2500 năm đã trôi qua kể từ ngày Phật Thích Ca rao giảng thuyết Vô Ngã, hàng tỉ người trên thế giới đã tin vào thuyết này và cố gắng “tu tập” để có thể chiêm nghiệm được cái lý lẽ của thuyết Vô Ngã. Danh
từ “Phật” dùng để gọi một người đã quán triệt Vô Ngã, thể nhập Không Tánh. Phật Thích
Ca xưng rằng Ngài là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành, nhưng trên 2500 năm qua, lịch sử chỉ ghi nhận có mỗi một mình Ngài Thích Ca tự xưng là Phật. Nói cách khác, chỉ có mỗi một mình người lập ra thuyết Vô Ngã xưng nhận là mình đã chứng nghiệm được thuyết ấy.

Có phải thuyết Vô Ngã quá thâm diệu cho nên suốt hơn 2500 ngàn năm nay ngoài Phật Thích Ca ra không ai có đủ trình độ, khả năng, sự thông sáng, hoặc lòng nhiệt thành
để giác ngộ? Bài viết này nhằm phân tích và so sánh thuyết Vô Ngã của triết Phật và tín lý Hữu Ngã trong Thánh Kinh. Tác giả ước mong những điều được trình bày dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ sự tương phản giữa hai phạm trù nói trên.

Định nghĩa một số từ ngữ:

Ngã: Mỗi tôn giáo hoặc trường phái triết học có những định nghĩa khác nhau về Ngã,(Ngã là một danh từ Hán Việt). Một cách tổng quát, Ngã là một thực thể (một cái gì có thật), trường tồn và là một phần của con người, là một “cái tôi” tuyệt đối riêng biệt, không ai thay thế được, là phần làm chủ và trách nhiệm mọi tư duy, tình cảm, ý chí, hành động của con người. Tiếng Phạn (Sanskrit) gọi Ngã là “Atman”, tiếng Anhgọi là “Self”, tiếng Việt gọi nôm na là “cái Tôi” hoặc “cái Ta”. Cơ-đốc-giáo (Christianity) gọi là Linh hồn (Soul). Triết Phật dạy rằng, một Ngã như vậy không có thật, mọi quan niệm về Ngã chỉ là ảo tưởng, mọi nhận thức về Ngã chỉ là ảo giác.

Nhập Không Tánh: Trạng thái quán triệt Vô Ngã dẫn đến sự quán triệt Tánh Không của mọi pháp.(Tánh Không của mọi pháp là: vạn vật, kể cả “cái Ta” không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt nên thật ra không sinh không diệt. Sự sinh và diệt mà chúng sinh kinh nghiệm mỗi ngày chỉ là sự sinh và diệt của những ảo ảnh.) Nhập Không Tánh tức đắc đạo, tức nhập Niết bàn.

Niết bàn: Không phải là một nơi chốn như Thiên Đàng hay Hỏa Ngục mà là trạng thái giải thoát, an nhiên tự tại, nhờ thấu hiểu (giác ngộ) chân tướng của vạn vật là Không, nên chấm dứt và thoát ra ngoài mọi ý niệm, thoát mọi chấp Ngã (thoát khỏi sự cho rằng Ngã có thật), thoát mọi chấp pháp (thoát khỏi sự cho rằng mọi vật có thật, có tự tánh, có sinh, có diệt), thoát khỏi luân hồi, tức thoát vòng sinh tử.

Pháp: (1) Chư Pháp: Mọi sự vật, sự việc trong thế giới vật lý lẫn thế giới tâm lý, kể cả Niết bàn. (2) Phật pháp: Lời dạy của Phật Thích Ca. (3) Pháp môn: Phương cách tu tập để quán triệt Vô Ngã và Không Tánh. Theo Phật Thích Ca, có đến 84,000 Pháp môn. Các nhà Phật học không thống nhất với nhau về ý nghĩa của con số 84,000 pháp môn.
Dưới đây là luận giải của tác giả:

– Tứ Diệu Đế thiên biến = (4) X (1000) = 4000
– Bát Chánh Đạo vạn hóa = (8) X(10,000) = 80,000
– Pháp môn tu tập để Giác Ngộ =
Tứ Diệu Đế thiên biến + Bát Chánh Đạo vạn hóa (4000 + 80,000= 84,000 pháp môn)

Phật: Người quán triệt, tức giác ngộ Vô Ngã (thấy và hiểu sự vận hành của mọi “pháp” như chúng vốn là như vậy, tức vạn vật chỉ là ảo giác) dứt mọi ý niệm (nguyên cớ tạo ra ảo giác) nên thoát vòng sinh tử (ra khỏi luân hồi), nhập Không Tánh (thoát Khổ, trở về Chân Không, đạt Niết bàn), trở thành Phật, tức Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vô Minh: U mê, tăm tối, phát sinh ra những ý niệm không thật khiến tạo ra các ảo giác (các pháp của thế gian) dẫn đến những nhận thức sai lầm, tạo ra nghiệp lực, thu hút Tứ
Đại (tạo thành thân xác), giam giữ chúng sinh miệt mài luân chuyển trong 12 yếu tố của Duyên Khởi (luân hồi). Nếu có 84,000 pháp môn giải thoát thì cũng có 84,000 cảnh
giới vô minh.

