Đừng Thỏa Mãn Dục Vọng của Xác Thịt (Bài số 19)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH NGƯỜI LẢNH ĐẠO THUỘC LINH

Đừng Thỏa Mãn Dục Vọng của Xác Thịt (Bài số 19)

(Anhue Thi Doan sưu tầm)

Các cuộc gặp gỡ với Chúa đòi hỏi phải có đức tin.(Bài số 14)

BÀI TĂNG TRƯỞNG TÂM LINH CHO CẤP LÃNH ĐẠO THUỘC LINH

Các cuộc gặp gỡ với Chúa đòi hỏi phải có đức tin.(Bài số 14)

(Anhue Thi Doan sưu tầm)

” Vả ,đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong,là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy”.( Hê-bơ -rơ 11:3). Ai theo Chúa cũng cần phải có đức tin nơi Đức Chúa Trời ” vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải mắt thấy” ( 2 Cor 5:7). Đức Chúa Jesus phán rằng :” Kẻ nào tin ta cũng sẽ làm việc ta làm, vì ta đi về cùng Cha ” ( Giăng 14:12). Ngài cũng khẳng định :” Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả ” ( Mác 9:23).

Đức tin là sự biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã hứa hoặc phán điều gì thì điều đó sẽ xảy ra. Những gì mắt thấy thì trái ngược với đức tin. Nếu thấy rõ ràng một điều nào đó đã được hoàn tất ra sao, thì rất có thể chẳng cần đến đức tin nữa. Đức tin là việc tin rằng Đức Chúa Trời gọi chúng ta vào công tác thì chính Ngài cũng là Đấng sẽ cung cấp để hoàn tất những công tác đó. Đức tin của chúng ta không đặt nơi một khái niệm hay một ý tưởng. Đức tin phải được đặt nơi MỘT THÂN VỊ- là chính Đức Chúa Trời. Nếu bạn hoặc ai đó xác định :” Điều mình nghĩ nếu xảy ra thì ắt là tốt lắm”, rồi hướng dẫn cho người ta “tin” hoặc có ” đức tin ” thì bạn đang gặp nguy hiểm. Đức tin chỉ có hiệu lực khi đặt nơi Đức Chúa Trời và những gì Ngài phán rằng Ngài đang dự định làm. Nếu điều bạn mong ước xảy ra lại xuất phát từ bạn chứ không xuất phát từ Đức Chúa Trời, thì bạn phải lệ thuộc vào những gì mình có thể làm được. Trước khi bạn kêu gọi chính mình, gia đình mình, hội thánh mình vận dụng đức tin để làm bất cứ việc gì, hãy bảo đảm chắc chắn rằng bạn đã nghe được lời phán từ chính Đức Chúa Trời.

Với đức tin chỉ cỡ bằng hạt cải ( rất nhỏ) nơi Đức Chúa Trời, không điều gì là không thể. Chúa Jesus nói các môn đồ Ngài sẽ làm những việc còn lớn hơn việc Ngài đã làm. Tuy nhiên , Ngài phán :” Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa “. ( Giăng 14:1). Đức tin của chúng ta phải đặt nơi Chúa và Lời Ngài phán chứ không đặt nơi con người hoặc nơi sự khôn ngoan của con người. Không có đức tin vững chắc nơi Chúa , bạn sẽ vấp té và ngã dài.

Khi Chúa bảo Môi-se đi giải cứu con cái dân Israel khỏi phu tù , vượt Biển Đỏ, cung cấp nước từ hòn đá, cung cấp bánh và thịt, thì ông phải tin rằng chính Chúa là Đấng đã kêu gọi ông ắt Ngài sẽ là Đấng làm thành điều đã phán. Tương tự cho Giô-suê, ông được Chúa bảo dẫn dân sự vượt sông Giô-đanh như đi trên đất khô, đi vòng quanh thành Giê-ri-cô bảy lần ,la lên cho nó đổ sập, triệt phá các thành trì kiên cố khác, đánh bại kẻ thù, hoặc khiến cho mặt trời đứng yên,chỉ có Đức Chúa Trời mới làm được mọi điều đó còn Giô-suê phải có đức tin nơi Đức Chúa Trời.

Trong Tân Ước , điều này cũng đúng cho các môn đồ, tự sức của họ ,họ không thể cho đoàn dân đông thức ăn , chữa bệnh, đuổi quỉ…chỉ có Chúa mới làm được mọi điều đó. Nhưng Đức Chúa Trời kêu gọi các tôi tớ Ngài hãy để Ngài làm các điều đó qua họ.
Khi Chúa cho bạn biết điều Ngài muốn làm qua bạn ,đó sẽ là việc chỉ duy Chúa mới làm được. Điều bạn tin về Ngài sẽ xác định việc bạn làm. Nếu bạn có đức tin nơi Chúa là Đấng kêu gọi bạn, bạn sẽ vâng lời Ngài, và Ngài sẽ làm thành điều Ngài định làm.Nếu thiếu đức tin, bạn sẽ không làm điều Ngài muốn.Khi Chúa kêu gọi một người làm điều gì, Ngài đòi hỏi người đó phải có đức tin và sự vâng lời chứ không đòi hỏi tài năng, tài sản hay năng lực của người đó. Sự vâng lời cho thấy đức tin của người đó nơi Đức Chúa Trời. Khi các môn đồ đáp ứng sự kêu gọi gọi đi ra giảng tin lành thì Chúa lấy các phép lạ cặp theo lời giảng làm cho vững đạo.

Tóm lại :
1/ Khi Chúa phán, đáp ứng của chúng ta đòi hỏi phải có đức tin.

2/ Đức tin phải được đặt duy nhất nơi một THÂN VỊ- chính mình Chúa chứ không đặt nơi tiền bạc ,con người hoặc bất cứ điều gì khác ngoài Chúa và Lời Chúa.

3/Đức tin là lòng tin quyết rằng Chúa đã hứa hoặc phán bất cứ điều gì thì Ngài chắc chắn sẽ làm thành.

4/Điều mắt thấy là trái ngược với có đức tin. Hễ Chúa kêu gọi chúng ta vào công tác thì Ngài cũng chính là Đấng sẽ cung cấp mọi thứ để hoàn tất những công tác đó.

5/ Trước khi kêu gọi chính mình, gia đình mình, hội thánh mình vận dụng đức tin, bạn phải phải biết chắc mình đã nghe tiếng phán từ Đức Chúa Trời.

6/ Khi Chúa cho biết điều Ngài muốn làm qua chúng ta, đó sẽ là việc chỉ duy một mình Ngài mới làm được .

7/ Điều bạn tin về Chúa sẽ xác định việc bạn làm.

Hỡi anh chị em yêu dấu của tôi ơi, anh chị em đã đang đặt đức tin nơi đâu ? Nơi mục sư lãnh đạo, con người, hội thánh, hoặc tài năng, tài sản tiền bạc chăng ? Hãy tự xem xét lại nơi mình đặt đức tin và cẩn trọng trong các mối quan hệ với người khác. Ngày nay có rất nhiều người ngã đổ niềm tin chỉ vì chứng kiến các mục sư giả ,thày giả tội lỗi suy đồi tham lam tiền bạc và quyền lực giáo hội. Thật đáng tiếc thay cho cả hai hạng người đó !
Đức Chúa Jesus phán :” Lòng các ngươi chớ hề bối rối, hãy tin nơi Đức Chúa Trời , cũng hãy tin ta nữa.. “( Giăng 14:1).
” Vả, không có đức tin thì chẳng hề có thể nào ở cho đẹp ý Ngài, vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” ( Hê-bơ -rơ 11:6).




Bài 1 Ðức Chúa Trời

Bài 1

Ðức Chúa Trời

 

1. Ðức Chúa Trời là ai?

Ðức Chúa Trời là Ðấng tạo thành trời đất, vạn vật, loài người và bảo tồn tất cả.

Chúng ta đã từng tôn xưng Ngài là Ðấng Tạo Hóa, là Thượng Ðế, là Ông Trời.

“Ôi! chỉ một mình Chúa là Ðức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa” (Nê-hê-mi 9:6).

 

2. Ðức Chúa Trời từ đâu mà có?

Ngài là Ðấng Tự Hữu và Hằng Hữu, vốn có từ trước vô cùng và còn cho đến đời đời vô tận. Ngài là Ðầu Tiên và Cuối Cùng, Ngài là Ðấng Ðời Ðời.

“Chúa là Ðức Chúa Trời, Ðấng Hiện Có, Ðã Có, Và Còn Ðến, là Ðấng Toàn năng, phán rằng: Ta là An-pha và Ô-mê-ga” (Khải huyền 1:8).

 

3. Ðức Chúa Trời ở đâu?

Cùng một lúc, Ngài ở khắp mọi nơi trong vũ trụ. Ngài là Ðấng Toàn Tại.

“Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, Ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó. Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, Bay qua ở tại cuối cùng biển, Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm-giữ tôi” (Thi Thiên 139:8-10).

 

4. Người ta có thể thấy Ðức Chúa Trời không?

Chúng ta có con mắt của thân thể và con mắt tâm linh, cũng gọi là con mắt của lòng. Con mắt của thân thể để thấy những sự vật hữu hình, con mắt của  tâm linh để thấy những sự vật vô hình, Ðức Chúa Trời thực hữu trong cõi tâm  linh nên con mắt của tâm linh, của lòng mới thấy được Ngài, mới nhận biết sự hiện diện vinh quang của Ngài.

“Cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Ðấng Christ, là ảnh tượng của Ðức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 4:4).

Vì Ðức Chúa Trời, – là Ðấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! – đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Ðức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Ðức Chúa Jêsus Christ.” (2 Cô-rinh-tô 4:6)

Ðời xưa để mặc khải cho loài người, Ðức Chúa Trời đã hiện ra trong chiêm  bao, bằng dị tượng hoặc thiên sứ, song không ai thấy được chính mình Ngài. Vì vậy, Ngôi Hai trong Ba Ngôi Ðức Chúa Trời đã mượn hình thể con người mà giáng thế, nên trong thời đó có người đã thấy, đã nghe, đã rõ được Ðức Chúa Trời.

“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14).

 

5. Ðức Chúa Trời có mấy ngôi?

Ðức Chúa Trời có ba ngôi: Cha, ConThánh Linh. Không phải có ba Ðức Chúa Trời, song Ba Ngôi bình đẳng, hiệp nhất hoàn toàn. Xin lưu ý:

a.  Từ ngữ “chúng ta” trong các câu:

“Ðức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất” (Sáng Thế Ký 1:26).

“Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay khiến cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng” (Sáng Thế Ký 3:22).

b.  Có ba lần chúc phước:

“Cầu xin Ðức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Ðức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Ðức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi” (Dân số Ký 6:24)!

c.  Có ba lần tôn vinh “Thánh Thay”:

“Các sê-ra-phin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Ðức Giê-hô-va vạn-quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!” (Ê-sai 6:3)

d.  Có Ba Ngôi hiện diện:

“Vừa khi chịu phép báp-tem rồi, Ðức Chúa Jêsus ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Ðức Chúa Trời ngự xuống như chim bò câu, đậu trên Ngài. Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng” (Ma-thi-ơ 3:16).

e.  Có Ba Ngôi cộng tác:

“Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ” (Ma-thi-ơ 28:19),

f.  Có Ba Ngôi ban phước:

“Nguyền xin ơn của Ðức Chúa Jêsus Christ, sự yêu thương của Ðức Chúa Trời, và sự giao thông của Ðức Chúa Trời ở với anh em hết thảy!” (2 Cô-rinh-tô 13:14)

 

6. Ðức Chúa Trời là Ðấng thế nào?

Ngài là Ðấng vô cùng kỳ diệu, vượt hẳn trí tuệ loài người:

a.   Ðấng Thần Linh

“Ðức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy” (Giăng 4:24).

b.  Ðấng Tự Hữu và Hằng Hữu

“Ðức Chúa Trời phán rằng: Ta là Ðấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ -ra-ên như vầy: Ðấng Tự hữu đã sai ta đến cùng các ngươi” (Xuất Ê-díp-tô 3:14).

c.  Ðấng Toàn Năng

“Bởi vì không việc chi Ðức Chúa Trời chẳng làm được” (Lu-ca 1:37).

d.  Ðấng Toàn Tri

“Vì nếu lòng mình cáo trách mình, thì Ðức Chúa Trời lại lớn hơn lòng mình nữa, và biết cả mọi sự” (1 Giăng 3:20).

e.  Ðấng Toàn Tại

“Ðức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng? Ðức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?” (Giê-rê-mi 23:24)

“Hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi. Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi. Chúa xét nét nẻo-đàng và sự nằm-ngủ tôi, Quen biết các đường-lối tôi. Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, Kìa, hỡi Ðức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi. Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, Ðặt tay Chúa trên mình tôi…. Sự tri thức dường ấy, thật diệu kỳ quá cho tôi, Cao đến đổi tôi không với kịp!” (Thi-thiên 139:1-6).

“Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa? Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, Ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó. Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, Bay qua ở tại cuối cùng biển, Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm-giữ tôi. Nếu tôi nói: Sự tối tăm chắc sẽ che khuất tôi, Ánh sáng chung quanh tôi trở nên đêm tối, Thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, Ban đêm soi sáng như ban ngày, Và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa” (Thi Thiên 139:7-12).

f.  Ðấng Bất Biến

“Ðức Chúa Giê-xu Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi” (Hê-bơ-rơ 12:13).

g.  Ðấng Nhân Ái

“Ai chẳng yêu, thì không biết Ðức Chúa Trời; vì Ðức Chúa Trời là sự yêu thương. Lòng Ðức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Ðức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống” (1 Giăng 4:8-9).

h.  Ðấng Thành Tín

“Ðấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:24).

i.  Ðấng Chí Thánh

“Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (1 Phi-e-rơ 1:16).

j.  Ðấng Chí Tôn

“Vua các dân đều nhóm nhau lại Ðặng làm dân Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham; Vì các khiên của đất đều thuộc về Ðức Chúa Trời; Ngài được tôn chí cao” (Thi Thiên 47:9).

k.  Ðấng Chí Công

“Công việc của Hòn Ðá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Ấy là Ðức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực” (Phục Truyền luật lệ ký 32:4).

l.  Ðấng Chí Ðại

“Vì Giê-hô-va rất lớn, đáng được ngợi khen lắm lắm; Ngài đáng kính sợ hơn hết các thần” (Thi Thiên 96:4).

 

7. Nhờ đâu biết được Ðức Chúa Trời như vậy?

Nhờ ba nguồn: Lương tâm, vũ trụ và Kinh Thánh

a.  Lương tâm

Nhờ có lương tâm là một bản năng thiên phú mà con người không cần ai dạy, tự nhận biết Ðức Chúa Trời.

“Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình” (Rô-ma 2:15).

b.  Vũ trụ

“Bởi công việc, người ta biết tài ông thợ.” Cả vũ trụ vô hạn, tuyệt diệu, trật tự chứng minh phải do một Ðấng Vĩnh Hằng, Toàn Tri, Toàn Năng, Toàn Tại dựng nên nó. Ðấng đó chính là Ðức Chúa Trời.

“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, Bầu trời giải-tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Thiên 19:1).

c.  Kinh Thánh

Kinh Thánh nói cho chúng ta biết về Ðức Chúa Trời.

“Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (2 Ti-mô-thê 3:16).

 

8. Chúng ta phải có thái độ nào đối với Ðức Chúa Trời?

Chúng ta phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Ðức Chúa Trời, chỉ thờ và phục vụ một mình Ngài mà thôi (Mác 12:30)

“Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng nó rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

 

Câu gốc của bài học :

“Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi.” (Mác 12: 30)

“Ngươi phải thờ phượng Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi.” (Ma-thi-ơ 4:10b)




Bài 2 Kinh Thánh

Bài 2

Kinh Thánh

 

1. Kinh Thánh là gì?

Kinh Thánh là một bộ sách gồm 66 quyển, chia ra làm hai phần Cựu Ước và Tân Ước, được khoảng 40 người viết ra bởi sự linh cảm của Ðức Chúa Trời, nên Kinh Thánh được gọi là Lời Ðức Chúa Trời.

“Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (2 Ti-mô-thê 3:16).

 

2. Nội dung của Cựu Ước là gì?

Cựu Ước có 39 quyển chép về sự dựng nên trời đất, muôn vật, sự sa ngã của loài người, và sự chuẩn bị của Ðức Chúa Trời qua dân Y-sơ-ra-ên để Ðấng Cứu Thế đến trần gian thực hiện chương trình cứu rỗi loài người.

 

3. Nội dung của Tân Ước là gì?

Tân Ước có 27 quyển, ghi lại sự giáng sinh, lời giảng dạy, các phép lạ, sự chết, sự sống lại, về trời của Chúa Jêsus và về lịch sử Hội thánh đầu tiên, công cuộc truyền giảng Tin Lành của Hội thánh ấy cùng các giáo lý căn bản.

 

4. Kinh Thánh được chép vào thời gian nào?

Cựu Ước được chép từ khoảng 1500 T. C. – 400 T. C. và Tân Ước được chép từ khoảng 50 S. C. – 100 S. C.

 

5. Ðặc điểm của Kinh Thánh là gì?

Ðặc điểm của Kinh Thánh là:

a.  Kinh Thánh là Lời Sống.

Vì Ðức Chúa Trời là Ðấng Sống, truyền đạt sự sống.

“Vì lời của Ðức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12).

b.  Kinh Thánh là một quyển sách lời hứa của Ðức Chúa Trời.

Trong đó có vô số lời hứa quí báu và lớn lao cho mỗi người như một kho  tàng vĩ đại mà ai nấy phải dụng công khai thác.

c.  Kinh Thánh

Quí hơn vàng ròng:

“Nhơn đó tôi yêu mến điều răn Chúa Hơn vàng, thậm chí hơn vàng ròng” (Thi Thiên 119:127).

Ngọt hơn mật:

“Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi” (Thi Thiên 119:103)!

Bổ như sữa:

“Hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn” (1 Phi-e-rơ 2:2).

Soi sáng như ngọn đèn cho kẻ đi đường:

“Lời Chúa là ngọn đèn cho chơn tôi, Ánh sáng cho đường-lối tôi” (Thi Thiên 119:105).

d.  Kinh Thánh chép: các đức tính siêu phàm và các công trình tuyệt diệu của  Chúa Jêsus.

 

6. Ðiều gì chứng minh Kinh Thánh là Lời của Ðức Chúa Trời?

