Giáo Lý Căn Bản 91 – Lương Tâm

Bài 91

Lương Tâm

 

GIƠÍ THIỆU : Các chú thích trích từ cuốn “Lương Tâm” của Tiến Sĩ Hallesby; “Thần học theo hệ thống” của Chafer, Khảo cổ Từ điển về các sách Phúc Aâm, tập 3, trang 133.

Lương Tâm là gì ? Một cô bé gái trả lời: “Đó là bà nội!!!:”

Đặc San Reader Digest, tháng 11 năm 1960 viết rằng “Lương tâm là bộ phận lọc của một con người suy nghĩ.” Tự điển Oxford thì cho rằng “Đó là một sự hiểu biết hướng nội hay tri thức, là khả năng dùng phán xét tính chất đạo đức của một hành vi hay của các cá nhân.”

Tự điển Winston thì cho rằng “Cái ý thức đạo đức hay lương tri tự no có trong mỗi người để xác định rằng một hành động nào đó là đúng hay sai, tốt hay xấu.” Hallesby nói rằng : “Người ta có thể có được sự bình an cùng Đức Chúa Trời, không có một lương tâm tốt nhưng Kinh nghiệm của anh ta cho biết rằng sẽ không là một con người hạnh phúc”. Tôi tin rằng điều này không phải là câu chuyện của chúng ta.

Có phải lương tâm là tiếng nói của Đức Chúa Trời được tạo dựng trong con người hay không? Không, chắc chắn là không.

Lương tâm là điều bẩm sinh và phổ quát hơn là một khả năng thu đạt được.

Ai là người có lương tâm? Phải chăng chỉ có những người có học hay văn minh? Không, tất cả mọi người đều có lương tâm. II.Cô-rinh-tô 4:2 “…khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng trọng.

Lương tâm không thể là tiếng nói của Đức Chúa Trời bởi vì đôi khi nó dẫn dắt người ta làm những điều trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời như đã được bày tỏ trong Kinh Thánh.

Lương tâm sẽ hướng dẫn người ngại giáo quì lạy những thần tượng bằng gỗ đá.

Lương tâm chấp thuận cho phép những hành động tình dục trong đền thờ trong việc tôn vinh các thần.

Lương tâm đôi khi lại xúi giục một người giết hại một người khác kẻ đã giết cha mình.

Đôi khi lương tâm lại khiến cho người ta bỏ rơi những người bịnh và tin rằng họ bị rủa sả bởi các thần thế nên họ phải bị bỏ rơi một mình .

Lương tâm khuyên dạy người ta phải dứt bỏ những đứa bé sinh đôi và làm những điều đáng sợ.

Từ “lương tâm” không xuất hiện trong Cựu Ước, trong Cựu Ước từ “tấm lòng” được thay thế cho từ “lương tâm” – I.Sa-mu-ên 24:5 “lòng của Đa-vít (lương tâm) nói cùng ông”

Lương tâm là sự phán xét bên trong, xét nghiệm tất cả những gì tôi làm và tôi nói.

Lương tâm tự nó trình bày trước rồi sau đó mới kéo theo hành động.

Một số người cảm thấy rằng lương tâm là kẻ hành hạ trong nơi Địa ngục. (Con ơi, hãy nhớ lại…– Lu-ca 16:25)

I. MỘT LƯƠNG TÂM XẤU XA:

Không phải tất cả các lương tâm đều tốt – Thật ra từ khi con người bị sa ngã, lương tâm đã bị suy đồi.

Lương tâm của con người đã chịu đựng đau đớn một cách kinh khủng trong sự Sa ngã tại vườn Ê-đên. Ê-phê-sô 4:18, mô tả con người không hoán cải vì “lòng họ (lương tâm)ï cứng cỏi nên trí khôn tối tăm..”

Rô-Ma 1: 18-32, là một sự nhận xét đáng buồn về điều đã xảy ra khi “lòng họ ngu dốt đầy những sự tối tăm. Câu 21. Tội lỗi đã phủ một lớp mây mờ trên lương tâm trong sạch của A-đam khi nhận định về nhân loại.

I.Ti-mô-thê 4:2, cảnh cáo về những ngày đã qua trong quá khư vìù “lương tâm của họ bị chai lì”. Họ dường như chẳng có một chút lương tâm nào, bị chai lì và méo mó.

Tít 1:15 “…trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa”

Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều cần cầu nguyện như trong Hê-bê-rơ 10:22 “nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà và đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu. ”

Chúng ta hãy nhận biết quá khứ và cầu nguyện cho sự giải thoát liên tục khỏi lương tâm xấu.

II. MỘT LƯƠNG TÂM BỊ KẾT ÁN :

Rô-ma 2:15 “Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình…” Đây là công việc của lương tâm con người.

Sự phán xét của lương tâm là tuyệt đối, không cho biết lý do. Nó tuyệt đối vì nó không mặc cả và cũng không thoả hiệp và nó hoàn toàn mang tính cách cá nhân.

Giăng 8:1-11 là một hình ảnh nói về lương tâm đang hành động.Mỗi người rời đi với những vết đâm đau nhói phát xuất từ những mũi chỉa mạnh mẽ của nó, mang đến sự sửng sốt khi đối mặt và xấu hổ.

III. MỘT LƯƠNG TÂM ĐƯỢC TẨY SẠCH :

Hê-bê-rơ 9:14 “…nhờ Đức Thánh Linh đời đời…sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống”.Trước tiên hãy nhận biết sự xấu xa của một lương tâm đồi bại, hãy để cho cho lòng tin tưởng hướng dẫn đến sự biến đổi của các tiêu chuẩn lương tâm.

Không còn giữ lương tâm yên lặng nữa nhưng cầu nguyện cho sự khai sáng nó bởi Lời Chúa.

Hãy để cho lương tâm duy trì được những tiêu chuẩn công bình cao rồi gắn chặt vào đó.

Một số người vì duyên cớ của lương tâm đã phải chịu đau đớn, mất mát tài sản, tiếng tăm thậm chí chịu tử đạo hơn là làm nhục lương tâm.

Một lương tâm tốt tạo ra ý nghĩa cho cuộc sống, sự giàu có, sự trọn vẹn, mục đích và sự thoả lòng.

Sự thức tỉnh thuộc linh là sự thức tỉnh lương tâm của một con người biết hướng vọng về Đức Chúa Trời.

Hãy để cho Lời Chúa hằng ngày chỉ dạy cho lương tâm về ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời.

Một lương tâm được thức tỉnh mang lại sức ép trên đời sống cá nhân để làm cho phù hợp với sự nhận biết về tội lỗi và sự công bình thâu lượm được thông qua việc nghiên cứu Lời Chúa.

IV MỘT LƯƠNG TÂM THANH SẠCH :

I.Ti-mô-thê 3:9 “nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin”

III. Ti-mô-thê 1:3 “Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm ”

Ở vào sự biến đổi đó, không chỉ linh hồn được cứu mà lương tâm cũng được biến cải nữa.

Sự thay đổi của lương tâm thường là một tiến trình dần dần khi cá nhân đó được dạy dỗ một cách hoàn hảo hơn trong ý muốn của Đức Chúa Trời.

Lương tâm được tẩy sạch bởi Huyết Đấng Christ, điều này được dạy trong Hê-bê-rơ 10:2-10, ở đó huyết của con sinh tế là một phần trong Huyết tại Đồi Gô-gô-tha (Calvary)

Sự tái sinh không chống nghịch lương tâm, nhưng hơn thế nữa, thiết lập lại trật tự thông thường.

Kẻ không biển cải cảm thấy lương tâm là một gánh nặng, nhưng con người được cứu cảm thấy đó là một sự giúp đở.

Đối với người được cứu lương tâm là một người bạn và là một thứ tình yêu, một sứ giả được Đức Chúa Trời sai đến.

Tiêu chuẩn của lương tâm là sự hoàn hảo, Ma-thi-ơ 5:48, đó là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời.

IV. MỘT LƯƠNG TÂM YẾU ĐUỐI :

Con ngưòi mới biến cải (mới trở lại đạo) nhận thấy rằng lương tâm là điều quá yếu đuối để cho thể trông cậy vào. I.Cô-rinh-tô 8:7 “…lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô-uế”. Cũng trong I.Cô-rinh-tô 8:10 . Sự biến đổi là một sự tái tạo lại lương tâm mà từ lâu nó đang yên lặng. Sự yếu đuối có thể được khuất phục bởi lời cầu nguyện, sự nghiên cứu Kinh Thánh và sự vâng lời liên tục.

Vấn đề là cần phải nhận biết nó bởi vì biện pháp thì dễ dàng và đơn giản. Thông thường thì những người mới trở lại đạo hay kết tội cho những điều khác: về môi trường, về giáo dục về bè bạn v.v…

Chúa mong ước làm cho vững mạnh và gây dựng lại lương tâm yếu đuối.

V. MỘT LƯƠNG TÂM TỐT :

Đây là điều mong ước của Đức Chúa Trời đối với mỗi một tín hữu được tái sanh. Đừng tranh chiến với lương tâm nhưng hãy nên hoà bình với nó, đồng ý với lương tâm được soi sáng và phải vâng phục nó một cách đơn sơ.

I.Ti-mô-thê 1:5 “…bởi lòng trong sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sinh ra”.

I.Ti-mô-the 1:19 . Phao-lô khuyên Ti-mô-thê nên giữ vững đức tin và phải có “lương tâm tốt.”

I.Phi-e-rơ 3:16 “phải có lương tâm tốt”, sống để làm hổ thẹn những kẻ gièm chê anh em.

Thông điệp của lương tâm nhằm hướng đến ý chí. Nếu ý chí vâng lời thì lương tâm sẽ lớn mạnh và phát triển. Đây là điều mà Đức Chúa Trời mong mỏi ở chúng ta – sự vâng lời.

Nếu ý chí chống cự lại thì lương tâm sẽ trở nên yếu đuối, chẳng hạn một lương tâm câm lặng trước việc rượu chè hay những công việc xấu xa. Đây chỉ là suy nghĩ đầy ao ước làm nặng thêm cho lương tâm.

Hãy cầu nguyện để xin Chúa ban cho bạn một lương tâm tốt, một lương tâm mềm mại.

Hãy đề phòng thái độ của các thầy thông giáo, họ có một lương tâm cẩn trọng và mềm mại trong những việc nhỏ, nhưng lại bỏ qua những điều hệ trọng hơn trong luật pháp – Ma-thi-ơ 23:23.

Lương tâm là một thực thể sống động, một cơ quan nhắm đến việc lớn mạnh và phát triển.

VI. MỘT LƯƠNG TÂM KHÔNG CÁO TRÁCH :

Công-vụ 24:16 “Cũng vì cớ ấy,nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không cáo trách trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người”

Tôi tin rằng đây là một trong những mục tiêu cao cả nhất của cuộc sống Cơ-Đốc nhân.

Hãy canh phòng về thứ lương tâm quá nhạy cảm mang tính bệnh học mà nó khiến cho cá nhân luôn ở trong tình trạng xung đột một cách liên tục. Kết quả của sự xác minh là hoà bình chứ không phải là xung đột.

Hãy cầu nguyện nhiều cho lương tâm để nó biết lắng nghe ý muốn của Đức Chúa Trời như đã được tiết lộ trong Kinh Thánh.

Suốt trong thời gian cầu nguyện và trong Thời Kỳ Tỉnh Nguyện hãy ngừng lắng nghe lương tâm đang nói.

Đức Thánh Linh ngự trị trong mỗi cá nhân tín hữu và Linh của Ngài đang vận hành thông qua lương tâm.

Môät lương tâm nhạy cảm sản sinh ra những Cơ-Đốc nhân cẩn trọng là những con người có ý thức, có thể được xử dụng và tuỳ thuộc vào Nước Trời.

Một lương tâm không nhạy cảm tạo ra những tín đồ bất cẩn, một ảnh hưởng gây ra sự yếu đuối trong Hội Thánh ngày nay.

KẾT LUẬN :

Phản ứng của chúng ta đối với sự nghiên cứu về lương tâm này là gì? Chúng ta đã học biết về điều gì không?

Chúng ta đã có bao giờ phân tích về lương tâm riêng của chúng ta không?

Lương tâm của tôi là xấu xa, bị lên án, được thanh tẩy, trong sạch, yếu đuối, tốt hay không bị cáo trách?

Không một bác sĩ y khoa nào có thể tìm thấy bộ phận được gọi là lương tâm, nhưng chúng ta biết rằng chúng ta có nó (lương tâm).

Chúng ta có dành thời giờ để cố giữ yên lặng hay giết chết lương tâm bằng những lý luận hợp lý không?

Chúng ta hãy xác nhận làm thế nào chúng ta để cho Đức Chúa Trời khảo sát và kiểm soát lương tâm của chúng ta.

Có một sinh viên đã viết trong kỳ khảo hạch như vầy: “Hãy canh chừng lương tâm! Nó lại đến nữa đấy!!!”

