IDENTIFYING THE STRONGMAN

IDENTIFYING  THE STRONGMAN

AN  UNCLEAN SPIRIT  RETURNS

 

“When an unclean spirit goes out of a man, he goes through dry places,

seeking rest, and finds none. Then he says, ‘I will return to my house from

which I come. And when he comes he finds it empty, swept and in order.

Then he goes and takes with him seven other spirits more wicked than himself,

and they enter and dwell there;and the last state of that man is worse than the first

So shall it also be with this wicked generation.”  MATTHEW 12: 43-45

1. Demons walk – they can travel from one place to another, they are disbodied spirits, that they want to manifest in the flesh of the man, they seek to inhabit body.

2. Demons seek – they seek and search, they have personalities. The search for the people who are yielding to them through lifestyle.

3. Demons rest – they rest after they seek for the body, they feel tired.

4. Demons see – they can see through spiritual eyes.

5. Demons talk – they can speak and talk, they can communicate.

6. Demons have will – they can think and decide when return, they have imagination.

7. Demons have faith – they have believed that they will return to the house.

8. Demons have memory – they remember when they were before to come back.

9. Demons can examine – they can examine your room and find empty. Demons always come back and examine you. He remembers that he got you one time.

They are smart. He comes to his own house and he see its vacant.

10. Demons can plan – they plan to invite other seven spirits, even worst that they.

11. Demons have knowledge – they know how to call for help.

 

WE MUST DEAL ALWAYS WITH THE STRONGMAN – EVIL SPIRIT

 

“Or else how can one enter a strong man`s house and plunder his goods,

unless he first binds the strong man? And then he will plunder his house.”

MATTHEW 12: 29

 

            There are twelve strong men in the Bible. To each is connection with demons.

Demons can be cast out, but when the strongman is inside, they will come back, and the condition of the man is worse that before. We must deal with the Strong man first

 

 1. Spirit of Jealousy – First Strong man in the Bible is in NUMBERS 5: 11

When there is a suspicion about anything there is the spirit of Jealousy.

PROVERBS 6: 34 – “For jealousy is the rage of the man.” Therefore he will nor spare anybody under suspicion. Revenge is demon, but Jealousy is Strong man.

Murder is demon, rage is demon, competition os demon but Jealousy is the Spirit.

2. Spirit of Lying – II CHRONICLES 18: 22, JEREMIAH 23: 14

“They commit adultery and walk in lies.” Adultery is a demon from Spirit of Lying.

“They all of them like Sodom.” It is Spirit of homosexuality. Sodomy is connected.

Spirit of Lies is the Strong man. There is the curse upon the lies. Profanity is bound by Lying Spirit. Vanity is connected to the Spirit of Lies. Hypocrisy is also from this.

If you want to be really free – you should deal with the Lying Spirit. The same Lying Spirit is in  church as a Spirit of Religion. Continually condemning others, standing higher than others, isolate themselves, only his group is right, continually accuse you,

They jumping from church to church. Everybody is wrong, you can never win with them. Everytime you talk, they always talk back with lies and untruth. Just avoid them.

3. Familiar Spirit – I samuel 28: 7

Word Familiar means Friendly, and Familiar Spirit will manifest in Astrology. People who follow the stars, they are bound by the Familiar Spirit. It is demonic. Horoscopes, reading horoscopes. The Spirit bound  lives. All forms of the occult and witchcraft.

4. Spirit of Perversion – ISAIAH 19: 14. Perversion is also  PROVERBS 13: 2

To prevent means to twist the truth, to corrupt, to turn the truth around. It does apply to all sexual perversions as homosexuality and bestiality. Lust after women is also with Spirit of Perversion, and uncontrolled leads to oppression, which needs deliverance.

5. Spirit of Heaviness – ISAIAH 61: 6. Devil of grief, of self pity, of rejection,

loneliness, gluttony. People are bound with rejection and self pity.

6. Spirit of Harlotry –  HOSEA 4: 12, there are six strong man by name:

Idolatries, Love of world, love of money, love of self, fornication, prostitution.

The people in harlot and prostitution are associated with devil and his kingdom.

Nobody is satisfied with prostitute. It is no satisfaction in sex with a harlot.

7. Spirit of Infirmity –  LUKE 13: 11

 All sicknesses, every disease know to human, behind is the Spirit of Infirmity.