– Ngũ Uẩn: Sắc, Thể, Tưởng, Hành, Thức (5) X (12) Yếu tố Duyên Khởi = 60 (sựChấp Pháp)
– Tam Độc: Tham, Sân, Si (3) X (8) Tám Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,Thân, Ý, Tống Truyền, Tàng = 24 (sựChấp Ngã)
– Khổ: Chấp Pháp + Chấp Ngã X thiên biến = vạn hóa (60 + 24 X 1000 = 84,000 cảnh giới)

* Khổ thiên biến mà thành ra vạn hóa: Khổ = thiên biến —> vạn hóa.
* Giác Ngộ vừa thiên biến mà vừa vạn hóa: Giác Ngộ = thiên biến + vạn hóa.

Chương I: Lập luận Vô Ngã (Anatta) của triết Phật

Phật Thích Ca lập thuyết Vô Ngã dựa trên các suy luận sau đây:

A. Nhận định Duyên khởi:

Được sinh trưởng trong môi trường văn hóa của Ấn giáo, ít nhiều gì Đức Thích Ca cũng ảnh hưởng thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo. Đối diện với cuộc sống, chứng kiến thế nhân sinh, lão, bệnh, tử – nhìn thấy vạn vật thành, trụ, hoại, diệt; Đức Thích Ca suy ra mọi sự vật đều giới hạn, tương đối và phụ thuộc lẫn nhau theo công thức sau
đây:

1) Cái này có thì cái kia có (vì có hột lúa nên có cây lúa)
2) Cái này sinh thì cái kia sinh (vì cây lúa sinh ra hột lúa nên từ hột lúa lại sinh ra cây lúa khác)
3) Cái này không có thì cái kia không có (không có hột lúa thì không có cây lúa)
4) Cái này diệt thì cái kia diệt (hột lúa bị diệt thì cây lúa – sẽ sinh ra từ hột lúa ấy – cũng bị diệt)

Theo Tương Ứng Kinh bộ II thì 12 yếu tố Duyên Khởi trong triết Phật là:

1. Vô Minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh Sắc
5. Lục Nhập
6. Xúc
7. Thể
8. Ái
9. Thủ
10. Hữu
11. Sinh
12. Lão – Tử (Ưu, Bi, Khổ não)

Vô Minh sinh ra Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh Sắc sinh ra Lục Nhập, Lục Nhập sinh ra Xúc, Xúc sinh ra Thể, Thể sinh ra Ái, Ái sinh ra Thủ, Thủ sinh ra Hữu, Hữu sinh ra Sinh, Sinh sinh ra Lão, Tử, (Ưu, Bi, Khổ não).

Từ nhận định đó (dựa vào thuyết Nhân Duyên và Luân Hồi của Ấn giáo), Đức Thích Ca
lập ra thuyết Duyên Khởi, cho rằng mọi sự vật tương quan và luân chuyển trong
một vòng tròn của luật Duyên Khởi (duyên=sinh ra, khởi=bắt đầu).

B. Phân tích Ngũ Uẩn:

Khi suy tư về bản thể của con người, Đức Thích Ca nhận thấy con người là một tổng thể bao gồm các phần thấy được, đụng chạm được và các phần không thấy được, không đụng chạm được. Đức Thích Ca phân tích con người thành Ngũ Uẩn. Uẩn là một tập hợp, một nhóm. Ngũ Uẩn (năm tập hợp) đó là:

1) Sắc Uẩn: Tức Thân + Tâm (được cấu tạo bởi
Tứ Đại là đất +nước + gió + lửa), Sắc Uẩn bao gồm các Giác Quan (Căn)

2) Thể Uẩn: Tức là những Cảm Thể (cảm giác nhận được) do sự tiếp xúc
giữa 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

3) Tưởng Uẩn: Tức là những Tư Duy phát sinh từ những Cảm Thể, tạo ra các Khái Niệm

4) Hành Uẩn: Sự Lưu Chuyển của các Khái Niệm, biến Khái Niệm thành Hành Động.

5) Thức Uẩn: Sự Nhận Biết và Phân Biệt các Khái Niệm. Riêng Thức Uẩn chia làm 8 Thức khác nhau:

a) Nhãn Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mắt nhìn thấy vạn vật.

b) Nhĩ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do tai nghe từ vạn vật.

c) Tỷ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mũi ngữi được từ vạn vật.

d) Thiệt Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do lưỡi nếm lấy từ vạn vật.

e) Thân Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do thân thể tiếp xúc với vạn vật.

f) Ý Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm tổng hợp từ các khái niệm do 5 thức trên đem lại.

g) Mạt Na Thức (Manas Vijnãna) còn gọi là Ý Căn, là nơi phát sinh ra Ý Thức. Mạt Na Thức truyền các hệ quả (hạt giống – chủng tử) của những Khái Niệm đã biến thành hành động (pháp hiện hành) vào Tàng Thức và tống đưa các hệ quả đã nhuần thấm, chín mùi ra hiện hành, nên còn được gọi là Tống Truyền Thức. Mạt Na Thức khiến chúng sinh nhìn thấy một ảo giác về Ngã, là gốc của sự Chấp Ngã, là nguồn gốc của 4 phiền não
căn bản:

– Ngã Si (sự vô minh, u mê, ngu tối về bản ngã)
– Ngã Ái (sự yêu thương quyến luyến bản ngã)
– Ngã Kiến (sự nhìn thấy những sai lầm của bản ngã)
– Ngã Mạn (sự kiêu căng, ngạo mạn cho bản ngã là cao cả hơn hết)

