Gíao Lý Căn Bản 24 – THẦN TÁNH VÀ CÁC DANH XƯNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH.

Bài 24
THẦN TÁNH VÀ CÁC DANH XƯNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH.

Trong bài trước ta đã thiết lập sự kiện Đức Thánh Linh là một người, một Thân vị. Tuy nhiên Ngài không phải là một người như chúng ta vì Ngài không có một thân thể con người. Đức Thánh Linh không chỉ là một người,nhưng chúng ta tin rằng Ngài là Đấng thiêng liêng. Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời toàn năng, đồng đẳng đồng quyền với Đức Cha và Đức Con.

I. THẦN TÁNH CỦA ĐỨC THÁNH LINH.
Chúng ta tin rằng Đức Thánh Linh là Thần bởi vì:

A. Đức Thánh Linh có các thuộc tánh thiêng liêng.
1. Đời đời Hê-bơ-rơ 9:14
2. Toàn tại Thi thiên 139:7-10.
3. Toàn năng Lu-ca 1:35, Sáng 1:2, Gióp 26:13.
4. Toàn tri I Cô-rinh-tô 2:10,11, Giăng 14:26, 16:12,13.
5. Thánh khiết Lu-ca 11:13.
6. Lẽ thật I Giăng 5:6.
7. Nhân từ Nê-hê-mi 9:20.
8. Giao thông II Cô-rinh-tô 13:14.

B. Đức Thánh Linh làm những việc chỉ Đức Chúa Trời có thể làm.
1. Sáng tạo Gióp 33:4, Thi 104:30.
2. Cứu rỗi I Cô-rinh-tô 6:11, Ê-phê-sô 1:13.
3. Ban sự sống Giăng 6:63.
4. Tác giả của sự tái sanh Giăng 3:5,6.
5. Tiên tri II Phi-e-rơ 1:21.
6. Cáo trách loài người về sự công bình và về sự phán xét hầu đến Giăng 16:8-11.

C. KINH THÁNH có một câu mạnh mẽ.
1. Trong Ê-sai 6:8-10 và Phao-lô trích dẫn trong Công 28:25-27.
2. Trong Công 5:3-5 Đức Thánh Linh được gọi là Đức Chúa Trời.

D. Ba ngôi thân thương.
1. Ma-thi-ơ 28:19 Công thức báp tem.
2. II Cô-rinh-tô 13:14 Lời chúc phước.
3. Giăng 14:16 Ta sẽ cầu xin Cha sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác.

II. ĐỨC THÁNH LINH ĐƯỢC PHÂN BIỆT VỚI CHA VÀ CON.
Một số người nghĩ rằng Đức Thánh Linh là “Linh của Cha” hoặc là “Linh của Con” chứ không phải là một Thân vị riêng biệt. Nhưng trong Lu-ca 3:21,22 vào lúc Chúa Jêsus chịu phép báp tem, có ba Ngôi hiện diện rõ ràng :
1. Đức Chúa Trời là Cha phán “Nầy là Con yêu dấu… .”
2. Đức Chúa Trời là Con được Giăng báp-tít làm phép báp têm dưới sông Giô-đanh.
3. Đức Chúa Trời là Linh ngự xuống như chim bồ câu.
Và trong Ma-thi-ơ 28:19 công thức báp têm cũng phân biệt rõ ràng ba Ngôi. Trong Giăng 14:16 Đức Con cầu, Đức Cha ban, Đức Thánh Linh ngự đến. Công vụ 2:33 Đức Con được tôn ngồi bên hữu Đức Cha, Đức Cha ngồi trên ngai và Đức Thánh Linh được ban cho Hội thánh. Đức Cha, Con và Đức Thánh Linh là ba Ngôi khác nhau nhưng liên hệ với nhau, nói chuyện với nhau, nhận biết nhau. (Torrey).

III. SỰ PHỤ THUỘC CỦA ĐỨC THÁNH LINH VÀO ĐỨC CHA VÀ CON.
Giăng 14:28 Đức Cha sai Đức Thánh Linh xuống thế gian và Ngài vâng lệnh. Giăng 15:16.
Đức Con sai Thánh Linh đến với môn đồ và Hội thánh. Công 16:7 Đức Thánh Linh được kể là “Linh của Chúa Jêsus.”Rom 8:9 Đức Thánh Linh được kể là “Linh của Đức Chúa Trời.” Đức Thánh Linh không tự nói nhưng nhắc lại những gì mình đã nghe. Giăng 16:13. Đây là sự khiêm nhường thật, Đức Thánh Linh tôn vinh Đấng Christ Giăng 16:14. Danh Đức Thánh Linh tiếp theo hai Danh khác khi ba Danh được gắn liền với nhau – Ma-thi-ơ 28:19 Cha, Con và Thánh Linh, II Cô-rinh-tô 13:14 Cha, Con, Linh.

IV. CÁC DANH HIỆU CỦA ĐỨC THÁNH LINH.
1. Đức Thánh Linh Lu-ca 11:13.
2. Linh Giăng 3:6.
3. Linh của Chúa Ê-sai 11:2.
4. Linh của Đức Giê hô va Ê-sai 61;1.
5. Linh của Đức Chúa Trời hằng sống II Cô-rinh-tô 3:3.
6. Linh của Christ Rom 8:9.
7. Linh của Con Ngài Ga-la-ti 4:6.
8. Linh của Jêsus Christ Công 16:7.
9. Linh đốt cháy Ê-sai 4:4.
10. Linh thánh khiết Rom 1:4.
11. Đức Thánh Linh của lời hứa Ê-phê-sô 1:13.
12. Linh của lẽ thật Giăng 14:17, 15:26, 16:13.
13. Linh của sự sống Rom 8:2.
14. Linh của khôn ngoan và hiểu biết, Linh của mưu luận và mạnh sức, Linh tri thức Ê-sai 11:2.
15. Linh ân điển Hê-bơ-rơ 10:29.
16. Linh vinh hiển 1 Phi-e-rơ 4:14.
17. Linh đời đời Hê-bơ-rơ 9:14.
18. Đấng an ủi Giăng 14:26, 15:26.
19. Dầu vui mừng Hê-bơ-rơ 1:9.

KẾT LUẬN:
Đức Thánh Linh cũng được ví như chim bồ câu hiền lành và nhạy cảm Ngài được ví như gió (Giăng 3:1-19) một sức mạnh tái tạo vô hình và mầu nhiệm. Ngài được ví như nước, sức mạnh thanh tẩy trong sự nên thánh (Giăng 4:14). Ngài được ví như sông trào ân phước phục vụ (Giăng 7:38,39). Ngài là Đấng an ủi, hướng dẫn và lãnh đạo đời sống người Cơ-đốc (Giăng 14:16).
Ta phải tôn kính, đầu phục và bước đi theo Đức Thánh Linh.

Câu hỏi:
1. Điều khác biệt giữa chúng ta và Đức Thánh Linh là gì khi cả hai đều là con người?
2. Liệt kê 6 thuộc tánh chứng tỏ Đức Thánh Linh là thần.
3. Liệt kê 6 việc chính của Đức Thánh Linh tỏ ra Thần tánh của Ngài.
4. So sánh Ê-sai 6:8-10 với Công 28:25-27. Bạn học được gì?
5. Ý nghĩa Công 5:3-5 khi đề cập đến giáo lý nầy là gì?
6. Tại sao Danh Đức Thánh Linh bao gồm trong Ma-thi-ơ 28:19 và II Cô-rinh-tô 13:14. ?
7. Chúng ta học được gì về Đức Thánh Linh từ Lu-ca 3:21,22?
8. Đưa ra 3 câu Kinh thánh tỏ ra sự tùy thuộc của Đức Thánh Linh vào Cha và Con.
9. Liệt kê 7 Danh hiệu của Đức Thánh Linh.
10. Đức Thánh Linh được sánh ví như gì?




Giáo Lý Căn Bản 23 – THÂN VỊ CỦA ĐỨC THÁNH LINH

Bài 23
THÂN VỊ CỦA ĐỨC THÁNH LINH

LỜI GIỚI THIỆU:
Với bài học nầy chúng ta bắt đầu nghiên cứu về Đức Thánh Linh, ngôi ba của Đức Chúa Trời Ba ngôi. Đức Thánh Linh đực Đức Cha và Đức Con sai xuống để ngự trị và hướng dẫn các tín đồ. Nhiều người nói rằng họ tin Đức Thánh Linh, nhưng thực ra họ tin nơi Đức Chúa Trời là Cha và tin nơi Đức Chúa Trời là Con, còn đối với Đức Thánh Linh họ coi như là một tay sai, một tôi tớ của Đức Chúa Trời mà thôi. Đây là một quan niệm sai lầm vì Đức Thánh Linh đồng đẳng, đồng quyền và không thua kém hai ngôi kia chút nào.
Một số người khác hạ giá Đức Thánh Linh xuống thành một lực lượng vô tình như là điện lực, có sức mạnh, quyền năng nhưng hoàn toàn không phải là một Thân vị sống kém thua Đức Chúa Trời. trong bài học nầy, chúng ta cố gắng chứng minh Thân vị của Ngài, và bài kế đến chúng ta sẽ học về Thần tánh của Ngài. Chúng ta tin rằng Đức Thánh Linh là một Người sống vì chúng ta có thể đến với Ngài, hay xa lánh Ngài, tin cậy Ngài hay nghi ngờ Ngài, yêu mến Ngài hay ghen ghét Ngài, tôn kính Ngài hay xúc phạm Ngài.
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO LÝ NẦY.
A. Nếu Đức Thánh Linh là một Thân vị sống đồng đẳng với Đức Cha và Đức Con thì chúng ta phải thờ phượng Ngài y như thờ phượng Đức Cha và Đức Con. Danh hiệu của Ngài được gắn liền với Danh Cha và Con trong lời chúc phước và trong công thức lễ Báp tem.
B. Nếu Ngài chỉ là một ảnh hưởng hay một quyền lực nào đó thì chúng ta sẽ xem Ngài như là “một điều,” “một cái” mà đó là một quan điểm ngoại đạo dẫn đến sự sai lầm là “Tôi muốn có thêm điều đó.” Nếu Ngài là một Thân vị thì chúng ta phải xưng Ngài với ngôi Đại danh từ.
C. Nếu Ngài là một Thân vị thì chúng ta phải biết nhiều hơn về Ngài cách thân mật và cách cá nhân.
II. KINH THÁNH DÙNG ĐẠI DANH TỪ KHI XƯNG ĐỨC THÁNH LINH.
– Giăng 15:26 khi Đức Thánh Linh đến Ngài sẽ…
– Giăng 16:8 khi Ngài đến Ngài sẽ…
– Giăng 16:13 Khi Ngài, Thần lẽ thật sẽ đến…
– Giăng 16:14 Ngài sẽ tôn vinh Ta.
Trong ngôn ngữ Hy-lạp đại danh từ “Linh” thường dùng theo trung tính. Các sinh viên nghiên cứu tiếng Hy-lạp Tân ước rất ngạc nhiên ở sự lựa chọn danh từ giống đực ở các đại danh từ. Trong phân đoạn Giăng 16:7,8,13-15 mười hai lần đại danh từ giống đực Hy văn (Skeinos) “Ngài” được dùng cho Đức Thánh Linh.
III. THÁNH LINH LÀ MỘT ĐẤNG VÌ NGÀI CÓ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH.
1. Có ý chí (I Cô-rinh-tô 12:11), Thánh Linh quyết định.
2. Thông minh (Nê-hê-mi 9:20, Rôm 8:27).
3. Sự hiểu biết (I Cô-rinh-tô 2:10-12) Thánh Linh biết.
4. Quyền năng (Công vụ 1:8).
5. Khả năng yêu (Rô-ma 15:30).
6. Khả năng buồn (Ê-phê-sô 4:30).
Thánh Linh là một “Người” vì Ngài suy nghĩ, cảm biết, có ý chí, có mục đích, biết yêu và biết buồn. Thánh Linh chắc chắn không phải là một ảnh hưởng vì Ngài có khả năng thông minh và cảm xúc vốn xa lạ với những lực lượng vô tình. Chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ, ghen ghét hay xúc phạm Thánh Linh. Chúng ta hãy tiếp tục đến với Ngài với đức tin, sự yêu thương và sự thờ phượng.
IV. ĐỨC THÁNH LINH LÀM NHỮNG VIỆC MÀ CHỈ MỘT THÂN VỊ CÓ THỂ LÀM.
1. Thánh Linh tìm kiếm những việc sâu xa của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 2:10).
2. Thánh Linh có thể nói (Khải 2:7).
3. Thánh Linh có thể kêu lên (Ga-la-ti 4:6).
4. Thánh Linh cầu thay (Rô-ma 8:26).
5. Thánh Linh làm chứng, xác nhận (Giăng 15:26).
6. Thánh Linh dạy dỗ (Giăng 14:26). Khả năng nầy còn được nhắc đến trong Giăng 16:12-14 và Nê-hê-mi 9:20.
7. Thánh Linh hướng dẫn và lãnh đạo (Rô-ma 8:14).
8. Thánh Linh truyền lệnh (Công 16:6,7).
9. Thánh Linh kêu gọi người ta hoạt động và giao phó công tác cho họ (Công 13:2, Công 20:28).
10. Thánh Linh tiếp tục sứ mạng Ngài được giao (Giăng 15:26).
V. ĐỨC THÁNH LINH ĐƯỢC GIAO PHÓ MỘT CHỨC VỤ NHẤT ĐỊNH.
Ngài là Đấng an ủi chính Giăng 14:16. Tiếng Hy-lạp chữ “PARAKLETOS” ở đây có nghĩa là “một người ở bên cạnh với.” Ngài là bạn thiết bên cạnh ta hướng dẫn và an ủi chúng ta. Trong cuốn Đức Thánh Linh Mục Sư R.A. Torrey đã gợi ý rằng áp dụng giáo lý nầy là rất thực tế.
1. Đây là phương pháp điều trị sự sợ hãi, tối tăm bất thường. Thánh Linh ở với tôi.
2. Đây là phương pháp trị bệnh mất ngủ. Hãy cố gắng giao thông với Thánh Linh và bạn sẽ ngủ ngon.
3. Đây là cách chữa mọi sự cô đơn. Hãy phát triển mối thân hữu với Thánh Linh.
4. Đây là cách chữa một tấm lòng tan vỡ.
5. Đây là sự khích lệ lớn lao cho các quyền phép, và cách chũa bệnh cho sự vô vọng.
6. Đây là sự khuyến khích việc dạy dỗ và rao giảng. Thánh Linh ở với tôi hướng dẫn tôi.
7. Sự hiện diện của Ngài là uy quyền của chúng ta trong công việc cá nhân.
VI. ĐỨC THÁNH LINH CÓ NHỮNG TÌNH CẢM.
1. Ngài có thể buồn (Ê-sai 63:10).
2. Ngài có thể bị xúc phạm (Hê-bơ-rơ 10:29).
3. Ngài có thể bị nói dối (Công 5:3).
4. Ngài có thể bị nói phạm (Ma-thi-ơ 12:31).
VII. ĐỨC THÁNH LINH LÀ MỘT NGƯỜI.
Chúng ta tin rằng Ngài là một NGƯỜI, theo nghĩa Ngài có thân vị, vì Ngài sở hữu tất cả những đức tính cần thiết như thông minh, tình cảm và ý chí, hiểu biết và các hành động. Chúng ta cần đối xử với Ngài như với một Người, một Thân vị.