Kinh Thánh là Lời của Ðức Chúa Trời vì:

a. Sự hiệp nhất hoàn toàn của Kinh Thánh

Kinh Thánh được viết bởi 40 người có cá tính, nghề nghiệp, văn hóa, phong tục khác nhau, sống tại nhiều địa điểm khác của ba châu Á, Phi, Âu, trong thời gian trên 1500 năm. Nhưng khi nghiên cứu 66 sách của Kinh Thánh chúng ta thấy chỉ đề cập đến một nhân vật là Chúa Jêsus, một đề tài là sự cứu rỗi của Ðức Chúa Trời và nội dung liên kết chặc chẽ với nhau. Ðiều đó chứng minh Ðức Chúa Trời là tác giả duy nhất của Kinh Thánh. Ngài đã linh cảm cho gần 40 môn đệ của Ngài viết ra Lời của Ngài.

b.  Sự đầy đủ vô song của Kinh Thánh

Kinh Thánh luận đến mọi vấn đề thiết yếu trong địa hạt suy tưởng của nhân loại một cách rõ ràng chơn thật và đầy đủ thẩm quyền:

1.        Sự sáng tạo

2.        Những luật vàng cho đời sống

3.        Phương pháp cứu rỗi con người

4.        Các biến cố của thế giới tương lai

c.  Tính cách hợp thời bất biến của Kinh Thánh

Dầu đã được viết trước đây mấy ngàn năm, Kinh Thánh luôn luôn đáp ứng thích đáng mọi nhu cầu tâm linh của mọi người. Mọi người thuộc mọi lứa tuổi  thuộc mọi thời đại, thuộc mọi trình độ văn hóa đều hiểu được Kinh Thánh và yêu  thích Kinh Thánh. Kinh Thánh được dịch ra trên 2000 thứ tiếng và luôn luôn được xuất bản  nhiều hơn hết các loại sách trên thế giới vì càng ngày Kinh Thánh càng sống  động, đầy uy quyền trong đời sống con người. Kinh Thánh không bao giờ cũ hoặc  lỗi thời.

d.  Sự chân xác tuyệt đối của Kinh Thánh

Mọi vấn đề Kinh Thánh đưa ra, mọi biến cố Kinh Thánh ghi lại…đều chính xác hoàn toàn, chưa hề có ai thấy một điểm sai của Kinh Thánh. Sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ, sự sụp đổ của Giê-ri-cô, thành Ni-ni-ve của thời đại Giô- na…đều được khảo cổ học minh chứng là chân xác.

e.  Sự ứng nghiệm trọn vẹn các lời tiên tri trong Kinh Thánh

Kinh Thánh có hàng ngàn lời tiên tri. Mỗi lời tiên tri được công bố chi  tiết, rõ ràng trước việc xảy ra vài năm đến cả ngàn năm và hơn nữa. Nhưng các  lời tiên tri của Kinh Thánh đều ứng nghiệm hoàn toàn. Dân Do Thái bị tan lạc khắp thế gian từ năm 70 S.C. và được trở về tổ quốc năm 1948 (Phục Truyền luật lệ ký 20:49-68, Lu-ca 21:20-24). Kỳ diệu nhất là các lời tiên tri về Ðấng Cứu Thế:

1.        Mi-chê 5:2 và Lu-ca 2:4-7

2.        Xa-cha-ri 11:13 và Mác 14:10-11

3.        Thi Thiên 22:1,16-18 và Ma-thi-ơ 27:35,46

f.  Sự trường tồn lạ lùng của Kinh Thánh

Hằng bao thế kỷ qua, một số ít người vẫn không thôi ghét bỏ Kinh Thánh và tìm mọi cách để tiêu diệt, nhưng Kinh Thánh vẫn trường tồn và phổ biến ngày  càng rộng rãi hơn. Ðức Chúa Trời luôn luôn bảo vệ Lời của Ngài.

g.  Quyền năng cải tạo lòng người của Kinh Thánh

Hàng tỉ người trên thế giới đã được quyền năng của Kinh Thánh biến cải. Khi ánh sáng Tin Lành rọi dđn các bộ tộc man dã, họ được biến cải ngay, bỏ tập  tục ăn thịt người, bỏ mê tín và tội lỗi. Người nào tin Kinh Thánh thì quyền  năng của Chúa thay đổi đời họ hoàn toàn, kẻ sát nhân, trộm cướp đều trở nên  người mới. Họ sẵn sàng ra đi nói cho bạn hữu về tình yêu của Chúa đã cứu mình. Kinh Thánh đúng là Lời của Ðức Chúa Trời.

Cảm tạ Chúa.

 

Câu gốc của bài học:

“Cả Kinh Thánh đều là bởi Ðức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ  trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (2 Ti-mô-thê 3:16).




Bài 3 Sự Sáng Tạo

Bài 3

Sự Sáng Tạo

 

1. Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật bằng cách nào?

Ðức Chúa Trời đã dùng Lời của Ngài mà dựng nên trời đất và muôn vật.

“Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng Thế Ký 1:1).

“Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Ðức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến” (Hê-bơ-rơ 11:3).

 

2. Trong muôn vật mà Ðức Chúa Trời đã dựng nên loài nào quí hơn cả?

Loài người. Vì:

a. Chỉ có loài người được Chúa lấy đất nắn nên rồi hà sinh khí vào lỗ mũi  mà trở thành một loài sanh linh: “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

b.  Chỉ có loài người được Ðức Chúa Trời dựng nên giống như hình Ngài và tượng Ngài, là giống như bản tánh thánh khiết và công nghĩa của Ngài.

“Ðức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất” (Sáng Thế Ký 1:26).

“Và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Ðức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật” (Ê-phê-sô 4:24).

c.  Chỉ loài người được quyền quản trị muôn loài mà Ðức Chúa Trời đã dựng nên.

“Ðức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất” (Sáng Thế Ký 1:28).

d.  Chỉ có loài người được thông công với Ðức Chúa Trời và tôn thờ Ngài.

“Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va” (Sáng Thế Ký 4:26).

e.  Chỉ có loài người có linh hồn vô giá và bất diệt.

“Và bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Ðức Chúa Trời, là Ðấng đã ban nó” (Truyền Ðạo 12:7).

 

3. Tổ tiên loài người là ai?

Tổ tiên loài người là A-đam và Ê-va.

“Vì A-đam được dựng nên trước nhứt, rồi mới tới Ê-va” (1 Ti-mô-thê 2:13).

 

4. Ðức Chúa Trời đã dựng nên loài người giống như Ngài trong sự thánh khiết và công nghĩa, thì tại sao loài người đã phạm tội?

Bản tánh đạo đức đã được phú bẩm, cần phải thực nghiệm mới có giá trị, nên Ðức Chúa Trời đã thử lòng đạo đức của A-đam và Ê-va mà cho phép họ ăn  mọi thứ trái cây trong với, trừ ra tái của cây biết điều thiện và đieu ác,  Song ông bà đã không vâng lời Ðức Chúa Trời.

 

5. Tại sao A-đam Ê-va không vâng lời?

Vì ông bà bị ma quỉ lừa dối mà chiều theo tư dục.

“Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra” (1 Giăng 2:16).

 

6. Hậu quả của tội lỗi là gì?

a.  Mắt ông bà mở ra, nghĩa là cảm xúc về tội lỗi, biết mình lõa lồ. Họ lấy lá và đóng khố che thân.

“Ðoạn, mắt hai người đều mỡ ra, biết rằng mình lỏa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân” (Sáng Thế Ký 3:7).

b.  Ông bà sợ hãi khi phải gặp Ðức Chúa Trời.

“Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A -đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 3:8).

c.  Ông bà bị Chúa phạt: Ông phải làm lụng vất vả, bà phải sanh đẻ đau đớn.

“Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi. Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. Ðất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Sáng Thế Ký 3:16-19).

d.  Ðức Chúa Trời đuổi ông bà ra khỏi vườn Ê-đen và không cho vào đó nữa.

Sáng Thế Ký 3:23-24 Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen đặng cày cấy đất, là nơi có người ra. Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.

e.  Tội lỗi mang đến sự chết: Chết tâm linh, chết thân xác và chết đời đời.

“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).

 

7. Từ đó, bản chất của A-đam và Ê-va thế nào?

Tính thánh khiết và công nghĩa đã bị nhiễm độc, tội lỗi đã làm cho ông bà bại hoại cả xác lẫn hồn và lưu hạ con cháu muôn đời đều như vậy.

“Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi Thiên 51:5).

“Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội…” (Rô-ma 5:12).

 

Câu gốc của bài học:

“Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Ðức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến” (Hê-bơ-rơ 11:3).




Bài 4 Chúa Jêsus và Sự Cứu Chuộc

Bài 4

Chúa Jêsus và Sự Cứu Chuộc

 

1. Từ khi sa ngã, loài người có tu tâm dưởng tánh để trở nên tốt như trước không?

Không! Trái lại, mỗi ngày một bại hoại hư xấu hơn.

“Ðức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn” (Sáng Thế Ký 6:5);

 

2. Vậy, Ðức Chúa Trời đã làm gì cho loài người?

Ngay sau khi loài người sa ngã, Ðức Chúa Trời đã hứa sẽ ban một Ðấng Cứu Thế giày đạp (nguyên ngữ là chà nát) đầu con rắn là ma quỉ và cứu người  tin Ngài.

“Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng Thế Ký 3:15).

 

3. Ðấng Cứu Thế đó là ai?

Là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Ðức Chúa Trời và khi hóa thân làm người Ngài mang danh là Chúa Giê-xu Christ: Giê-xu là Chúa Cứu Thế, Christ là Vua.

“Ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa” (Lu-ca 2:11).

 

4. Ðức Chúa Trời đã ban Ðấng Cứu Thế Giê-xu bằng cách nào?