Chúng ta có muốn bình an không? Hãy để cho lương tâm biết vâng phục và chúng ta sẽ có được một tấm lòng bình an vĩnh cữu.

CÂU HỎI ÔN LẠI :

901. Lương tâm là gì?

902. Lương tâm có phải là tiếng nói của Đức Chúa Trời không? Tại sao?

903. Hãy liệt kê bảy loại lương tâm như đã được liệt kê trong Lkinh Thánh.

904. Loại lương tâm nào mà người ta sẽ có trong thời hiện đại?

905. Hai điều gì mà lương tâm làm theo như Rô-Ma 2:15.

906. Làm thế nào một lương tâm có thể được tẩy sạch?

907. Có phải “lương tâm trong sạch” theo II.Ti-mô-thê 1:3 và I.Ti-mô-thê 3:9 là giống nhau không? Tại sao?

908. Một người mới tin đạo hay một Cơ-Đốc nhân non trẻ có nên luôn luôn tin vào lương tâm của người aayds không? Tại sao?

909. Có sự phân biệt giữa “một tấm lòng trong sạch” và “lương tâm tốt” trong I.Ti-mô-thê 1:5 không?

910. Đâu là những khu vực thẳng đứng và nằm ngang mà ở đó lương tâm đang hoạt đông?




Giáo Lý Căn Bản 88 – Địa Ngục

Bài 88

Địa Ngục

 

GIỚI THIỆU

Trong bài 40 chúng ta đã nghiên cứu về Satan và đã biết rằng Địa ngục hay Hồ lữa là số phận cuối cùng của nó.

Dường như các thiên sứ đã phạm tội cùng Satan thậm chí hiện nay đang đợi tại Địa ngục để chờ phán xét. II. Phi-e-rơ 2:4 “Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét…”

Kinh Thánh dạy rằng kẻ ác là những kẻ từ chối Đấng Christ, cuối cùng sẽ bị quăng vào trong Địa ngục. Thi-thiên 9:17 “Kẻ ác bị xô xuống Âm phủ, và các dân quên Đức Chúa Trời cũng vậy”

Có một Địa ngục trường cửu không? Kinh Thánh tuyên bố là có bằng một thứ ngôn ngữ xác quyết. Địa ngục là một thực tế, một sự kiện gớm ghiếc được nhận biết.

Có đến 162 câu chỉ trong Kinh Thánh Tân Ước nói về kỳ tận thế và nó vẫn đang đợi chờ kẻ không ăn năn và có trên 70 câu trong số các câu này được chính Chúa tuyên bố.

I.ĐỊNH NGHĨA_ Địa Ngục là gì?

Địa ngục là sự trục xuất khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời. II.Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 “Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài”.

Địa ngục là nơi đau đớn và trừng phạt. Lu-ca 16:23 “Người giàu ở nơi Âm phủ, đang đau đớn ngước mắt lên…”

Một số người nhạo báng và nói rằng: “Địa ngục ở đâu?”. Kinh Thánh nói rằng nó xuống sâu bên dưới. (Ê-sai 14:9), Ê-xê-chiên 32: 27 “… những lính chiến ấy đã xuống nơi Âm phủ…”

Dân-số-ký 16:30-33, “…đất há miệng ra và nuốt họ còn đang sống mà xuống Âm phủ…”

Một trong những nan đề trong việc nghiên cứu về Địa ngục là có nhiều thuật ngữ khác nhau chỉ về nó được xử dụng.

Trong ngôn ngữ gốc có ba từ được dùng: (1) Sheol (2) Hades (3)Gehenna.

Tuy nhiên, bất hạnh thay trong tiến Anh các từ này được dịch là hell, pit, grave, đôi khi làm mất đi sức mạnh của ngôn ngữ gốc và khiến cho Các chứng nhân Đức Giê-hô-va và những Hệ phái khác một lỗ hổng để nói rằng Địa ngục chỉ là hầm mộ (grave).

II. NGUỒN GỐC CỦA ĐỊA NGỤC

Trong nguyên thuỷ, Địa ngục để dành cho ma quỉ và các quỉ sứ của nó.

Ma-thi-ơ 25:41 “Hởi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó..”

Địa ngục đã không bao giờ dành cho con người nhưng nếu loài người cứ nhất quyết từ chối Thiên đàng thông qua Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ, thì họ sẽ phải đi cùng với Satan mãi mãi.

III. KÍCH THƯỚC CỦA ĐỊA NGỤC

Bởi vì con người cứ khăng khăng đi đến đó, thế nên Đức Chúa Trời đã phải mở rộng thêm Địa ngục.

Ê-sai 5:14 “Vậy nên, sự ham muốn của Âm phủ đã rộng thêm, hả miệng vô ngần”

Châm ngôn 27:20 “Âm phủ và vực sâu không hề dầy vậy”

IV.SỰ MÔ TẢ VỀ ĐỊA NGỤC

1. Đó là nơi trừng phạt. Ma-thi-ơ 25: 46 “Rồi những kẻ này sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời”.

2. Đó là nơi đau đớn. Lu-ca 16: 23 “Người giàu ở nơi Âm phủ, đang bị đau đớn, ngước mắt lên..”

3. Đó là nơi có lửa hừng. Ma-thi-ơ 13: 42,50; Khải huyền 20:15; Khải huyền 24:10; Ma-thi-ơ 3:12; Ê-sai 33:14

4. Là nơi có sâu bọ: Mác 9:44,46,48 “đó là nơi sâu bọ của chúng chẳng hề chết và là nơi lửa chẳng hề tắt”

5. Trong Lu-ca 16:23, ở đó con người đã có khả năng nhận ra những kẻ khác.

6. Trong Luca 16:27, ở đó con người có khả năng cầu nguyện, mặc dầu lời cầu nguyện bị từ chối.

7. Trong Lu-ca 16:24-27. Ở đó con người vẫn còn có sự ham muốn. Anh ta mong muốn có nước để uống và mong muốn có được sứ mạng đi đến rao giảng để làm chứng cho anh em mình. Cảnh báo cho họ biết để khỏi phải đến địa ngục.

V. THỜI HẠN CỦA ĐỊA NGỤC

Kinh Thánh đã lặp đi lặp lại rằng cả Thiên Đàng và Địa Ngục đều trải qua mãi mãi, đời đời. Ma-thi-ơ 25: 46 :”Rồi những kẻ này sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời”.

Chúng ta có thể không có khả năng để hiểu được điều này, tuy nhiên chúng ta chấp nhận điều đó là thật, vì Đức Chúa Trời đã phán như vậy.

Giáo lý này hoà hợp sâu sắc với niềm tin có nguồn gốc bẩm sinh của con người.

Có một ít quan điểm chống đối với sự kện Thiên đàng vĩnh cữu. Thế thì tại sao lại bác bỏ về sự trừng phạt đời đời?

Nếu một quan điểm bị bác bỏ thì phải công nhận quan điểm kia.

VI. NHỮNG SỰ CHỐNG ĐỐI ĐỐI VỚI GIÁO LÝ NÀY:

1. Giáo thuyết này tương phản với tình yêu của Đức Chúa Trời.

Cùng Kinh Thánh đó nói về tình yêu của Đức Chúa Trời, cũng nói về sự công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời thì quân bình cả về tình yêu và công bình.

2. Có sự cần thiết cho sự trừng phạt đời đời hay không? Phải chăng tất cả mọi tội lỗi sẽ không bị trả giá?

Hình phạt dành cho mỗi tội lỗi là sự chết. Rô-ma 6:23 “Vì tiền công

của tội lỗi là sự chết”

3. Chẳng phải không là bất công sao khi tuyên phán hình phạt đời đời cho con người chỉ vì mỗi một tội lỗi?

Sự trừng phạt đời đời không có nghĩa là sự trừng phạt ngang bằng nhau.

Thời gian có thể giống nhau, nhưng các mức độ của sự trừng phạt sẽ

thay đổi.

4. Kẻ bị phán xét nơi ngày sau rót sẽ không ăn năn, tìm kiếm Chúa và sẽ

bị bỏ quên trong Địa Ngục chứ?

Sự cứu rỗi chỉ giới hạn trong đời này. Tất cả những lời cầu nguyện của

kẻ bị phán xét nơi ngày sau rốt đều bị từ chối. Lu-ca 16: 24-27, những

lời cầu nguyện xin được giãi phóng và cứu rỗi lúc ấy sẽ bị từ chối mãi

mãi.

5. Chẳng phải là độc ác lắm sao khi nghĩ đến những con người bị phán xét

nơi ngày sau rốt đó sẽ bị phó cho sự hư mất?

Kẻ bất khiết sẽ được yên ủi để tránh xa sự hiện diện thánh của một Đức

Chúa Trời công bình.

6. Từ “eternal” (đời đời) đôi khi không có nghĩa là “forever and forever”

(mãi mãi).

Đây là một từ giống nhau có liên quan về Đức Chúa Trời. Rô-ma 16:26

“Đức Chúa Trời hằng sống” (The everlasting God); chỉ về sự sống,

Giăng 3:16 “sự sống đời đời” (everlasting life) chỉ về các phần thưởng,

Hê-bê-rơ 9:15 “cơ nghiệp đời đời” (eternal inheritance).

7. Chắc chắn bạn không tin từ ngữ hồ lửa theo nghĩa đen chứ? (từ ngữ tương phản). Cho dù đó là theo nghĩa đen hay là theo biểu tượng thì quan điểm ấy nói lên rằng đó là nơi trừng phạt dành cho thân thể và linh hồn của con người, các thiên sứ và ma quỉ là những kẻ từ chối Chúa.

8. Chắc chắn bạn không dạy rằng Đức Chúa Trời hành hạ kẻ hư mất.

Lương tâm và ký ức sẽ hành hạ người ta nơi địa ngục.

9. Bạn nghĩ rằng Địa ngục là một tình trạng hay một nơi chốn?

Có lẽ Địa ngục vừa là một tình trạng vừa là một nơi xác định.

10. Phải chăng từ “Hell” địa ngục không có nghĩa là mồ mã “grave” nơi mà người lành và kẻ ác đều phải đi đến?

Trong Lu-ca 16, cả kẻ chết và người sống đều đã đi đến huyệt mộ, vì cả hai đều được chôn, nhưng nơi cư ngụ linh hồn của hai loại người này thì khác nhau. Một người thì ở nơi được an ủi, còn người kia thì ở nơi đau đớn và cả hai bị phân cách nhau bởi một vực sâu ngăn không thể qua lại được.

11. Phải chăng Địa ngục “Hell” hay “Hades” hay “Gehenna” chỉ có nghĩa là nơi huỷ diệt?

Người theo thuyết có sự huỷ diệt linh hồn sau khi chết nói rằng trong II. Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 “Họ sẽ bị hình phạt bằng sự hư mất đời đời xa cách mặt Chúa…” đề cập đến những kết quả hay hậu quả của sự trừng phạt.

Chúng ta chân thành tin rằng đó là sự hình phạt đời đời và những chủ thể có lương tâm phải bị trừng phạt. Bạn không thể trừng phạt một viên đá (Evans).

12. Sẽ không có một giai đoạn để thử thách sau khi chết chứ?

Chắc chắn là không! Hãy xem xét Hê-bê-rơ 9:27; Mác 9:42-50; Ma-thi-ơ 18:8,9; 25:46.

VII.CÁC MỨC ĐỘ TRỪNG PHẠT NƠI ĐỊA NGỤC:

-Phục truyền 32:22: “Vì có lửa nổi phừng trong cơn giận ta. Cháy cho đến đáy sâu Âm phủ”

-Ma-thi-ơ 10:15. Mác 6: 11, Lu-ca 10:12 “Đến ngày cuối cùng thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu nhẹ hơn thành này.”

Sự công bằng của Đức Chúa Trời đòi hỏi nhiều mức độ trừng phạt. Có lẽ những người sẽ chịu những ngọn lửa nóng nhất sẽ là nhừng người chối bỏ Chúa trong mọi thời đại.

KẾT LUẬN:

Làm thế nào một người phải đi vào Điạ ngục? Bởi trể nải về sự cứu rỗi. Hê-bê-rơ 2:3 “mà nếu ta còn trể nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được?”.

Làm thế nào một người có thể tránh được Địa ngục? Bằng cách tiếp nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của riêng mình. Châm ngôn 15:24.

CÁC CÂU HỎI ÔN LẠI:

871. Ai sẽ ở trong Địa ngục theo như Thi-thiên 9:17?

872. Địa ngục là gì theo như II.Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 và Lu-ca 16:23?

873. Nếu Địa ngục là nơi dưới sâu đối với người Trung Hoa. Thế thì Địa ngục là ở đâu đối với người Mỹ Châu hay người Phi Châu? (Ê-sai 14:9)

874. Nguồn gốc của Địa ngục là gì?

875. Ê-sai 514 dạy điều gì về Địa ngục

876. Đưa ra một sự mô tả gấp 7 lần về Địa ngục?