Tương truyền Phật Thích Ca nói câu sau đây: “Thiên Thượng Địa Hạ Duy Ngã Độc Tôn”.
Nhiều người giải luận câu này cho rằng Phật Thích Ca có ý tuyên bố rằng: “Trên TrĐi Dưới Đất Chỉ Mình Ta (Phật Thích Ca) Đáng Tôn Quý”. Thật ra, nếu quả thật Phật Thích Ca có tuyên bố câu này, thì chỉ là nhằm kiên định cái thuyết Vô Ngã mà thôi. Ý của câu
đó có thể giải luận như sau: “Khắp vũ trụ (trên trời dưới đất) chỉ có cái NGÃ của chúng sinh là được chúng sinh tôn làm cao cả hơn hết (mặc dầu cái Ngã không có thực).

h) A Lại Da Thức (Alaya Vijnãna) còn gọi là Tàng Thức. Thức này bao gồm 3 chức năng:

– Năng Tàng: Chức năng chứa đựng, gìn giữ các chủng tử (hạt giống) của các pháp, tức chứa đựng nhữn  hệ quả của các hành động yhiện cũng như ác của chúng sinh.

– Sở Tàng: Chức năng ấp ủ, nhuần thấm những chủng tử được chứa trong Tàng Thức. Khi đã nhuần thấm, chín mùi thì các chủng tử này được Tống Truyền Thức tống đưa ra thành hành động.

– Ngã Ái Chấp Tàng: Chức năng duy trì một ảo giác về cái Ngã (Chấp Ngã), yêu thương cái Ngã, độc tôn cái Ngã, và đó chính là lực lượng qui tụ Tứ Đại để kết thành thân xác chúng sinh.

C. Suy luận Tánh Không:

Triết Phật không công nhận “Nguyên Nhân Đầu Tiên”. Triết Phật cho rằng duyên khởi là vì Vô Minh (u mê, ngu tối). Vì u mê, ngu tối cho nên chúng sinh mới tưởng các pháp (vạnvật) là có thật, tức Chấp Pháp. Vì Chấp Pháp (cho rằng vạn vật là có thật) nên chúng sinh tưởng rằng mỗi pháp đều có tự tính, dẫn đến Chấp Ngã (cho rằng mỗi con người có một bản ngã, còn gọi là “cái Tôi”, “cái Ta”, hoặc Linh Hồn.)

Ví như một lữ hành trong sa mạc nóng cháy, khao khát tìm được nước uống. Đến một
lúc nào đó, sự khao khát nước uống cho cơ thể thiếu nước khiến cho người đó bị ảo giác thấy một vũng nước hay một ốc đảo giữa sa mạc:

1. Vũng nước hay ốc đảo có hình ảnh hiện ra nhưng không có thật (sắc tức thị không: tưởng là có mà thật ra không có).

2. Vũng nước hay ốc đảo tuy không có thật nhưng vẫn có hình ảnh hiện ra (không tức thị sắc: dù là chẳng có thật nhưng vẫn hiện ra như có thật).

3. Sự khao khát nước uống, bóng mát làm cho người lữ hành nhìn thấy ảo ảnh của vũng nước hoặc ốc đảo mà tưởng là nó có thật (vô minh khiến chúng sinh tùy theo các ý niệm mà nhìn thấy những hình ảnh [Danh Sắc] của vạn vật [các Pháp] và tưởng các pháp là có thật, tức Chấp Pháp).

4. Cái mệt mõi, khát nước của thể xác khiến cho người lữ hành ý thức rằng: “Tôi mệt”, “Tôi khát”, “Tôi cần uống nước”, “Tôi cần nghĩ ngơi trong bóng mát” … nhưng bóng mát không có thật, nước uống không có thật nên không thoả mãn được nhu cầu, sinh ra Khổ.
(Vô minh khiến chúng sinh vì Chấp Ngã – tưởng mình là có thật, mà sinh ra
Chấp Pháp – tưởng các pháp là có thật. Ví như người lữ hành tưởng là thể xác mình có thật, cho rằng sa mạc có thật, mặt trời có thật, vũng nước có thật, ốc đảo có thật nên đau khổ vì cát nóng, nắng cháy, vì thân thể bị mất nước, vì thèm được uống nước nhưng vũng nước không có thật, vì thèm được núp bóng mát nhưng ốc đảo không có thật.)

D. Lập thuyết Vô Ngã:

Sự luận giải về thuyết Vô Ngã của triết Phật có thể tóm tắt như sau: Từ vô lượng kiếp, chúng sinh quay cuồng trong vòng luân hồi sinh tử, bởi vì trong một lúc nào đó, ở thời quá khứ vô cùng khởi (có thể đến hàng tỉ tỉ tỉ năm về trước!) vì u mê, ngu tối (Vô Minh) mà chúng sinh phát khởi các ý niệm hoặc thiện hoặc ác (Hành). Những ý niệm này hình thành các khái niệm (Thức). Các khái niệm tạo ra những hiện tượng tâm lý và vật lý tức là ảo ảnh về vạn vật (Danh Sắc). Ảo ảnh khiến sinh ra các giác quan và ý thức (Lục Nhập). Các giác quan và ý thức phát sinh ra sự đụng chạm và tiếp xúc (Xúc). Sự đụng chạm và tiếp xúc đem lại cảm giác và nhận định (Thể). Cảm giác và nhậnđịnh sinh ra sự ham muốn (Ái). Sự ham muốn tạo thành ý chí bám víu, giữ lấy (Thủ). Ý chí bám víu, giữ lấy kết tinh thành thực thể (Hữu). Thực thể trở thành sự sống (Sinh). Sự sống suy tàn rồi tiêu tan dẫn đến già cỗi và sự chết (Lão – Tử), cùng những lo, buồn, đau đớn. Chu trình này sẽ tái diễn đến vô lượng lần, mỗi lần là một kiếp, trong tương lai vô cùng tận.