Theo kế hoạch của Ðức Chúa Trời, Ðấng Cứu Thế đã hóa thân làm người, sanh ra bởi một nữ đồng trinh tại Bết-lê-hem, thuộc Do Thái. Ðó là công trình  siêu việt do Ðức Thánh Linh thực hiện. sự giáng sinh của Chúa Giê-xu đã  chia đôi dòng lịch sử và mở đầu cho kỷ nguyên hiện nay: Trước Chúa Giáng  Sinh và Sau Chúa Giáng Sinh.

“Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên” (Ê-sai 7:14).

 

5. Tại sao Ðấng Cứu Thế phải hóa thân làm người?

Ngài hóa thân làm người để chết thay nhân loại và làm giá chuộc tội cho mọi người.

“Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người.” (Ma-thi-ơ 20:28)

 

6. Ðấng Cứu Thế mang lấy thân người có giống chúng ta không?

Có những điểm giống nhau và những điểm không giống nhau:

a.  Ngài giống chúng ta vì cũng mệt mỏi, đói khát, cảm động, xót thương, vui mừng, đau đớn, buồn bực, khóc và chết.

“Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15).

b.  Ngài không giống chúng ta vì Ngài hoàn toàn vô tội, công bình tuyệt đối, yêu thương đời đời và đắc thắng sự chết.

“Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, được cất lên cao hơn các từng trời” (Hê-bơ-rơ 7:26):

 

7. Ðấng Cứu Thế Giê-xu đã sống tại trần gian bao lâu và đã làm gì?

Ngài sống tại trần gian 33 năm. Ba năm sau cùng, Ngài giảng dạy khắp các thành phố, làng mạc trong nước Do Thái, kêu gọi mọi người ăn năn, tin nhận  Ðấng Cứu Thế. Ngài chữa lành mọi thứ bệnh hoạn, tật nguyền, quỉ ám, kêu kẻ  chết sống lại để minh chứng Ngài là Ðấng Cứu Thế. Ngài cũng chọn 12 sứ đồ,  huấn luyện họ nên chứng nhân của Ngài.

“Ðức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Ðức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.” (Ma-thi-ơ 9:35)

 

8. Ðấng Cứu Thế bị đóng đinh trên thập tự giá có phải là một sự thất bại vì yếu đuối không?

Không! Trái lại là một sự đắc thắng, thành công mỹ mãn:

a.  Ðấng Cứu Thế chịu chết là thực hiện kế hoạch của Ðức Chúa Trời để cứu chuộc loài người.

“Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Ðức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta” (1 Giăng 4:10).

b.  Chúa Giê-xu đã nhiều lần báo trước rằng Ngài sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá và sẽ sống lại.

“Từ đó, Ðức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.” (Ma-thi-ơ 16:21)

c.  Chúa Giê-xu đã bảo rằng mục đích Ngài đến trần gian là để chịu chết chuộc tội cho mọi người.

“Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người.” (Ma-thi-ơ 20:28)

d.  Trên thập tự giá Ðấng Cứu Thế Giê-xu đã long trọng tuyên bố: “Mọi sự đã trọn.”

“Khi Ðức Chúa Jêsus chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30).

Sự cứu rỗi đã hoàn tất, không còn gì thêm bớt được nữa.

“Còn như Ðấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Ðức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 10:12).

e.  Kinh Thánh chép rằng: Chúa Giê-xu đã tình nguyện chịu chết là để làm  của lễ chuộc tội loài người như chiên con đã được dâng lên trong đền thờ  thời Cựu Ước.

“Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).

Trong vũ trụ không có nơi nào chứng minh một cách mạnh mẽ về quyền năng, khôn ngoan, nhân từ của Ðức Chúa Trời đối với loài người bằng tại thập tự  giá.

“Nhưng Ðức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Ðấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

 

9. Ðấng Cứu Thế có sống lại như Ngài đã tiên báo không?

Có!

a.  Sau khi Ðấng Cứu Thế tắt hơi, người ta đem thi hài Ngài xuống khỏi thập tự giá, khăm liệm bằng một tấm vải mới, rồi đặt trong một huyệt đá và lăn  một hòn đá lớn chận cửa huyệt lại. Nhưng ngày thứ ba, Ðức Chúa Trời sai  thiên sứ đến lăn hòn đá đi và Ngài khiến Chúa Giê-xu sống lại cách vinh  hiển như Kinh Thánh Cựu Ước đã tiên tri hằng ngàn năm trước.

“Ðức Chúa Jêsus nầy, Ðức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó” (Công vụ 2:32).

b.  Ðấng Cứu Thế đã hiện ra với các môn đồ và ở với họ trong 40 ngày.

“Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Ðức Chúa Trời” (Công vụ 1:3).

c.  Sau đó, trước các môn đồ, Ngài về trời.

“Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các ngươi đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa” (Công vụ 1:9).

d.  Các môn đồ được biến cải lạ lùng và cứ giảng luôn về sự sống lại của  Ðấng Cứu Thế.

“Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Ðức Chúa Jêsus sống lại, là Ðấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi” (Công vụ 5:30).

e.  Ê-tiên, vị thánh tử đạo đầu tiên đã thấy Chúa ở thiên đàng vinh hiển.

“Nhưng người, được đầy dẫy Ðức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, và Ðức Chúa Jêsus đứng bên hữu Ðức Chúa Trời” (Công vụ 7:55);

f.  Chúa Phục Sinh đã hiện ra với Sau-lơ trên đường Ða-mách.

“Người thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán rằng: Ta là Jêsus mà ngươi bắt bớ” (Công vụ 9:5);

g.  Chúa Phục Sinh đã hiện ra cùng sứ đồ Giăng:

“Vừa thấy người, tôi ngã xuống chơn người như chết; nhưng người đặt tay hữu lên trên tôi, mà rằng: Ðừng sợ chi, ta là Ðấng trước hết và là Ðấng sau cùng” (Khải huyền 1:17),

h.  Ngôi mộ trống – Suốt hai mươi thế kỷ, Cơ-đốc Nhân lấy làm hãnh diện về ngôi mộ trống của Cứu Chúa mình.

“Ðoạn, họ vào nơi mộ, thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc áo dài trắng, thì thất kinh. Song người nói cùng họ rằng: Ðừng sợ chi, các ngươi tìm Ðức Chúa Jêsus Na-xa-rét, là Ðấng đã chịu đóng đinh; Ngài sống lại rồi, chẳng còn ở đây; hãy xem nơi đã táng xác Ngài” (Mác 16:5-6).

i.  Hội thánh đầu tiên bắt đầu thờ phượng Chúa vào ngày đầu tuần lễ (Chúa Nhật), thay vì ngày Sa-bát (thứ bảy), để kỷ niệm Chúa sống lại.

“Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nữa đêm” (Công vụ 20:7),

 

10. Một người biết mình có tội, muốn được tha thứ để linh hồn được cứu rỗi, thì phải làm chi?

Người đó phải làm 2 điều:

a.  Ăn năn

Ăn năn không những là biết mình có tội mà còn đau buồn, xấu hổ, ghê tởm tội, xưng ra, lìa bỏ nó và quay về Ðức Chúa Trời.

“Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi” (Công vụ 3:19),

b.  Tin nhận Ðấng Cứu Thế

Tin nhận Chúa Giê-xu là Ðấng Cứu Thế và thờ phượng Ngài trọn đời.

“Ðức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu.” (1 Ti-mô-thê 1:15)

 

11. Khi một người đã ăn năn, tin nhận Ðấng Cứu Thế, thì Ðức Chúa Trời sẽ làm gì cho người?

a.  Ðức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi của người, không còn nhớ, không còn thấy, đến nỗi xem như chưa từng phạm tội.

“Ðấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch thầy tế lễ của Ðức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh tội lỗi chúng tôi, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men” (Khải huyền 1:6).

b.  Ðức Chúa Trời tái sanh người để người trở nên con cái Ngài. Ðức Chúa Trời làm chết bản chất tội lỗi của người và ban cho người bản chất mới.

“Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Ðức Chúa Trời” (Giăng 3:5).

“Vậy, nếu ai ở trong Ðấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (2 Cô-rinh-tô 5:17).

c.  Ðức Chúa Trời ban Thánh Linh ngự vào lòng để làm cho người nên thánh.

“Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Ðức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Ðấng mà anh em đã nhận bởi Ðức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao” (1 Cô-rinh-tô 6:19)?

 

12 Tại sao một mình Ðấng Cứu Thế có thể chết thay cho tất cả loài người?

Dầu loài người có đông đúc đến đâu vẫn còn là hữu hạn. Nhưng Ðấng Cứu Thế là vô hạn, vì vậy, sự chết chuộc tội của Ngài có giá trị vô hạn, cứu chuộc  được tất cả mọi người, trong mọi thời đại.

 

13. Ðấng Cứu Thế chịu chết chuộc tội gần 2000 năm qua, còn loài người sống trước đó, thì làm sao được cứu?

a.  Loài người sống trước ngày Ðấng Cứu Thế chịu chết, nếu họ bởi đức tin đến Ðấng Cứu Thế mà dâng lên Ðức Chúa Trời của lễ chuộc tội cho mình như:  bò, chiên, chim bồ câu thì họ đã được cứu.

“A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người” (Sáng Thế Ký 4:4);

b.  Loài người sống sau ngày Ðấng Cứu Thế chịu chết, nếu ăn năn tin nhận Ngài thì sẽ được cứu.