877. Làm thế nào chúng ta bết được rằng cả Thiên đàng và Địa ngục thì có đời đời?

878. Câu sau đây là đúng hay sai? : “Địa ngục tương phản (mâu thuẩn) với tình yêu của Đức Chúa Trời”. Hãy giải thích.

879. Một linh hồn bị phán xét nơi ngày sau rót ở nơi Địa ngục sẽ có thể ăn năn, tìm kiếm Chúa và sự tha tội hay không? Tại sao?

880. Chúng ta có thể học được điều gì về Địa ngục từ Phục truyền 32:22 và trong Ma-thi-ơ 10:15?




Giáo Lý Căn Bản 87 – Thiên Đàng

Bài 87

Thiên Đàng

 

GIỚI THIỆU

Các Ghi Chú được trích từ D.L Moody (NP số 5) và các số khác.

Carpenter Kao (Panhsien, Tây Trung Quốc): “Những người theo Đạo Phật nói nhiều về Địa Ngục bởi vì họ sẽ đi đến đó, chúng ta đề cập nhiều về Thiên Đàng bởi vì chúng ta sẽ đến đó”. Chủ đề bài giảng yêu thích của D.L. Moody là đề tài đề cập về “Thiên Đàng.”

“Tối nay chúng ta ở gần Thiên Đàng hơn bất cứ lúc nào khác trước đây trong đời!”

Câu chuyện: Có một người nọ cứ kêu lên “Amen!” suốt trong bài giảng ấy. Vì có một Mục Sư diễn giả được mời sắp đến buổi nhóm, thế nên có một người đề nghị tặng người ấy một đôi ủng nếu ông ta chịu giữ yên lặng suốt trong bài giảng. Ông ta chấp nhận lời đề nghị này. Vị Mục Sư diễn giả đề cập về Thiên Đàng và tất cả những điều kỳ diệu của nó. Cuối cùng, người đàn ông này không thể nào kìm chế được mình nữa nên đã hét lên: “Có đôi ủng hay không cũng mặc! Tôi là phải la lên, Amen! Ha-lê-lu-gia!”

I. NGUỒN GỐC CỦA THIÊN ĐÀNG

Nó đã được Đức Chúa Trời tạo ra từ thuở ban đầu. Sáng Thế Ký 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Khi nào và bao lâu là điều bí mật đối với con người! Thiên Đàng là nơi ở đời đời. II. Cô-rinh-tô 5:1 “…chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra.”

Thiên Đàng là một nơi đã được sửa soạn (Giăng 14:2) để dành cho những con người đã sửa soạn.

II. THIÊN ĐÀNG LÀ GÌ?

Thiên Đàng là nơi ở của Đức Chúa Trời Ma-thi-ơ 6:9 “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (Thiên Đàng)…”. II. Cô-rinh-tô 12:2 đề cập về một người đã được cất lên đến tầng trời thứ ba. Từng trời thứ nhất là khu vực mà chim chóc bay lượn. Từng trời thứ hai là khu vực mà các phi thuyền đến được. Từng trời thứ ba là nơi ở và ngai của Đức Chúa Trời.

Thiên Đàng là một công trình xây dựng. II.Cô-rinh-tô 5:1 “Vả, chúng ta biết rằng nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời ở trên trời, bởi Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra”

Thiên Đàng là nơi ở của Đức Chúa Trời, không phải bởi tay người làm ra. (II.Cô-rinh-tô 5:1)

Thiên Đàng được gọi là vựa lúa. Ma-thi-ơ 3:12 “…Ngài sẽ chứa lúa vào kho…”. Điều này xảy ra lúc phân chia lúa mì, lúa tốt thì được đem vào Thiên Đàng, còn rơm rạ thì bị đốt đi.

Thiên Đàng được gọi là nước của Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Ê-phê-sô 5:5 “…vì anh em biết rõ rằng những kẻ gian dâm, ô-uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.”

Thiên Đàng được gọi là Nhà Cha. Giăng14:2 : “Trong Nhà Cha ta có nhiều chổ ở…”

Thiên Đàng được gọi là nơi yên nghỉ. Hê-bê-rơ 4:9 “Vậy thì còn lại một ngày yên nghỉ cho dân Đức Chúa Trời”

Thiên Đàng được gọi là Ba-ra-đi (Lạc Viên). II.Cô-rinh-tô 12:4 “Tôi biết người đó được cất lên đến chốn Ba-ra-đi”

III. KÍCH THƯỚC CỦA THIÊN ĐÀNG

Thiên Đàng không thể đo lường được. Giê-rê-mi 31: 37 “Đức Giê-hô-va phán rằng: Nếu trên có thể đo được trời…”

Khải-Huyền 21:1 “Đoạn tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa.”

Một số người đã nhận xét cách sai lầm rằng thành Giê-ru-sa-lem mới trong chương này là Thiên Đàng.

Thành Giê-ru-sa-lem mới có chiều dài, chiều rộng và chiều cao bằng nhau. Đó là khoảng 12,000 furlongs (khoảng 2.500 cây số.)

Có một người (Tôi tin là Bob Ripley) tính toán dung tích lập phương của thành có khả năng chứa được được 47.679.308.800.000.000 người.(bốn mươi bảy triệu, sáu trăm bảy mươi chín ngàn, ba trăm linh tám tỷ và tám trăm triệu).

Tuy nhiên con số đó không hàm chứa cả khoảng trống dành cho cây cối và con sông sự sống.

Từ buổi sáng tạo cho đến năm 1928,đã có trên ba trăm ngàn tỷ tỷ (302.231.454.903.657.293.676.543) người đã được sinh ra.

Từ thời sáng tạo cho đến ngày nay có khoảng 77 thế hệ (42 thế hệ trước và 35 thế hệ sau Đấng Christ).

Nếu như tất cả những người này vẫn còn sống thì họ sẽ bao phủ trái đất với dộ dầy đến 113.326 dặm Anh.

Tính từ thời kỳ giữa Đấng Christ đến thời kỳ Columbus (Kha-luân-bố) thì cũng đã có đủ số người để làm đầy cả thành Giê-ru-sa-lem mới.

Ông Ripley nói rằng nếu đây là Thiên đàng thì tốt hơn bạn phải giữ chổ trước cho mình từ lúc rất sớm!

Tuy nhiên tôi chắc rằng đấy không phải là Thiên Đàng vì thành Giê-ru-sa-lem phát xuất từ Thiên đàng nhưng chính nó không phải là Thiên Đàng! (Khải-huyền 21:2,10).

Nhưng Thiên đàng dành cho một số ít người hạn chế, là những người thánh sạch và những lâu đài dinh thự rõ ràng được hạn chế , thế nên thật khôn ngoan nếu đăng ký một toà lâu đài này chính ngay ngày nay.

IV. NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA THIÊN ĐÀNG

-Thiên Đàng là nơi cao cả. Ê-sai 57:15 “Ta ngự trong nơi cao và thánh”

Thiên Đàng là nơi thánh. Thi-thiên 20:6 “Từ trên trời thánh Ngài sẽ trả lời người”

-Thiên Đàng là nơi vui vẻ. Khải Huyền 7:17 “Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng”.

-Thiên Đàng là nơi không có sự chết, nước mắt, buồn khổ, kêu la hay đau đớn. Khải huyền 21:4 “Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi”.

-Thiên Đàng là nơi không có ban đêm hay bóng tối. Khải huyền 22: 3-5 “…Đêm không còn có nữa, và chúng sẽ không cần đến ánh sáng đèn hay ánh sáng mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho…”

-Thiên Đàng là nơi không có sự đói, khát hay nắng gắt. Khải-huyền 7:16 “Chúng sẽ không đói, không khát nữa; cũng không có mặt trời, hoặc cơn nắng gắt nào hại đến mình…”

Thời tiết cũng sẽ không quá lạnh giống như tại Bắc Trung Quốc hay tại Canada.

V. DÂN CƯ Ở THIÊN ĐÀNG

Không có:

-a: Ma quỉ sẽ không bao giờ được vào đó. Khải huyền 20:10

-b: Bọn trộm cắp sẽ không bao giờ được vào đó. Lu-ca 12:33

-c: Khải huyền 21:8 “Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối…”

-d: Ga-la-ti 5:19-21: 17 hậu quả đó của xác thịt sẽ không bao giờ được vào trong Thiên Đàng hoàn hảo.

Những người được ở đó:

-a: Đức Chúa Cha sống ở đó. Ma-thi-ơ 6: 9

-b: Đức Chúa Giê-xu đã đến đó sau khi Ngài thăng thiên. Công-vụ 3:21

-c: Các thiên-sứ và các đạo cơ binh này sẽ ở đó. Ma-thi-ơ 18:10; 26:53

-d: Ê-nóc và Ê-li, đã được biến hoá, sống ở đó. Sáng-thế ký 5:24; Ma-thi-ơ 17:3; II. Các Vua 2:11.

-e: Tất cả những ai đã chết mà tin Chúa Giê-su, sẽ ở đó. I.Tê-sa-lô-ni-ca 4:14 “…thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-xu cùng đến với Ngài”

-f: Môi-se đã được Chúa chôn, có mặt ở đó. Ma-thi-ơ 17:3

VI. THIÊN ĐÀNG LÀ NƠI HOÀN HẢO. Khải Huyền 22:1-5

Các chú thích của H.W. Peeler, Viện Nghiên Cứu Kinh Thánh Miltar Memorial.

1. Một nơi thoả lòng hoàn toàn, Khải huyền 22:1,2, một sông nước sự sống trong lành, một cây có 12 loại trái.Một bức tranh về sự an ủi thanh nhàn tuyệt hảo.

2. Một nơi cung cấp và dự phòng tuyệt hảo.Hê-bê-rơ 22:2. Lá của các cây dùng để chữa lành cho các dân tộc. Mọi thứ đều tốt đẹp, được cung cấp một cách đầy vinh quang, rời rộng.

3. Một nơi hoàn toàn không có tội lỗi. Khải huyền 22:3. Không còn có sự rủa sả. Lời nguyền rủa tại vườn Ê-đên xưa bị tước bỏ khỏi loài người mãi mãi. Bạn có thể hình dung ra được sự vui mừng đích thực đó không?

4. Một nơi có sự cai trị tuyệt vời. Khải huyền 22:3. Được cai trị bởi duy một Đức Chúa Trời và Chiên Con.

5. Một nơi phục sự hoàn hảo. Khải huyền 22:3 “…các tôi tớ Ngài sẽ hầu hạ Ngài”. Tư tưởng này có làm hư hoại bức tranh của Thiên Đàng không? Chắc chắn là không! Chúng ta phục sự với nổi vui mừng.

6. Một nơi có mối giao thông hoàn hảo. Khải huyền 22:4 “Và chúng sẽ thấy mặt Chúa”. Tuyệt vời!

7. Một nơi có sự sở hoàn toàn. Chúng ta sẽ thuộc về một mình Ngài. Khải huyền 22:4 ” …và danh Chúa sẽ ở trên trán mình”. Lòng trung tín không bị phân chia. Chỉ thuộc về Ngài và tất cả là dành cho Ngài!

8. Một nơi có sự vinh hiển hoàn toàn. Khải huyền 22:5. Không có ánh sáng đèn do con người làm ra. Họ sẽ đồng trị mãi mãi.

KẾT LUẬN

Bạn có muốn đến Thiên Đàng không? Bạn đã sửa soạn chưa? Thiên Đàng dành cho những người đã sửa soạn. Một kẻ chẳng tin sẽ thấy rằng Thiên Đàng sẽ không phù hợp với họ bởi vì sự thánh khiết của nó.

Câu chuyện: Có một ông vua nọ tặng cho anh hề của mình một cây gậy chống của ông để tôn vinh anh ta là anh hề giỏi nhất hiện thời, là một kẻ ngu dại nhất. Cây gậy đó sẽ chỉ được tặng lại cho ai là kẻ ngu dại lớn lao hơn. Ngày nọ vua sắp băng hà, anh hề đến để viếng nhà vua. Anh hề hỏi nhà vua rằng ông đã làm gì để chuẩn bị đi đến Thiên đàng không? “Không có gì!”, vua trả lời. Thế rồi anh hề trân trọng trao lại cho nhà vua cây gậy và thưa rằng: “Bệ hạ chính là con người đại ngốc!”.

CÁC CÂU HỎI ÔN LẠI:

861. Hãy phân biệt ba Từng trời?

862. Từng trời nào được đề cập đến trong Sáng Thế Ký 1:1?

863. Thiên đàng là một trạng thái hay một nơi chốn? Hãy giải thích

864. Thiên đàng lớn bao nhiêu?

865. Có phải thành Giê-ru-sa-lem mới được đề cập trong Khải huyền

21:16,17 là Thiên đàng không? Tại sao?