Trong chu trình Duyên Khởi (12 yếu tố kể trên) mỗi yếu tố vừa là nhân của yếu tố này mà
là quả của yếu tố kia. Tùy theo những ý niệm phát sinh mà Tứ Đại (đất, nước, gió, lửa) kết thành thân xác của chúng sinh. Thân Tứ Đại sinh ra khi hội đủ Pháp hiện hành và
chết đi khi Pháp hiện hành đã hết, đó là một kiếp củachúng sinh. Tuy nhiên, trong một kiếp đó sự luân chuyển, thể hiện của các Pháp hiện hành đã tạo ra các nhân thiện hoặc ác khác (Chủng Tử) và được Tống Truyền Thức đem cất giữ vào Tàng Thức. Khi những
chủng tử này đã được thấm nhuần trong Tàng Thức thì Tống Truyền Thức phóng chúng ra thành các Pháp Hiện Hành mới, thu hút Tứ Đại, tạo ra một thân xác mới. Tiến trình này
được gọi là Nghiệp Lực. Nghiệp lực cứ khiến cho chúng sinh quay cuồng trong chu trình
bất tận của Duyên Khởi nghĩa là chúng sinh có thể trải qua vô lượng kiếp!

Trong 12 yếu tố của Duyên Khởi, nếu phá được Vô Minh thì diệt được Hành. Hành không
có thì diệt được Thức. Thức không có thì diệt được Danh Sắc. Danh Sắc không có thì diệt được Lục Nhập. Lục Nhập không có thì diệt được Xúc. Xúc không có thì diệt được Thể. Thể không có thì diệt được Ái. Ái không có thì diệt được Thủ. Thủ không có thì diệt
được Hữu. Hữu không có thì diệt được Sinh. Sinh không có thì diệt được Lão, Tử, Ưu, Bi, Khổ não.

Làm sao để phá được Vô Minh? Bằng cách quán triệt chân tướng của sự vật (các
pháp) chỉ là KHÔNG! Như vậy, muốn thoát khổ (được giải thoát) con người cần phải quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình. Khi quán triệt Chân Tướng của sự vật, của chính mình, thì sẽ Giác Ngộ, nghĩa là nhận ra vạn vật, trong đó có mình, chỉ là
ảo giác, không có thật. Có thể nói như sau: Những gì tôi nhận thấy chung quanh tôi hoặc về chính tôi chỉ là ảo giác. Tại tôi tưởng là chúng có thật cho nên có cái tôi yêu thích, có cái tôi ghét bỏ, có cái tôi khao khát, có cái tôi tìm cầu, có cái tôi muốn nắm giữ, có cái tôi muốn vứt bỏ… và khi không thoả mãn được ý mình thì tôi khổ. Cho đến lúc tôi nhận ra, vạn vật, trong đó có tôi, đều không có thật, đều Vô Ngã, thì tôi hết khổ, tôi nhập Niết bàn.




UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

UY QUYỀN CỦA NGƯỜI CHỒNG (Bài số 29)

(sưu tầm)

Trong Ê-phê-sô chương 5 Kinh thánh nói rằng người vợ phải phục dưới uy quyền của chồng mình trong mọi sự ( câu 24) cũng như Hội thánh phục dưới Đấng Christ.

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

THÍCH KINH HỌC. (Bài số 28)

(sưu tầm)

Luật Sự Sống. (Bài số 27)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Luật Sự Sống. (Bài số 27)

( sưu tầm)

Khởi đầu và Cuối Cùng. (Bài số 26)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CẤP LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Khởi đầu và Cuối Cùng. (Bài số 26)

( sưu tầm)

Khởi đầu Kinh Thánh , loài người phạm tội bị đuổi khỏi vườn Ê-đen( Sáng thế ký) , nhưng Cuối Cùng nhờ ân điển Chúa ,loài người được vào Vườn Thiên Đàng ( sách Khải huyền). Khởi đầu sách Xuất Hành là tình trạng nô lệ, Cuối cùng của sách là tự do và chuẩn bị vào Xứ hứa đượm sữa và mật. Khởi đầu Ru- tơ chương 1 là đói kém, Cuối cùng chương 1 là đầu mùa gặt lúa mạch. Khởi đầu cuộc đời bà Ru-tơ là chồng chết, góa bụa, tang tóc và nghèo khổ thiếu ăn. Cuối cùng của đời bà là lên xe hoa với đại gia Bô-ô , bà có danh phận,ấm no và hạnh phúc, có con cái hậu tự được lưu danh muôn thuở vì thuộc dòng dõi David, bởi bà kính sợ Đức Chúa Trời của mẹ chồng là Na-ô-mi. Khởi đầu chức vụ của Sau-lơ là tàn hại, bắt bớ Hội thánh, Cuối cùng của ông là chức vụ Sứ đồ xây dựng Hội thánh. Khởi đầu của Chúa Jesus là sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ , Cuối cùng Chúa Jesus ngồi bên hữu Cha trên Thiên đàng vinh hiển.
Tôi không biết anh chị em đang gặp hoạn nạn khó khăn dường nào, nhưng tất cả chúng ta đều có chung một khởi đầu : chúng ta trần truồng lọt khỏi lòng mẹ với hai bàn tay trắng ,chẳng mang gì đến thế gian này, khi nhắm mắt lìa đời chẳng mang gì đi được. Vậy hãy kính sợ Chúa và thỏa lòng vì đó là món lợi lớn. Hãy ghi nhớ rằng : Cuối cùng của chúng ta- giữ đức tin cho đến phút chót sẽ được vào Thiên đàng và sự cuối cùng hơn khởi đầu nó, lòng kiên nhẫn hơn lòng kiêu ngạo. Mọi hoạn nạn,bịnh tật ,khó khăn bắt bớ chỉ là tạm thời bởi trong vũ trụ này chẳng có gì tồn tại mãi mãi ngoại trừ Chúa. Vạn vật đều thay đổi theo thời gian, hoạn nạn của anh chị em cũng vậy : sẽ phải thay đổi, vì có Lời chép rằng :” Những sự thử thách( hoạn nạn )đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị thử thách quá sức mình đâu! Nhưng trong sự thử thách, Ngài sẽ mở đường cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được. ” ( 1 Cô-rinh-tô 10:13).
” Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi đầu làm việc lành trong anh em sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jesus Christ”.( Phi-lip 1:6).
Chúc vui vẻ bình an và hạnh phúc trong Chúa Jesus. Amen !




Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ (Bài số 25)

BÀI VIẾT TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ (Bài số 25)


Nhiều Cơ-Đốc-Nhân không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu. Đúng, họ đã được tái sinh; họ yêu mến Chúa; họ đang trên đường lên thiên đàng. Nhưng họ không có một giá trị thực hữu nào đối với Vương Quốc của Đức Chúa Trời trong lúc còn sống ở trần gian này. Vì không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu, họ hạn chế những gì Đức Chúa Trời có thể sử dụng họ cho Vương Quốc của Ngài. Họ phí phạm thì giờ và không thể thực thi Đại Mạng Lệnh Truyền Giáo của Chúa Giê-xu.

Nếu không biết mình là ai trong Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ để cho kẻ thù nghịch hành hạ mình bất cứ lúc nào nó muốn. Hội Thánh của Chúa có đầy những người như vậy. Họ gặp hết nan đề này đến nan đề khác, từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác suốt cuộc đời, sau khi đã tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Chúa và Đấng Cứu Chuộc mình. Thật là thê thảm! Thật là một sự sỉ nhục cho thập tự giá của Chúa Giê-xu khi những Cơ-Đốc-Nhân đắc thắng lại sống một đời sống thất bại!

Có một sự khác biệt giữa tái sinh và được sử dụng. Nhiều Cơ-Đốc-Nhân sống ở mức độ quá thấp so với khả năng thiên thượng của họ, vì họ không biết mình là ai và mình có thể làm được những gì trong Chúa Giê-xu.

Hệ phái và danh xưng không quan trọng, chỉ có hội thánh này (Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ) mới là quan trọng, tức là hội chúng gồm những người được cứu chuộc và được sử dụng (Thi Thiên 82:1-8).

Làm sao để làm thành viên của Hội Chúng của Những Người Mạnh Mẽ này?

1. Quản Trị Cảm Xúc Của Bạn. Bất luận cảm xúc của bạn như thế nào, hãy cam kết phục vụ Chúa với 110% sức sống của mình. Người hâm hẩm sẽ bị nhổ ra (Khải Huyền 3:16).
2. Quản Trị Những Yếu Đuối Của Bạn. Nhận rõ những yếu đuối của mình và kiểm soát chúng. Bắt chúng phải vâng phục—thí dụ như những ý tưởng và lối suy nghĩ sai lầm (2 Cor. 10:3-4). Đừng để mà quỷ có chỗ đứng nào trong tâm trí bạn; vì những chỗ đứng đó sẽ trở thành đồn lũy. Hãy bắt lấy những ý nghĩ nào không phù hợp với Lời Chúa, và bắt chúng phải phục dưới Đấng Christ.
3. Quản Trị Thì Giờ Của Bạn. Những điều thuộc về Chúa cũng đòi hỏi thì giờ; hãy đầu tư vào những công việc của Chúa khi vẫn còn có thì giờ (Giăng 9:4).
4. Quản Trị Những Chọn Lựa Của Bạn. Kẻ thù nghịch cũng như Đức Chúa Trời đều không thể tước đoạt quyền tự do chọn lựa của bạn. Hãy chọn sự sống (Phục Truyền 30:19).
5. Quản Trị Lòng Nhiệt Thành Của Bạn. Có nhiều điều đòi hỏi sự chú ý của chúng ta; chúng ta có thể chạy trên nhiều làn đường khác nhau. Chúng ta có thể trở thành quá bận rộn ngay cả với những việc tốt. Nhưng chúng ta cần biết và hoàn tất công tác mình được giao phó. Cứ chạy trên làn đường của mình. Châm Ngôn 25:28 cho biết rằng nếu không quản trị lòng nhiệt thành của mình và làm đúng theo những gì mình được kêu gọi để làm, thì đời sống chúng ta sẽ giống như một thành trì không có tường bảo vệ xung quanh. Khi đó ma quỷ có thể đưa chúng ta đến những chỗ mà chúng ta không thật sự muốn đến.
6. Quản Trị Môi Miệng Của Bạn. Châm Ngôn 18:21, “Sống và chết ở nơi quyền của lưỡi.” Điều bạn tin trong lòng sẽ được miệng bạn nói ra. Hãy kiểm soát môi miệng của mình, thì bạn có thể kiểm soát được cả người của mình (Gia-cơ 3). Hãy đặt Lời Chúa trong lòng, và suy nghĩ trước khi mở miệng nói.
7. Quản Trị Tấm Lòng Của Bạn. Hãy tập yêu thương người không dễ thương. Yêu thương người dễ thương thì đâu có gì khó; ngay cả người tội lỗi cũng làm được điều đó! Hãy nhìn thấy những điều tốt nhất ở người khác, thay vì những điều xấu nhất trong họ. Đừng chú trọng vào nan đề, nhưng chú trọng vào tiềm năng. Bày tỏ lòng thương xót, thay vì đoán xét; như vậy, bạn sẽ được Chúa bảo vệ. Sống theo Lời Chúa, thay vì theo ý kiến của công chúng. Đừng quá sợ phiền lòng người đến nỗi chính mình sẽ làm buồn lòng Chúa!