“Hai người trả lời rằng: Hãy tin Ðức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi” (Công vụ 16:31).

c.  Mọi người sống trong mọi thời đại mà không hề biết về việc dâng tế lễ hoặc tin nhận Chúa Giê-xu, Ðức Chúa Trời dựa theo luật pháp đặt trong lòng  họ mà đoán xét họ.

“Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình. Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Ðức Chúa Trời bởi Ðức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi” (Rô-ma 2:14-16).

 

Câu gốc của bài học:

“Ðức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (1 Ti-mô-thê 1:15).




Bài 5 Ðức Thánh Linh

Bài 5

Ðức Thánh Linh

 

1. Ðức Thánh Linh là ai?

Ðức Thánh Linh là Ngôi Ba trong Ba Ngôi Ðức Chúa Trời. Ðức Thánh Linh có thân vị, thần tánh, tư cách và công việc của Ðức Chúa Trời. Ðức Thánh Linh  là Ðức Chúa Trời.

a.  Thánh Linh đời đời

“Huống chi huyết của Ðấng Christ, là Ðấng nhờ Ðức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Ðức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Ðức Chúa Trời hằng sống, là dường nào” (Hê-bơ-rơ 9:14)!

b.  Thánh Linh Toàn Tại

“Luật pháp của Ðức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Ðức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan. Giềng mối của Ðức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Ðiều-răn của Ðức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. Sự kính sợ Ðức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Ðức Giê-hô-va là chân-thật, thảy đều công bình cả. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong” (Thi Thiên 19:7-10).

c.  Thánh Linh Toàn Năng

“Thiên sứ truyền rằng: Ðức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Ðấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Ðức Chúa Trời” (Lu-ca 1:35).

d.  Thánh Linh Toàn Tri

“Ðức Chúa Trời đã dùng Ðức Chúa Trời để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Ðức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Ðức Chúa Trời nữa” (1 Cô-rinh-tô 2:10).

 

2. Công việc của Ðức Thánh Linh là gì?

a.  Công việc của Ðức Thánh Linh trong vũ trụ là dự phần dựng nên trời đất với Ðức Cha và Ðức Con.

“Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” (Sáng Thế Ký 1:2).

b.  Công việc Ðức Thánh Linh trong loài người là cáo trách họ về tội lỗi, soi sáng và hướng dẫn họ đến sự ăn năn tin nhận Chúa Giê-xu.

“Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét” (Giăng 16:8).

c.  Công việc Ðức Thánh Linh trong tín đồ là:

1.  Tái tạo họ trở nên người mới để làm con cái Ðức Chúa Trời.

“[Ðức Chúa Trời] Không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Ðức Thánh Linh” (Tít 3:5)

“Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Ðức Chúa Trời” (Rô-ma 8:14).

2.  Giải cứu họ khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết.

“Vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Ðức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết” (Rô-ma 8:2).

3.  Làm cho họ ngày càng mạnh mẽ.

“Tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng” (Ê-phê-sô 3:16);

4.  Dẫn họ vào tất cả lẽ thật

“Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến” (Giăng 16:13).

5.  Nhắc nhỡ và dạy dỗ họ Lời Chúa

“Nhưng Ðấng Yên ủi, tức là Ðức Thánh Linh mà Cha sẽ nhơn danh ta sai xuống, Ðấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều ta đã phán cùng các ngươi” (Giăng 14:26).

6.  Khiến họ sanh bông trái tốt lành

“Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (Ga-la-ti 5:22):

7.  Ban cho họ quyền năng và ân tứ để phục vụ

“Nhưng khi Ðức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, các xứ Giu -đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).

“Mọi điều đó là công việc của đồng một Ðức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người” (1 Cô-rinh-tô 12:11).

8.  Dạy họ cầu nguyện

“Ðừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Ðức Thánh Linh” (Ê-phê-sô 5:18).

9.  Kêu gọi họ vào chức vụ và sai đi

“Ðương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Ðức Thánh Linh phán rằng: hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đã gọi làm” (Công vụ 13:2).

10.  Hướng dẫn họ từng bước một trên đường chức vụ

“Ðoạn, trải qua xứ Phi-ri-gi và đất Ga-la-ti, vì Ðức Thánh Linh đã cấm truyền đạo trong cõi A-si. Tới gần xứ My-ri rồi, hai người sắm sửa vào xứ Bi-thi-ni; nhưng Thánh Linh của Ðức Chúa Jêsus không cho phép” (Công vụ 16:6-7)

 

3. Kết quả của lễ Báp-tem bằng Ðức Thánh Linh và bằng nước khác nhau thể nào?

Về phương diện hình thức, chịu báp tem bằng nước, chúng ta được chính thức gia nhập Hội thánh hữu hình tại địa phương này hoặc bất cứ nơi nào trên  thế giới. Về phương diện thuộc linh, chịu báp-tem bằng Thánh Linh, chúng ta được  chính thức gia nhập Hội thánh vô hình là thân thể của Chúa Giê-xu.

“Vì chưng Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước, nhưng trong ít ngày, các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Ðức Thánh Linh.” (Công vụ 1:5)

Vì vậy, có người đã chịu báp-tem bằng nước mà chưa chịu báp tem bằng Thánh Linh như thuật sĩ Si-môn.

“Chính Si-môn cũng tin, và khi đã chịu phép báp-tem, thì ở luôn với Phi-líp; người thấy những dấu lạ phép kỳ đã làm ra, thì lấy làm lạ lắm” (Công vụ 8:13).

“Vì Ðức Thánh Linh chưa giáng xuống trên một ai trong bọn đó; họ chỉ nhơn danh Ðức Chúa Jêsus mà chịu phép báp-tem thôi” (Công vụ 8:16).

Trái lại, gia đình Cọt-nây đã chịu báp tem bằng Thánh Linh trước khi chịu báp tem bằng nước.

“Khi Phi-e-rơ đương nói, thì Ðức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo” (Công vụ 10:44).

“Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhơn danh Ðức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài ngườiởlại với mình một vài ngày” (Công vụ 10:48).

 

4. Báp tem bằng Thánh Linh là gì?

Báp tem bằng Ðức Thánh Linh là:

a.  Ðược đầy dẫy Ðức Thánh Linh

“Lúc tiếng ấy vang ra, dân chúng chạy đến, ai nấy đều sững sờ vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng xứ mình” (Công vụ 2:6).

b.  Thánh Linh giáng trên người tin Chúa

“Khi Phi-e-rơ đương nói, thì Ðức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo” (Công vụ 10:44).

c.  Nhận lãnh Ðức Thánh Linh

“Người hỏi rằng: Từ khi anh em tin, có lãnh được Ðức Thánh Linh chăng! Trả lời rằng: Chúng ta cũng chưa nghe có Ðức Thánh Linh nào. Người lại hỏi: Vậy thì anh em đã chịu phép báp-tem nào” (Công vụ 19:2)?

d.  Nhận lãnh quyền phép từ trên cao

“Còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:49).

 

5. Mối liên hệ giữa Ðức Thánh Linh và nếp sống bình thường của một tín đồ là gì?

Nếp sống bình thường của một tín đồ là được báp tem bằng Thánh Linh hay đầy dẫy Thánh Linh, nhưng mọi tín đồ phục vụ Chúa bằng những ân tứ khác  nhau tùy sự ban cho của Thánh Linh.

“Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Ðức Thánh Linh” (1 Cô-rinh-tô 12:4).

Nếu người tín đồ chỉ thuộc về Hội thánh hữu hình thì chưa được cứu rỗi, vì có Thánh Linh ngự trong lòng thì chưa thuộc về Chúa Giê-xu.

“Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Ðức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (Rô-ma 8:9).

 

6. Ðầy dẫy Ðức Thánh Linh với có Thánh Linh khác nhau thế nào?

Mỗi tín đồ đều được Thánh Linh ngự vào lòng trong khi mình chịu báp tem  bằng Thánh Linh. Tuy nhiên không phải mọi người đều được đầy dẫy Thánh  Linh ngay lúc đó, mà còn tùy thuộc vào đức tin và sự dâng mình cho Chúa  của mỗi người.

Kinh Thánh ghi lại ba lần Phi-e-rơ được đầy dẫy Thánh Linh:

“Bấy giờ Phi-e-rơ, đầy dẫy Ðức Thánh Linh, nói rằng: Hỡi các quan và các trưởng lão” (Công vụ 4:8),

“Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Ðức Thánh Linh, giảng đạo Ðức Chúa Trời cách dạn dĩ” (Công vụ 4:31).

“Hết thảy đều được đầy dẫy Ðức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Ðức Chúa Trời cho mình nói” (Công vụ 2:4).

Kinh Thánh chép hai lần Phao-lô được đầy dẫy Thánh Linh:

“A-na-nia bèn đi, vào nhà, rồi đặt tay trên mình Sau-lơ mà nói rằng: Hỡi anh Sau-lơ, Chúa là Jêsus nầy, đã hiện ra cùng anh trên con đường anh đi tới đây, đã sai tôi đến, hầu cho anh được sáng mắt lại và đầy Ðức Thánh Linh” (Công vụ 9:17).

“Bấy giờ, Sau-lơ cũng gọi là Phao-lô, đầy dẫy Ðức Thánh Linh, đối mặt nhìn người nói rằng: Ðó là tùy mức độ dâng mình và nhu cầu chức vụ của hai ông” (Công vụ 13:9).