8. Deaf and Dumb Spirit – MARK 9: 17

Dumb and deaf Spirit tormented young boy, giving him suicidal thoughts, Spirit tormented him.It is demon of suicide in the dumb and deaf spirit. Jesus set him free. We must deal with the Spirit of Infirmity first as Strong man.

9. Spirit of Fear – II TIMOTHY 1: 7

Spirit of Fear first torment inside the body. Fear has tormentor, so those who are tormented, they are afraid and have sense of danger. You say to your children: Do not Fear. Just trust the LORD at all times and everything will be OK. Our God said:

Fear not, I am with You. It is sign of unbelief, when you start to fear. Fear is: torment

terror, nightmares, worry and all come by devil of fear.

10. Spirit of PridePROVERBS 16: 18

Spirit of Pride manifest with mockery, stubbornness. Witchcraft is in the same line.

Pride and witchcraft are relatives. Gossip, arrogance, selfrighteousness, wrath.

In wrath is the pride of man.

11. Spirit of BondageROMANS 8: 5

“We have no received the Spirit of Bondage, but Spirit of Adoption.”

When you can not call on God – it is the very first symptom. You try but can not pray to God. People who try to pray, but can`t break through because they are bound by Spirit of Bondage. They can not call God Father. They can not say Father in Jesus` Name. They have no feeling for fellowship. In the Bondage is found anguish, bitterness, all types of  addiction to drugs, to cigarettes, to alcohol.

12. Spirit of AntichristI JOHN 4: 3

It is legalism, opposing the men of God, opposing teaching, opposing speaking in tongues, speaking against the Gifts of the Holy Spirit, substitutes everything, opposing and prosecuting saints, blasphemy against saints. It is controlling others Spirit

We always should deal with the Strong man and bind them in the Name of Jesus.

In MATTHEW 12 : 29 Jesus said very clearly to religious pharasees:

“Or else how can one enter the strong man`s house and plunder his goods, unless he first binds the strong man? And then he will plunder his house.”

 

12 Người Mạnh Sức TRONG KINH THÁNH

 




SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA

SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA

I Các vua 18:1-40


Không như tín đồ của các tôn giáo đời nầy, Cơ Đốc nhân sau khi được cứu, Chúa sẽ biến đổi tấm lòng người đó trở nên đền thờ Chúa ngự. Cả Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con đều ở với con cái Chúa qua Đức Thánh Linh, như lời Chúa dạy: “Chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống. Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ.” (II Côr 6:16) Vì thế, một khi con cái Chúa sa sút yếu đuối thì đền thờ lòng bị nguội lạnh hoặc khi đời sống tâm linh bị phá sản thì đền thờ lòng cũng bị sập đổ hoang tàn. I Các vua 18:1-40 cho chúng ta thấy tình trạng bội đạo của dân Y-sơ-ra-ên thời A-háp – Giê-sa-bên thật là đáng sợ. Cả đền thờ Giê-ru-sa-lem lẫn đời sống tâm linh của dân sự đều bị hoang tàn. Chúa đã sai tiên tri Ê-li đến để sửa lại bàn Chúa ở giữa dân sự. Tiên tri Ê-li vâng lời Chúa ra mắt vua A-háp và cả dân sự Y-sơ-ra-ên. “Bấy giờ, Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta, dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.” (IVua 18:30)

Có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ: Tại sao một dân tộc chứng kiến vô số phép lạ, được Chúa chăm sóc chu đáo và gìn giữ khỏi quân thù cách kỳ diệu, lại có thể chối Chúa và bội đạo thậm tệ đến nỗi phải sai đầy tớ Chúa đến sửa lại bàn thờ cho họ như vậy?

  1. LÝ DO Ê-LI SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai lý do chính:

  1. Vua A-háp đã phá đổ bàn thờ Chúa.

Hành động vua A-háp và hoàng hậu Giê-sa-bên phá đổ bàn thờ Chúa đã đưa dân Y-sơ-ra-ên đến tình trạng bội đạo tập thể. Theo I Vua 18:18,19-30, kể từ khi vua A-háp cưới Giê-sa-bên về làm hoàng hậu vương quốc Y-sơ-ra-ên, bà đã xúi giục chồng lập nhiều đền miếu cho hai tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê trên khắp đất Y-sơ-ra-ên, thậm chí còn lập ngay trong đền thờ Đức Chúa Trời. Vốn là một người sùng bái tà thần, Giê-sa-bên đã biến mình trở thành giáo sĩ truyền bá tà đạo trên thánh địa. Như vậy, nhìn chung trên cả vương quốc Y-sơ-ra-ên chẳng còn nơi nào thờ phượng Chúa, mặc dầu trên khắp xứ còn 100 tiên tri và “7.000 người môi họ chưa hôn Ba-anh và Át-tạt-tê.” Nhưng tất cả đều đang ẩn mình. Tình hình tôn giáo Y-sơ-ra-ên lúc ấy thật thảm hại.