Điều gì xảy ra khi Chúa Jesus chịu phép báo tem nước ?(Bài số 24)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CHO LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Điều gì xảy ra khi Chúa Jesus chịu phép báo tem nước ?(Bài số 24)

(Anhue Doan sưu tầm)

Năm 12 tuổi, Chúa Jesus theo cha mẹ lên thành Jerusalem dự lễ vượt qua, cha mẹ Ngài bị lạc mất Ngài. “Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét chịu lụy cha mẹ “( Lu-ca 2:51). Ngài thuận phục uy quyền của cha mẹ ,nhưng năm 30 tuổi, Ngài rời khỏi uy quyền này để thuận phuc một uy quyền mới là uy quyền của Giăng Báp-tít để chịu phép báp-tem nước. Ngày nay có quá nhiều mục sư làm Tổng lãnh đạo một giáo phái, họ chẳng thuận phục ai cả và đó là lý do chức vụ họ chẳng có gì xảy ra. Trong ” Khi ấy ,Đức Chúa Jesus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh ,đặng chịu người làm phép báp-tem. Song Giăng từ chối mà rằng : Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-tem ,mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao ? Đức Chúa Jesus đáp rằng :Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài.” ( Ma-thi-ơ 3:13-15). Chúa Jesus đã thuận phuc cha mẹ 30 năm rồi mới đến thuận phục Giăng Báp-tít. Ngài khôn ngoan thông sáng , có năng quyền như A-đô-nai, Ê-lô-him, như Giê-hô-va ở trong Ngài nhưng Ngài biết rằng năng quyền sức mạnh không phải là Uy Quyền. Chữ “Authority “- Uy quyền -thẩm quyền trong tiếng Hy lạp nghĩa là ” thăng chức cho ai đó- ban cho họ có quyền – phòng thích họ thi hành quyền lực. Ở dưới uy quyền là ở dưới sự trật tự. Khi Chúa Jesus bảo Giăng rằng :” Chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình ” , chữ “công bình ” nghĩa là “ở vị trí đúng đắn với uy quyền “, Ngài hàm ý là Ngài có quyền năng nhưng Giăng có Uy quyền từ Đức Chúa Trời. Vậy nên Chúa Jesus thuận phục uy quyền của Giăng để Ngài có uy quyền của Đức Chúa Trời từ Giăng. Trong Ma-thi-ơ chương 21:23-27 ký thuật rằng khi Chúa Jesus vào đền thờ rao giảng, các trưởng lão vặn hỏi Ngài có uy quyền từ đâu và ai đã ban cho Ngài uy quyền. Chúa Jesus hỏi lại họ Giăng có thẩm quyền từ đâu ? “Phép báp-tem của Giăng bởi đâu? ” ( câu 25). Họ đớ lưỡi cứng họng, bàn với nhau :” Nếu chúng ta đáp rằng bởi trên trời thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy, Còn nếu đáp rằng bởi người ta thì chúng ta sợ thiên hạ vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri ” ( câu 25-27). Trước khi khởi đầu chức vụ , Chúa Jesus tìm Giăng Báp-tít để thuận phục uy quyền. Tại sao ? Bởi vì Uy quyền đại diện đầu tiên trong Tân ước là uy quyền Đức Chúa Trời giao cho Giăng Báp-tít. Vậy nên Chúa Jesus đã chịu thuận phục Giăng làm báp-tem nước trước khi Ngài ra đi thi hành chức vụ. Ngày nay có rất nhiều chức vụ bị chết non bởi vì người ta đã không theo nguyên tắc này của Chúa ” để có uy quyền thi hành chức vụ phải thuận phục uy quyền “. Khi Chúa Jesus thuận phục uy quyền của Giăng làm báp-tem nước thì có các điều sau đây xảy ra : ( Ma-thi-ơ 3 :16-17)
1/ Thứ nhất : Heaven opened – Thiên đàng mở ra – Trời mở ra. Ma-thi-ơ 3:16 ” Vừa khi chịu phép báp-tem rồi, Đức Chúa Jesus ra khỏi nước , bỗng chúc các từng trời mở ra “.