866. Hãy liệt kê 7 đặc tính của Thiên đàng?

867. Hãy nêu tên 8 loại người không được vào Thiên đàng theo như Khải huyền 21:8.

868. Hãy liệt kê 17 hậu quả của xác thịt sẽ không bao giờ được vào Thiên đang?

869. Ngày nay ai đang sống trên Thiên đàng?

870. Hãy mô tả Thiên đàng được đề cập trong Khải huyền 22:1-5?





Giáo Lý Căn Bản 86 – Vinh Quang Tương Lai Và Các Phần Thưởng

Bài 86

Vinh Quang Tương Lai Và Các Phần Thưởng

 

GIỚI THIỆU

2 Cô-rinh-tô 4:17 “Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên.”

Qua cuộc nghiên cứu tôi tin rằng các phần thưởng được phát ra tại trước ngai Chúa sẽ bao gồm các mão miện và những điều vinh hiển khác.

2 Cô-rinh-tô 4:17 nói về sự hoạn nạn nhẹ và tạm, đó là hình ảnh mô tả thế giới đau buồn, khốn khổ, nước mắt, nan đề, v.v.

Giây phút chúng ta bước qua bờ bên kia thì sự hoạn nạn tạm này sẽ được thay thế bằng “sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên.”

Điều này có nghĩa gì? Đây là một mỹ từ pháp tương phản hai thế giới khác biệt, “nhẹ” và “tạm” đối lại “vô lượng” và “vô biên.”

Nếu sự ngược lại là đúng thì khốn khổ thay cho chúng ta là những người tin. 1 Cô-rinh-tô 15:19.

Một trong những ơn phước đầu tiên là cái chết của người tín hữu—một cái chết mà cái nọc đã được lấy ra rồi, Giăng 8:51. 1 Cô-rinh-tô 15:55.

Chết đối với người tín hữu như là ngủ trong Chúa Cứu Thế Jêsus, Giăng 11:11; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14.

Rồi thì người đó đội nhiên thức giấc trong sự hiện diện của Chúa. Phi-líp 1:23.

I. VINH QUANG TƯƠNG LAI CỦA NGƯỜI TÍN HỮU

1. Được ở với Vua Jêsus. Giăng 14:3, “3 Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.”

Chúng ta cả thảy vui mừng ở trong sự hiện diện của Đấng cao cả.

2. Được xem mặt Chúa. Thi Thiên 17:15, “Còn tôi, nhờ sự công bình, tôi sẽ được thấy mặt Chúa; Khi tôi tỉnh thức, tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Chúa.”

2 Cô-rinh-tô 4:6, “…vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ.” Chúng ta sẽ được ngắm xem vinh hiển đó! Thật là một điều vinh hạnh được ngắm khuôn mặt vinh diệu của Ngài.

Khải Huyền 22:4, “Chúng sẽ được thấy mặt Chúa.”

3. Được ngắm sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế. Giăng 17:24, “Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu Con trước khi sáng thế.”

Ai cũng thích ngắm cô dâu đẹp! Nhưng nhìn ngắm sự vinh quang của Chúa còn đẹp tuyệt vời hơn vô cùng!

4. Được vinh hiển với Chúa Cứu Thế. Rô-ma 8:17-18, “Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài. Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta.”

Chúng ta không biết điều này nghĩa là gì, nhưng chắc chắn phải là một điều tuyệt vời.

5. Đồng trị với Chúa Cứu Thế. 2 Ti-mô-thê 2:12, “Lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta.”

Trong ẩn dụ trong Ma-thi-ơ 25:20-23 về các ta-lâng, những người trung tín được lập làm người cai trị trên nhiều điều.

Trong ẩn dụ trong Lu-ca 19:12-19 về vị thế tử và các nén bạc, người đầy tớ có một nén bạc làm lợi ra được mười nén nữa và được thưởng cai trị mười thành.

Người khác có một nén sanh lợi ra được thêm năm nén, thì được lập cai trị năm thành.

6. Được thừa hưởng tất cả. Khải Huyền 21:7, “Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp, ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.”

Công Vụ 26:18, người tín đồ là người có gia tài trong chốn vinh hiển.

7. Được chiếu sáng như các ngôi sao. Đa-ni-ên 12:3, “Những kẻ khôn sáng sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung; và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi.”

II. CÁC MÃO MIỆN MÀ NGƯỜI TÍN ĐỒ CÓ THỂ THẮNG ĐƯỢC

Tôi được dịp đến thăm Tháp Luân Đôn để xem Vương Miện Châu Ngọc năm 1951.

Vương Miện của Nữ Hoàng chứa 3.000 viên kim cương và 300 châu ngọc khác.

Vương Miện Hoàng Gia chứa 6.000 viên kim cương và các đá quý khác.

Khải Huyền 19:12, “Trên đầu Ngài có nhiều mão triều thiên.” (Đầu của Chúa Cứu Thế Jêsus Christ).

Bạn nghĩ bạn sẽ chiếm được bao nhiêu mão miện? Một tín đồ có thể thắng được một số các mão miệng.

1. Mão miện cho người chạy đua. 1 Cô-rinh-tô 9:24-25, mão miện không hay hư nát, “Anh em há chẳng biết rằng trong cuộc chạy thi nơi trường đua, hết thảy đều chạy, nhưng chỉ một người được thưởng sao? Vậy, anh em hãy chạy cách nào cho được thưởng. Hết thảy những người đua tranh, tự mình chịu lấy mọi sự kiêng kỵ, họ chịu vậy để được mão triều thiên hay hư nát. Nhưng chúng ta chịu vậy để được mão triều thiên không hay hư nát.”

Hê-bơ-rơ 12:1, “Chúng ta cũng nên … lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta.”

Một mão miện không hay hư nát, không phải bằng giấy, nhưng là mão vĩnh hằng.

2. Mão miện cho người đưa người đến Chúa. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:19, Mão miện của sự vui mừng. “Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao?”

Có lẽ mỗi người trở lại cùng Chúa là một viên ngọc trong mão miện đó. Có bao nhiêu viên ngọc trong mão miện của Bạn? Bạn phải có ít nhất một viên ngọc cho mỗi năm trong cuộc đời theo Chúa của Bạn.

3. Mão miện cho người trông chờ. 2 Ti-mô-thê 4:8, mão miện của sự công chính, “Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.”

Mọi người phải thắng cho được mão miện này. Mỗi người trong chúng ta phải canh chừng và chờ mong Chúa Jêsus Christ của chúng ta trở lại.

4. Mão miện cho người trung tín, Gia-cơ 1:12, mão miện của sự sống, “Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.”

Có ba điều kiện để thắng được mão miện này:

a. Chịu đựng sự cám dỗ, thắng hơn sự gian ác.

b. Yêu kính Chúa. Điều này hẳn là dễ, yêu mến Chúa Jêsus.

Khải Huyền 2:10, “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.”

c. Trung tín cho đến chết, chịu đựng cho đến cuối cùng. Không phải chỉ trung tín cho đến khi chết, đến cuối cuộc đời, nhưng trung tín cho “đến chết” dầu phải chết vì Chúa.

Đây là khúc Kinh Thánh được giảng vào ngày 14 tháng 6, 1936, ngày mà tôi chịu báp-tem và gia nhập hội thánh. Bài giảng do Mục Sư A.C. Leifer giảng.

5. Mão triều thiên cho các vị mục sư thật. 1 Phi-e-rơ 5:4, mão miện của sự vinh quang, “Khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra, anh em sẽ được mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo.”

Đây là mão triều thiên cho các trưởng lão, những người chăn bầy dưới quyền của Chúa, các mục sư, các giáo sĩ, các giáo sư.

6. Mão triều thiên cho tất cả những người được cứu, mão miện bằng vàng. Khải Huyền 4:4, “Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng.”

Không phải chỉ các vua và nữ hoàng trên trần gian có vương miện. Đây là những người được cứu khỏi trần gian.

II. KẾT LUẬN

Sự thách thức ở đây là phải trung tín. Khải Huyền 3:11, “Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi.”

Có thể thắng được mão triều thiên rồi lại mất. Đó có phải là một bi kịch lớn không? Nguyện Chúa cho điều đó không xảy ra cho chúng ta.

Giăng 19:5, một mão miện giả bằng gai nhọn đã đội trên đầu Chúa Cứu Thế. Điều đó tỏ ra sự băng hoại của loài người.

Trong Khải Huyền 4:10-11, các trưởng lão lấy mão triều thiên dâng lên cho Chúa Jêsus và nói: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực.”

Tôi muốn có nhiều mão triều thiên để đặt dưới chân Chúa trong giờ phút đó. Thật hổ thẹn cho người tín đồ nào không có lấy một mão triều thiên để đặt trước bệ chân Chúa.

Chúa sẽ thắng các mão triều thiên cho chúng ta khi chúng ta quy phục Ngài. Các mão triều thiên xứng đáng thuộc về Ngài, vì Ngài đã thắng được các mão triều thiên ấy. Tôi ước mong có thể đặt nhiều mão triều thiên tại chân phước hạnh của Ngài.

CÁC CÂU HỎI HỌC ÔN

851. Giải thích sự tương phản trong 2 Cô-rinh-tô 4:17

852. Phước hạnh trong 1 Cô-rinh-tô 15:55 mà người tín đồ có thể trông mong là gì?

853. Liệt kê 7 điều có thể được bao gồm trong sự vinh hiển tương lai của người tín đồ?

854. Trong 7 điều đó điều nào Bạn cho là lớn nhất?

855. Kể tên 5 loại mão triều thiên khác nhau mà người tín đồ có thể được đội.

856. Kết hiệp Gia-cơ 1:12 và Khải Huyền 2:10, ba điều kiện để đạt được mão sự sống là gì?

857. Các điều kiện để đạt được mão triều thiên không hay hư nát là gì?

858. Trong các mão triều thiên, Bạn nghĩ mão nào dễ đạt được nhất?

859. Có thể đạt được một mão miện, rồi sao đó lại mất đi không? Xin giải thích.

860. Bạn trông mong sẽ làm gì khi Khải Huyền 4:10-11 trở thành thực tại?




Giáo Lý Căn Bản 85 – NHỮNG VIỆC PHÁN XÉT.

Bài 85

NHỮNG VIỆC PHÁN XÉT.

 

LỜI GIỚI THIÊU:

Trong bài học trước, chúng ta đã nói về sự phán xét chắc chắn sẽ xảy ra và chúng ta đã giới thiệu qua bảy sự phán xét khác nhau.

Trong bài học nầy, chúng tôi đề nghị bố cục ngắn gọn về một số chi tiết của từng sự phán xét nói trên. Đây không phải chỉ có những sự phán xét nầy mà thôi, trong Kinh thánh còn cho thấy có sự phán xét bằng nước lụt trong thời Nô-ê và sự phán xét làm lộn xộn tiếng nói tại tháp Ba-bên. Cũng đã từng có sự phán xét nhằm vào các cá nhân, các dân tộc vào các thời điểm khác nhau.

Chúng ta sẽ nghiên cứu 5 điểm chính cho mỗi sự phán xét.

Có lẽ sự phán xét chính đầu tiên là biến cố địa chất đã xảy ra cho dòng giống người trước thời A-đam trong khoảng thời gian giữa hai câu đầu của sách Sáng thế ký.

I. SỰ PHÁN XÉT TẠI THẬP TỰ GIÁ.

1. Đề tài: Đấng Christ mang lấy tội lỗi chúng ta.

Giăng 1:29 ” Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi”.

Cũng xem Hê-bơ-rơ 2:9, I Giăng 2:2.

2. Thời điểm: Khoảng năm 30 s.c. khi Đấng Christ bị treo trên cây thập tự.

3. Địa điểm: Tại đồi Gô-gô-tha, khi Chúa bị đóng đinh.

Giăng 19:17 -18, Rô-ma 1:8 ” Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình… “.

Cơn thạnh nộ nầy đã biểu lộ ra tại thập tự giá.

Đức Chúa Trời đã kéo xuống bức màn tối tăm. Ma-thi-ơ 27:45.

4. Cơ sở: Luật pháp.

Rô-ma 6:23 ” Vì tiền công của tội lỗi là sự chết “, cũng xem:

Ê- xê-chi -ên 18:4 ” Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết “.

Tội lỗi bị xét đoán bởi luật pháp trọn vẹn. Gia-cơ 1:25.

5. Hậu quả: Sự chết thuộc thể dành cho Đấng Christ, sự xưng công bình dành cho người có lòng tin.

I Tim 4:10 “… Ngài là Cứu Chúa của mọi người mà nhứt là của tín đồ “.

II. SỰ TỰ XÉT HÀNG NGÀY.

1. Đề tài: Các thánh đồ tự phán xét lấy mình.

I Cô-rinh-tô 11:28 “… Nhưng mỗi người phải tự xét lấy mình và như thế mới ăn bánh uống chén “.

Thi 26: 1,2 ” Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy đoán xét tôi… xin hãy dò xét và thử thách tôi, rèn luyện lòng dạ tôi “.

2. Thời điểm:

Bất cứ thời điểm nào, không phải mỗi tháng một lần vào dịp Tiệc thánh, nhưng là mỗi ngày, đặc biệt là vào những giờ Tĩnh nguyện.