KẾT LUẬN:
Mong rằng chúng ta kết bạn thân với Đấng sống là Đức Thánh Linh. Hãy cầu nguyện “Xin Chúa dạy con càng thông công nhiều hơn với Đức Thánh Linh.” Từng giây phút hãy để cho Chúa Thánh Linh làm bạn thân, đồng chí thân thiết nhất của chúng ta.

Câu hỏi:
1. Hai cảm tưởng sai về Đức Thánh Linh mà người ta thường có.
2. Đưa ra 3 lý do tại sao đề tài nầy quan trọng?
3. Đưa ra 3 phân đoạn trong Kinh Thánh dùng đại danh từ Đức Thánh Linh.
4. Hai câu Kinh Thánh dịch lộn đại danh từ Thánh Linh.
5. Ý nghĩa từ ngữ Hy-lạp “PARAKLETOS”?
6. Sáu đặc tính một người mà Đức Thánh Linh có là gì?
7. Kê ra 10 điều Đức Thánh Linh làm chứng mình là một Người.
8. Chức vụ của Đức Thánh Linh là gì?
9. Kê 7 áp dụng thực tế của Đấng yên ủi.
10. Kể tên 4 tình cảm của Đức Thánh Linh.




Giáo Lý Căn Bản 22 – CÁC KẾT QUẢ CỦA SỰ TÁI LÂM

Bài 22

CÁC KẾT QUẢ CỦA SỰ TÁI LÂM

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Sự tái lâm của Đấng Christ được nhắc đi nhắc lại 318 lần trong 260 đoạn trong Tân ước. Cứ 25 câu trong Tân ước thì có một câu nói về sự tái lâm.

Từ I Tê-sa-lô-ni-ca 4:18 chúng ta được Chúa dạy hãy an ủi lẫn nhau với việc Chúa sắp tái lâm. Hy vọng của thế giới về sự giáng sinh của Chúa Cứu thế đã trở thành hiện thực, thì sự hy vọng của Tân ước về sự tái lâm sớm của Chúa Jêsus cũng sẽ trở thành hiện thực. Lời cầu nguyện cuối cùng của Kinh Thánh trong Khải 22:20 là: “Lạy Chúa, xin hãy đến.” Giáo lý này khiến cho Sa-tan giận dữ vì nó thù ghét biến cố cuối cùng vinh hiển nầy. Giáo hội thế gian và tín đồ xác thịt cũng không thích giáo lý nầy. Sự kiện Chúa tái lâm dẫn dắt chúng ta đến một đời sống thức canh, trung tín, khôn ngoan, hoạt động, đơn sơ, tự chế, cầu nguyện và ở trong Christ. Các tín đồ có thể sẽ không đồng ý với nhau về vài khía cạnh của giáo lý nầy, nhưng tất cả đều phải nên tỉnh thức. Những người thức canh cách trung tín được hứa sẽ được phước đặc biệt. “Phước cho đầy tớ nào khi Chúa đến thấy họ thức canh” (Lu-ca 12:37).

I. ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI.

Khi Đấng Christ trở lại, sự vinh hiển của Chúa sẽ hiển lộ, mọi người sẽ nhìn thấy (Ê-sai 40:5).

II. ĐỐI VỚI HỘI THÁNH.

1. Khi Chúa tái lâm những người chết trong Christ sẽ sống lại I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-18.

2. Khi Chúa tái lâm thân thể các tín đồ sẽ biến hóa trở nên giống như chính Chúa (Phi-líp 3:20,21; I Giăng 3:2; I Cô-rinh-tô 15:51-53).

3. Khi Chúa tái lâm những tín hữu còn sống và những tín đồ sống lại sẽ cùng gặp Ngài (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17) và cùng ở với Chúa luôn.

4. Sự phán xét các tín hữu sẽ tiếp theo ngay sau đó (II Ti-mô-thê 4:8; I Phi-e-rơ 5:4).

5. Cuối cùng hội thánh sẽ sống và đồng trị với Đấng Christ (Khải 20:4).

III. ĐỐI VỚI DÂN Y-SƠ-RA-ÊN.

Ngay trước khi Chúa tái lâm đân Y-sơ-ra-ên sẽ được tái hợp (Ê-sai 11:11,12). Các lời tiên tri sau đây phần lớn được ứng nghiệm (Ê-xê-chi-ên 36:24; 37:21, Sô-phô-ni 3:19,20).

Có lẽ ngay sau khi hội thánh được cất lên sẽ có một cuộc tập hợp dân Y-sơ-ra-ên lớn hơn nữa. Khi. Chúa tái lâm, dân tộc Y-sơ-ra-ên, tất cả 12 chi phái sẽ được tái hợp (Ê-xê-chi-ên 37:19-24). Jêsus Christ, con Đa-vít sẽ làm vua cai trị thế giới như lời tiên tri đã nói trong Giê-rê-mi 23:5,6. Dân Y-sơ-ra-ên thời kỳ nầy sẽ được xét xử và tẩy sạch (Rô 11:26). Xem Ê-xê-chi-ên 37:23 và 36:25-29. Y-sơ-ra-ên và Pa-lét-tin sẽ phát triển thịnh vượng lạ lùng trong thời kỳ nầy (Giê-rê-mi 31:31-34; Ê-xê-chi-ên 36:37,38; 36:33,37). Dân Y-sơ-ra-ên sẽ là dân tộc lãnh đạo hàng đầu trên thế giới (Xa-cha-ri 8:23, Ê-sai 49:22,23) vào lúc nầy dân Y-sơ-ra-ên sẽ mang thông điệp của vương quốc Chúa đến toàn thế giới. Ê-sai 66:19 nhiều lời hứa mà dân Y-sơ-ra-ên mong muốn được hưởng vào lần đến thứ nhất của Ngài, thực ra sẽ được ứng nghiệm khi Chúa Jêsus trở lại lần thứ 2.

IV. ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC VÀ CÁ NHÂN CHƯA ĐƯỢC TÁI SANH.

Sự tái lâm của Chúa là ngày vui mừng cho hội thánh và cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng là ngày u buồn cho những người vô tín (Ma-thi-ơ 24:30, Khải 1:7).

Sự phán xét các dân tộc sẽ tiếp theo sự tái lâm vinh hiển của Đấng Christ (Ma-thi-ơ 25:31, 32). Chúa phân chia chiên với dê, các dân tộc được kể là chiên rồi sẽ theo Chúa (Ê-sai 2:2,3). Còn các dân tộc được kể là dê bị trừng phạt trong lửa hừng (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7-9). Những dân tộc còn lại trên đất bắt buộc phải hầu việc Đấng Christ vì Ngài cai trị bằng cây gậy sắt (Thi 2:9; Xa-cha-ri 9:10, Khải 11:15). Các dân tộc sẽ chấm dứt chiến tranh và sống trong hòa bình (Mi-chê 4:3; Ê-sai 2:4).

V. ĐỐI VỚI XÃ HỘI NÓI CHUNG.

Trái đất sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Chúa, như nước bao phủ biển vậy Ê-sai 11;9.

VI. ĐỐI VỚI ANTICHRIST VÀ MA QUỶ.

Antichrist sẽ lộ nguyên hỉnh sau khi hội thánh được cất lên, và cai trị kinh khủng của nó sẽ bị cáo chung với sự tái lâm hiển hiện của Đấng Christ và các thánh của Ngài (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8). Khải 19:20 nói đến sự chung cuộc khi Antichrist bị quăng vào hồ lửa. Ma quỷ sẽ bị xiềng và ném xuống vực sâu 1000 năm kể từ lúc Chúa hiển hiện (Khải 20:1-3).




Giáo Lý Căn Bản 21 – SỰ TÁI LÂM CỦA ĐẤNG CHRIST

Bài 21

SỰ TÁI LÂM CỦA ĐẤNG CHRIST

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Có 3 từ liệu Hy-lạp được dùng để mô tả sự kiện nầy:

– Parousia: Sự hiện diện cách cá nhân.

– Apokalupsis: sự khải thị.

– Epiphanela: Sự xuất hiện.

Cả 3 từ liệu trên đây ngụ ý rằng sẽ có một thời kia, Đấng Christ sẽ trở lại cách công khai bằng sự khải thị cá nhân của chính mình Ngài cho nhân thế. Một số người dạy rằng sự tái lâm là khi ta chết “Chúa Jêsus đến tiếp rước linh hồn nhưng chủ trương nầy không đúng vì lúc đó Chúa không bày tỏ chính mình cách công khai, thấy được cho toàn thế giới.

Công vụ: 1:10,11 mô tả sự thăng thiên của Chúa thể hiện cách 1) Cá nhân. 2) Bằng thân thể phục sinh. 3) Thấy được bằng mắt thường. 4) Với quyền phép của Ngài. Theo lời thiên sứ Chúa Jêsus sẽ tái lâm y như cách Ngài lên trời vậy. Sự giáng thế của Chúa cứu thế rất khiêm tốn, nhưng sự tái lâm của Ngài rất vinh hiển. Rõ ràng có 3 quan điểm chính về sự tái lâm của Chúa:

1. Hậu 1000 năm: Quan điểm nầy cho rằng sự tái lâm sẽ kể theo sau 1000 năm bình an.

2. Vô 1000 năm: Quan điểm nầy không tin vào thời gian cụ thể của 1000 năm nhưng tin rằng khi Đấng Christ đến mọi sự sẽ chấm dứt nhanh chống.

3. Tiền 1000 năm: Chúa đến rồi mới đến 1000 năm bình an tiếp theo.

Một vấn đề khác là sự tái lâm của Chúa có 2 giai đoạn:

1) Sự cất hội thánh lên cách bí mật (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-17), khi Chúa đến các thánh được gặp Ngài trên không trung.