Trước đó , khi dân sự phạm tội thì ” Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng , và đất dưới chân ngươi sẽ như sắt. Thay vì mưa, Đưc Giê hô va sẽ khiến cát và bụi từ trời sa xuống trên đất ngươi cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt ” ( Phục truyền 28:23-24). Ai không thuận phục là nổi loạn, người đó sẽ bị thất bại trong chức vụ và mọi sự bị đóng lại. Nếu chúng ta muốn các từng trời mở ra trên đầu chúng ta hãy tìm người đại diện uy quyền của Đức Chúa Trời để thuận phục để có uy quyền và Trời mở ra.
2/ Thứ hai : Đức Thánh Linh lên tiếng, Kinh thánh chép ” Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng : Nầy là con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng ” ( câu 17).
Giữa Cựu và Tân Ước, giữa sách Ma-la-chi và Ma-thi-ơ là khoảng trống hơn 430 năm Đức Chúa Trời im lặng,đó là thời kỳ đen tối của lịch sử nhân loại bởi vì không có tiếng phán nào của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh ngày nay chỉ phán cho những ai thuận phục uy quyền. Còn những ai nổi loạn thì Đức Chúa Trời cũng phán với họ nhưng mà là phán xét. Trong câu 17 ” Này là Con yêu dấu của ta ,đẹp lòng ta mọi đàng” – không phải nói với Chúa Jesus mà nói với mọi người xung quanh Ngài để họ nhận biết Ngài là ai- Ngài là Con Trời. Một khi anh chị em thuận phục người đại diện uy quyền của Đức Chúa Trời thì Cha Thiên thượng sẽ lên tiếng làm cho thiên hạ nhận biết anh chị em là ai. Khi đó anh chị em không cần ai thăng chức hoặc tự đề bạt mình, chính Ngài sẽ phong chức cho anh chị em và làm cho dân sự Ngài nhận biết điều đó.
3/ Thứ ba : Đức Thánh Linh ngự trên Ngài đầy dẫy ( câu 16). Chúa Jesus thuận phục nên Đức Thánh Linh xức dầu cho Ngài .Chúa có nguyên tắc của Ngài:Sự xức dầu của Đức Thánh Linh chỉ đổ trên những ai thuận phục uy quyền.Sự thuận phục đến trước, sự xức dầu đến sau. Ai muốn đầy dẫy Thánh Linh thì trước hết phải đầy dẫy sự thuận phục, không có cách nào khác. Trong Phi-lip chương 2:1-11 và Hê-bơ-rơ 5:8 đã nói rõ sự thuận phục tuyệt đối của Chúa Jesus, vậy nên Ngài mới có đầy dẫy Thánh Linh và uy quyền Danh trên hết mọi danh dưới đất, bên dưới đất và cả trên trời.
Tóm lại , trong vũ trụ chỉ có hai điều vĩ đại : Một là Sự Cứu Rỗi và hai là Uy quyền. Mọi người trên thế gian ( đặc biệt là Cơ Đốc Nhân) cần phải có hai cảm nhận sâu sắc ở trong mình : Một là cảm nhận về Uy quyền để thuận phục và Hai là cảm nhận về tội lỗi để ăn năn. Ai không cảm nhận về uy quyền sẽ nổi loạn ( giống như Sa-tan) còn ai không cảm nhận về tội lỗi sẽ đắm chìm trong nó và đi vào hỏa ngục. Ngày nay, nhiều người trong Hội thánh đau khổ vì các lãnh đạo vô cảm không có hai cảm nhận trên. Họ không hề cảm thấy lương tâm cắn rứt bởi vì lương tâm họ bị sún răng. Cầu xin Cha thương xót họ ban cho họ mọc răng lần nữa để lương tâm cắn rứt hầu cho cho họ cảm nhận sâu sắc về tội lỗi và uy quyền để ăn năn thay đổi và phục hồi.
Nguyện Chúa ban sức và lòng thương xót cho chúng ta cầu thay cho các lãnh đạo Hội thánh. Riêng những người cố tình phạm tội thì hãy phó họ cho Chúa để chính Ngài phán xét chứ chúng ta đừng phán xét. Hãy im lặng và biết rằng Ngài là Chúa , và cẩn thận đặt họ trên trang bó tay chấm com !