3. Địa điểm:

Bất cứ nơi nào, chúng ta phải thường xuyên thông công với Chúa và sẵn sàng lắng nghe sự cảnh tỉnh nhắc nhở của Chúa Thánh Linh.

4.Cơ sở: Quyền làm con Chúa. Hê-bơ-rơ 12:6,7.

” Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu. Hễ ai mà Ngài nhận làm con thì cho roi cho vọt. Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con “.

5. Hậu quả:

Được tẩy sạch, được giải cứu khỏi sự yếu đuối, sự đau ốm và sự chết. I Cô-rinh-tô 11:30. Sự tha thứ dành cho tội nhân kèm theo sự vui mừng và bình an. I Giăng 1:9.

III. TÒA PHÁN XÉT CỦA ĐẤNG CHRIST.

1. Đề tài:

Các thánh đồ được phán xét về các việc làm của mình.

2. Thời điểm:

Khi Chúa Jêsus tái lâm. Lu-ca 14:14.

Sau sự sống lại thứ nhất. Ma-thi-ơ 16:27.

3. Địa điểm: Trên không trung. I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16, 17.

4. Cơ sở: Các việc làm của người tín đồ. I Cô-rinh-tô 3:13.

5. Hậu quả:

Các phần thưởng và mão miện dành cho người trung tín. I Cô-rinh-tô 3:14

Sự mất mát dành cho những người sản sinh ra gỗ, cỏ khô, rơm rạ I Cô-rinh-tô 3:15.

IV. SỰ PHÁN XÉT NGƯỜI DO THÁI.

1. Đề tài: Dân tộc Do thái Ê-xê-chi-ên 20:34 -38.

2. Thời điểm: Trong cơn Đại nạn.

3. Địa điểm: Giê-ru-sa-lem và vùng phụ cận. Giê 33:7.

4. Cơ sở: Sự từ chối Đức Chúa Trời. I Sa-mu-ên 8:7, Lu-ca 23:18, Công 7:51.

5. Hậu quả: Sự qui đạo của dân Do thái và họ nhận Đấng Christ là Đấng Mê-si-a. Giê 30:7, Ê-sai 66:8.

V. SỰ PHÁN XÉT CÁC DÂN TỘC.

1. Đề tài: Các dân ngoại bang.

Ma-thi-ơ 25:32 ” Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra như kẻ chăn chia chiên với dê ra “.

2. Thời điểm: Vào lúc Chúa Jêsus tái lâm.

Ma-thi-ơ 25:31 ” Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài “.

3. Địa điểm: Ở trũng Giê-hô-sa-phát.

Giô-ên 3:2 ” Ta sẽ nhóm hết thảy các nước lại và đem chúng xuống trong trũng Giô-sa-phát “.

4. Cơ sở: Sự đối xử với dân Do thái.

Ma-thi-ơ 25:40 ” Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy “.

Anh em của Đấng Christ là người Do thái.

5. Hậu quả: Sự hình phạt dành cho các dân tộc ác biểu hiệu con dê.

Ma-thi-ơ 25:41 ” Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó “.

Sự phước hạnh dành cho các dân tộc thiện biểu hiệu con chiên.

Ma-thi-ơ 25:34 ” Hỡi các người được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất “.

VI. SỰ PHÁN XÉT CÁC THIÊN SỨ SA NGÃ.

1. Đề tài: Các thiên sứ sa ngã.

2. Thời điểm: Không rõ.

( có lẽ vào sự phán xét cuối cùng tại Tòa Lớn và Trắng ).

3. Địa điểm : Không rõ.

4. Cơ sở: Có lẽ sự phản loạn do Lu-xi-phe chủ xướng lãnh đạo.




Giáo Lý Căn Bản 84 – TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST.

Bài 84

TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST.

 

LỜI GIỚI THIÊU:

Hê-bơ-rơ 9:27 ” Theo như đã định cho loài người ai nấy phải chết một lần rồi chịu phán xét. II Cô-rinh-tô 5:10 ” Ví chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST”.

Vì có hơn một lần sống lại thì cũng có hơn một lần phán xét. Vì cớ A-đam đã phạm tội, mọi người đều phải chết. Vì cớ Đấng Christ đã sống lại, mọi người đều phải sống lại để chịu phán xét.

Đức Chúa Trời đã chỉ định Con Ngài là Chúa Jêsus Christ làm Đấng xét đoán cả thế gian.

Kinh thánh nói đến ít nhất có 7 sự phán xét khác nhau:

1. Chúa Cứu thế trên thập tự giá bị xét đoán vì tội chúng ta.

2. Sự tự xét đoán của người tín đồ.

I Cô-rinh-tô 11:31″ Vì nếu chúng ta tự xét mình thì khỏi bị xét đoán.

Người tín đồ tự xét hằng ngày và xét lòng mỗi lần dự tiệc thánh.

3. Sự phán xét các tín đồ ở Tòa án Đấng Christ.

4. Sự phán xét các dân tộc. Ma-thi-ơ 25:32 ( chia chiên với dê).

5. Sự phán xét dân Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chi-ên 20:30 – 44 sau cơn đại nạn.

6. Sự phán xét các thiên sứ. Giu-đe 6.

Họ bị giữ nơi chốn tối tăm chờ phán xét.

7. Sự phán xét kẻ ác đã chết. Khải 20:12: Trước Tòa án Trắng Lớn.

I. SƯ MÔ TẢ TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST.

Trong II Cô-rinh-tô 5:10 Tòa Phán xét được gọi là ” Tòa án Đấng Christ”

Thông thường người ta tin sự phán xét nầy xảy ra trên không trung. Sự kiện nầy có lẽ được trích dẫn từ I Tê-sa-lô-ni-ca 4: 13 -17 nói về sự tái lâm, sự sống lại đầu tiên và rằng: ” Ở nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta

sẽ ở cùng Chúa luôn luôn”.

II. THỜI GIAN CỦA TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST.

1. Vào sự sống lại thứ nhất.

Lu-ca 14:14 ” đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được thưởng”.

2. Vào sự tái lâm của Đấng Christ:

Ma-thi-ơ 16:27 ” Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ. Lúc đó, Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm”.

III. AI SẼ BỊ PHÁN XÉT TẠI TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST?

Chỉ những người tín đồ mới bị phán xét tại Tòa nầy ( Tiếng Anh gọi là Boma). Trong II Cô-rinh-tô,đại danh từ ” chúng ta” được dùng 26 lần và mỗi trường hợp đều chỉ riêng về các tín đồ.

IV. ĐIỀU GÌ SẼ BỊ PHÁN XÉT TẠI TÒA ÁN

ĐẤNG CHRIST?

Sự phán xét ở đây không phải là xét xem về số phận của một người tín đồ được cứu hay không được cứu. Kinh thánh rất rõ ràng, Giăng 3:16 -18, người tin Chúa không đến sự phán xét, nhưng vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Số phận được cứu hay không đã được xác định khi còn sống.

Nhưng ở đây người tín đồ bị phán xét về các việc làm của mình. Sự tái lâm của Chúa xét xem các đầy tớ Chúa sử dụng kết quả thế nào về những ta lâng mà Ngài đã giao thác cho họ. Những tội lỗi đã phạm trước khi tin Chúa không còn bị xét xử nữa. Hê-bơ-rơ 10:17 ” Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa”. Chương kể đó của sách Hê-bơ-rơ 11, cho thấy các thánh đồ đều toàn vẹn vì mọi tội lỗi và bất toàn của họ đều được chôn giấu dưới dòng huyết của Đấng Christ.

Những tội lỗi người tín đồ đã phạm và đã xưng tội rồi sau khi tin Chúa sẽ không bị xét xử tại Tòa Án Đấng Christ.

I Giăng 1:9 ” Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”

1. Các công việc của chúng ta sẽ bị phán xét:

I Cô-rinh-tô 3:13 ” công việc mỗi người sẽ bày tỏ ra… Nó sẽ trình ra trong lửa và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chì ra”.

Truyền đạo 12:24 ” Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc”.

2. Các lời nói của chúng ta sẽ bị phán xét:

Ma-thi-ơ 12:36,37… Đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói”.

3. Các tư tưởng của chúng ta sẽ bị phán xét:

Ma-thi-ơ 15:19,20 ” Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng… ấy đó là

những điều làm dơ dáy người”.

Ma-thi-ơ 5:28 ” Nhìn… động tình tham muốn”.

4. Những sự bí mật của chúng ta sẽ bị phán xét:

Rô-ma 2:16 ” Trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi”.

5. Những động cơ của chúng ta sẽ bị phán xét:

a) Đúng: do tình yêu của Chúa cảm động. II Cô-rinh-tô 5:14.

b) Sai: do sự tự tôn vinh. I Cô-rinh-tô 3:21 ” Chớ ai khoe mình về loài người”.

V. ĐỨC CHÚA TRỜI SẼ XÉT XỬ THẾ NÀO TẠI TÒA

ÁN ĐẤNG CHRIST.

Do lửa thử chỉ ra. I Cô-rinh-tô 3:13 ” Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó, nó sẽ trình ra trong lửa và công việc của mỗi người đáng giá nào lửa sẽ chỉ ra”.

Việc nầy sẽ được phơi bày công khai. Không si có thể nói là Chúa thiên vị.

Ga-la-ti 6:7,8 ” Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy”.

VI. KẾT QUẢ Ở TÒA ÁN ĐẤNG CHRIST LÀ GÌ?

Công việc nào còn lại sẽ được thưởng. Công việc nào bị thiêu hủy thì cá nhân người đó sẽ mất thưởng.

I Cô-rinh-tô 3:15 ” Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.

Kinh thánh không nói phần thưởng bị mất là gì. Nếu phần thưởng là một mão triều thiên, thì sự mất phần thưởng hay mất một mão triều thiên sẽ đem lại xấu hổ vì chúng ta sẽ không có một mão triều thiên đem đặt dưới chân Chúa Jêsus Christ.

Những vật liệu xây dựng gồm hai loại:

1. Loại không bị thiêu hủy: vàng, bạc, cẩm thạch.

2. Loại bị thiêu hủy: gỗ, cỏ khô, rơm rạ.

Những công việc nào tiêu biểu cho vật liệu không bị thiêu hủy bởi lửa?

1. Sự công bình, một đời sống tinh sạch trước mặt Đức Chúa Trời.

2. Thành thực trước mặt mọi người và Đức Chúa trời.

3. Một đời sống đức tin: tin Đức Chúa Cha, Đức Con, Đức Thánh Linh, tin Kinh thánh…

4. Yêu thương, tình yêu thật như I Cô-rinh-tô 13 mô tả, yêu Chúa và yêu

người.

5. Nhịn nhục: II Phi 1:6. Một đức tính đáng trọng.

6. Nhu mì và khiêm nhường. Ma-thi-ơ 11:28,29. Giống như Chúa.

7. Hòa thuận: Ma-thi-ơ 5:9, II Tim 2:22 ” Đuổi theo hòa bình”

Những công việc nào tiêu biểu cho các vật liệu bị thiêu hủy bởi lửa?

1. Mọi hình thức tội lỗi và gian ác.

2. Lửa gạt, gian dối và hối lộ bị Chúa ghét.

3. Mọi hình thức không thành thật dễ bị cháy rụi.

4. Những lợi lộc đời nầy.

5. Chìm theo tham dục. I Tim 6:9 -11, II Tim 2:22. Giô-sép trong Sáng 39:12.

6. Những điều tốt được thực hiện bằng động cơ xấu.

7.Kiêu ngạo là tội đáng ghét nhất trước mặt Chúa.

VII. LÀM THẾ NÀO TÔI CÓ THỂ CHUẨN BỊ RA TÒA

ÁN ĐẤNG CHRIST?

Bằng cách thông công thường xuyên với Đấng Christ.

Bằng việc luôn tự xét mình.

Bằng việc luôn xưng tội mình.

( Đừng xưng tội lần thứ hai vì Đức Chúa Trời sẵn sàng tha tội lần thứ nhất khi ta thành thực xưng ra).

Bằng cầu nguyện và đọc Kinh thánh nhiều.

Bằng sự thường xuyên chú tâm vào ý muốn Đức Thánh Linh.

Bằng lương tâm không thể trách được trước mặt Đức chúa Trời và loài người. Công vụ 24:16.

KẾT LUẬN:

Đối với người Cơ đốc, Tòa Án Đấng Christ không phải là nơi khủng khiếp, nhưng là ngày sung sướng nhất, ngày ban thưởng.

I Cô-rinh-tô 4:5 ” Ai nấy sẽ bởi Đức Chúa Trời mà lãnh sự khen ngợi mình đáng lãnh”. Nhiều việc của chúng ta có thể bị thiêu hủy, nhưng chắc Đức Chúa Trời sẽ tìm ra một việc nào đó để khen thưởng chúng ta.