  1. Không còn sự thờ phượng và tế lễ cho Chúa.

Hằng năm theo luật Môi-se, dân Y-sơ-ra-ên phải dâng cho Chúa nhiều của lễ và thờ phượng trong đền thờ, nhưng kể từ khi A-háp lên ngôi, các cuộc thờ phượng không còn nữa. Mối thông công giữa Chúa và dân sự cũng bị cắt đứt, các của lễ cũng không còn được dâng lên. Các kỳ lễ lớn mà Chúa đã truyền dân sự phải giữ đời đời cũng chấm dứt. Vì thế dân sự càng ngày càng xa cách Chúa, mất phước. Đất nước đang trong cơn hạn hán. Đã ba năm không một giọt sương hay mưa rơi xuống đất. Súc vật chết dần chết mòn, lương thực khan hiếm. Dân sự chẳng có gì để ăn và nước cũng không đủ uống. Cuộc sống khốn khổ vô cùng. Có lẽ nhiều người trong dân sự nhớ lại lời cảnh cáo của Chúa trong Phục truyền luật lệ ký 28:1-5, 16-24.. đồng thời họ cũng nhận thức rằng tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê chẳng đem lại cho họ một điều phước nhỏ nhoi nào, nhưng họ đã lỡ phế bỏ bàn thờ Chúa làm sao khôi phục lại. Vì vậy, Chúa sai tiên tri Ê-li đến giúp dân sự sửa lại bàn thờ Chúa.

  1. CÁCH THỨC SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai điều Ê-li phải làm để sửa lại bàn thờ Chúa:

  1. Dẹp bỏ bàn thờ tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê .

Đây là việc làm vô cùng khó khăn và nguy hiểm, có thể đổi bằng mạng sống. Vì lúc bấy giờ hoàng hậu Giê-sa-bên đang cuồng nhiệt truyền bá sự thờ lạy Ba-anh và Át-tạt-tê . Bà giết các tôi tớ Chúa và bách hại không thương tiếc những ai trung thành với Đức Chúa Trời. Vì thế, những ai muốn khôi phục lại bàn thờ Chúa thì sẽ đối đầu trực tiếp với Giê-sa-bên và 850 tiên tri của hai tà thần đang ăn chung bàn với hoàng hậu (IVua 18:19).

Việc trước tiên tiên tri Ê-li phải làm là dẹp bỏ bàn thờ tà thần. Nếu lập bàn thờ Chúa bên cạnh bàn thờ tà thần thì Chúa chẳng đẹp lòng, vì Ngài là Đấng kị tà (Xuất 20:5, II Côr 6:16). Một số con cái Chúa chưa hiểu nên muốn dung hòa giữa tà thần hình tượng với Chúa, nghĩa là thờ Chúa nhưng hình tượng cũng không bỏ. Tôi muốn nói đến những hình tượng trong lòng. Tất cả đều phải loại bỏ để đền thờ lòng được thánh sạch, như thế Chúa mới vui ngự vào. Ngày nào những hình tượng kia còn tồn đọng trong tâm trí lòng dạ chúng ta, thì ngày đó bàn thờ Chúa trong lòng chúng ta vẫn chưa được sửa lại.