 

Edit




Đức Chúa Trời Phán Qua Nhiều Phương Cách. (Bài số 23)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH:

Đức Chúa Trời Phán Qua Nhiều Phương Cách. (Bài số 23)

( sưu tầm)

Điều hết sức quan trọng là để hiểu và kinh nghiệm Đức Chúa Trời chính là biết rõ ràng khi nào Ngài đang phán. Nếu ai không biết khi nào Chúa đang phán thì người đó sẽ gặp rắc rối ngay trong nếp sống Cơ Đốc của mình. Chúng ta phải tập trung chú ý vào cách Đức Chúa Trời phán qua Đức Thánh Linh để bày tỏ chính Ngài,các mục đích và đường lối Ngài. Chúng ta sẽ xem xét những cách Đức Chúa Trời phán thông qua Kinh Thánh, cầu nguyện, qua hoàn cảnh ,qua Hội thánh hoặc qua chức vụ tiên tri.
Rất nhiều phương cách, ” Đời xưa , Đức Chúa Trời đã dùng các tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách ..” ( Hê bơ rơ 1:1). Một sự thật hiển nhiên trong cả Kinh thánh ấy là Đức Chúa Trời phán với dân sự Ngài. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã phán qua Các Thiên Sứ ( Sáng thế ký 16) , Các sự hiện thấy ( Sáng 15) , các giấc chiêm bao ( Sáng 28:10-19) , qua Urim và Thumim (Xuất 28:30) , qua tiếng thì thầm êm dịu ( 1 Các Vua 19:12)…. Phương cách Đức Chúa Trời đã phán trong Cựu Ước không phải là yếu tố quan trọng, mà điểm hết sức quan trọng ấy là : ” Ngài Đã Phán “. Những người nghe Ngài phán đã biết rằng đó chính là Đức Chúa Trời và họ biết chính xác Ngài đang phán điều gì.
Thứ nhất , khi Chúa phán thì điều đó là độc đáo, đặc biệt đối với cá nhân ấy. Chẳng hạn , Môi-se nghe Chúa phán tại bụi gai cháy không hề tàn, ông không thể nói :” Các tổ phụ tôi là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp đã có từng trải bụi gai cháy của họ, còn đây là từng trải của tôi.” Không có ai trên đời này có kinh nghiệm bụi gai cháy như Môi-se , nó là độc nhứt vô nhị, vì Đức Chúa Trời muốn từng trải của chúng ta với Ngài, và tiếng phán của Ngài phải là cá nhân cho mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta nhìn xem Ngài trong một mối quan hệ hơn là để làm sâu nhiệm một phương pháp hay một kỹ thuật nào đó. Nếu Môi-se còn sống đến bây giờ, có lẽ ông dễ bị cám dỗ để viết cuốn sách ” Kinh Nghiệm Bụi Gai Cháy ” , để rồi mọi người khắp đất đi tìm Bụi Gai Cháy của mình.Điều mấu chốt không phải là ” Phương Cách Chúa phán ” mà là sự kiện ” Ngài đã phán “. Điều đó vẫn còn y nguyên cho đến ngày nay bởi Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Ngài đã , đang và sẽ tiếp tục phán với dân sự của Ngài ngày nay.
Thứ nhì , khi Chúa phán cho ai, người ấy biết chắc chắn rằng Chúa đang nói với mình. Khi Chúa phán với Môi-se , ông biết mình đã gặp gỡ Chúa, ông tin cậy và vâng lời Chúa rồi kinh nghiệm được Đức Chúa Trời đáp ứng đúng y như Ngài phán. Liệu Môi-se có thể dùng lý luận chứng minh cho người khác biết mình đã nghe lời phán từ Đức Chúa Trời không? Không, tất cả những gì Môi-se có thể làm là làm chứng lại cuộc gặp gỡ của mình với Đức Chúa Trời. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể khiến dân sự biết những lời Ngài đã ban cho Môi-se chính là lời ra từ miệng Ngài.
Thứ ba, khi Ngài phán thì người nghe biết rõ ràng Ngài đang phán điều gì. Môi-se biết điều Chúa đang bảo ông làm. Ông biết cách Đức Chúa Trời hành động qua mình. Đó là lý do vì sao ông từ chối ” Chúa muốn sai ai đi thì sai…..tôi chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng” ( Xuất 4:10-17). Ông biết đích xác Chúa muốn ông phải làm điều gì. Điều này cũng đúng cho Nô-ê, Áp-ra-ham, Giô-sép, David , Đa-ni-ên và rất nhiều người khác nữa.
Thứ tư, khi Ngài phán thì đó chính là cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời. Môi-se sẽ dại dột nếu ông nghĩ rằng ” Ồ sau kinh nghiệm bụi gai cháy, mình sẽ được gặp gỡ Đức Chúa Trời “. Tại đó chính là cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời rồi. Khi Đức Chúa Trời phán, đó chính chính là cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời. Ngài phán với anh chị em bởi Đức Thánh Linh thông qua Kinh thánh, qua hoàn cảnh, lời cầu nguyện, hội thánh hoặc qua tiên tri và anh chị em sẽ biết Ngài đang phán điều gì. Khi Ngài phán với anh chị em thì đó chính là cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời.
Chúa Jesus phán ” Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó và nó theo ta” ( Giăng 10:27). Vậy mà ngày nay có rất nhiều người hầu việc Chúa lại phủ nhận, không tin rằng Chúa còn phán , thật đáng thương cho những kẻ bị điếc mà không biết mình điếc. Nếu họ biết họ điếc thì họ không có tội lỗi chi hết, nhưng nếu họ không biết họ điếc mà còn tự xưng mình hiểu biết thì tội lỗi họ còn lại. Bởi bất cứ ai không nghe tiếng phán của Chúa sẽ hầu việc Chúa theo xác thịt, dẫn đến sự hư nát, vì xác thịt luôn ưa muốn trái với Thánh Linh, Thánh Linh có nhiều điều ưa muốn trái với xác thịt, hai bên trái nhau dường ấy nên họ không làm được điều họ muốn làm.
Đức Chúa Trời phán ” Hãy lắng tai , nghe tiếng ta, hãy để ý nghe lời ta ” ( Ê-sai 28:23)
” Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê hô va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành… nầy là mọi phước lành sẽ giáng xuống trên mình ngươi …( Phục truyền 28:1-14).
Đức Chúa Jesus phán ” Chiên ta nghe tiếng ta” ( Giăng 10:27).
Đức Thánh Linh phán ” Ai có tai ,hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh ” ( Khải huyền 2:7/2:11/2:17/2:29/3:6/3:13/3:22) câu này lặp lại bảy lần.
Kinh Thánh nói :
” Vì Đức Chúa Trời phán một lần hoặc hai lần ; nhưng người ta không để ý đến. Ngài phán trong chiêm bao ,trong dị tượng ban đêm, lúc người ta ngủ mê, nằm ngủ trên giường mình. Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ. Hầu che chở loài người khỏi điều họ toan làm, và giấu họ tánh kiêu ngạo. Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, và mạng sống khỏi bị gươm giết” ( Gióp 33:14-18) .
Hãy tìm kiếm Chúa và lắng nghe tiếng Chúa!