Giáo Lý Căn Bản 83 – SƯ SỐNG LẠI

Bài 83

SƯ SỐNG LẠI

 

LỜI GIỚI THIÊU:

Khi chúng ta vĩnh viễn chia tay một người thân yêu, nhiều câu hỏi dấy lên trong tâm trí chúng ta đòi hỏi câu trả lời.

Gióp 14:14 ” Nếu một người chết có sống lại được không?”.

Ông Gióp đã tự trả lời được câu hỏi của mình trong Gióp 19:26

” Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời”.

Thân xác lúc chết sẽ trở nên như thế nào?

Một người què quặt, già yếu ở tuổi 80 sẽ có hình dáng thế nào trong ngày sống lại? Một thân thể bị cháy thui trong một tai nạn sẽ cứ như thế đời đời hay sao? Cả người tin lẫn người không tin đều sẽ mang thân thể mới không? Chúng ta sẽ nhìn biết mặt nhau khi sống ở thiên đàng không?

Vâng, có thể nhìn biết nhau vì:

1. Chúng ta sẽ nhìn biết nhau ở thiên đàng như chúng ta biết nhau ở dưới đất.

I Cô-rinh-tô 13:12 ” Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương cách mập mờ, đến bây giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau”.

2. Tên chúng ta đã được ghi chép trên thiên đàng và chúng ta sẽ được biết dưới những tên nầy. Chẳng hạn, Môi-se và Ê-li trong Ma-thi-ơ 17 trên núi hóa hình được nhận biết dưới tên trên đất của họ.

3. Người giàu đã nhận biết La-xa-rơ trong Lu-ca 16:23.

4. Các môn đồ đã nhận biết Chúa Jêsus sau khi Ngài sống lại.

5. Trên đất chúng ta nhận biết người khác bằng những giác quan bất toàn. Tại thiên đàng, các giác quan chúng ta sẽ hoàn hảo. Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đã nhận biết Môi-se và Ê-li mặc dầu trước đó họ chưa hề gặp những vị nầy.

I. SƯ SỐNG LẠI CỦA ĐẤNG CHRIST.

Một số người ở Cô-rinh-tô dạy rằng Chúa Jêsus đã không sống lại từ kẻ chết. I Cô-rinh-tô 15. Phao-lô đã đưa ra câu trả lời xác định trong I Cô-rinh-tô 15:20

” Nhưng bây giờ Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại”.

Có rất nhiều nhân chứng về sự sống lại của Đấng Christ.

1. Chúa Jêsus trước hết đã hiện ra cho Ma-đơ-len, Ma-ri. Giăng 20:17.

2. Chúa Jêsus đã hiện ra cho các người đán bà đi thăm mộ. Mác 16:1-3.

3. Chúa Jêsus đã hiện ra cho Phi-e-rơ. Mác 16:7.

Cũng xem Lu-ca 24:34.

4. Các môn đồ trên đường Em-ma-út. Lu-ca 24:16.

5. Mười một môn đồ. Lu-ca 24:33, Công vụ 1:23-26.

6. Các môn đồ có cả Thô-ma trên phòng cao. Giăng 20:25-28.

7. Các môn đồ bên bờ biển Ti-be-ri-ÿt. Giăng 21:1.

8. Với 11 môn đồ trên núi. Ma-thi-ơ 28:16.

9. Với 500 anh em. I Cô-rinh-tô 15:6.

10. Với 11 môn đồ ở Bê-tha-ni khi Ngài thăng thiên. Lu-ca 24:36-51.

II. SỰ HY VỌNG SỐNG LẠI ( I Cô-rinh-tô 15:17,18)

Toàn bộ đức tin chúng ta đứng vững hay sa ngã đều dựa vào sự sống lại. Nếu Đấng Christ không sống lại và người chết không sống lại thì:

1. Đức tin anh em luống công.

2. Anh em vẫn còn trong tội lỗi mình.

3. Tất cả những người đã chết đều hư mất.

4. Không có sự hội ngộ tương lai với những người thân yêu. NHƯNG ĐẤNG CHRIST ĐÃ THỰC SỰ SỐNG LẠI RỒI. Vì Chúa Jêsus đã sống lại thì chúng ta có một hy vọng chắc chắn về sự hội ngộ.

Vì Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết nên mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ em đều sẽ sống lại từ kẻ chết.

III. SỰ SỐNG LẠI CỦA KẺ CHẾT.

Sự sống lại dường như theo thứ tự như sau:

1. Đấng Christ là trái đầu mùa của kẻ chết. Ngài sống lại trước nhứt. I Cô-rinh-tô 15:20.

2. Ma-thi-ơ 27:52,53 ” Mồ mả mở ra và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả đi vào thành thánh và hiện ra cho nhiều người thấy”.

3. Sống lại để được sống.

Giăng 5:28,29 ” Chớ lấy điều đó làm lạ, vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi. Ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán.

Khải huyền 20:5 ” Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ 1000 năm. Ấy là sự sống lại thứ nhất”.

4. Sống lại để bị xét đoán. Giăng 5:29.

Khải huyền 20:13 ” Biển đem trả những người chết mình chứa. Sự chết và âm phủ cũng đem trả những người chết mình có”.

Vì thế, mọi người PHẢI và SẼ sống lại từ kẻ chết. Một số người sẽ sống lại để hưởng sự sống phước hạnh, trong khi những người khác sẽ sống lại để bị ném xuống hồ lửa đời đời.

IV. THÂN THỂ SỐNG LẠI ( I Cô-rinh-tô 15:35-49)

Có một số người khước từ sự sống lại của thân thể, họ chủ trương rằng sau khi sống lại mọi sự chỉ là thần linh.

I Cô-rinh-tô 15:44 nói rằng thân thể sống lại sẽ là thân thể thuộc linh nhưng không nói một thần linh không có thân thể.

I Cô-rinh-tô 15:35 đặt ra hai câu hỏi: ” Người chết sống lại thế nào?

Bằng quyền phép của Đức Chúa Trời”. Và với thân thể nào? Rồi Phao-lô tiếp tục trả lời câu hỏi nầy:

1. Không phải cùng thân thể đó. câu 37. Thân thể chết giống như hạt giống gieo xuống đất và mọc lên một cây khác với hạt giống đã gieo.

Thân thể què quặt hay đốt cháy thiêu sẽ không giống như thế mãi khi sống lại. Nó sẽ hoàn hảo như các thân thể sống lại khác.

Trong thiên đàng không có thân thể già yếu, xấu xí? què quặt hay bất toàn.

2. Đó là một thân thể Chúa cho. Câu 38. Theo ý muốn tể trị của Đức chúa Trời.

I Giăng 3:2 ” Khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ nên giống như Ngài nghĩa là hoàn hảo.

3. Đó sẽ là một thân thể thích hợp với từng linh hồn. câu 38 ” Mỗi hạt giống một thân thể khác”. Câu 41,42 các ngôi sao khác nhau thì thân thể chúng ta cũng sẽ khác nhau.

4. Đó sẽ là một thân thể không hề hư hoại. Câu 42. Thân thể nầy sẽ bất tử, không bị hư hoại. Những người bị hình phạt nơi địa ngục sẽ có thân thể bất tử để chịu đời đời hình khổ nơi hỏa ngục.

5. Đó sẽ là thân thể vinh hiển. Câu 43. Có lẽ giống như thân thể Chúa vinh hiển trên núi hóa hình trong Ma-thi-ơ 17. Sáng rực vinh hiển.

6. Đó sẽ là thân thể có quyền năng. Câu 43. Nó sẽ không bị giới hạn bởi các qui luật của quả đất. Thân thể của Chúa Jêsus đã đi qua các bức tường và cửa đóng. Ngài thăng thiên cách dễ dàng.

7. Đó sẽ là thân thể thiêng liêng. Câu 44.

Thân thể trần gian của Chúa Jê-sus là thân thể xác thịt, máu xương.

Thân thể phục sinh của Chúa Jêsus có thịt xương nhưng không có máu.

Máu Ngài đã dỗ ra hết trên thập tự giá.

Lu-ca 24:39 ” Kìa xem tay chân ta thật chính ta. Hãy rờ đến ta và hãy xem – thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có”.

Sau đó Chúa Jêsus nhận ăn miếng cá nướng.

V. MẦU NHIỆM CỦA SỰ SỐNG LẠI (I Cô-rinh-tô 15:51 -54)

Sự mầu nhiệm: Không nhứt thiết tất cả chúng ta đều chết. Một số sẽ còn sống khi Chúa Jêsus tái lâm và sẽ được cất lên trời.

Người sống sẽ được biến hóa. Câu 52. ” Và chúng ta đều sẽ biến hóa”, chứng tỏ rằng thân thể sống lại sẽ đổi khác nhưng có nét tương tự

như khi ta còn sống hiện tại.

Thân thể sống sẽ được mặc lấy sự bất tử và sử bất hoại. I Cô-rinh-tô 15:52,53.

VI. BÀI CA SỐNG LẠI ( I Cô-rinh-tô 15:54 -57)

Câu 54: Sự chết bị sự đắc thắng nuốt mất.

Câu 55: Cái nọc của sự chết bị mất.

Câu 55: Mồ mả không còn đắc thắng nữa.

Câu 57: Sự đắc thắng thuộc về chúng ta nhờ Đấng Christ.

KẾT LUẬN:

Người ác người thiện đều sẽ sống lại không còn hư nát nữa để được thưởng hay bị phạt. Ê-sai 66:23,24 mô tả thây của những người bội nghịch: câu chúng nó chẳng hề chết? lửa chúng nó chẳng hề tắt chúng nó sẽ làm sự gớm ghiếc cho mọi xác thịt. Cũng xem sự vinh hiển của người tin Chúa trong Đa-ni-ên 12:2 -3.




Giáo Lý Căn Bản 82 – Sự Chết

Bài 82

Sự Chết

 

GIỚI THIỆU

Bài trước chúng ta bàn về sự sống. Chúng ta đã cố gắng định nghĩa và tìm hiểu điều đó.

Chúng ta xác định rằng sự sống là một giây phút trong thời gian để chuẩn bị cho cõi vĩnh hằng.

Cuộc sống có nỗi buồn rầu vì chẳng chóng thì chầy phải kết thúc với cái chết, ngoại trừ khi Chúa Jêsus trở lại để cất Hội Thánh lên với Ngài.

Chúng ta thấy khó để định nghĩa sự sống. Chúng ta có thể định nghĩa sự chết không?

Chết là từ giã cõi đời: ngừng sống

Chết là chuyển từ giai đoạn sinh động sang giai đoạn hết sinh động.

Chết là khi tim ngừng đập, hơi thở ngưng lại, và khi thân thể trở nên một xác cứng đờ.

Tít lớn trong Nhật Báo Manila, ngày 9-10-,1958, “PIUS 12 TRONG CƠN QUĂNG THẮT CỦA CÁI CHẾT.”

Giáo hoàng được 82 tuổi. Bạn có chắc mình sẽ sống đến 82 tuổi không?

Câu chuyện: Cậu bé hỏi mẹ, “Tới tuổi nào thì người ta chết, hả mẹ?” Bà bảo con đi đến một nghĩa trang và đo các phần mộ. Cậu bé kết luận, “Người ta chết trong bất cứ tuổi nào.”

Đối với loài người, sự chết là sự tách biệt của thân thể, hồn và linh:

Thân thể xuống mồ và tan thành cát bụi.

Thần linh trở về cùng Đức Chúa Trời. Truyền Đạo 12:7 “Bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó.”

Hồn trong Lu-ca 16:19-31, đi đến một trong hai nơi.

Hồn của người ác vào địa ngục, Lu-ca 16:23

Hồn của người công chính vào Ba-ra-đi, Lu-ca 16:22 (lòng của Áp-ra-ham), Lu-ca 23:43 Tên cướp được ở với Chúa Cứu Thế trong Ba-ra-đi.

I. NGUỒN GỐC SỰ CHẾT

Có ba loại sự chết và cả hai đều xuất phát từ sự phản nghịch trong Vười Ê-đen

1. Sự chết thuộc linh. Sáng Thế Ký 2:17, “… vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.”

Trong vườn Ê-đen, ông A-đam và bà Ê-va không chết ngay về phần xác khi họ ăn trái cấm. Họ chết trong phương diện thuộc linh. Ê-phê-sô 2:1 “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình.”

2. Sự chết thuộc thể. Sáng Thế Ký 3:21, Đức Chúa Trời giết thú vật lấy da mặc cho ông A-đam và bà Ê-va.

Người đầu tiên chịu chết là A-bên con của A-đam, bị anh là Ca-in giết. Sáng Thế Ký 4:8b, “Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.”

3. Sự chết đời đời. Khải huyền 20:10, 14b-15 “Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời… Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.”

II. CĂN NGUYÊN SỰ CHẾT

Sự chết thuộc linh gây nên do sự không vâng lời Đức Chúa Trời. Gia-cơ 1:15, “Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết.”

Sự chết là hiệu quả trực tiếp của tội lỗi.

Trong trường hợp chết thuộc thể, bác sĩ có thể ghi ra một trong các nguyên nhân trong giấy khai tử, nhưng thật sự chỉ có một nguyên nhân là TỘI LỖI.