  1. Khiến lửa từ trơi rơi xuống thiêu hóa của lễ.

Lúc bấy giờ nhiều người trong dân sự không thể phân biệt Ba-anh là Đức Chúa Trời hay Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Nên Ê-li phải đặt ra một dấu hiệu để dân sự nhận biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Dấu hiệu đó tỏ ra trong việc dâng của tế lễ bằng bò. Các tiên tri Ba-anh chọn một con, tiên tri Ê-li chọn một con. Tiên tri Ê-li nhường cho các tiên tri Ba-anh làm trước: “Các ngươi hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi vì các ngươi đông, nhưng chớ châm lửa.” (c.25) Thật nghịch lý, thường ít người phải làm trước mới phải. Tại sao 450 tiên tri Ba-anh đông người mà lại làm trước? Ê-li biết rõ họ rất mê tín nên cho họ làm trước để khỏi đổ thừa lý do nầy lý do nọ. Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn họ đã làm xong con bò và sắp ngay ngắn lên bàn thờ. Thế là từ sáng đến trưa họ kêu cầu Ba-anh, nhưng chẳng thấy Ba-anh nào đáp lời. Đến trưa Ê-li nhạo họ hãy kêu to hơn, chắc thần đang đi chơi đâu đó sẽ nghe hoặc đang ngủ sẽ thức dậy! Trời đã về chiều mà vẫn chưa thấy gì, các tiên tri Ba-anh bắt đầu lấy dao rạch vào người cho máu chảy ra lai láng để mong được thần nhậm lời. Nhưng vẫn bặt vô âm tín.

Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều (Xuất 29:38), tiên tri Ê-li đến sửa soạn bàn thờ và của lễ, rồi bắt đầu kêu cầu Chúa. Chẳng mấy chốc lửa từ trời giáng xuống thiêu hóa của lễ và làm khô hết nước xung quanh bàn thờ, khiến triều đình A-háp, các tiên tri Ba-anh và dân sự đều kinh ngạc. Lập tức 450 tiên tri Ba-anh bị bắt và giết sạch! Hãy chú ý chỉ có 450 tiên tri của Ba-anh dám thách đấu với tiên tri Ê-li. Còn 400 tiên tri của Át-tạt-tê không tham gia. Sở dĩ các tiên tri Ba-anh dám thách đấu là vì họ dựa vào triều đình A-háp – Giê-sa-bên, ngoài ra họ còn tin rằng trên núi Cạt-mên Ba-anh có thể giáng lửa. Theo Unger’s Bible Dictionary, trước khi Y-sơ-ra-ên chinh phục đất hứa, người Ca-na-an thường dâng tế lễ cho Ba-anh trên núi Cạt-mên. Thêm nữa Ba-anh là nam thần với biểu tượng Mặt trời nên họ càng tin Ba-anh có thể giáng lửa xuống. Nhưng họ đã lầm, trước hiện diện Chúa không tà thần hoặc con người nào đứng nổi. Do đó tà thần Ba-anh trốn mất. Trong chỗ riêng tư, ma qủy có thể thi thố một vài dấu lạ để lôi kéo thiên hạ thờ lạy nó. Nhưng khi có Chúa hiện diện thì nó chào thua. Đó là lý do 400 tiên tri của Át-tạt-tê không tham gia. Át-tạt-tê là nữ thần với biểu tượng là Mặt trăng, Nữ vương trên trời hay còn gọi là cái sừng nhỏ, thần rừng. Đây là thần đứng đầu của người Si-đôn. Những người thờ tà thần Át-tạt-tê tin rằng Át-tạt-tê có thể làm cho mùa màng tốt tươi, đất đai mầu mỡ, đem lại sự thịnh vượng cho con người ngay cả trong mùa hạ! Thế nhưng đã hơn ba năm bị hạn hán Át-tạt-tê chẳng làm gì được. Vậy làm thế nào các tiên tri Át-tạt-tê dám tham gia cuộc thách đấu?

Sau khi dân sự chứng kiến phép lạ lửa từ trời rơi xuống thiêu hóa của lễ của Ê-li, dân chúng lập tức tung hô: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” và hiệp với tiên tri Ê-li bắt giết hết thảy 450 tiên tri của Ba-anh.

Dân tộc Việt Nam thờ lạy đủ thứ hình tượng và mê tín đủ điều, rất khó đem họ về với Chúa, nhưng một khi Chúa thăm viếng và thi thố quyền năng, thì họ cũng sẽ tung hô Chúa là Đức Chúa Trời Tạo hóa, là Thiên Phụ từ ái của họ. Tôi con Chúa cần hạ mình ăn năn xưng tội để được Chúa thăm viếng và thi thố nhiều phép lạ cứu vớt đồng bào đang hư mất.

III. KẾT QUẢ VIỆC SỬA LẠI BÀN THỜ CHÚA.

Có hai kết quả được tìm thấy trong I Vua 18 như sau:

  1. Đem dân sự quay trở về cùng Chúa.