 

7. Làm sao để được đầy dẫy Ðức Thánh Linh?

Muốn được đầy dẫy Ðức Thánh Linh, chúng ta cần biết:

a.  Không cần chờ đợi vì Thánh Linh đã ngự xuống hai ngàn năm rồi.

b.  Không cần xin Ðức Chúa Trời đổ thêm Thánh Linh vào lòng chúng ta, vì Thánh Linh ngự vào trong lòng rồi.

“Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Ðức Chúa Trời, và Thánh Linh Ðức Chúa Trời ở trong anh em sao?” (1 Cô-rinh-tô 3:16)

c.  Không cần kêu la ầm ỉ như các thầy phù thủy Baanh.

“Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.” (1 Vua 18:28)

d.  Chỉ cần chúng ta tận hiến và phục tùng Thánh Linh trọn vẹn, vì đầy dẫy Thánh Linh không phải là chúng ta được Ngài nhiều hơn, mà Ngài được chúng  ta nhiều hơn. Không phải chúng ta được quyền sử dụng Ngài theo ý muốn  mình, song Thánh Linh toàn quyền sử dụng chúng ta theo ý muốn Ngài. Như  thế, đầy dẫy Ðức Thánh Linh là chúng ta được Ngài hướng dẫn, dạy dỗ, nhắc  nhở, kiểm soát, hành động trong chúng ta cách trọn vẹn, còn chúng ta chỉ  tận hiến và phục tùng Ngài trọn vẹn.

 

8. Dấu hiệu của một người đầy dẫy Thánh Linh là gì?

a.  Các sứ đồ được quyền năng giảng dạy, chữa bệnh, đuổi quỉ, kêu kẻ chết sống lại, dầu phải bị bắt bớ lao tù, giết chết như Phi-e-rơ, Gia-cơ,  Giăng, Phao-lô, …

b.  Các chấp sự được quyền năng phục vụ Chúa trong Hội thánh. Giảng dạy, làm chứng một cách kết quả dầu phải bị bắt bớ, giết chết như Ê-tiên, Phi- líp, …

c.  Các tín đồ được quyền năng sống yêu thương hiệp một, vui mừng ca hát như Hội thánh đầu tiên tại thành Giê-ru-sa-lem.

“Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. Mọi người đều kính sợ vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Ðức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh” (Công vụ 2:42-47).

“Vả, người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau. Chẳng ai kể của mình là của riêng; nhưng kể mọi vật là của chung cho nhau. Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Ðức Chúa Jêsus Christ; và hết thảy đều được phước lớn. Vì trong tín đồ không ai thiếu thốn cả, bởi những người có ruộng hay nhà, đều bán đi, bán được bao nhiêu tiền cũng đem đến đặt dưới chơn các sứ đồ; rồi tùy theo sự cần dùng của mỗi người mà phát cho. Vậy có Giô-sép mà các sứ đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự yên ủi, về họ Lê-vi, quê hương tại Chíp-rơ” (Công vụ 4:32-36),

“Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết. Trong lúc đó, Hội thánhởthành Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ đữ tợn; trừ ra các sứ đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu -đê và xứ Sa-ma-ri. Dầu vậy, có mấy người tin kính chôn xácÊ-tiên và than khóc người quá bội. Nhưng Sau-lơ làm tàn hại Hội thánh: sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đờn ông đờn bà mà bỏ tù” (Công vụ 8:1-3).

Trải qua 20 thế kỷ, dầu phải sống trong những giai đoạn cực kỳ khó khăn,  nguy hiểm, Hội thánh của Chúa vẫn giữ nếp sống đầy dẫy Ðức Thánh Linh như  Ga-la-ti 5:2& Ê-phê-sô 5:18-20, nhất là trung tín cho đến chết.

“Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống” (Khải huyền 2:10).

 

Câu gốc của bài học:

“Nhưng Ðấng Yên ủi, tức là Ðức Thánh Linh mà Cha sẽ nhơn danh ta sai xuống, Ðấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều ta đã phán cùng các ngươi” (Giăng 14:26)




Bài 6 Sự Cầu Nguyện

Bài 6

Sự Cầu Nguyện

 

1. Cầu nguyện là gì?

Cầu nguyện là:

      a.  Giải bày lòng mình ra cùng Ðức Chúa Trời

“An-ne thưa rằng: Chẳng phải vậy, chúa; tôi vốn một đờn bà có lòng buồn bực, chẳng uống rượu hay là vật gì uống say; nhưng tôi giãi bày lòng tôi ra trước mặt Ðức Giê-hô-va” (1 Sa-mu-ên 1:15).

      b.  Cầu xin Ðức Chúa Trời về những điều mình cần

“Hãy xin, sẽ được’ hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho” (Ma-thi-ơ 7:7)

      c.  Dâng hương cho Ðức Chúa Trời như các thầy tế lễ thời Cựu Ước

“Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đờn và những hình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh” (Khải huyền 5:8)

      d.  Thưa chuyện với Chúa và lắng nghe Chúa phán cùng mình.

“Ðã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển tađủcho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Ðấng Christ ở trong tôi” (2 Cô-rinh-tô 12:8-9).

Như thế, cầu nguyện là tương thông với Ðức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu trong quyền  năng của Ðức Thánh Linh.

 

2. Tại sao chúng ta là loài người mà được phép cầu nguyện với Ðức Chúa  Trời?

    a.  Vì nhờ tin Chúa Giê-xu, chúng ta đã trở nên của cải của Ðức Chúa Trời.

“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12),

      b.  Vì hễ ai đã nhận danh Chúa Giê-xu mà cầu nguyện thì được Ðức Chúa Trời nhậm lời.

“Trong ngày đó, các ngươi không còn hỏi ta về điều chi nữa. Quả ta nói cùng các ngươi, điều chi các ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhơn danh ta mà ban cho các ngươi” (Giăng 16:23).

 

3. Tại sao chúng ta chỉ cầu nguyện với Ðức Chúa Trời mà thôi?

    a.  Vì một mình Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời “Ðức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại” (1 Vua 18:37).

      b.  Vì Ðức Chúa Trời là Ðấng Thành Tín Ðời Ðời

“Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết” (Giê-rê-mi 33:3).

“Trong cá lời lành mà Ðức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ -ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành: thảy đều ứng nghiệm hết” (Giô-suê 21:45).

 

4 Chúng ta phải cầu nguyện cho ai?

Chúng ta phải cầu nguyện cho:

a.  Anh chị em trong Hội thánh

“Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều” (Gia-cơ 5:16).

“Hãy nhờ Ðức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ” (Ê-phê-sô 6:18).

b.  Mục Sư, Truyền Ðạo

“Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Ðức Chúa Trời mở cửa cho sự giảng đạo, hầu cho tôi được rao truyền lẽ mầu nhiệm của Ðấng Christ, vì lẽ đó mà tôi bị xiềng xích” (Cô-lô-se 4:3),

“Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành” (Ê-phê-sô 6:19),

c.  Con cái của mình

“Xin Chúa hãy ban cho Sa-lô-môn, con trai tôi, một lòng trọn vẹn, để gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa, cùng làm cho các công việc nầy, xây cất cái đền mà tôi đã sắm sửa thờ lạy cho” (1 Sử ký 29:19).

d.  Kẻ làm hại mình

“Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi,” (Ma-thi-ơ 5:44)

e.  Mọi người

“Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn” (1 Ti-mô-thê 2:1-2).

g.  Chính mình

“Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin hãy nhớ lại tôi tùy ơn Ngài làm cho dân sự Ngài; Hãy lấy sự cứu rỗi mà đến viếng tôi” (Thi Thiên 106:4).

 

5. Phải cầu nguyện khi nào?

a.  Cầu nguyện bất cứ lúc nào hãy cả đêm

“Buổi chiều, buổi sáng, và ban trưa, tôi sẽ than thở rên-siết; Ngài ắt sẽ nghe tiếng tôi” (Thi Thiên 55:17).

b.  Cầu nguyện trước mỗi bửa ăn

“Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời mà tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.” (Ma-thi-ơ 14:19)

c.  Cầu nguyện trong cơn gian truân

“Trong ngày gian truân hãy kêu cầu cùng ta: Ta sẽ giải cứu ngươi, và ngươi sẽ ngợi khen ta” (Thi Thiên 50:15).

d.  Cầu nguyện không thôi

“Cầu nguyện không thôi” (1Tê-sa-lô-ni-ca 5:17).

 

6. Phải cầu nguyện tại đâu?

Cầu nguyện bất cứ nơi nào.

a.  Cầu nguyện trong nơi riêng tư

“Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và Cha ngươi, là Ðấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.” (Ma-thi-ơ 6:6)

“Sáng hôm sau trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó” (Mác 1:35).

b.  Cầu nguyện giữa công chúng

“Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Ðức Chúa Trời rồi, thì bè ra và ăn” (Công vụ 27:35).

c.  Cầu nguyện trong khám tù

“Lối nữa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Ðức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe” (Công vụ 16:25).

d.  Cầu nguyện tại mọi nơi

“Vậy, ta muốn những người đờn ông đều giơ tay tinh sạch lên trời, mà cầu  nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ.” (1 Ti-mô-thê 2:8)

Chúa Giê-xu cầu nguyện trên thập tự giá:

“Song Ðức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Ðoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài” (Lu-ca 23:34).