Tội lỗi là nguyên do căn bản và bệnh tật là tác nhân trực tiếp Đức Chúa Trời dùng để thi hành bản án Ngài đã công bố trên nhân loại trong Vườn Ê-đen.

Ê-xê-chi-ên 18:20 “Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.”

Rô-ma 6:23, “Tiền công của tội lỗi là sự chết.”

Hê-bơ-rơ 9:27 “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.”

III. MÔ TẢ SỰ CHẾT

Sự chết thuộc thể được mô tả là:

1. Ngủ. Giăng 11: La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ.” 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14

2. Linh hồn bị đòi lại. Lu-ca 12:30 “Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai?”

3. Nhà tạm đổ nát. 2 Cô-rinh-tô 5:1 “Nếu nhà tạm của chúng ta dưới đất đổ nát, thì chúng ta lại có nhà đời đời tại trên trời.”

4. Đi con đường không trở lại. Gióp 16:22 “Vì ít số năm còn phải đến, rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại.”

5.Xuống cõi nín lặng. Thi Thiên 115:17 “Kẻ chết hoặc kẻ xuống cõi nín lặng chẳng ngợi khen Đức Giê-hô-va.”

6. Tắt hơi. Công Vụ 5:10, “Sa-phi-ra”, và trong Lu-ca 23:46, nói về Chúa Cứu Thế.

Sự chết thuộc linh cũng gọi là sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời. Ê-phê-sô 4:18 “Bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời.”

IV. GIẢI ĐÁP

Khoa học hiện đại và các bác sĩ có thể làm nhiều điều để kéo dài cuộc sống. Đời người được dài ra, nhưng điều đó chỉ tạm đình hoãn lại sự chết mà thôi.

Chúng ta đã bị “ấn định phải chết”, Hê-bơ-rơ 9:27. Chúng ta được sanh ra với một cuộc hẹn với cái chết. Chúng ta buột phải giữ cuộc hẹn đó.

Chỉ có một giải đáp duy nhất là Chúa Cứu Thế Jêsus.

Sự chết thuộc linh được cứu chữa nhờ đức tin nơi Chúa Cứu Thế Jêsus.

Giăng 5:24, “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.”

Khi chúng ta tin Vua Giê-xu, Chúa Thánh Linh thực thi phép lạ tái sanh trong đời sống chúng ta, biến chúng ta nên con cái Đức Chúa Trời. Giăng 1:12.

Sự chết thuộc thể có thể được tránh khỏi qua việc hội thánh được cất lên với Chúa khi Chúa trở lại.

Nhưng Vua Giê-xu hứa sẽ cùng đi với chúng ta (các tín đồ) qua từng trải của sự chết.

Thi Thiên 23:4 “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi.”

(Những ai có thể nói một cách chân thành rằng, “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi,” cũng đều có thể nhận lấy cho mình lời hứa này.”

V. SỰ CHẾT CỦA CHÚA CỨU THẾ

Tại sao Chúa Jêsus chết trên thập giá? Có phải là một tai nạn không? Dĩ nhiên là không.

Lời Chúa dạy rằng phải có người chết vì tội. Chúa Jêsus tình nguyện làm Đấng phải chết. Ngài chết cái chết mà BẠN VÀ TÔI đáng phải chết.

Hê-bơ-rơ 2:9, “Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jêsus đã vì mọi người nếm sự chết.”

Chúa Jêsus nếm sự cay đắng của cái chết thế cho bạn và tôi. Xin đừng chối bỏ Ngài nữa.

Chúa Jêsus chết trên thập tự giá làm một sinh tế cho bạn và tôi. Ê-phê-sô 5:2, “…Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ.”

Sự chết của Chúa Cứu Thế là cần thiết cho sự cứu chuộc nhân loại. Lu-ca 24:45, “Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại.”

Phúc Âm là gì? 1 Cô-rinh-tô 15:1-4 xác định rằng ấy chính là Chúa Cứu Thế chịu thương khó vì tội chúng ta theo Lời Kinh Thánh, Ngài đã chịu chôn và đã sống lại vào ngày thứ ba. Như thế, Phúc Âm bao gồm sự chết, sự chết của Chúa Cứu Thế cho tội lỗi chúng ta.

KẾT LUẬN

Sự chết của người công bình là quí báu đối với Đức Chúa Trời. Thi Thiên 116:15 “Sự chết của các người thánh. Là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va.”

Sự chết của người gian ác là không làm Chúa vui. Ê-xê-chi-ên 33:11, “Ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui… Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình.”

Tôi nài nỉ các bạn hôm nay hãy quay khỏi tội, ăn năn và trở về cùng Đức Chúa Trời. Khải Huyền 3:20, Chúa Jêsus đang đứng ngoài cửa lòng bạn gõ cửa để được vào. HÃY MỞ CỬA LÒNG VÀ MỜI NGÀI VÀO NGAY HÔM NAY.

Câu chuyện Sinh Ra Chịu Đóng Đinh, trang 15 của George Watt, một người có gia đình với sáu con, bị gọi đinh lính. Richard Pratt, một người độc thân, tình nguyện đi thế. Ông được chấp nhận, ra trận và bị giết chết. Wyatt nói, “Ông ta đã chết thay tôi.”

Chúa Jêsus chết cho Bạn trên thập tự giá. Hãy tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của Bạn ngay HÔM NAY.

Câu hỏi học ôn

811. Định nghĩa sự chết.

812. Việc gì xảy ra cho hồn, linh, và thể xác con người khi người đó chết?

813. Ba sự chết là gì? Chúng phát xuất từ đâu?

814. Nguyên nhân của sự chết là gì?

815. Liệt kê 6 lời miêu tả của Kinh Thánh về sự chết?

816. Giải đáp cho sự chết thuộc linh là gì?

817. Tại sao Thi Thiên 23:4 là quí báu đối với người bịnh nặng?

818. Bạn có nghĩ Chúa Cứu Thế đã chết cái chết của người tuẫn đạo? Tại sao?

819. Phúc Âm là gì?

820. Sự tương phản giữa Thi Thiên 116:15 và Ê-xê-chi-ên 33:11 là gì?




Giáo Lý Căn Bản 81 – SỰ SỐNG

Bài 81

SỰ SỐNG

 

GIỚI THIỆU

Trong Giăng 11:25 và 14:6, Chúa Jêsus phán rằng Ngài sở hữu sự sống và Ngài là sự sống.

Giăng 11:25. “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.”

Giăng 14:6 “Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.”

Câu chuyện do ông McCully thật tại Hội Thánh Ân Điển ngày 18 tháng 2, 1959. Một vài năm trước ông Nehru từ Ấn Độ đến thăm Hoa Kỳ và yêu cầu được có diễm phúc thăm ông Einstein là người có lẽ có bộ óc thông minh nhất xưa nay. Lời yêu cầu được thuận. Họ thảo luận về chính trị, du lịch, v.v. và rồi ông Nehru nói, “Ông Einstein, câu hỏi mà tôi muốn đến đây hỏi ông là, Ông có tìm được ý nghĩa cho cuộc sống chưa?” Ông Eistein cúi đầu và trả lời, “Chưa, tôi chưa tìm được ý nghĩa cho cuộc sống.”

Kinh Thánh có cho ta câu trả lời cho vấn nạn này không? Một học viên Anh Văn của tôi hỏi, “Tại sao tôi sanh ra? Tại sao Đức Chúa Trời tạo ra tôi? Tại sao tôi hiện hữu? Mục đích của cuộc sống là gì?”

I. ĐỊNH NGHĨA SỰ SỐNG

Tự điển: “Sống là sự hiệp nhất của linh hồn và thân xác.” Điều này đúng với loài người, nhưng không đúng với cây cối.

“Tình trạng sống động.” Điều này đúng, nhưng mơ hồ.

“Thời gian giữa sự sinh và tử.” Điều này không đúng vì sự sống đã có trước khi được sinh ra (em bé trong bụng mẹ đã có sự sống).

“Sự sống là sở hữu của cái cây hay con vật mà bao gồm sự tăng trưởng, dinh dưỡng, hô hấp, và sinh sản.”

Sự thật là rất khó để định nghĩa sự sống.

Sự sống là một điều vay mượn từ Đức Chúa Trời trong một khoảng thời gian ngắn. Gióp 1: 21 “Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!”

Sự sống là một quà tặng vô hình từ Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể thấy, cảm lấy, hoặc mặc cả với sự sống.

Sự sống là một điều phù du và mong manh. Có đó hôm nay và mất đi ngày mai.

II. NGUỒN GỐC CỦA SỰ SỐNG

Sự sống của bạn đến từ đâu? Từ cha mẹ của bạn. Và cha mẹ bạn nhận được sự sống từ đâu? Tất yếu ta phải trở về lại vườn Ê-đen và sự sáng tạo con người.

Sáng Thế Ký 2: 7 “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”

Tất cả sự sống đến từ Đức Chúa Trời. 1 Giăng 5: “Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời.”

Sự sống là một đặc tính, là chính bản chất của Đức Chúa Trời.

III. CÁC LOẠI SỰ SỐNG

Kinh Thánh nói đến ba loại sự sống.

1. Sự sống thuộc thể là điều được ban cho con người tại thời điểm sáng tạo.

2. Sự sống thuộc linh. Đây là sự sống mới mà Chúa ban cho người tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ê-phê-sô 2:5 “Đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ.”

3. Sự sống đời đời. Đây là bản tánh và đặc tánh của Đức Chúa Trời.

IV. CHIỀU DÀI CỦA SỰ SỐNG

Trong Sáng Thế Ký 5, trước đại hồng thủy, cuộc đời người trung bình là 846 năm.

Trong Sáng Thế Ký 11, sau đại hồng thủy, cuộc sống chỉ còn 393 năm.

Trong thời Môi-se, Thi Thiên 90:10, “Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi.”

Thi Thiên 89:47, “Ôi Chúa! xin nhớ lại thì giờ tôi ngắn dường nào.”

Gióp 14:1, ” Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày.”

Gia-cơ 4:13-, Cuộc sống như hơi nước tan biến nhanh.

Sự sống bị giới hạn trong một khoảng thời gian. Gióp 7:1 “Niên nhựt người há không phải như đời của người làm mướn ư?”

Đức Chúa Trời trong ý chủ tể của Ngài đã định khoảng thời gian cho đời sống chúng ta.

Một nhà thông thái bảo các môn đệ phải chuẩn bị cho cái chết một ngày trước khi họ chết. Nhưng họ phản đối, “Chúng tôi có thể chết ngày mai.” “Phải rồi,” người đó trả lời, “thế thì hãy chuẩn bị ngay hôm nay.”

V. CÁC SỰ SO SÁNH

1. Cuộc sống là một cuộc hành trình. Sáng Thế Ký 47: 9 Gia-cốp tâu với Pha-ra-ôn rằng: “Những năm tôi sống ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm; các năm của đời tôi lấy làm ngắn-ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình sanh của tổ phụ tôi khi người ở phiêu lưu đó.” Cuộc sống là một cuộc hành trình từ đất đến cõi vĩnh hằng; từ chiếc nôi đến bên kia thế giới.

Chúng đi trong cuộc hành trình này dầu chúng ta có muốn hay không. Sự sanh ra là một khởi điểm tự nhiên. Đối với một số người đó là một cuộc hành trình dài. Đối với những người khác thì lại rất ngắn.

2. Cuộc sống là một giấc mơ. Giấc mơ dài bao lâu? Không lâu lắm. Cuộc sống ngắn ngủi, qua nhanh và tạm bợ.

3. Cuộc sống như cái bóng. Truyền Đạo 6:12 “Vả, trong những ngày của đời hư không mà loài người trải qua như bóng, ai biết điều gì là ích cho mình?”

Cái bóng là một sự nhại theo cái thật một cách thô sơ. Bạn có thể nhận được một người bởi cái bóng của người đó không? Những cái bóng cũng có thể đánh lừa, hoặc dài quá, hoặc ngắn quá. Cuộc sống giống như vậy.

4. Cuộc sống giống hơi nước. Gia-cơ 4:14 “Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay.”

Nếu tất cả sự hiểu biết của chúng ta về nước là trong dạng hơi, thì sự hiểu biết của ta bị giới hạn lắm thay. Bạn không thể uống hơi nước. Nước và nước đá là những thể khác của nước.

Cuộc sống trên đất như một nụ bông sẽ nở ra và phát triển trong cõi vĩnh hằng. Cuộc sống quá ngắn ngủi.

5. Cuộc sống như hơi thở. Thi Thiên 90:9 “Bởi cơn giận của Chúa, các ngày chúng tôi đều qua đi; năm chúng tôi tan mất như hơi thở.”

6. Cuộc sống như nước đổ ra trên đất. 2 Sa-mu-ên 14:14 “Vì rốt lại, chúng ta là kẻ hay chết, giống như nước chảy trên đất, không hốt lại được.”

Trong giây lát đất hút nước đi và nó tan biến.