2) Sự xuất hiện công khai (Khải 1:7) khi Chúa đến cùng với các thánh đồ để thiết lập nước 1000 năm bình an (I Tê-sa-lô-ni-ca 3:13)

Một vấn đề chưa giải quyết được của những người chủ trương Tiền thiên niên là liệu hội thánh có trải qua cơn đại nạn hay không, vì vậy có sự tranh luận về việc Chúa cất hội thánh lên “trước cơn đại nạn hay ngay cơn đại nạn ”

I. NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ SỰ TÁI LÂM.

Những lời tiên tri về sự giáng sinh của Chúa Jêsus đã được ứng nghiệm hoàn toàn, điều nầy giúp chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng những lời tiên tri về sự tái lâm của Chúa cũng sẽ được ứng nghiệm cách rõ ràng, trung thực chứ không theo nghĩa thiêng liêng hay hình bóng.

1. Các tiên tri nói trước (Đa-ni-ên 7:13).

2. Chính Chúa Jêsus báo trước (Ma-thi-ơ 25:31).

3. Sứ đồ Phao-lô nói trước (I Ti-mô-thê 6:14).

4. Các thiên sứ báo trước (Công 1:10,11). Khi Chúa Jêsus thăng thiên.

Không một lời tiên tri nào ở đây đã từng được ứng nghiệm khi Chúa đến lần thứ nhất.

II. THỜI ĐIỂM CHÚA TÁI LÂM.

Đây là sự bí mật mà chỉ Đức Cha biết mà thôi Ma-thi-ơ 24:36. chúa Jêsus khi còn là người thì Ngài không biết, nhưng Jêsus Christ là Đức Chúa Trời thì dĩ nhiên là Ngài biết. Tôi tin rằng đó là một ngày có thể di dịch (2 Phi-e-rơ 3:12), nghĩa là có thể tới sớm hay đến muộn tùy theo mức độ rao giảng Tin lành mau hay chậm Ma-thi-ơ 24:14.

III. MỤC ĐÍCH CHÚA TÁI LÂM.

1. Để hoàn tất sự cứu rỗi các thánh đồ. Ngài đã giải phóng chúng ta ra khỏi quyền lực và án phạt của tội lỗi, nhưng rồi Ngài sẽ giải cứu chúng ta ra khỏi sự hiện diện của tội lỗi nữa Hê-bơ-rơ 9:28.

2. Để được vinh hiển trong các thánh đồ. II. Tê-sa-lô-ni-ca 1:10 “Khi Ngài sẽ đến trong ngày đó để được sáng danh trong các thánh đồ, được khen ngợi trong mọi kẻ tin.”

3. Để đưa ra ánh sáng những điều còn giấu kín trong bóng tối I Cô-rinh-tô 4:5.

4. Để phán xét II Ti-mô-thê 4:1.

5. Để tể trị Khải 11:15.

6. Để tiếp chúng ta lên với Ngài Giăng 14:13.

7. Để tiêu diệt sự chết I Cô-rinh-tô 15:25,26.

IV. CÁCH CHÚA TÁI LÂM.

A. Cách bí mật lúc hội thánh được cất lên I Tê-sa-lô-ni-ca 15:2, Ma-thi-ơ 24:44,50.

B. Cách công khai lúc Chúa tái lâm Khải 1:7, Ma-thi-ơ 24:30, Tít 2:13.

V. CHÚA TÁI LÂM Ở ĐÂU.

A. Lúc cất lên chúng ta sẽ được gặp Ngài trên không trung I Tê-sa-lô-ni-ca 4:17.

B. Lúc tái lâm chúng ta sẽ cùng Ngài giáng xuống địa cầu, có lẽ Chúa sẽ ngự xuống núi Ô-li-ve Xa-cha-ri 14:4.

VI. HÌNH THỨC CHÚA TÁI LÂM.

1. Trong mây trời Ma-thi-ơ 24:30.

2. Trong vinh hiển của Cha Ngài Ma-thi-ơ 16:27.

3. Trong vinh quang của chính mình Ngài Ma-thi-ơ 25 :31.

4. Trong lửa hừng 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7.

5. Với quyền phép và vinh quang Ma-thi-ơ 24:30.

6. Khi tái lâm Ngài có thân thế như lúc thăng thiên Công 1:9-11.

7. Với tiếng kêu lớn và tiếng Thiên sứ I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16.

8. Với các thánh của Ngài I Tê-sa-lô-ni-ca 3:13.

9. Được các thiên sứ tháp tùng Ma-thi-ơ 16:27.

10. Cách thình lình Mác 13:36.

VII. NHỮNG DẤU HIỆU CỦA SỰ TÁI LÂM.

Trong II Ti-mô-thê 3:1-7 có liệt kê 23 dấu hiệu về sự tái lâm của Chúa, phần lớn các dấu hiệu nầy rất rõ rệt ngày nay.

1. Những thời kỳ khó khăn.

2. Người ta đều tư kỷ.

3. Tham tiền.

4. Khoe khoang.

5. Xấc xược (kiêu căng).

6. Hay nói xấu (phạm thượng).

7. Không vâng lời cha mẹ.

8. Bội bạc (vô ơn).

9. Không tin kính (bất khiết).

10. Vô tình (sống không tình cảm).

11. Khó hòa thuận.

12. Hay phao vu.

13. Không tiết độ.

14. Dữ tợn.

15. Thù người lành (khinh người tốt).

16. Lường thầy phản bạn.

17. Hay nóng giận.

18. Lên mình kiêu ngạo.

19. Ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Chúa.

20. Bề ngoài giữ điều nhơn đức (hình thức đạo đức).

21. Quyến dụ đàn bà mang tội lỗi.

22. Bị bao nhiêu tình dục xui khiến.

23. Vẫn học luôn mà không hề thông biết lẽ thật được.

Trong Ma-thi-ơ 24:5-7 và 12-38 liệt kê 10 dấu hiệu.

1. Christ giả.

2. Chiến tranh và tiếng đồn về giặc giã.

3. Đói kém.

4. Dịch lệ.

5. Động đất.

6. Tội ác thêm nhiều.

7. Tình yêu tàn tạ, lạnh lùng.

8. Ham ăn.

9. Mê uống.

10. Cử cưới gả.

Và những dấu hiệu khác như:

1. Sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem. Lu-ca 21:20-24.

2. Sự đầy đủ của hội thánh. Rôm 11:25.

3. Tin lành giảng ra khắp đất. Ma-thi-ơ 24:14.

4. Antichrist xuất hiện. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-8.

KẾT LUẬN:

Đừng chế giễu và hoang mang như một số người được nói đến trong 2 Phi-e-rơ 3:3 vì ngày Chúa tái lâm là chắc chắn. Có phải chúng ta bán hết mọi sự lên núi chờ Ngài không? không phải vậy. Chúng ta phải hoạch định kế hoạch và hoạt động y như Ngài chưa đến ngay và đồng thời ta phải sống một đời sống thánh khiết trong sạch y như Ngài sẽ trở lại HÔM NAY (I Tê-sa-lô-ni-ca 3:12,13). Giáo lý nầy phải ảnh hưởng đến đời sống chúng ta, nó phải giữ chúng ta bận rộn vì Chúa, và tỉnh thức trông đợi Ngài. Mão triều thiên dành cho kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài (II Ti-mô-thê 4:6-9).

Câu hỏi ôn:

1. Trong Công vụ 1:10,11 có ba chữ nào mô tả sự tái lâm?

2. Đưa ra 3 từ ngữ Hy-lạp nói về sự tái lâm.

3. Kể tên 4 vị nói tiên tri về sự tái lâm.

4. Khi nào Đấng Christ tái lâm?

5. Kể 7 mục đích Chúa tái lâm.

6. Bạn học gì về sự tái lâm trong I Tê-sa-lô-ni-ca 5:2 và Ma-thi-ơ 24:44?

7. Đấng Christ sẽ đến ở đâu? giải thích?

8. Kể 12 điều về cách Chúa tái lâm.

9. Kể 10 dấu hiệu về Chúa tái lâm trong II Ti-mô-thê 3 và Ma-thi-ơ 24.

10. Áp dụng thực tế của giáo lý nầy là gì?




Giáo Lý Căn Bản 20 – CÔNG TÁC CẦU THAY CỦA ĐẤNG CHRIST

Bài 20

CÔNG TÁC CẦU THAY CỦA ĐẤNG CHRIST

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Ngày nay Chúa Jêsus đang làm gì? Ngài có dành hết thì giờ để sửa soạn chỗ ở cho những người được chuộc hay không? Đây là một trong những công tác quan trọng của Ngài. “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở, Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ” Giăng 14:2. Thêm vào công tác nầy, Chúa Jêsus còn nhận thêm một công tác nữa trong chức vụ cầu thay. “Vì Ngài hằng sống để cầu thay cho họ” (Hê-bơ-rơ 7:25). “Vì Đấng Christ không vào nơi chí thánh do tay người làm ra” (Hê-bơ-rơ 9:24) nhưng vào chính thiên đàng để bây giờ ra mắt Đức Chúa Trời vì cớ chúng ta. Một thầy tế lễ là một người trung gian, một người thay cho kẻ tội lỗi can thiệp với Đức Chúa Trời công chính. Thầy tế lễ mang con sinh đỗ huyết hay một của lễ chuộc tội đến cùng Đức Chúa Trời (Lê-vi 4:16-18). Nguyện vọng của Gióp là có một người trung gian “Chẳng có người nào phân xử giữa chúng ta, đặt tay mình trên hai chúng ta” (Gióp 9:33).

Chúng ta thường tạ ơn Đức Chúa Trời về sự giáng sinh và sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta cũng phải tạ ơn Chúa vì hiện nay Ngài đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời để biện hộ cho chúng ta. Ngày ngày, đêm đêm thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta cầu thay cho chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời.

I. CÔNG TÁC ĐỀN TỘI CỦA ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC TRỌN THÀNH Ở DƯỚI ĐẤT.

Trên thập tự giá Chúa Jêsus phán: “Mọi sự đã được trọn ” Giăng 19:30. Sự cứu rỗi đã hoàn tất trọn vẹn. Tội lỗi đã được xử lý công bình ở thập giá, Chúa Jêsus sẽ không bao giờ chết vì tội lỗi nữa. Hê-bơ-rơ 9:24-28 cho thấy sự sai lầm và tội lỗi của Giáo hội La-mã là dâng lễ Misa hằng ngày. Người La-mã giáo thực ra đã cố gắng tái diễn việc đóng đinh Chúa mỗi lần họ dâng lễ misa. Chúng ta cho rằng việc nầy là phạm thượng và đã bất kể lời dạy của Thánh kinh “Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người.”

II. ĐẤNG CHRIST ĐÃ ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN TRỞ THÀNH MỘT THẦY TẾ LỄ.

1. Ngài được chọn giữa loài người (Hê-bơ-rơ 5:1).

2. Ngài được tấn phong và bổ nhiệm vào chức vụ (Hê-bơ-rơ 3:2).

3. Ngài được Đức Chúa Trời kêu gọi cho công tác (Hê-bơ-rơ 5:4,5).

4. Ngài phục vụ những việc liên quan đến Đức Chúa Trời Hê-bơ-rơ 2:17.

5. Ngài dâng tế lễ và sinh tế đền tội Hê-bơ-rơ 5:1 Ngài dâng chính mình làm sinh tế cho Đức Chúa Trời.

III. ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC LẬP LÀM THẦY TẾ LỄ THEO KHUÔN MẪU A-RÔN.

Trên đất Chúa Jêsus không bao giờ hàng động như một thầy tế lễ Ngài không bao giờ bước vào nơi Chí thánh.

1. Chúa Jêsus vừa dâng sinh tế trước mặt nhân dân, Ngài còn công khai dâng chính mình trên thập tự giá.

2. Ngài xuất hiện trước mặt Đức Chúa Trời vì cớ nhân dân.

3. Ngài đi ra để chúc phước cho nhân dân.

Tuy nhiên A-rôn là một người đã chết, Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời hằng sống cầu thay cho chúng ta, trong khía cạnh nầy Chúa Jêsus theo ban Mên-chi-xê-đéc làm thầy tế lễ đời đời (Hê-bơ-rơ 5:6).

IV. CHÚA JÊSUS PHÓ CHÍNH MÌNH LÀM TẾ LỄ TRÊN THẬP TỰ GIÁ.

Trong khi chúng ta còn là tội nhân, thì Chúa cứu thế đã vì chúng ta trĩu chết, Ngài đã chết trên thập giá sỉ nhục ngoài cửa thành. Sinh tế của Ngài là một sinh tế:

1. Tình nguyện, tự ý Hê-bơ-rơ 10:5-10 Ngài tự nguyện chết.

2. Thay thế Hệ-bơ-rơ 7:24-28 Ngài chết thay tôi.

3. Không tì vết Hê-bơ-rơ 9:14 Ngài là chiên con không tì vết.

4. Có huyết Hê-bơ-rơ 9:12 Huyết quý báu của Ngài Công 20:28.

5. Được nhận Hê-bơ-rơ 13:20.21 sự công bình của Cha được thỏa mãn.