Câu 39 chép: “Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!” Hãy chú ý chữ “cả”, nghĩa là tất cả dân sự đều quay trở về với Chúa. Dân Y-sơ-ra-ên nổi tiếng cứng trán, cứng lòng, nhưng qua phép lạ họ đều quy phục Chúa. Chỉ có sự thăm viếng của Chúa mới thức tỉnh được Hội Thánh Chúa hiện nay và đánh thức được tâm linh các tôi con Chúa đang miệt mài trong hư danh, nhiều người đang bị lôi cuốn vào những cơn lốc tội ác của đời. Nhiều Cơ Đốc nhân hữu danh vô thực, chỉ theo đạo nhưng chưa trải nghiệm sự tái sanh, chính họ sẽ làm gương xấu giữa Hội Thánh lôi kéo nhiều người khác vào đường tội ác. Nhưng người như vậy cần sớm quay trở lại với Chúa.

  1. Đem cơn mưa đến cho dân sự (câu 41-46..)

Để đem cơn mưa đến cho dân sự, Ê-li phải chiến đấu trong sự cầu nguyện không kém gì cuộc chiến đấu với 450 tiên tri Ba-anh trước đó. Tiên tri Ê-li phải lên đỉnh cao nhứt của núi Cạt-mên qùy gối úp mặt xuống đất cầu nguyện. Ông sai người đầy tớ chạy lên chạy xuống đến bảy lần mới thấy một cụm mây bằng lòng bàn tay. Nhưng từ một cụm mây nhỏ ấy đã mang đến một trận mưa lớn, tưới mát đất đai và dân sự Chúa sau ba năm rưỡi hạn hán. Hội Thánh Chúa rất cần có những đầy tớ quyền năng có thể đem mưa ơn phước đến cho đất nước và dân tộc nầy. Để được như vậy tôi con Chúa phải sửa lại bàn thờ lòng của mỗi người, và dốc đổ trong sự cầu nguyện giống như tiên tri Ê-li. Thời đại nào cũng vậy, trong khi nhân loại vui chơi ăn uống, trác táng thỏa thích thì tôi con Chúa lại cần dành nhiều thì giờ thờ phượng hầu việc Chúa và kiêng ăn cầu nguyện cho đồng bào mình.

Thật cảm động biết bao, trong khi mọi người đều ăn uống no nê vui thỏa sau những giờ chiến đấu căng thẳng, thì đầy tớ Chúa phải lên núi cầu nguyện xin Chúa cho mưa đến. Khi trời đã mưa rồi thì đầy tớ Chúa phải chạy bộ trước xe của vua A-háp về Gít-rê-ên. Tại sao Ê-li không đi trên xe của vua A-háp? Tiên tri Ê-li thật là khôn ngoan, thà chạy bộ chứ không đi chung xe của kẻ bội đạo phản nghịch Chúa, giết hại tôi con Chúa. Đáng tiếc ngày nay có nhiều tôi con Chúa vì thiếu hiểu biết đã liên hiệp đời và ngồi chung với kẻ nhạo báng nên đời sống mất phước và nêu gương xấu. Bài học nầy thật đáng cho tôi con Chúa ghi nhớ để giữ mình.

 

 

Doulos




XƯNG NHẬN DANH CHÚA

XƯNG NHẬN DANH CHÚA

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Ma-thi-ơ 10:32, 33 “Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ thì ta cũng sẽ xưng họ ra trước mặt Cha ta ở trên trời, còn ai chối ta trước mặt thiên hạ thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời.”

Rô-ma 10:9 “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu.”

Có thể làm một tín đồ bí mật không? (tức là người không công khai xưng nhận Chúa Cứu thế). Vâng, rõ ràng là trong một thời gian ngắn có người đã làm như thế. Trong Giăng 19:38 Giô-sép người A-ri-ma-thê, là một tín đồ bí mật. Nhưng về sau ông đã công khai xưng nhận Đấng Christ khi ông đến xin chôn xác Chúa. Nhưng không thể nào cứ làm tín đồ bí mật mãi vì Kinh Thánh dạy rõ trong Ma-thi-ơ 10:32,33 và Rô-ma 10:9.