 

7. Chúng ta phải cầu nguyện điều gì?

Chúng ta phải cầu nguyện:

a.  Xin Chúa dạy chúng ta cầu nguyện

“Có một ngày, Ðức Chúa Jêsus cầu nguyện ở nơi kia. Khi cầu nguyện xong, một môn đồ thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, xin dạy chúng tôi cầu nguyện, cũng như Giăng đã dạy môn đồ mình” (Lu-ca 11:1).

b.  Xin Danh Ðức Chúa Trời được tôn thánh

“Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh” (Ma-thi-ơ 6:9).

c.  Xin Nước Ngài được đến

“Nước Cha được đến” (Ma-thi-ơ 6:10).

d.  Xin ý Ngài được nên ở đất như được nên ở trời

“Ý Cha được nên, ở đất như trời!” (Ma-thi-ơ 6:10)

e.  Xin Chúa cho đủ nhu cầu hằng ngày

“Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Ma-thi-ơ 6:11).

f.  Xin Chúa tha tội

“Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi;” (Ma-thi-ơ 6:12)

g.  Xin Chúa cứu khỏi mọi cám dỗ

“Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác!” (Ma-thi-ơ 6:13)

h.  Xin Chúa cho thêm người hầu việc Ngài

“Vậy, hãy cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình.” (Ma-thi-ơ 9:38)

i.  Xin Chúa mở cửa giảng đạo

“Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Ðức Chúa Trời mở cửa cho sự giảng đạo, hầu cho tôi được rao truyền lẽ mầu nhiệm của Ðấng Christ, vì lẽ đó mà tôi bị xiềng xích” (Cô-lô-se 4:3),

j.  Xin Chúa cho một lòng thánh khiết

“Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, Dùng thần linh sẵn lòng mà nângđỡtôi” (Thi Thiên 51:12).

k.  Xin Chúa mở mắt để hiểu Lời Ngài.

“Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy Sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa” (Thi Thiên 119:18).

l.  Xin Chúa ban đầy lòng yêu thương anh chị em

“Lại nguyền xin Chúa làm cho anh em thêm và đầy lòng yêu thương đối với nhau cùng đối với mọi người, cùng như lòng yêu thương của chúng tôi đối với anh em vậy” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:12),

m.  Xin Chúa dẫn dắt, bảo vệ

“Ðức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khi ra khi vào, Từ nay cho đến đời đời” (Thi Thiên 121:8).

n.  Xin Chúa dạy chúng ta biết sống xứng đáng từng ngày

“Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, Hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi Thiên 90:12).

o.  Xin Chúa cho sống suốt cuộc đời trong nhà Ngài để ngắm xem vẻ đẹp tuyệt vời của Ngài

“Tôi đã xin Ðức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời đượcởtrong nhà Ðức Giê-hô-va, Ðể nhìn xem sự tốt đẹp của Ðức Giê-hô-va, Và cầu hỏi trong đền của Ngài” (Thi Thiên 27:4).

p.  Xin Chúa cho mình đầy dẫy Thánh Linh

“Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Ðức Thánh Linh cho người xin Ngài!” (Lu-ca 11:13)

q.  Xin Chúa cho Giê-ru-sa-lem được hòa bình

“Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; Phàm kẻ nào yêu mến ngươi sẽ được thới-thạnh” (Thi Thiên 122:6).

 

8. Chúng ta cần cầu nguyện thế nào?

a.  Phải cầu nguyện nhơn danh Chúa Giê-xu

“Nếu các ngươi nhơn danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho” (Giăng 14:14).

b.  Phải cầu nguyện cách sốt sắng

“Vậy, hãy xưng tội cùng nhau, và cầu nguyện cho nhau, hầu cho anh em được lành bịnh: người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều” (Gia-cơ 5:16).

c.  Phải cầu nguyện cách bền lòng

“Phải bền đổ và tỉnh thức trong sự cầu nguyện, mà thêm sự tạ ơn vào” (Cô-lô-se 4:2).

d.  Phải cảm tạ Chúa mà cầu nguyện

“Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn và trình các sự cầu xin của mình cho Ðức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6).

e.  Phải hiệp một ý với anh em mình mà cầu nguyện

“Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ.” (Ma-thi-ơ 18:19)

f.  Phải kiêng ăn cầu nguyện

“Ðương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Ðức Thánh Linh phán rằng: hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đã gọi làm. Ðã kiêng ăn và cầu nguyện xong, môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi” (Công vụ 13:2-3).

g.  Phải cầu nguyện bởi Thánh Linh

“Hãy nhờ Ðức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đổ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ” (Ê-phê-sô 6:18).

h.  Phải cầu nguyện bởi đức tin

“Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi” (Mác 11:24).

i.  Phải có lòng thánh khiết

“Nếu lòng tôi có chú về tội ác, Ấy Chúa chẳng nghe tôi.” (Thi Thiên 66:18)

j.  Phải cầu nguyện theo ý muốn Chúa

“Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ởtrước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta” (1 Giăng 5:14).

k.  Ðừng lập lại những lời vô ích

“Vả, khi các ngươi cầu nguyện, đừng dùng những lời lặp vô ích như người ngoại; vì họ tưởng vì cớ lời mình nói nhiều thì được nhậm.” (Ma-thi-ơ 6:7)

 

9. Chúng ta nên cầu nguyện theo thứ tự nào?

Chúng ta nên cầu nguyện theo thứ tự sau:

a.  Ca ngợi và cảm tạ Chúa về những sự ban cho của Ngài

“Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Ðức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài! Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Ðức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài” (Thi Thiên 103:1).

b.  Xưng tội

“Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi; Tôi nói: Tôi sẽ xưng các sự vi phạm tôi cùng Ðức Giê-hô-va; Còn Chúa tha tội ác của tôi” (Thi Thiên 32:5).

c.  Cầu thay

“[Ðức Chúa Trời] thấy không có người, chẳng ai cầu thay, thì lấy làm lạ lùng. Ngài bèn dùng chính cánh tay mình đem sự cứu rỗi đến; lấy sự công bình mình mà nângđỡ” (Ê-sai 59:16).

d.  Cầu nguyện cho chính mình

 

10. Vì sao có lời cầu nguyện không được Ðức Chúa Trời nhậm?

Vì những lý do sau:

a.  Còn tội lỗi

“Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Ðức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa” (Ê-sai 59:2).

b.  Xin điều trái lẽ

“Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình” (Gia-cơ 4:3).

c.  Không tha thứ cho kẻ phạm tội cùng mình

“[Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.” (Mác 11:26)]

d.  Thiếu đức tin

“Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa” (Gia-cơ 1:6-7)

e.  Thiếu bền đỗ

“Ðức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ một thí dụ, để tỏ ra rằng phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt” (Lu-ca 18:1)

 

Câu gốc của bài học:

“Hãy xin sẽ được, hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa sẽ mở cho” (Ma-thi-ơ 7:7).




Bài 7 Sự Thờ Phượng Ðức Chúa Trời

Bài 7

Sự Thờ Phượng Ðức Chúa Trời

 

1. Thờ phượng Ðức Chúa Trời là gì?

Thờ phượng Ðức Chúa Trời là dùng linh hồn tâm trí và thân thể để chiêm ngưỡng, ca ngợi, cảm tạ, cầu nguyện, dâng hiến, tương thông và phục vụ Ðức Chúa Trời.

“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Ðức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rô-ma 12:1).

 

2. Loài người biết thờ phượng Ðức Chúa Trời từ khi nào?

Từ khi tổ phụ loài người được dựng nên, họ đã thờ phượng Ðức Chúa Trời qua sự  vâng phục, tương thông với Ngài (Sáng 2:19-20) và dâng tế lễ cho Ngài.

“A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người” (Sáng Thế Ký 4:4).

 

3. Tại sao loài người không tiếp tục thờ phượng Chúa như tổ phụ mình?

Vì A-đam và Ê-va, tổ phụ của loài người phạm tội nên dòng dõi họ càng lúc càng bại hoại, xa cách Ðức Chúa Trời và thờ lạy thần tượng do mình tạo ra hoặc điểu thú côn trùng.

“Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; họ đã đổi vinh hiển của Ðức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng” (Rô-ma 1:22-23).

 

4. Trong thời Cựu Ước, con người thờ phượng Ðức Chúa Trời bằng cách nào?

a.  Họ lập bàn thờ bằng đá và dâng các con sinh trên đó.

“Nô-ê lập một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va. Người bắt các súc vật thanh sạch, các loài chim thanh sạch, bày của lễ thiêu dâng lên bàn thờ” (Sáng Thế Ký 8:20).

b.  Khi đi trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng Ðức Chúa Trời trong đền tạm.

“Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ” (Xuất Ê-díp-tô 25:8).

c.  Sau đó dân Y-sơ-ra-ên cất cho Chúa một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và thờ phượng.

“Nguyện mắt của Chúa ngày và đem đoái xem nhà nầy, là chỗ mà Chúa đã phán rằng: Danh ta sẽ ngự tại đó, đặng nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa hướng nơi này mà cầu” (1 Vua 8:29).

 

5. Trong thời đại Hội Thánh, Chúa Giê-xu dạy con người thờ phượng Ðức Chúa Trời như thế nào?

Từ khi Chúa Giê-xu chịu chết vì nhân loại trên thập tự giá và sống lại thì sự thờ phượng không còn tại bàn thờ bằng đá hoặc tại đền thờ Giê-ru-sa-lem nữa, vì các nơi ấy chỉ làm tượng trưng cho Chúa Giê-xu. Chúng ta phải thờ phượng Ðức Chúa Trời bằng tâm thần và lẽ thật như Chúa Giê-xu đã dạy.

“Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy” (Giăng 4:23).