6. Đầy đủ cả Hê-bơ-rơ 7:27 không cần tái diễn lần nào nữa.

V. ĐẤNG CHRIST BÂY GIỜ BƯỚC VÀO SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ CHÚNG TA.

1. Nơi chốn: ở thiên đàng Hê-bơ-rơ 9:1-8, nói đến trách nhiệm của thầy tế lễ Hê-bơ-rơ 9:1-12. Hê-bơ-rơ 9:24 Ngài vào chính trong trời để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời. Công 7:55.

2. Vì ai? Vì những kẻ thuộc về Ngài Hê-bơ-rơ 9:24; 7:24,25 cầu thay cho những kẻ đến gần Đức Chúa Trời.

3. Cơ sở: lời cầu thay của Ngài là chính huyết Ngài Hê-bơ-rơ 9:12. Trong Giăng 17:1-26 (lời cầu nguyện như thầy tế lễ thượng phẩm) Chúa Jêsus nói đến công việc đã hoàn tất.

4. Lời cầu thay thực tế:

a. Xin ân điển ban cho các thánh đồ lúc có cần. II Cô-rinh-tô 12:9.

b. Xin sức mạnh ban cho kẻ yếu đuối Giăng 17:11.

c. Xin cho chúng ta thoát khỏi tội và sự cám dỗ Giăng 1715.

d. Xin tha tội khi chúng ta xưng tội I Giăng 1:9.

e. Xin cho chúng ta quyền năng làm chứng nhân cho Ngài Công 1:8.

f. Xin cho chúng ta trở nên giống như hình bóng Đấng Christ Rô-ma 8:28.

5. Mục đích của sự cầu thay;

a. Duy trì sự sống (Hê-bơ-rơ 9:24).

b. Ban sự tẩy sạch (I Giăng 2:1).

c. Ban ân điển và sự giúp đỡ (Hê-bơ-rơ 4;15,16).

d. Bảo đảm sự chiến thắng (Hê-bơ-rơ 2:17,18).

 

VI. ĐẤNG CHRIST ĐANG BIỆN HỘ CHO CHÚNG TA.

Sa-tan là kẻ kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời (Gióp 1:16-12). Để chống lại lời kiện cáo đó chúng ta có một trạng sư trước tòa thiên đàng. Đấng trạng sư biện hộ cho chúng ta là chính Đấng Christ (I Giăng 2:1). Đấng chuộc tội trở thành Đấng biện hộ. Khi chúng ta phạm tội Ngài cầu thay cho chúng ta trên cơ sở công tác đã hoàn tất của Ngài là thập tự giá. Các thánh đồ bởi đó được tha thứ vì cớ Chúa cứu thế (I Giăng 1:9).

VII. ĐẤNG CHRIST SẴN SÀNG CẦU THAY CHO CHÚNG TA HÔM NAY.

Nếu chúng ta không cầu xin sự tha thứ, chúng ta sẽ không nhận được sự tha thứ.

1. Trong những giờ thử thách nghiêm trọng, chúng ta phải vui mừng vì có một bạn thật đang đứng trước tòa của Đức Chúa Trời.

2. Chúa Cứu thế đứng sẵn ở tòa Thiên Chúa để hỗ trợ cho chúng ta.

3. Ngài sẵn sàng làm đại diện cá nhân của chúng ta trước mặt Đức Cha.

4. Khi cầu nguyện chúng ta đặt nhu cầu của mình vào tay Chúa nhờ sự chăm sóc của Ngài.

5. Là một người thật, Ngài bị thử thách trong mọi sự cũng như chúng ta nhưng chưa hề phạm tội. Ngài đã chiến thắng tội lỗi và bây giờ Ngài ban quyền chiến thắng đó cho chúng ta.

6. Chúng ta không biết gì về lời kiện cáo mà Sa-tan thường xuyên đem ra trước mặt Chúa để chóng lại chúng ta. Một số lời kiện cáo đó là đúng nhưng hầu hết đều giả dối. Khải 12:10 kẻ kiện cáo chúng ta đã bị quăng xuống rồi.

7. Những người thân yêu đã về Thiên quốc trước chúng ta, các thánh hay bà Ma-ri không ai có thể làm Đấng biện hộ cho chúng ta được.

Chúa Jêsus là Đấng cầu thay, Đấng biện hộ duy nhất của chúng ta trước ngai Đức Chúa Trời mà thôi.

KẾT LUẬN:

Lu-ca 22:31 “Hỡi Si-môn, Si-môn Sa-tan đòi sàng sảy ngươi như lúa mì, nhưng ta đã cầu nguyện cho ngươi không thiếu thốn.”Đây chính là chức vụ cầu thay của Đấng Christ vì cớ chúng ta ngày nay trên thiên đàng. Vì Chúa biết hết mọi sự nên Ngài có thể cầu thay cho chúng ta, tránh được sự cám dỗ ngay cả trước khi nó đến với chúng ta. Hãy nhờ Ngài cầu thay cho trường hợp của bạn, để bạn nhận được ân điển, sức mạnh và quyền năng cho cuộc sống hằng ngày. Hãy đẻ Ngài cầu thay cho trường hợp của bạn, hầu cho bạn trở nên giống như Ngài Rô-ma 8:29. Sự cầu thay của Chúa là động cơ mạnh mẽ để chúng ta kiên trì cầu nguyện và sống đời sống Cơ-đốc đắc thắng. Đấng Christ phục sinh đang theo dõi bảo hộ tôi. Các chiến sĩ cơ Đốc nhận Jêsus làm tướng đi đầu trong cuộc chiến với các thế lực trên trời. Ê-phê-sô 6:12. Người tín đồ khiêm nhường nhất biết an nghĩ trên tình yêu bất diệt của một thiết hữu không thấy được, nhưng luôn luôn chăm sóc bạn hữu Ngài cách thành tín không thôi.

Câu hỏi ôn:

1. Công tác hiện tại của Đấng Christ là gì?

2. Đấng Christ có đang còn chuẩn bị hoàn thiện sự cứu rỗi không? giải thích.

3. 5 điều kiện Đấng Christ đã đạt được để thành thầy tế lễ là gì?

4. Chúa Jêsus được lập làm thầy tế lễ theo kiểu mẫu nào?

5. Mô tả sự hy sinh của Chúa Jêsus trên thập tự giá.

6. Chúa Jêsus thi hành chức thầy tế lễ thượng phẩm ở đâu?

7. Liệt kê 5 lời cầu thay thực tế của thầy tế lễ thượng phẩm?

8. Tại sao ta cần thầy tế lễ thượng phẩm ở thiên đàng?

9. Chúng ta được yên ủi gì khi đọc Khải 12:10?

10. Lời cầu thay của Đấng Christ trong Lu-ca 22:31 có phải là trường hợp cá biệt không? tại sao?




Giáo Lý Căn Bản 18 – SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA JÊSUS.

Bài 18

SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA JÊSUS.

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Giáo lý phục sinh là giáo lý nền tảng của Tân ước, Tân ước nhắc đến sự phục sinh 104 lần. Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất với một giáo chủ sống, Đức Phật đã chết, thần Brahma đã chết ( Ấn độ giáo), Mohamed đã chết… Sự hãnh diện và vinh quang của Cơ đốc giáo là ngôi mộ trống: Chúa Jêsus đã sống lại. Trên thập giá Chúa Jêsus lớn tiếng : “Mọi sự đã được trọn” và Đức Cha đã phê chuẩn “Amen”, bằng cách khiến con Ngài sống lại từ trong kẻ chết. Nếu Chúa Jêsus không sống lại từ nơi phần mộ, chúng ta là những kẻ khốn nạn hơn hết vì chúng ta vẫn ở trong tội lỗi, chúng ta vẫn hư mất đời đời ( I Cô-rinh-tô 15:16-19 ). Chúa Jêsus đã phán trước Ngài sẽ chịu chết và sau 3 ngày Ngài sẽ sống lại Ma-thi-ơ 16:21. Nếu sự sống lại là thật thì Jêsus thật là con Đức Chúa Trời, đây là phép lạ mà căn cứ vào đó, các phép lạ khác sẽ tồn tại hay sẽ sụp đổ. Nếu phép lạ lớn nhất nầy là thật, thì thật để cho mọi người thừa nhận tất cả các phép lạ khác.

I. BẰNG CỚ SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA.

1. Ngôi mộ trống. (Ma-thi-ơ 28:6; Lu-ca 24:3 ).

2. Lời chứng của các Thiên sứ. (Ma-thi-ơ 28:46; Lu-ca 24:5-7 )

3. Những người nói chuyện với Ngài sau khi sống lại: Phi-e-rơ, Ma-ri, Cleopas, Thô-ma.

4. Jêsus đã ăn, uống, chỉ ra các dấu đinh ở tay, ở sườn cho các bạn Ngài sau khi sống lại.

5. 500 tín đồ thấy Ngài cùng 1 lúc I Cô-rinh-tô 15: 6.

6. Chúa Jêsus hiện ra với Ê-tiên khi vị chấp sự tử đạo Công vụ 7:56.

7. Chúa hiện ra với Phao-lô trên đường Đa-mách Công 9:5.

8. Bởi lời chứng của hàng triệu người đã chứng minh Ngài là cứu Chúa hằng sống.

9. Bởi những bằng chứng không thể chối bỏ Công vụ 1:3.

II. CÁC LỜI GIẢI THÍCH SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA.

1. Thuyết âm mưu lừa dối: Cho rằng môn đệ âm mưu với nhau dựng chuyện Chúa sống lại cho người tin.

2. Thuyết ngất lịm: Cho rằng Chúa Jêsus chỉ ngất lịm vì các binh lính chưa giết Ngài chết, nhờ vào mộ lạnh và hương liệu khiến Chúa sống lại, – Thuyết nầy hoàn toàn sai vì chính Chúa bị tên lính đâm vỡ tim, máu huyết tràn ra. Ngoài ra, các hương liệu đó là thuốc độc chỉ có thể giết Chúa Jêsus thêm mà thôi, chứ không giúp Chúa hồi sinh được.

3. Thuyết ảo ảnh: Cho rằng các môn đồ muốn gặp lại Chúa Jêsus và họ cứ nghĩ về việc ngài sẽ sống lại, cho nên trong sự tưởng tượng của mình, họ tưởng là họ đã thấy Chúa. – Kinh thánh cho chúng ta biết rằng các môn đồ không tin và không hiểu rằng Chúa sẽ sống lại bao giờ. Chính Thô-ma, sau khi nghe người nầy người kia nói đã thấy Chúa mà ông vẫn không tin, cho đến khi rờ được Ngài bằng tai nghe, mắt thấy. Các môn đồ khác cũng vậy, đến nỗi Chúa phải quở trách họ về việc họ không tin những người thấy Chúa làm chứng lại Lu-ca 24:25.

4. Thuyết thấy ma: Các môn đồ chỉ thấy hình ma bóng quế của Chúa Jêsus và tưởng rằng đã thấy Ngài thực sống lại. Chính Chúa Jêsus đã phủ nhận thuyết nầy khi Ngài nói: “ma thì không thịt, không xương còn các con thấy Ta có”, ma thì không ăn uống, còn Chúa thì ăn với các môn đồ. (Lu-ca 24:39,43 ).

5. Thuyết huyền thoại: Đó chỉ là câu chuyện thần thoại được người xưa kể lại do sự bịa đặt, chứ không có thực. – Toàn bộ Kinh thánh và những chứng cớ sờ sờ về sự phục sinh của Chúa phủ nhận thuyết nầy, vì không có chuyện bịa đặt nào có đủ sức thuyết phục và đứng vững lâu dài trước sự công kích của người vô tín và sự tàn phá của thời gian như thế.

6. Lời giải thích đúng đắn: Ta chỉ có thể thừa nhận rằng chính Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết như Ngài đã phán, xem Công vụ 2:24.

III. THÂN THỂ PHỤC SINH CỦA CHÚA.

1. Thân thể có thịt và xương Lu-ca 24:39.

2. Thân thể rất vinh hiển Phi-líp 3:21.

3. Thân thể bất tử không thể chết nữa Rô-ma 6:9.

4. Thân thể thiêng liêng I Cô-rinh-tô 15:44.

5. Thân thể thần linh có thể vượt qua tường nhà xây Giăng 20:19.

IV. CHÚA JÊSUS SỐNG LẠI NHƯ THẾ NÀO?

1. Bởi quyền năng của Đức Cha Công vụ 2:23,24; 3:15; 5:30.

2. Bởi quyền năng của Chúa Thánh linh I Phi-e-rơ 3:18.

V. KẾT QUẢ SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA.

1. Chứng minh sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Nếu không có Đức Chúa Trời thì làm thế nào Đấng Christ có thể sống lại từ kẻ chết. Ngài sống lại vì Đức Chúa Trời hằng sống đã khiến Ngài sống lại.