Đây là hai phương diện trong sự cứu rỗi:

1. Tin trong lòng tức là việc tiếp nhận Chúa Jêsus làm Chúa Cứu thế của mình.

2. Miệng xưng Chúa Jêsus Christ là Chúa.

Người trộm cướp trên thập tự giá xưng nhận Chúa Jêsus là Chúa. Lu-ca 23:42 “Lạy Chúa, khi Ngài về Nước Trời xin hãy nhớ đến tôi.”

Phao-lô trên đường đi Đa-mách đã xưng “Lạy Chúa, Chúa là ai? (Công vụ 9:5).

1 Cô-rinh-tô 12:3 “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa.”

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC MIỆNG XƯNG CHÚA RA :

1. Chúng ta cần phải xưng nhận Chúa Jêsus ra bằng môi miệng bởi vì chính Đấng Christ truyền lịnh đó (Ma-thi-ơ 10:32,33).

2. Đây là nguồn giúp đỡ và sức mạnh trong đời sống cá nhân của chúng ta. Trong việc xưng nhận Đấng Christ ra thường thường ơn phước lớn nhất là niềm vui trong chính lòng ta.

Điều nầy tăng cường đức tin ta và ban cho ta sự can đảm lớn lao hơn để hầu việc Chúa.

Một Cơ đốc nhân biết làm chứng cho Chúa sẽ ít khi bỏ Chúa. Nói cách khác, nhiều người bội đạo đã khởi đầu sự thất bại của mình vì không dám công khai xưng nhận Chúa.

3. Sự xưng nhận Đấng Christ đem lại niềm vui thực sự cho người tin Chúa. Niềm vui đến do việc vâng lời Chúa. Bài làm chứng về Chúa lần đầu của người tin Chúa là dịp tiện vui mừng lớn nhất của người đó.

4. Việc xưng nhận Đấng Christ giải quyết nhiều nan đề. Những người khác biết bạn là ai, và bạn đang sống vì ai, họ sẽ kính trọng bạn thêm. Thế gian sẽ coi khinh một tín đồ Đấng Christ yếu đuối, hèn nhát và bí mật.

Sự cám dỗ đến nơi thế tục giải trí sẽ bị giới hạn và sự mời gọi đến các hoạt động hầu việc Chúa trong Hội thánh sẽ gia tăng. Việc đó sẽ tự động đặt bạn vào một nhóm người khác.

5. Bởi vì những gì Đấng Christ đã làm cho bạn. Nếu có ai đã làm cho bạn một việc tốt đẹp, bạn sẽ thích nói cho mọi người biết. Chẳng hạn ai đó cứu bạn khỏi chết, bạn há không ca tụng người đó sao? Chúng ta đã được Chúa Cứu thế cứu chuộc khỏi sự trầm luân trong bể tội, ta há không cho mọi người biết tin mừng đó sao?

II. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

1. Công khai trong buổi nhóm họp của Hội thánh hoặc buổi cầu nguyện chung.

2. Chỗ riêng tư với các bạn bè, bà con, láng giềng trong cuộc thường đàm hằng ngày.

3. Xưng nhận Đấng Christ cách công khai trong lễ báp -têm, trong việc tương giao với một Hội thánh.

4. Xưng nhận Đấng Christ trong việc gia nhập một Hội thánh thật thiêng liêng và tích cực.

5. Xưng nhận Đấng Christ trong việc thường xuyên tham dự giờ nhóm của Hội thánh và giờ tiệc thánh. Có lẽ điều khó khăn nhất nhưng chính yếu nhất là đơn giản kể lại lời chứng của mình cho bạn bè, bà con và người xa lạ khác.

III. SỰ THƯỜNG XUYÊN XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

Suốt đời chỉ cần một lần công khai xưng nhận Danh Chúa là đủ hay không? — Không, đó là việc mà chúng ta phải thường xuyên lập đi lập lại. Đời sống người tín đồ Cơ đốc không chịu xưng nhận Danh Chúa sẽ đói khổ và chết dần chết mòn.

Giê-rê-mi 20:9 “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa, tôi sẽ chẳng nhơn danh Ngài mà nói nữa thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi và tôi mệt mỏi vì nín lặng không kiệu được nữa.”

Đây là kinh nghiệm của Mọi người tín đồ thật của Đấng Christ khi họ có giới hạn lời chứng của mình. Một tia lửa không thể che giấu,nó tự tỏ mình ra. Một Cơ đốc nhân phải thường xưng nhận Danh Chúa ra.