7. Cuộc sống như một bông hoa. Gióp 14:1-2 “Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày, bị đầy dẫy sự khốn khổ. Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát; người chạy qua như bóng, không ở lâu dài.”

Trước hết chúng ta thấy phiến lá, rồi lá, và sau đó là búp hoa xinh đẹp. Từ từ nó nở ra và chúng ta trầm trồ vẻ đẹp của nó. Rồi nó héo và rơi rụng—rụng quá nhanh, mới đó nay không còn.

Một số bông chẳng bao giờ được nở. Chúng bị cắt đi trong thời kỳ sung mãn nhất; lưỡi hái của tử thần.

VI. MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC SỐNG

Cuộc sống là một khoảnh khắc thời gian để chuẩn bị cho cõi vĩnh hằng.

Trong khoảnh khắc chóng qua này chúng ta được đòi hỏi để trả lời một điều.

Điều đó là: “Bạn muốn sống đời đời ở đâu?”

Có hai nơi vĩnh hằng. Chúng ta phải chọn một trong hai. Không thể đứng giữa.

1. Đặc ân phước hạnh để sống mãi mãi với Chúa Cứu Thế Jêsus trong thiên quốc.

2. Sự đau đớn cùng khốn vì sống mãi mãi với Sa-tan trong hỏa ngục.

Mục đích của cuộc sống là để bạn tự chọn một nơi ở đời đời cho linh hồn mình.

KẾT LUẬN

Phao-lô nói trong Phi-líp 1:21 “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi.” Đấng Christ là sự sống.

Chúa Jêsus phán cùng Ma-thê, “Ta là … sự sống.” Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời và Ngài sở hữu sự sống đời đời.

Hôm nay Bạn hãy chọn lựa đúng để ở với Đấng Christ mãi mãi trong thiên quốc.

Khi tôi mời Chúa Jêsus vào trong tâm tôi, thì Ngài đã ngự vào và tôi được có sự sống ca Chúa ngự trong tôi. Tôi có sự sống đời đời.

Khi Chúa Jêsus vào trong một đời sống, Ngài dẹp đi tội lỗi và làm sạch tâm hồn.

Có Chúa Jêsus ngự trong tôi, tôi có sự sống đời đời, và chẳng bao giờ chết mất.

Hãy quyết định ngay hôm nay để mời Chúa Jêsus vào đời sống và tâm hồn Bạn. Khải huyền 3:20.

Sự huyền bí của cuộc sống được giải đáp trong sự mạc khải của Chúa Cứu Thế Jêsus cho con người.

CÁC CÂU HỎI ÔN

801. Loại sự sống Chúa Jêsus nói đến trong Giăng 11:25, và 14:67 là gì?

802. Hãy định nghĩa sự sống.

803. Sự sống phát xuất từ đâu?

804. Xin liệt kê ban loại sự sống.

805. Cuộc đời người trung bình là bao lâu (a) trước đại hồng thủy (b) ngay sau đại hồng thủy, và (c) trong thời Môi-se?

806. Câu Kinh Thánh nào dạy rằng Chúa ấn định khoản thời gian của đời người?

807. Xin liệt kê 7 sự so sánh hay bức tranh Kinh Thánh mô tả về đời sống.

808. Trong hai phương diện nào cuộc sống ví như một giấc mơ?

809. Ba dạng thức của cuộc sống và nước là gì?

810. Mục đích của cuộc sống là gì?




Giáo Lý Căn Bản 80 – LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG

Bài 80

LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG

 

LỜI GIỚI THIÊU:

Có nhiều Cơ đốc nhân được Chúa cứu bởi ân điển nhưng lại cố gắng giữ sự cứu rỗi bằng cách tuân theo luật pháp và giữ các điều răn.

Đây là sai lầm của Hội thánh Ga-la-ti mà Phao-lô đã tìm cách sửa sai

trong thư tín Ga-la-ti của ông.

Ga-la-ti 3:3 ” Sao anh em ngu muội dưỡng ấy? ” Sau khi đã khởi sự

nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn.

Khởi sự nhờ Đức Thánh Linh ở đây là ” được cứu nhờ ân điển “.

Còn cậy xác thịt ở đây là ” giữ luật pháp “.Phao-lô đã trả lời câu hỏi gay

cấn nầy trong Ga-la-ti 3:11 ” Người công bình sẽ sống bởi đức tin “. Chúng

ta được cứu bởi đức tin, chúng ta sống bởi đức tin, chớ không phải bởi giữ luật pháp.

Nhưng điều nầy có cho phép chúng ta tự làm luật cho mình và phá luật Chúa và tự do phạm tội hay không? Phao-lô trả lời câu hỏi nầy trong Rô-ma 6:1,2 “… Đức Chúa Trời cấm “.

Đôi khi ta cảm thấy khó khăn khi giữ sự quân bình giữa lời dạy của

Phao-lô và lời dạy của Gia-cơ. Gia-cơ nói trong Gia-cơ 2:14 ” Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? ”

Gia-cơ 2:20 ” Nhưng, hỡi người vô tri kia, người muốn biết chắc rằng đức tin không có việc làm là vô ích chăng? ”

Phao-lô trả lời điều nầy trong Phi-líp 2:12, 13 “…lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài “.

Bởi đức tin, chúng ta dâng mình cho Đấng Christ chiếm hữu và Ngài sử dụng thân thể chúng ta để làm các việc lành. Chính Chúa Cứu thế

hành động qua chúng ta. Công việc chúng ta là dâng mình. Chúa là Đấng hoàn thành các việc công bình.

Sau khi tin Chúa, chúng ta làm lành là vì chúng ta đã được cứu chứ không phải để được cứu:

Ví dụ: Một con gà gáy sáng vì nó là con gà trống chớ không phải nó gáy để trở thành gà trống.

I. LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG LÀ GÌ?

1.-Luật pháp bao gồm 10 điều răn của Đức Chúa Trời truyền bạn trong Xuất 20:1-17 và tất cả các mạng lịnh khác.

Rô-ma 7:16 ” Luật pháp là tốt lành “.

Thi 19:7,8 ” Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại…, điều răn của Đức Giê-hô-va là trong sạch “.

Như vậy? Ta thấy luật pháp của Chúa là thánh, công bình, tốt lành, trọn vẹn, trong sạch và đứng đắn.

2.- Ân điển là ơn ban, là sự nhân từ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta trong khi chúng ta không xứng đáng, và không đòi chúng ta phải trả giá nào để nhận được ơn ban đó.

Dưới luật pháp, Đức Chúa Trời đòi hỏi sự công bình.

Dưới ân điển, Đức Chúa Trời ban cho sự công bình.

Ê-phê-sô 2:8,9 ” Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu.

Điều đó không đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức chúa Trời; ấy không phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình “.

II. LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG NÓI GÌ?

1.- Luật pháp nói: ” Hãy vâng lời ta và được sống “.

Lê-vi ký 18:5 ” Vậy,hãy giữ luật pháp và mạng lịnh ta, người nào làm theo thì sẽ nhờ nó mà được sống: Ta là Đức Giê-hô-va “.

Rô-ma 10:5 ” Hễ ai làm theo điều đó thì nhờ đó mà sống “.

Vấn đề ở đây là: Ai có thể giữ luật pháp cách trọn vẹn? Câu trả lời rõ ràng ở trong Rô-ma 3:9-23 là chỉ có một mình Đấng Christ mới giữ được từng chấm từng nét của luật pháp.

2.- Ân điển nói rằng hễ ai nghe và tin Chúa Jêsus Christ thì vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Giăng 5:24 – Một phép lạ mà luật pháp không làm nổi.

Ân điển cung hiến sự tha thứ và bình an cho các tội nhân thông qua sự chết của một người khác- là Chúa Cứu thế Jêsus.

Ân điển nói rằng ai tiếp nhận sự sống đời đời sẽ không bị hư mất.

Giăng 10:28.

III. LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG LÀM GÌ?

1.- Luật pháp định tội mọi người từng sinh ra trong thế gian nầy vì hết thảy đều vi phạm ít nhất là một điều răn nào đó trong đời mình.

Gia-cơ 2:10 ” Vì người nào giữ trọn luật pháp và phạm một điều răn thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy “.

Rô-ma 3:19 khẳng định cả thế gian đều có tội trước mặt Chúa. “…hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời “.

Luật pháp đưa ra một tiêu chuẩn nhưng con người thì không bao giờ đạt đến tiêu chuẩn đó vì bất lực.

Ga-la-ti 3:10 ” Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp thì bị rủa sả,bởi có chép rằng: Đáng rủa sả thay là kẻ không bền đổ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy “.

2.- Ân điển thì sẵn sàng cứu vớt người hư mất, người phạm tội, người phạm luật.

Ân điển đem đến sự cứu rỗi.

Tít 2:11 ” Vả, ân điển hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi.

Ân điển khôi phục sự công nghĩa mà luật pháp đã cất đi khỏi chúng ta, thông qua sự ban cho của Đức Chúa Trời.

Ân điển là sự giàu có của Đức Chúa Trời ban cho tội nhân qua sự trả giá của Đấng Christ.

Ân điển không chỉ cứu tội nhân nhưng còn ban thêm ơn nữa để duy trì cuộc sống hằng ngày của tội nhân đó.

IV. LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG KHÔNG LÀM ĐƯỢC GÌ?

1.-Luật pháp không bao giờ xưng công bình cho một tội nhân mắc tội.

Công vụ 13:39 ” Nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công bình “.

Luật pháp không thể khiến điều gì trở nên trọn vẹn.

Hê-bơ-rơ 7:19 ” Bởi chưng luật pháp không làm trọn chi hết “.

Để được lên thiên đàng, tội nhân cần được cả sự xưng công bình và được nên trọn vẹn thông qua huyết báu của Đấng Christ và công tác cứu chuộc của thập giá.

2.- Nhưng ân điển thông qua đức tin có thể đem lại sự xưng nghĩa cho tội nhân.

Rô-ma 3:24 “Và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không bởi sự chuộc tội đã làm trong Đức Chúa Jêsus Christ “.

Ân điển có thể dạy ta chừa bỏ sự không tin kính và tình dục thế gian và sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhơn đức. Tít 2:11, 12.

V. TẠI SAO LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG ĐƯỢC BAN CHO?

1.-Luật pháp được ban cho để bảy tỏ cho ta thấy tội lỗi và sự vi phạm của chúng ta.

Ga-la-ti 3:19 ” Vậy thì làm sao có luật pháp? Luật pháp đã đặt thêm vì cớ những sự phạm phép “.

Không có luật pháp, con người không biết có tội.

Rô-ma 3:20 ” Vì luật pháp cho người ta biết tội “.

Luật pháp là một thầy giáo dẫn ta đến cùng Đấng Christ.

Ga-la-ti 3:24 ” Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta

đến cùng Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình “.

Được xưng công bình bởi đức tin, vì chúng ta không thể được cứu nhờ các việc làm hay nhờ luật pháp.

2.- Ân điển được ban cho con người không phải vì con người xứng đáng được, nhưng vì Đức Chúa Trời yêu thương thế giới tội nhân.

Giăng 3:16 ” Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian… ” Ân điển được ban cho chúng ta vì chúng ta quá yếu đuối, không thể giữ luật pháp hay làm việc lành.

II Cô-rinh-tô 12:9 ” Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đã cho ngươi rồi vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối “.

VI. AI BAN LUẬT PHÁP VÀ ÂN SŨNG?

1.- Luật pháp ban cho bởi Môi-se: Giăng 1:17, Xuất 20:19, Hê-bơ-rơ 12:18-21.

2.- Ân điển ban cho bởi Đức Chúa Jêsus Christ.

Giăng 1:17 ” Vì luật pháp được ban cho bởi Môi-se, còn ơn và lẽ thật đến bởi Chúa Jêsus Christ.

KẾT LUÂN:

Cơ đốc giáo có phải là một hệ thống pha trộn giữa luật pháp và ân điển không?

– KHÔNG- Hoàn toàn là bởi đức tin.

Rô-ma 4:4,5 ” Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ, còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình thì đức tin của kẻ ấy kể công bình cho mình “.

Còn khi tin Chúa, người tín đồ còn ở dưới luật pháp không?

-Không.

Rô-ma 6:14 “… Anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển “. Kinh thánh nói rõ ràng.

Một tín đồ thật phải bước đi như thế nào trước đồng loại?- Như Chúa Jêsus đã bước đi.

I Giăng 2:6 ” Ai nói mình ở trong Ngài thì cũng phải làm theo như

chính Ngài đã làm “.

I Phi-e-rơ 2:21 ” Theo dấu chân Ngài “.

Ga-la-ti 5:18 ” Nhưng, ví bằng anh em nhờ Thánh Linh chỉ dẫn, thì chẳng hề ở dưới luật pháp “.

Được cứu rỗi bởi đức tin và rồi trở lại nhờ việc làm là đã mất ân điển và đã lìa khỏi Đấng Christ rồi. Ga-la-ti 5:4.