2. Chứng minh thần tánh của Chúa Jêsus Rôm 1:4.

3. Có nghĩa là sự cứu rỗi là sự kiện đã hoàn tất. Chúa Jêsus phán rằng sự cứu rỗi đã được trọn khi Ngài chết trên thập tự giá, và chính sự phục sinh đã xác nhận điều quan hệ đó.

4. Sự phục của Chúa Jêsus bảo đảm rằng mọi người khác đều sẽ sống lại:

– Người công bình sống lại để được sự sống đời đời.

– Người Không công bình sống lại để chịu phán xét và hình khổ đời đời.

5. Sự phục sinh của Chúa chuẩn bị cho Ngài hoàn tất lời hứa “Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta.”

6. “Quyền năng sự phục sinh của Ngài” (Phi-líp 3:10 ), là một kinh nghiệm mà ngày nay ta có thể vui hưởng: nó có nghĩa là sống trong sự tươi mới, của sự sống đến với chúng ta, qua việc Đấng phục sinh sống cuộc sống của Ngài cách mới mẻ trong cuộc sống mỗi chúng ta.

KẾT LUẬN:

Sự phục sinh là quyền năng lớn nhất trên thế giới ngoài quyền năng của sự cầu nguyện. Sự phục sinh vượt trổi hơn quyền năng và sức mạnh của nguyên tử, của Hydrogen, Cobalt hay Uranium. Các thứ vũ khí đó chỉ hủy diệt, còn sự phục sinh ban sự sống cho người chết. Có câu chuyện kia kể rằng: Một người vô tín kia sắp chết và ông muốn chắc chắn rằng thân thể ông không thể sống lại được, nên ông viết 2 câu trong bản di chúc: ” Thân thể tôi phải được hỏa táng, và tro bụi của tôi sẽ được đưa lên phi cơ rải khắp bảy biển “.Nhưng Kinh thánh cho biết : biển sẽ đem trả những người chết mình chứa và các thân thể sẽ sống lại ứng hầu trước tòa án Đấng Christ. Nguyện quyền năng của sự phục sinh này hành động trong thân thể tôi giữ tội khỏi phạm tội.

Sự phục sinh là nền tảng mà trên đó Cơ đốc giáo đứng vững hay sụp đổ. Ngày nay, quyền lực chinh phục mạnh nhất là sự chết, nhưng sự phục sinh của Chúa lại là quyền lực mạnh hơn vì đã phá tan quyền của sự chết. Ngày nay, chúng ta có thể ca hát cách đắc thắng: ” Ớ sự chết cái nọc của mầy ở đâu? ớ mồ mả sự chiến thắng của mầy ở đâu? I Cô-rinh-tô 15:55.

Chúng ta đang hầu việc một Đấng cứu thế hằng sống, Ngài đang cai trị thế giới ngày nay. Sự chiến thắng thuộc về chúng ta khi chúng ta tiến bước với Đấng làm đầu Hội thánh là Jêsus, Đấng chiến thắng sự chết. Nguyện Chúa cho chúng ta ý thức rằng Ngài đang sống, khi sự sống của Ngài trong thân xác chúng ta.

Câu hỏi:

1. Tính chất đặc biệt của Cơ đốc giáo là gì?

2. Đưa 6 bằng cớ về sự phục sinh.

3. Thuyết ngất lịm nói gì về sự phục sinh? có thật không? tại sao?

4. Làm thế nào ta biết thuyết ảo ảnh là sai?

5. Lời giải thích đúng đắn nhất về sự phục sinh của Đấng Christ là gì?

6. Mô tả thân thế phục sinh của Đấng Christ.

7. Chúa sống lại như thế nào?

8. Làm thế nào sự phục sinh của Đấng Christ minh chứng sự thực hữu của Đức Chúa Trời?

9. Tại sao giáo lý phục sinh bị nhiều người từ khước?

10. Theo bạn quyền lực lớn nhất trên thế giới là gì?




Giáo Lý Căn Bản 16 – CÁC PHÉP LẠ CỦA CHÚA JÊSUS.

Bài 16

CÁC PHÉP LẠ CỦA CHÚA JÊSUS.

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Đề tài nầy suốt nhiều thế kỷ đã là một bãi chiến trường mà con người đã chiến đấu, đầu ốc khoa học của thế kỷ XX đã nỗ lực giải quyết cuộc tranh luận nầy. Ngày nay, dường như cả hai dòng tư tưởng cùng tồn tại: một số chấp nhận phép lạ còn một số không thừa nhận.

Các khoa học gia tư khước phép lạ vì họ không thể hiểu cũng không thể chứng minh phép lạ được.

Người tín đồ Tin lành chấp nhận phép lạ vì họ có đức tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng. Chữ phép lạ được dùng cách dễ dãi ngày hôm nay. Một số người thoát chết trong một tai nạn xe hơi liền nhấn mạnh: “đó thật là một phép lạ.” Thật ra, đó chính là một hành động quan phòng Thiên thượng — đó là sự bảo vệ của các Thiên sứ canh giữ chúng ta. Vào trường hợp khác, khi chúng ta tình cờ gặp một người yêu mến dưới một hoàn cảnh thật bất ngờ, chúng ta nói đó thật là một phép lạ. Thật ra, đó là sự quan phòng của Chúa để dẫn dắt ta.

Vậy, chúng ta hãy bắt đầu với một định nghĩa có thể chấp nhận được về phép lạ.

I. ĐỊNH NGHĨA CHỮ PHÉP LẠ.

Định nghĩa đơn giản của phép lạ là sự để qua một bên luật thiên nhiên bằng một luật siêu nhiên. Luật siêu nhiên là luật của Đức Chúa Trời vốn cao hơn luật thiên nhiên của quả đất.

Chẳng hạn, một trái táo rơi ngược lên trời thay vì rơi xuống đất—đó là một phép lạ. Đó sẽ là quyền năng của Đức thánh linh chế ngự và thay đổi luật trong lực và luật vạn vật hấp dẫn.

Sau đây là một định nghĩa kinh điển hơn: “Phép lạ là sự ảnh hưởng trong thiên nhiên, không do các hoạt động được thừa nhận trong thiên nhiên hay do hành động của con người, nhưng chứng tỏ một quyền lực cao siêu và nhằm làm một dấu chứng” (Lindsoll và Woodbridge). Trong Công vụ 4:16,22 cả quốc hội Do-thái và Đức thánh linh gọi sự chữa lành trong Công vụ 3:1-11 là một phép lạ. Bình thường một người 40 tuổi mà không hề đi được sẽ không thể đứng dậy, bước đi, nhảy nhót như một người mạnh mẽ được. Cho nên người què ở cửa hẹp đứng dậy đi được là một phép lạ.

II. SỰ ĐỘC NHẤT VÔ SONG CỦA PHÉP LẠ CHÚA JÊSUS.

Các phép lạ của Chúa Jêsus được thi thố đề chứng minh “Thần tánh” của Ngài và gây uy tín cho các sứ điệp của Ngài. Giăng 2:11 đây là phép lạ thứ nhất Chúa làm tại Ca-na xứ Ga-li-lê, bày tỏ sự vinh hiển Ngài và các môn đồ tin Ngài. Các tiên tri (Môi-se, A-rôn, Ê-li, Phi-e-rơ và Phao-lô) thực hiện các phép lạ được Chúa ủy nhiệm cho họ để hoàn thành công tác, nhưng Chúa Jêsus thực hiện các phép lạ bằng quyền năng riêng của Ngài, để bày tỏ Thần tánh của Chúa. Nói chung, trong các sách tin lành có ghi chép lại từ 35-40 phép lạ mà Chúa Jêsus đã thi hành với mọi hình thức bởi vì: Mọi quyền phép đều giao cho Chúa Jêsus (Ma-thi-ơ 28:18).

Trong khi bị cám dỗ Chúa Jêsus (Lu-ca 4:3,4) đã từ chối làm phép lạ theo đề nghị của Ma quỷ sau khi Ngài kiêng ăn 40 ngày.

III. LÃNH VỰC PHÉP LẠ CỦA CHÚA JÊSUS.

A. Trên thiên nhiên:

Ma-thi-ơ 8:26,27 Chúa Jêsus khiến biển yên lặng.

B. Trên Ma quỷ:

Chúa Jêsus đuổi quỷ ra khỏi người bị quỷ ám. Mác 5:12,13; Ma-thi-ơ 8:28-32; 9:32-33; 15:22-28; 17:14-18; Mác 1:23-27.

C. Trên bệnh tật:

– Bại liệt Ma-thi-ơ 8:13; 9:6; Giăng 5:9.

– Teo tay Ma-thi-ơ 12:13.

– Lưng còng Lu-ca 3:12.

– Mất huyết Ma-thi-ơ 9:22.

– Phù thũng Lu-ca 14:2.

– Sốt rét Ma-thi-ơ 8:15.

– Câm không nói Ma-thi-ơ 9:33.

– Mù mắt Giăng 9:1-38.

– Điếc tai Ma-thi-ơ 11:5.

– Phung các loại Ma-thi-ơ 8:3; Lu-ca 17:19.

D. Trên sự chết:

– Ngài kêu La-xa-rơ từ kẻ chết Giăng 11:43-44.

– Ngài kêu con gái Giai-ru Ma-thi-ơ 19:18-26.

– Ngài kêu con trai bà góa Na-in Lu-ca 7:12-15.

E. Các lãnh vực khác:

– Chúa hóa nước thành rượu Giăng 2:1-11.

– Nuôi năm ngàn người ăn Giăng 6:1-14.

– Bước trên nước biển Giăng 6:15-21.

– Nuôi 4. 000 người ăn Ma-thi-ơ 15:32-39.

– Khiến cây vả khô Ma-thi-ơ 21:18-22.

– Tìm đồng bạc trong miệng cá Ma-thi-ơ 17:27.

– Phép lạ đánh cá Lu-ca 5:1-11; Giăng 21:6.

F. Phép lạ lớn nhất:

Là sự phục sinh của chính Chúa Jêsus sau ba ngày nằm trong phần mộ. (Cô-rinh-tô 5;4; Rô-ma 1:4).

IV. SỰ ĐÁNG TIN CỦA PHÉP LẠ CHÚA JÊSUS.

Các phép lạ của Chúa Jêsus được ghi chép cẩn thận, rõ ràng trong Kinh Thánh không thể lẫn lộn được. Những phép lạ nầy có tính cách công khai, trước mặt nhiều nhân chứng “Tai nghe mắt thấy.” Các phép lạ về chữa lành bệnh tật không hề bị các bác sĩ và khoa học gia phủ nhận. Không một ai có khả năng tái diễn các phép lạ đó y như Chúa. Các phép lạ của Chúa là độc nhất vô nhị. Chúa Jêsus không bao giờ làm phép lạ vì các mục đích không trong sạch hoặc không xứng đáng, các động cơ của ngài đều tốt lành. Các phép lạ của Chúa Jêsus có hiệu quả tức thì, sự chữa lành xảy ra lập tức và lạ lùng.

Chúa Jêsus chứng minh cho Giăng Báp-tít biết Ngài là Đấng Christ khi chỉ cho ông thấy các phép lạ Ngài làm Ma-thi-ơ 11:3-6. Cố gắng giải thích các phép lạ là xúc phạm quyền năng và sự chính trực của Đấng Christ. Các phép lạ là thật và chúng ta vui vẻ xác nhận đức tin chúng ta trong lời Đức Chúa Trời.

V. CÁC SỰ CHỐNG ĐỐI PHÉP LẠ CHÚA JÊSUS.

1. Một số người nói rằng nhân cách Chúa Jêsus quá mạnh mẽ đến nỗi Ngài có ảnh hưởng lớn, có thể chữa vài bệnh thần kinh bấy ổn.

2. Một số gợi ý giải thích các phép lạ cách buồn cười do lòng vô tín. Chẳng hạn họ cho rằng biển cạn và Chúa thực sự đi trên cát, khi cậu đưa bánh và cá cho Chúa thì mọi người mới lấy bánh và cá mình đem theo chia cho người khác, hoạc người chết chưa chết hẳn.