IV. CHÚNG TA PHẢI LÀM CHỨNG CHO AI?

Công vụ 1:8 “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lãnh quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.”

Các tín đồ phải làm chứng về Chúa cho hết thảy mọi người. Giê-ru-sa-lem là quê hương, Giu-đê là tỉnh lỵ. Sa-ma-ri là nước láng giềng và rồi các dân ngoại khác.

Công vụ 5:20 “Hãy đi, chường mặt nơi đền thờ mà rao giảng cho dân chúng mọi lời nầy của sự sống.”

Trách nhiệm chính của chúng ta là làm chứng với các bà con, bạn bè của chúng ta. Rồi về sau, vòng ảnh hưởng của chúng ta sẽ lan rộng và chúng ta sẽ đến với càng nhiều người càng hơn nữa.

V. PHẢI NÓI GÌ KHI XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

Xưng nhận Danh Chúa là làm chứng về sự kiện một người nào đó là Cơ đốc nhân.

Một chứng nhân là người biết một cài gì đó.

Làm chứng không nhứt thiết phải giảng một bài giảng, nhưng là kể lại câu chuyện đơn giản, về những sự kiện thực mà chúng ta được biết.

Sự hiểu biết của một chứng nhân phải là lời chứng xác định, cá nhân chứ không phải là nghe đồn hay tưởng tượng. Đó phải là một cái gì đã ảnh hưởng đến một trong ngũ quan của người làm chứng (nghe, cảm, nếm, thấy, rờ).

1. Một chứng nhân phải là người được cứu.

2. Hãy kể lại những sự kiện đơn giản về sự qui đạo của bạn và sự đổi thay trong đời sống của bạn.

3. Hãy kể lại những lời cầu nguyện của bạn đã được Chúa trả lời . Thi thiên 50:15 “Hãy kêu cầu Ta trong ngày hoạn nạn, Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ tôn vinh Ta.”

4. Hãy kể lại thể nào Đấng Christ đã làm bạn hoàn toàn thỏa mãn. Nếu bạn nói: ” Tôi đã được cứu và thực sự sung sướng vì Chúa Jêsus đã cất đi tội lỗi của tôi rồi.” Dân chúng sẽ lắng nghe lời chứng thành thật của bạn. Đừng bao giờ nói rằng bạn sung sướng trong khi bạn tỏ ra bên ngoài như một người khổ đến chết.

5. Hãy kể lại sự đắc thắng của bản thân bạn trên tội lỗi và các sự cám dỗ. Điều nầy sẽ hấp dẫn người ta và họ sẽ tôn vinh Chúa Cứu thế vì Ngài đã ban cho bạn sự đắc thắng đó. Dĩ nhiên, đời sống cá nhân của bạn sẽ trong sạch trước khi bạn làm chứng điều nầy.

6. Hãy kể lại những câu Kinh thánh đắc ý, ham thích của bạn, về thể nào Chúa phán với bạn qua khúc Kinh thánh bạn đọc sáng nay trong giờ tình nguyện.

7. Hãy trao lại cho các bạn bè về Phúc âm của Đấng Christ. Hãy nói về cuộc đời trọn vẹn của Đấng Christ, về sự chết, sự chôn, sự phục sinh, sự thăng thiên, sự tái lâm và sự phán xét tương lai của Ngài.

VI. CÁC TRỞ NGẠI CHO VIỆC XƯNG NHẬN DANH CHÚA :

1. Sợ người: Sợ lời chống đối, sợ dự luận, sợ người ta.

– 2 Ti-mô-thê 1:7 “Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tinh thần nhút nhát, nhưng là tình yêu và quyền phép… .”

– I Giăng 4:18 “Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương nhưng sự yêu thương trọn vẹn ném bỏ sự sợ hãi.”

– Phi-líp 4:13 “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi.” kể cả việc làm chứng.

2. Hổ thẹn:

– 2 Ti-mô-thê 1:8 “Vậy con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ, nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin lành.”

3. Đời sống bất khiết :

Sợ lời chứng của mình không phù hợp với đời sống của mình. Hãy làm lại từ đầu. Hãy xưng tội với Chúa theo I Giăng 1:9 và xin Chúa ban cho bạn sự khởi đầu tươi mới lại với Ngài. Sự công khai thừa nhận thất bại là một khởi điểm rất tốt cho một đời sống tận hiến cho Chúa.