Sự thờ phượng được thực hiện qua:

a.  Sự cầu nguyện

“Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đờn và những hình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh” (Khải huyền 5:8).

b.  Ca ngợi, hát thánh ca, làm chứng ơn phước

“Vậy, hãy cậy Ðức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Ðức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra” (Hê-bơ-rơ 13:15).

c.  Dâng hiến

“Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Ðức Chúa Trời” (Hê-bơ-rơ 13:16).

d.  Ðọc và giảng Kinh Thánh

“Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nữa đêm” (Công vụ 20:7)

 

6. Chúng ta nên thờ phượng Ðức Chúa Trời ở những nơi nào?

Chúng ta có thể thờ phượng ở bất cứ nơi nào, thí dụ như:

a.  Trong tù

“Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Ðức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe” (Công vụ 16:25).

b.  Dưới hiên cửa

“Người ấy đang cầm tay Phi-e-rơ và Giăng, thì cả dân chúng lấy làm lạ, chạy đến cùng các người đóởnơi hiên cửa gọi là Sa-lô-môn” (Công vụ 3:11).

c.  Trên hoang đảo

“Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Ðức Chúa Jêsus, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Ðức Chúa Trời và chứng của Ðức Chúa Jêsus. Nhằm ngày của Chúa, tôi được Ðức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa” (Khải huyền 1:9-10),

Nhưng để tiện cho việc thờ phượng, chúng ta nên:

      a.  Thờ phượng riêng – Trong nơi thanh vắng

                b.  Thờ phượng gia đình hay gia đình lễ bái – Mọi người trong gia đình họp lại trong nhà lúc yên tĩnh để thờ phượng Chúa.

                c.  Thờ phượng của Hội thánh – Mỗi tín hữu cùng đến nhà thờ thờ phượng Chúa để gây dựng đức tin cho nhau.

“Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà” (Công vụ 2:46).

“Chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy” (Hê-bơ-rơ 10:25).

 

7. Chúng ta nên có hình tượng của Chúa để dễ suy niệm về Ngài trong khi thờ phượng không?

Chúng ta tuyệt đối không được dùng các hình tượng trong sự thờ phượng Ðức Chúa Trời, vì:

a.  Vi phạm điều răn thứ hai:

“Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất” (Xuất Ê-díp-tô 20:4).

b.  Chúa rủa sả hình tượng và những kẻ thờ lạy hình tượng.

“Hình tượng chúng nó bằng bạc bằng vàng, Là công việc tay người ta làm ra. Hình tượng có miệng mà không nói; Có mắt mà chẳng thấy; Có tai mà không nghe; Có lỗ mũi mà chẳng ngửi; Có tay, nhưng không rờ-rẫm; Có chơn, nào biết bước đi; Cuống họng nó chẳng ra tiếng nào. Phàm kẻ nào làm hình tượng, và nhờ cậy nơi nó. Ðều giống như nó” (Thi Thiên 115:4-8).

c.  Làm hình tượng Chúa là xúc phạm đến bản tánh thiêng liêng, vô hạn của Ngài.

“Vậy, bởi chúng ta là dòng dõi Ðức Chúa Trời, thì chớ nên ngờ rằng Chúa giống như vàng, bạc, hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên. Vậy thì, Ðức Chúa Trời đã bỏ qua các đời ngu muội đó, mà nay biểu hết thảy các người trong mọi nơi đều phải ăn năn” (Công vụ 17:29-30).

 

Câu gốc của bài học:

“Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy” (Giăng 4:23).




Bài 9 Sự Dâng Hiến

Bài 9

Sự Dâng Hiến

 

1. Loài người dâng hiến cho Chúa từ khi nào?

Từ A-đam, Ê-va và họ đã dạy cho các con của mình.

“A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người” (Sáng Thế Ký 4:4);

 

2. Trong thời đại luật pháp, Chúa dạy dân Y-sơ-ra-ên dâng hiến như thế nào?

Luật pháp qui định mọi người Y-sơ-ra-ên phải dâng một phần mười về mọi hoa lợi của mình; ngoài ra, họ còn tình nguyện dâng vật liệu quí giá để xây dựng đền thờ cho Chúa.

“Phàm thuế một phần mười thổ sản, bất kỳ vật gieo hay là hoa quả của cây, đều thuộc về Ðức Giê-hô-va; ấy là một vật thánh, biệt riêng ra cho Ðức Giê-hô-va” (Lê-vi Ký 27:30).

“Còn về một phần mười của bầy bò hay là chiên, tức là mọi vật chi đi ngang dưới gậy, con thứ mười sẽ là thánh, biệt riêng ra thánh cho Ðức Giê-hô-va” (Lê-vi Ký 27:32).

“Trước mặt Môi-se, họ thâu các lễ vật của dân Y-sơ-ra-ên đã đem đến, để làm các công việc định dùng và sự tế lễ nơi thánh. Nhưng mỗi buổi sớm mai, dân sự lại đem đến lễ vật tình nguyện nữa.” (Xuất Ê-díp-tô 36:3)

3. Trong thời đại Tân Ước, Chúa cho chúng ta thấy phải dâng hiến ra sao?

Một quả phụ nghèo đã dân cho Chúa tất cả tiền mình có để sống qua ngày.

“Vì mọi người kia đều lấy của dư mình mà làm của dâng; nhưng mụ nầy thiếu thốn, mà đã dâng hết của mình có để nuôi mình” (Lu-ca 21:4).

 

4. Có phải Chúa khen thưởng theo số lượng tài vật chúng ta dâng hay không?

Chúa không khen thưởng theo số lượng tài vật chúng ta dâng, nhưng Ngài khen  thưởng theo tỷ lệ chúng ta dâng hiến.

“Ðức Chúa Jêsus vừa ngó lên, thấy những kẻ giàu bỏ tiền lễ vào rương, lại thấy một mụ góa nghèo bỏ vào hai đồng tiền. Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ vào nhiều hơn hết mọi người khác” (Lu-ca 21:1-3).

 

5. Cơ-đốc nhân phải dâng hiến như thế nào?

Thứ nhất, chúng ta nên nhớ rằng, vì Chúa Giê-xu đã chuộc chúng ta bằng giá rất cao, nên chúng ta không còn thuộc về chính mình nữa, nhưng chúng ta là tôi mọi của Ðức Chúa Trời. Vì vậy, mọi sự chúng ta có là của Chúa và Ngài trọn quyền sử dụng.

Thứ hai, dầu Chúa có quyền như vậy, nhưng Chúa vẫn để chúng ta tự nguyện dâng hiến tùy theo lòng yêu kính Chúa của chúng ta.

 

6. Như thế, Chúa dạy chúng ta dâng hiến ra sao?

a.  Vì mọi sự chúng ta có là của Chúa, nên một phần mười là số dâng tối  thiểu.

b.  Dầu nghèo khổ, chúng ta cứ dâng hiến rộng rãi.

“Ðang khi họ chịu nhiều hoạn nạn thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình” (2 Cô-rinh-tô 8:2).

c.  Dâng hiến theo sức mình và quá sức mình nữa.

“Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa” (2 Cô-rinh-tô 8:3),

 

7. Chúa quở trách như thế nào đối với người không dâng hiến?

a.  Chúa lên án người đó là kẻ ăn trộm.

“Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu? Các ngươi đã ăn trộm trong các phần mười và trong các của dâng” (Ma-la-chi 3:8b).

b.  Chúa rủa sả họ.

“Các ngươi bị rủa sả, vì các ngươi, thảy các nước, đều ăn trộm ta” (Ma-la-chi 3:9).

 

8. Ngoài tài vật, chúng ta còn có thể dâng gì cho Chúa?

Chúng ta dâng thân thể mình cho Chúa để hoàn toàn sống cho Ngài.

“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Ðức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rô-ma 12:1).

 

9. Chúng ta phải dâng hiến với thái độ nào?

Chúng ta phải dâng hiến cách vui lòng, khiêm nhường, kín đáo.

“Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay vì ép uổng; vì Ðức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng” (2 Cô-rinh-tô 9:7).

“Song khi ngươi bố thí, đừng cho tay tả biết tay hữu làm việc gì” (Ma-thi-ơ 6:3).

“Vì trong tín đồ không ai thiếu thốn cả, bởi những người có ruộng hay nhà, đều bán đi, bán được bao nhiêu tiền cũng đem đến đặt dưới chơn các sứ đồ; rồi tùy theo sự cần dùng của mỗi người mà phát cho.” (Công vụ các sứ đồ 4:34-35)

 

10. Phước hạnh của người dâng hiến là gi?

a.  Ðược Chúa yêu thương

“Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay vì ép uổng; vì Ðức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng” (2 Cô-rinh-tô 9:7).

b.  Gieo nhiều thì gặt nhiều

“Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (2 Cô-rinh-tô 9:6).

c.  Chúa sẽ đổ phước xuống đến nỗi không chỗ chứa.

“Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Ðức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng” (Ma-la-chi 3:10)!

d.  Là cớ tích cho nhiều người tạ ơn Ðức Chúa Trời.

“Vì việc phát tiền bố thí dường ấy chẳng những dỡ ngặt cho các thánh đồ mà thôi, lại xui nhiều người càng thêm lòng tạ ơn Ðức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 9:12).

Như thế, chúng ta đồng thanh với Ða-vít mà thưa với Chúa rằng:

“Nhưng tôi là ai, và dân sự tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa” (1 Sử ký 29:14).

 

 

Câu gốc của bài học:

“Nhưng tôi là ai, và dân sự tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa” (1 Sử ký 29:14).