3. Thuyết duy vật từ chối lực siêu nhiên mà chỉ chấp nhận lực lượng vật chất nên từ chối phép lạ.

4. Thuyết phiếm thần chỉ thừa nhận luật tự nhiên và cho rằng không có phép lạ.

5. Thuyết bất khả tri từ chối phép lạ vì họ từ chối nguồn phép lạ là Đức Chúa Trời.

6. Các nhà Tự nhiên học nói rằng tính chất không thay đổi của thiên nhiên loại trừ phép lạ.

7. Những nhà lạc quan (hay lý tưởng) cho rằng mọi sự tốt lành và phép lạ không cần thiết.

8. Những người khác chối bỏ phép lạ chỉ vì “không đủ bằng chứng.”

Đối với chúng ta, sự đáng tin của Đức Chúa Trời là rõ ràng, chúng ta tin lời Chúa và không thắc mắc gì.

VI. GIÁ TRỊ PHÉP LẠ CỦA CHÚA JÊSUS.

Đối với chúng ta, các phép lạ chứng tỏ Jêsus là Chúa cứu thế. Chúa Jêsus chứng tỏ thân vị và thần tánh Chúa bằng các phép lạ Ngài làm, các phép lạ là bằng chứng của quyền lực siêu nhiên II Cô-rinh-tô 2:9 (quyền lực của Antichrist đến từ Sa-tan).

Chúa Jêsus tiếp nhận quyền lực siêu nhiên từ đâu và từ ai? chắc chắn là từ Đức Chúa Trời.

Các phép lạ không cứu rỗi ai (Giăng 12:37), nhưng phép lạ có thể dẫn một người đến đức tin. Ma-thi-ơ 8:27 các phép lạ chắc chắn tăng cường đức tin cho người vốn có đức tin.

Riêng cá nhân tôi, tôi vui mừng vì Chúa Jêsus đã làm phép lạ, điều nầy đánh đổ mọi nghi ngờ vô tín trong tôi và dạy tôi tin tưởng tuyệt đối nơi Ngài không sợ hãi. Đấng đã khởi sự làm việc cứu rỗi tôi sẽ làm cho trọn Phi-líp 1:???

VII. CÁC PHÉP LẠ CÓ THỂ XẢY RA HÔM NAY.

Trong cựu ước, các phép lạ đã làm ra bởi các người như Môi-se, Ê-li, Ê-li-sê… Trong các sách Tin lành, Chúa Jêsus đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ. Sau khi Chúa thăng thiên, các phép lạ làm ra bởi các sứ đồ như Phi-e-rơ, Phao-lô… Nếu các phép lạ được làm ra trong quyền năng Đức Chúa Trời thì chắc chắn có phép lạ vì Chúa của chúng ta không hề thay đổi Hê-bơ-rơ 13:8. Các phép lạ có thể xảy ra Hôm nay. Tuy vậy,

KẾT LUẬN:

Chúng ta hãy tôn vinh Đức Chúa Trời bằng việc chấp nhận các phép lạ đúng y như Kinh thánh đã chép. Chúng ta đừng xúc phạm Chúa với sự khờ dại và vô tín do sự hữu hạn của chúng ta. Tốt hơn, chúng ta nên bắt chước người nữ da đen kia khi bà nói: “Tôi tin rằng con cá nuốt ông Giô-na vì Kinh Thánh chép như thế, Nếu Kinh Thánh chép là ông Giô-na nuốt con cá thì tôi cũng tin như vậy.”

Câu hỏi:

1. Tại sao các khoa học gia chối bỏ phép lạ?

2. Cái mà ta thường gọi là phép lạ có đúng thực là phép lạ không?

3. Phép lạ là gì?

4. Các phép lạ của Chúa Jêsus độc đáo theo 3 cách nào?

5. Liệt kê 7 loại phép lạ Chúa Jêsus đã làm.

6. Kể 8 bệnh tật mà Chúa Jêsus đã chữa lành.

7. Tại sao chúng ta phải tin các phép lạ của Chúa Jêsus?

8. Một số người chối bỏ phép lạ căn cứ trên cơ sở nào?

9. Liệt kê 3 giá trị phép lạ Chúa.

10. Ngày nay phép lạ có thể xảy ra không?




Giáo Lý Căn Bản 15 – CÁC MẠNG LỊNH CỦA ĐẤNG CHRIST.

Bài 15
CÁC MẠNG LỊNH CỦA ĐẤNG CHRIST

LỜI GIỚI THIỆU:
Ngày nay, nhiều người cho rằng Đấng Christ đã phế bỏ luật pháp và Ngài đã làm trọn luật pháp rồi, Ngài chỉ để lại cho chúng ta một mạng lệnh duy nhất là hãy yêu thương nhau. Nhưng đọc kỹ các sách Tin lành, chúng ta thấy Chúa Jêsus đã truyền cho nhân loại nói chung và các môn đệ Ngài nhiều mạng lịnh quan trọng, chúng ta cần biết và vâng theo. Các sách Tin Lành có khoảng 147 mạng lịnh.

I. HÃY ĂN NĂN.
Ăn năn có hai khía cạnh: quay khỏi tội lỗi và quay về với Đức Chúa Trời.
– Ma-thi-ơ 4:17 Hãy ăn năn vì nước Đức Chúa Trời đã đến gần.
– Lu-ca 13:24 Hãy gắng sức vào cửa hẹp.
– Ma-thi-ơ 6:33 trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời.

II. HÃY TIN.
Chúng ta phải tin Tin lành, tin Đấng Christ và Đức Cha.
– Mác 1:15 Hãy ăn năn và tin Tin lành. Đây là lời chính Chúa Jêsus không phải lời của Giăng.
– Giăng 14:1 Hãy tin Đức Chúa Trời cũng hãy tin ta nữa.
– Giăng đoạn 6:29 Hãy tin Đấng mà Ngài sai đến.

III. PHẢI SANH LẠI.
Sự tái sanh là hành động mầu nhiệm của Đức Thánh linh, khiến người ăn năn sẽ được đổi mới thành con cái sinh ra trong gia đình của Chúa.
– Giăng 3:7 Chớ lấy làm lạ ngươi phải sanh lại.
– Lu-ca 10:20 Hãy mừng vì tên các ngươi đã được ghi trên thiên đàng.
– Ma-thi-ơ 12:23 Xem trái thì biết cây, phải sanh lại thì mới có đời sống mới.

IV. HÃY NHẬN LẤY ĐỨC THÁNH LINH.
Mỗi tín hữu cần được Đức Thánh linh ngự trị và ban quyền năng.
– Giăng 20:22 Ngài hà hơi và phán: Hãy nhận Đức Thánh linh.
– Lu-ca 24:49 Hãy chờ trong thành cho đến khi nhận.

VI. PHẢI CẦU NGUYỆN LUÔN.
Đặc điểm quan hệ của đời sống người tín đồ là cầu nguyện.
– Lu-ca 21:36 Hãy thức canh cầu nguyện.
– Lu-ca 10:2 Cầu nguyện chủ mùa gặt sai con gặt.
– Lu-ca 6:28 Hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ anh em.

VII. PHẢI CÓ ĐỨC TIN.
Các thánh đồ của Đức Chúa Trời được tôn vinh vì có Đức tin nơi Đức Chúa Trời vinh hiển.
– Mác 11:12 Hãy có đức tin nơi Đức Chúa Trời.
– Giăng 20:27 Đừng sợ chỉ tin mà thôi.
– Ma-thi-ơ 14:27 Ấy là Ta đây đừng sợ.

VIII. PHẢI TÌM KIẾM LỜI CHÚA.
Đây là công việc hằng ngày của người tín hữu.
– Giăng 5:39 Các ngươi tìm xem Kinh Thánh.
– Giăng 15:20 Hãy nhớ lời Ta đã phán cùng các ngươi.

IX. HÃY CHIẾU SÁNG Và Kết Quả
Mỗi tín đồ hằng ngày phải soi sáng.
– Ma-thi-ơ 5:16 Hãy soi ra như vậy đặng họ thấy việc lành…
– Giăng 15:16 Các ngươi đi và kết quả, trái đậu luôn…
– Mác 5:19 Hãy về nơi bạn hữu các ngươi và thuật lại việc lớn Chúa đã làm cho ngươi.

X. HẾT LÒNG YÊU CHÚA.
Người tín hữu phải yêu Chúa và hết lòng hầu việc Chúa.
– Mác 12:30 Yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí…
– Mác 4:10 Chỉ thờ và hầu việc một mình Ngài.

XI. LÀM TRỌN BỔN PHẬN ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN.
Người tín đồ phải yêu và vâng phục chính quyền.
– Mác 12:17 Hãy trả cho Sê-sa…

XII. LÀM TRỌN BỔN PHẬN ĐỐI VỚI CÁC NGƯỜI LÁNG GIỀNG.
Láng giềng của chúng ta là những người có cần ta.
– Ma-thi-ơ 19:19 Hãy yêu kẻ lân cận như mình.
– Lu-ca 6:31 Điều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều đó cho họ.

XIII. KHÔNG THAM LAM.
Đời sống chúng ta phải hướng về trời không hướng về đất.
– Lu-ca 12:15 cẩn thận không tham lam.
– Ma-thi-ơ 15:42 Ai xin hãy cho, ai mượn đừng trớ.
– Ma-thi-ơ 6:19 chớ chứa của cải dưới đất.

XIV. KHÔNG GIẢ HÌNH.
Cẩn thận tránh sự đạo đức giả.
– Lu-ca 12:1 cẩn thận men người PHA-RI-SI, giả hình…
– Ma-thi-ơ 23:2,3 đừng theo việc họ làm.

XV. HÃY NHU MÌ.
Hãy giống Chúa Jêsus trong sự nhu mì, hạ mình, khiêm tốn.
– Ma-thi-ơ 11:29 Hãy gánh ách Ta và học theo Ta.
– Mác 10:44 Ai muốn làm lớn phải làm nhỏ.
– Lu-ca 17:10 chúng tôi chỉ là đầy tớ vô ích.

XVI. YÊU THƯƠNG ANH EM.
Chúng ta phải yêu thương tha thứ và chịu đựng.
– Giăng 15:12 Hãy yêu thương lẫn nhau như Ta đã yêu các ngươi.
– Ma-thi-ơ 18:10 Cẩn thận đừng khinh một đứa trẻ nào.
– Ma-thi-ơ 5:24 trước hãy làm hòa với anh em.
– Lu-ca 17:4 nếu phạm tội 7 lần cũng hãy tha cho.
– Lu-ca 6:37 đừng phán xét để khỏi bị phán xét, hãy tha để được tha.

XVII. HÃY NÊN TRỌN LÀNH.
Chúa Jêsus nêu lên tiêu chuẩn cao cả cho người theo Chúa.
– Ma-thi-ơ 5:48 Hãy trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn.
– Lu-ca 6:36 Hãy thương xót như Cha các ngươi hay thương xót.

XVIII. HÃY KHÔN NGOAN.
Đây không phải là sự không ngoan của loài người, nhưng là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ban cho.
– Ma-thi-ơ 10:16 Khôn ngoan như rắn, hiền như bồ câu.
– Ma-thi-ơ 7:6 Đừng đem đồ Thánh cho chó, cũng không quăng ngọc cho heo. Điều nầy đòi hỏi sự khôn ngoan để biết khi nào nên nói.

XIX. HÃY GIẢNG TIN LÀNH.
Mỗi tín hữu phải giảng tin lành nơi mình đang sống.
– Ma-thi-ơ 16:15 Hãy đi khắp thế gian giảng tin lành.
– Lu-ca 24:47 Giảng Danh Chúa ra khắp nơi bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem…
– Giăng 21:15-17 Hãy chăn chiên con Ta…

XX. HÃY SẴN SÀNG ĐÓN CHỜ SỰ TÁI LÂM CỦA ĐẤNG CHRIST.
Chúng ta phải sẵn sàng cho biến cố nầy từng giờ từng phút.
– Lu-ca 12:40 Hãy sẵn sàng vì Con Người đến trong giờ các ngươi không ngờ. Lúc chúng ta cũng sẵn sàng nghinh đón Chúa.

XXI. HÃY TRUNG TÍN CHO ĐẾN CHẾT.
Sự vinh hiển thật là sự hoàn thành vinh hiển.
– Ma-thi-ơ 24:13 Ai trung tín đến cuối cùng sẽ được cứu.

KẾT LUẬN:
Giăng 14:23 Nếu ai yêu Ta thì sẽ giữ lấy lời Ta… Hãy dùng những mạng lịnh nầy để xét lại đời sống chúng ta trước mặt Chúa. Chúa Jêsus ban cho chúng ta những mạng lịnh nầy để hướng dẫn chúng ta bước theo Ngài vào khung cửa hẹp.

Câu hỏi ôn:
1. Có bao nhiêu mạng lịnh của Chúa Jêsus trong các sách Tin lành? Bao nhiêu trong các sách thơ tín và khải thị?
2. Mục đích của những mạng lịnh nầy là gì?
3. Có 3 điều Chúa Jêsus muốn chúng ta là tín đồ phải tin tưởng?
4. Liệt kê 5 cách chúng ta theo Chúa Jêsus?
5. Từ Ma-thi-ơ 5:16 “Những việc lành” gì chúng ta phải bày tỏ cho thế gian?
6. Tôi phải yêu Chúa như thế nào?
7. Hãy trích dẫn luật vàng?
8. Giải thích Lu-ca 12:15 “đời sống con người không chỉ cốt tại của cải dư dật đâu.
9. Tại sao Chúa Jêsus bảo chúng ta là loài người bất toàn phải toàn vẹn như Đức Chúa Trời trong Ma-thi-ơ 5:48?
10. Chúng ta phải giảng Tin lành cho ai?




Giáo Lý Căn Bản 14 – NHỮNG ĐIỀU CHÚA JÊSUS GIẢNG DẠY

Bài 14

NHỮNG ĐIỀU CHÚA JÊSUS GIẢNG DẠY

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Trong bài học nầy, chúng ta cố gắng tóm tắt các giáo huấn chính của Đấng Christ khi Ngài còn sống trên đất. Trong chức vụ của Chúa, Ngài có 3 bài giảng dài :

1. Bài giảng trên núi Ma-thi-ơ 5-7.

2. Bài nói chuyện núi ô-li-ve Ma-thi-ơ 24-25.

3. Bài nói chuyện trên phòng cao Giăng 13-16,17.

Ngoài ra còn có nhiều sứ điệp ngắn khác.

Một số người nói Chúa Jêsus đã đề cập đến 18 đề tài khác nhau trong bài giảng trên núi. Ma-thi-ơ 7:28,29 dân chúng thích thú giáo lý Ngài vì Ngài dạy cách có quyền năng, không như các thầy thông giáo. Lu-ca 4:22,32, Chúa giảng dạy cách mới, cách mạng và ngược lại với lý luận của con người.

I. CHÚA DẠY VỀ SỰ CỨU RỖI.

Trong bài nói chuyện với Ni-cô-đem, Chúa bảo ông phải sanh lại Giăng 3:1-15.Trong khi nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri Ngài khiến bà ta khao khát chính Ngài là nước hằng sống.

Trong Giăng 6 Ngài tự tỏ mình là bánh thật, thỏa mãn sự đói khát của nhân loại. Trong Lu-ca 7:47,48 Ngài dạy rằng Ngài có quyền tha tội người biết ăn năn. Trong Giăng 10 bài giảng về người chăn hiền lành, Chúa Jêsus bày tỏ rằng Ngài là cửa cứu rỗi duy nhất, không ai có thể được cứu ngoài Ngài. Trong Ma-thi-ơ 11:28-30, Chúa kêu gọi kẻ mệt mỏi, người lao động mệt nhọc đến cùng Ngài để được cứu rỗi và sự yên nghỉ. Sự mời gọi đến sự cứu rỗi mở rộng thêm ra trong Lu-ca 14:16-24, bao gồm cả những người lang thang, hư hỏng, người nghèo, người bịnh tật, mù lòa, người đau khổ… Câu chuyện cứu rỗi mọi người yêu mến là chuyện đứa con hoang đàng trong Lu-ca 15.

II. CHÚA JÊSUS DẠY VỀ ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY CỦA NGƯỜI CƠ ĐỐC.

Trong Ma-thi-ơ 5:33-48 Chúa dạy 1) Không được thề 2) Đưa má bên kia cho người ta vả 3) Yêu kẻ thù. Trong Ma-thi-ơ 6:1-4 Chúa dạy về sự bố thí: 1) Phải làm trong bí mật. 2) Một sự ký thác đời đời. Chúa Jêsus dạy nhiều về sự cầu nguyện Ma-thi-ơ 6:3-13, Lu-ca 11:1-13, Giăng 14:13-14; 16:23-24 cầu nguyện phải là: 1) Trong bí mật 2) Liên tục 3) Không giới hạn trong lãnh vực và quyền lực nào. Chúa Jêsus dạy ta phải tha thứ kẻ khác trước khi Ngài tha thứ cho chúng ta. Ma-thi-ơ 6:14-15; 5:23,24; 6:16-18; Lu-ca 4:21. Chúa Jêsus dạy cần phải công khai xưng danh Chúa ra Ma-thi-ơ 19:32,33; Giăng 9:38.

Chúa dặn dò người tin Chúa trở về nhà làm chứng cho bà con bạn hữu trước Mác 5:19. Chúa dạy sự cứu rỗi chắc chắn cho người tin Giăng 3:16-18, 56, Giăng 5:24.

Phần lớn bài giảng phòng cao nói về chức vụ của Thánh linh là Đấng hướng dẫn, ban năng lực và sứ mạnh cho tín đồ Giăng 14:16-21. Chúa Jêsus không hứa với các môn đồ và tín đồ thời kỳ dễ dàng, nhưng nhắc cho họ rằng họ sẽ bị bắt bớ vì Ngài, và Ngài hứa giúp họ ân điển đầy đủ trong lúc thử thách Giăng 16:1-6; Lu-ca 12:11,12.

III. CHÚA DẠY VỀ NGƯỜI PHA-RI-SI VÀ CÁC GIÁO SƯ GIẢ.

Chúa Jêsus mạnh mẽ tố các giáo sư giả và kẻ giả hình. Trong Ma-thi-ơ 23:13-36 Ngài nói: “Khốn cho các ngươi người Pha-ri-si, thầy thông giáo và kẻ giả hình” 8 lần, Câu 13,14,15,16, 23,25,27, và 29, gọi họ là người mù và điên.

Trong Giăng 8:44 Chúa mạnh mẽ nói rằng cha họ là ma quỷ.

Trong Ma-thi-ơ 16:6 Chúa cảnh cáo các môn đồ “Cẩn thận về men người Pha-ra-si và Sa-đu-sê”, là người dạy tà giáo phủ nhận sự phục sinh, Jêsus dạy rằng những giáo sư giả nầy làm hết sức khiến có người theo, nhưng lại làm cho những người ấy trở thành “con cái địa ngục gấp hai họ “Ma-thi-ơ 23:15. Trong Ma-thi-ơ 7:15-20 Chúa cảnh cáo các tiên tri giả là muông sói mang lốt chiên. Lu-ca 20:41-47 nhắc ta cẩn thận về các thầy thông giáo.

IV. CHÚA DẠY VỀ SỰ QUẢN LÝ.

Chúa dạy về cách dùng tiền và tài sản đúng đắn trong Lu-ca 12:16-34, của cải thật phải gửi trước cho Chúa (33,34). Khi người đàn bà dâng 2 đồng xu trong Mác 12:41-44, Ngài đánh giá cao bà nầy vì bà đã rời rộng dâng cho Chúa.

Trong Ma-thi-ơ 25:14-30 Chúa dạy ta xủ dụng các ta lâng Chúa ban làm vinh Danh Chúa. Trong Lu-ca 19:11-27 Chúa dạy mở mang nước Chúa cho đến ngày Chúa đến. Các tín đồ là người quản lý tiền bạc, thời gian, tài năng, ân tứ và các cơ hội.

V. CHÚA DẠY VỀ THIÊN ĐÀNG, ĐỊA NGỤC.

Chúa Jêsus dạy về địa ngục và hình phạt đời đời ít nhất 70 lần trong các sách Tin lành. Ma-thi-ơ 25:41 “Hãy lui khỏi Ta, hỡi kẻ bị rủa, vào lửa đời đời dành cho ma quỷ. Chính Chúa Jêsus dạy chúng ta hình ảnh đau đớn rõ rệt trong địa ngục ở Lu-ca 16:42-48 cảnh cáo nghiêm trọng địa ngục là nơi sâu bọ không chết và lửa không tắt, câu 44, 46,43.

Trong bài giảng phòng cao Chúa xác định Ngài đi sắm sẵn cho chúng ta, một chỗ và sẽ trở lại tiếp rước chúng ta- Giăng 14:1-3.

Đối với tên trộm ăn năn Chúa Jêsus nói: Hôm nay ngươi sẽ ở với ta trong Pa-ra-di.

Chúa Jêsus mô tả thiên đàng như nhà Cha — Ma-thi-ơ 6:9; Lu-ca 11:2.

Chúa Jêsus đã từ thiên đàng đến chịu chết để mang nhiều con về nhà thiên đàng- Hê-bơ-rơ 2:10.

VI. CHÚA DẠY VỀ SỐNG KẾT QUẢ.

Giăng 15:1-17 trọng tâm của bài giảng phòng cao đề cập đến cây nho và nhánh với ước muốn chúng ta phải kết quả hơn.

Trong thí dụ về cây vả không trái trong Lu-ca 13:6-9, Cây (người cơ Đốc) không kết quả sẽ bị cắt, phá và ném vào lửa.

Trong Ma-thi-ơ 7:16-20 Chúa Jêsus dạy “Bởi trái của họ các ngươi sẽ biết họ…”

Trong thí dụ người gieo giống Ma-thi-ơ 13:1-23 Chúa Jêsus diễn tả ý nghĩa Mỗi Cơ Đốc nhân phải kết quả có người gấp 30 lần, gấp 60 lần, và gấp 100 lần.

Là Cơ đốc nhân chúng ta cần được tỉa sửa để sai trái hơn- Giăng 15:2. Sự tỉa sửa là kinh nghiệm cay đắng của việc “đào bới, vô nhân ” nhưng là việc cần thiết của kết quả.

Lu-ca 6:43-46 Chúng ta là Cơ Đốc nhân phải mang trái Thánh Linh và chinh phục linh hồn tội nhân về cho Chúa.

VII. CHÚA DẠY VỀ LỜI TIÊN TRI.

Bài giảng trên núi Ô-li-ve trong Ma-thi-ơ 24-25 đề cập hầu hết đến đề tài tiên tri.

– Ma-thi-ơ 24:1-3 Đề cập đền sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem xảy ra năm 70 SC.

– Ma-thi-ơ 24:4-14 nói đến sự suy đồi của thời kỳ chúng ta đang sống.

– Ma-thi-ơ 24:15-26 đề cập đến cơn đại nạn, thời kỳ khó khăn của nhà Gia-cốp.

– Ma-thi-ơ 24:27-31 nói đến sự trở lại vinh quang của Chúa. Các chi tiết khác chép trong thí dụ về cây vả (32-51) và 10 nữ đồng trinh trong Ma-thi-ơ 25:1-13.

– Ma-thi-ơ 25:31-46 Nói đến sự phán xét các dân tộc và sự chia chiên và dê.

– Bảy sự mầu nhiệm trong Ma-thi-ơ 13:1-52 là các quan điểm khác về Nước Trời.

KẾT LUẬN:

Tôi có thể nói rằng sự giáo huấn của Đấng Christ có thể gồm tóm trong một chữ: YÊU. Ngài nhấn mạnh và tóm lược 600 điều răn mà người Do Thái chính thống đã tóm thành 2 điều răn:

1) Yêu Đức Chúa Trời.

2) Yêu kẻ lân cận — Ma-thi-ơ 22:37-39.

Tình yêu đã trở thành dấu hiệu chính của một người Cơ Đốc — Giăng 1:35.

Trong Giăng 15:13 Chúa Jêsus ngụ ý sự chết của Chúa trên thập giá để đền tội nhân loại là sự thể hiện của tình yêu cao cả dành cho tội nhân. Lời cầu nguyện của Chúa Jêsus trong Giăng 17 là lời nài xin cho sự hiệp một. Xem các câu 11,21,22,23. Không nhất thiết là hiệp nhất trong tổ chức nhưng hiệp nhất trong mục đích vớt tội nhân.

Chúa Jêsus để lại Hội Thánh là thân thể Ngài trên đất để làm chứng về Ngài khi Ngài vắng mặt Ma-thi-ơ — Ma-thi-ơ 28:19; Mác 16:15.

Giáo lý của Chúa Jêsus dạy chúng ta không chỉ yêu người đáng yêu mà yêu thương mọi người ngay cả kẻ thù, vì Chúa đã yêu họ rồi — Ma-thi-ơ 5:44; I Giăng 4:19; Rô-ma 5:8.

Câu hỏi ôn:

1. Ba bài giảng chính trong chức vụ Chúa Jêsus là gì?

2. Tóm lược 3 điểm Chúa dạy về sự cứu rỗi.

3. Trong 6 cách, bạn cho rằng lời dạy của Chúa là mới mẻ và cách mạng?

4. Trong bài giảng phòng cao Chúa nói về ai nhiều nhất?

5. Đoạn nào trong Kinh Thánh Chúa công bố 8 điều khốn nạn về người Pha-ri-si là kẻ giả hình?

6. Người tín đồ có phải quản lý về tiền bạc thôi phải không? giải thích?

7. Chúa dạy gì về địa ngục?

8. Nhắc 3 khúc Kinh Thánh nói đến sự sống kết quả.

9. Bài giảng nào Chúa nói lời tiên tri?

10. Làm thế nào các điều răn có thể tóm lại thành một động từ “yêu”?




Giáo Lý Căn Bản 13 – BẢN TÍNH CỦA ĐẤNG CHRIST

Bài 13

BẢN TÍNH CỦA ĐẤNG CHRIST

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Bài học nầy cố gắng trình bày con người thật của Chúa Jêsus. P.A. Torrey ở trong cuốn sách của ông nhan đề “Kinh thánh dạy gì ” đã dành 56 trang cho đề tài nầy. Chúng ta thường hát, hay cầu nguyện “Tôi muốn giống như Chúa Jêsus.” Chúng ta có ý gì khi nói đến điều nầy? Điều ước muốn nầy là rất tốt và cao thượng, nhưng chúng ta càng giống Chúa Jêsus trong nhiều đặc điểm càng tốt.

Ngài là gương sáng của chúng ta (I Phi-e-rơ 2:21) không chỉ trong hành động mà cả trong bản tánh nữa. Rô-ma 8:29, trở nên giống Ngài trong hình ảnh Ngài chính là nền tảng cho việc nên giống trong bản tính Ngài.

I. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG THÁNH KHIẾT.

Đề tài nầy bao trùm bài học về sự vô tội của Đấng Christ. Jêsus Christ là Đấng thánh, tuyệt đối thánh vì Ngài không mang bản tính tội lỗi của loài người từ lúc sanh ra. Hơn nữa Ngài chưa hề phạm bất cứ tội gì, Ngài luôn luôn làm điều tốt lành.

Trong Công 13:14 Phi-e-rơ xưng Chúa Jêsus như là Đấng thánh và công bình. Chúa Jêsus đã tỏ sự thánh khiết Ngài trong sự yêu điều công bình, ghét điều ác khi Ngài dọn sạch đền thờ và công kích tội lỗi cùng điều giả hình. Jêsus ghét tội lỗi đến nỗi Ngài sẵn sàng chết trên thập giá để phá hủy tội lỗi và đem sự công bình lại cho những người tin Ngài.

Ga-la-ti 3:13 nói rằng Đấng Christ là sự rủa sả vỉ chúng ta dưới luật pháp. Rô-ma 4:6 Đức Chúa Trời truyền đạt sự công chính cho ai tiếp nhận Chúa làm Chúa cứu thế, Khải 19:8b.

II. JÊSUS CHRIST LÀ ĐẤNG YÊU THƯƠNG.

Tình yêu của Chúa Jêsus được thể hiện dưới hai hình thức:

1. Đối với cha Ngài.

2. Đối với loài người.

Giăng 14:31. Hầu cho thế gian biết con yêu cha. Chúa Jêsus tỏ tình yêu nầy bằng sự vâng lời cha. Giăng 8:36; 14:31b.

– Jêsus làm xong công việc cha giao cho làm Giăng 17:4; 19:30.

– Jêsus đặc biệt yêu Hội thánh Ê-phê-sô 5:25.

– Jêsus có tình yêu đặc biệt đối với kẻ thuộc về Ngài Giăng 13:1.

– Jêsus cũng yêu thương cả tội nhân Lu-ca 19:10, Ngài đến tìm và cứu kẻ bị mất Ma-thi-ơ 9:13, tỏ ra Ngài thực hành lời Ngài dạy trong Ma-thi-ơ 5:44 và yêu cả kẻ thù Ngài, Lu-ca 23:34.

Chúa Jêsus yêu các em thiếu nhi, Kinh thánh đưa ra hình ảnh đẹp nầy trong Mác 10:13-16. Ngài tỏ tình yêu Ngài bằng cách trở nên nghèo khó để chúng ta trở nên giàu có II Cô-rinh-tô 8:9. Bằng cớ tốt nhất cho tình yêu Ngài là Ngài tình nguyện chết thay chúng ta Giăng 15:13. Jêsus vẫn tiếp tục yêu thương, săn sóc chúng ta hằng ngày và bảo dưỡng chúng ta luôn, Ma-thi-ơ 6:33.

III. JÊSUS CHRIST YÊU THƯƠNG LINH HỒN HƯ MẤT.

Chúng ta hãy theo gương Chúa Cứu thế chúng ta, trong tình yêu không hề mệt mỏi của Ngài đối với linh hồn tội nhân đang lạc loài trong tội lỗi.Ngài đến như người chăn hiền lành tìm và cứu những con chiên lạc, là người Do-thái lẫn người ngoại bang.Giăng 10:16 “Ta còn có nhiều chiên khác… “Chúa Jêsus yêu đám đông dân chúng. Ngài đến để chết cho thế gian, toàn nhân loại. Nhưng chức vụ Ngài hầu hết là chinh phục từng cá nhân một, không bỏ rơi một ai.

Sách Giăng chương I kể lại sự tiếp xúc của Ngài với 2 Môn đệ của Giăng là Anh-rê và các bạn của ông ta (câu 37-40), Phi-e-rơ câu 42, Phi-líp câu 43, Na-tha-na-ên câu 47. Giăng chương 3 với Ni-cô-đem, Giăng 4 với người đàn bà bên giếng ở Sa-ma-ri, Giăng 9 với người mù từ lúc sanh ra. Chúng ta đừng sợ phải tốn nhiều thì giờ với từng linh hồn cá nhân. Trong 15:4, Ngài bày tỏ lòng yêu thương, đi ra tìm cho kỳ được con chiên lạc mất. Chúa Jêsus rất vui khi tìm được tội nhân hư mất Lu-ca 15:3-7.Trong Lu-ca 15:24 Chúa Jêsus nói khi người con hoang trở về với cha, cha “rất vui mừng.”Cũng một thể ấy, Ngài rất đau lòng khi các linh hồn khước từ Ngài, Lu-ca 19:41,42 Chúa Jêsus khóc cho sự cứng lòng của dân thành Giê-ru-sa-lem. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta có tâm tình yêu thương linh hồn hư mất của đồng bào ta.

IV. CHÚA ĐỘNG LÒNG THƯƠNG XÓT.

Chúa Jêsus nặng tình cảm như câu ngắn nhất trong Kinh Thánh mô tả “Jêsus khóc” Giăng 11:35. Sự thương xót của Chúa tỏ ra với đám đông dân chúng “xem họ như chiên đi lạc, không có người chăn” Mác 6:34.

Sự thương xót của Chúa khiến Ngài quan tâm đến nhu cầu thể xác của dân chúng Giăng 6:5. Sự thương xót khiến Chúa chữa người mù Giăng 9:1-38, Ma-thi-ơ 20:34. Ngài thương xót kẻ bị quỷ ám Mác 9:22-25; 5:1-13; Lu-ca 4:41. Chúa thương xót một người phung nghèo khổ Mác 1:40,41; Lu-ca 5:12-15.

Nhiều khi chúng ta nói mình thương người khác trong cảnh khổ của họ nhưng Chúa bày tỏ sự thương xót đó ra bằng hành động cứu giúp. Ngài trở thành người chăn cho con chiên lạc, thành cứu Chúa cho kẻ hư mất, trở thành bác sĩ cho bệnh nhân, Ngài tỏ quyền uy đuổi quỷ. Chúng ta hãy bắt chước Chúa thương xót bằng lời nói đi đôi với hành động.

V. CHÚA JÊSUS THƯỜNG CẦU NGUYỆN.

Bốn sách Tin lành cho thấy một ít nét về cuộc đời cầu nguyện của Chúa Cứu thế, nhưng không đâu mạnh mẽ hơn Hê-bơ-rơ 5:7: Chúa cứu thế khi sắp hy sinh đã nài xin Thượng Đế, khóc lóc kêu cầu Đấng có quyền cứu Ngài khỏi chết.

Không phải là bất thường khi Chúa cầu nguyện suốt đêm, Lu-ca 10:12, Mác 1:35 Ngài cầu nguyện trước những kinh nghiệm quan hệ như lễ báp têm, sự cám dỗ… Lu-ca 3:21; Giăng 6:15. Ngài cầu nguyện công khai với cha xin các phép lạ Ma-thi-ơ 14:19; Giăng 11:41-42. Jêsus kết thúc đời sống trên đất bằng lời cầu nguyện với Cha Lu-ca 23:46. Jêsus thường ở một mình để cầu nguyện, nơi vắng vẻ hoặc trên sườn núi. Đôi khi Ngài cầu nguyện một mình Ma-thi-ơ 14;13, đôi khi Ngài cầu nguyện với các môn đồ Lu-ca 9:28; 22:39-46. Chúa cầu nguyện cho một cá nhân: Phi-e-rơ 22:31-32, cho chính bản thân Ngài Giăng 17:9-20, Ngài cầu nguyện vâng phục thánh ý Cha trong vườn Ghết-sê-ma-nê Ma-thi-ơ 26:42. Chúa dạy các môn đồ cầu nguyện và bảo chúng ta như vậy Ma-thi-ơ 6:9-15. Bởi sự cầu nguyện Ngài đã đắc thắng sự cám dỗ, làm phép lạ, chết làm vinh Danh Chúa.

VI. JÊSUS CHRIST NHU MÌ HIỀN LÀNH.

Nhu mì là thái độ tâm trí ngược lại với cứng rắn và tự mãn. Nhu mì tự thể hiện ra trong sự mềm mại, dịu dàng, hiền lành, nhẹ nhàng đối với người khác. Chúa tự phán rằng Ngài là Đấng nhu mì. Ma-thi-ơ 11:29 – Ma-thi-ơ 12:20.

Phao-lô đã hỏi người Cô-rinh-tô câu hỏi nầy: “Anh em muốn tôi cầm roi đến với anh em hay dùng tình yêu thương và tinh thần nhu mì “I Cô-rinh-tô 4:21. Là một cơ đốc nhân chúng ta cần học sự nhu mì, Ga-la-ti 6:1 “Hãy lấy tinh thần diệu dàng khiêm tốn dìu dắt người ấy quay về đường chánh đáng, anh em phải giữ cẩn thận để khỏi bị quyến rũ.”II Ti-mô-thê 2:24-25 đầy tớ Chúa không nên tranh chấp, nhưng phải hòa nhã với mọi người, khéo dạy dỗ và nhẫn nhục, phải nhu mì sửa dạy người chống nghịch.

Chúa Jêsus tỏ sự nhu mì trong việc không bẻ cây sậy đã gãy, hay tắt ngọn đèn gần tàn Ma-thi-ơ 12:20, Ngài nâng đỡ kẻ ngã lòng cách dịu dàng.

VII. CHÚA JÊSUS RẤT KHIÊM NHƯỜNG.

Chúa Jêsus nhu mì lẫn khiêm nhường Ma-thi-ơ 11:29. Ngài khiêm nhường vì Ngài không tìm vinh hiển riêng mình, nhưng tìm sự vinh hiển của Cha Giăng 8:50. Sự khiêm nhường của Chúa Jêsus cho phép Ngài tiếp xúc với phường thâu thuế và người có tội Lu-ca 15:1,2. Sự khiêm nhường của Chúa Jêsus giữ Ngài im lặng trước sự ức hiếp tàn bạo Ê-sai 53:7; I Phi-e-rơ 2:23. Phi 2:8 “Ngài hạ mình xuống vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.”

KẾT LUẬN:

Phi-líp 2:5 “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có.” Chúng ta nào chỉ bắt chước nhưng còn tự sản xuất sự thánh khiết, tình yêu, sự thương xót, sự nhu mì và khiêm nhường của Chúa Jêsus. Chúng ta hãy trở nên giống như Chúa của chúng ta — không chỉ bề ngoài mà còn ở trong lòng — trong sạch, thành thật.

Chúa muốn sống đời sống nầy lần nữa trong chúng ta khi chúng ta dâng mình cho Ngài. Rô-ma 6:19 hãy dâng thân thể làm nô lệ cho lẽ công chính, thánh khiết.

Câu hỏi ôn:

1. Kể 7 đặc tính Đấng Christ.

2. Chúa cứu thế tỏ tình yêu qua 2 hướng nào?

3. Kể 5 người khác nhau mà Chúa yêu.

4. Ý nghĩa Giăng 10:16 là gì?

5. Chúa Jêsus đặc biệt quan tâm đến việc giảng tin lành cho đám đông hay là cho cá nhân?

6. Kể 7 tầng lớp người mà Chúa xót thương?

7. Bài học lớn nhất về sự cầu nguyện của Chúa Jêsus mà bạn nhận được là gì?

8. Chữ “Nhu mì” nghĩa là gì?

9. Chứng minh Chúa Jêsus là Đấng nhu mì.

10. Chúa tỏ sự khiêm nhường Ngài như thế nào?