VII. NGUY HIỂM CỦA VIỆC KHÔNG LÀM CHỨNG :

Ê-xê-chi-ên 33:8 “Khi Ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc sẽ chết, nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng ta sẽ đổi máu nó nơi tay ngươi.”

Đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng cho những tín đồ im lặng về Chúa. Chúng ta không nhất thiết chịu trách nhiệm về các thành quả của việc làm chứng. Nếu tội nhân không chấp nhận lời chứng của ta thì đó là trách nhiệm của họ.

KẾT LUẬN:

Bạn đã xưng Danh Chúa Jêsus làm Chúa Cứu thế của bạn chưa? Khải 2:10.

Bạn có làm chứng về Chúa cho bà con, bạn bè của bạn chưa?




SỰ BIẾT CHẮC ĐƯỢC CỨU RỖI

SỰ BIẾT CHẮC ĐƯỢC CỨU RỖI

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Biết chắc về sự cứu rỗi của mình là việc cần thiết, nếu một tín đồ muốn giúp đỡ người khác về phương diện thuộc linh.

“Trong Hội thánh của tôi một số nghĩ rằng họ là Cơ đốc nhân, hầu hết họ hy vọng

như thế, một số nói như thế và một số ít biết họ đã được cứu” (Lời Mục sư H. Hildebrand).

Bạn đã kết hôn chưa? Bạn có chắc không? Hoặc bạn đã kết hôn hoặc bạn chưa kết hôn. Không thể có việc nửa có nửa không. Cũng một thể ấy, một người hoặc là được cứu hoặc là hư mất. Hoặc là “ở trong Đấng Christ.” hoặc là ở ngoài Chúa.

Sự cứu rỗi là một phép lạ biến đổi. Phép lạ đó đã xảy ra hay chưa? Có hay là không? Nếu chúng ta “ở trong Đấng Christ” thì chúng ta phải có đầy đủ sự bảo đảm về sự cứu rỗi. Nhiều người trong Hội thánh không tin rằng bây giờ chúng ta có thể biết chắc về sự cứu rỗi của mình. Họ cảm thấy rằng, nói như thế là phạm thượng. Đức tin phải tin cậy Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta được cứu rỗi bởi việc làm thì nói chắc như thế là không đúng. Vì một người cần tiếp tục làm và làm nữa. Phần giá của các việc làm cần phải đạt cho được một tiêu chuẩn nào đó. Nhưng sự cứu rỗi là một món quà (Ê-phê-sô 2:8) mà chúng ta tiếp nhận,và rồi chúng ta sở hữu sự cứu rỗi.

I. ĐỊNH NGHĨA “BIẾT CHẮC ĐƯỢC.”

Biết chắc sự cứu rỗi là tuyệt đối tin tưởng rằng chúng ta đã được cứu và nếu chúng ta chết thình lình, chúng ta sẽ lập tức lên thiên đàng. Biết chắc sự cứu rỗi là sở hữu sự cứu rỗi, sở hữu Chúa Jêsus Christ.

Sự cứu rỗi là sự sống đời đời. Đó là sự sống của Đức Chúa Trời. Đó là sự sống thiêng liêng.

Nếu tôi sở hữu sự sống đời đời thì tôi được cứu – được cứu cả hiện tại và tương lai đời đời.

Giăng 10:28,29 “Ta ban cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ chẳng chết mất bao giờ và chẳng ai cướp chúng khỏi tay ta.”

II. AI CÓ THỂ BIẾT CHẮC SỰ CỨU RỖI :

1. Những người tiếp nhận Chúa Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình:

– Giăng 1:12 “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời.”

2. Những người tin cậy Chúa Jêsus Christ :

– Giăng 3:16 “Hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời’

– Giăng 3:36 “Ai tin Con thì được sự sống đời đời.”

III. NỀN TẢNG CỦA SỰ BIẾT CHẮC ĐƯỢC CỨU RỖI :

Sự biết chắc có thể căn cứ trên cảm giác không?

Không bao giờ: Sa-tan có thể kiểm soát hay ảnh hưởng đến cảm giác của ta. Sức khỏe, thời tiết, hoàn cảnh và môi trường ảnh hưởng đến cảm giác của ta. Đối với một số người bước vào sự cứu rỗi là một cảm xúc hồi hộp thực sự. Đối với một số khác không có một cảm xúc nào đặc biệt. Về sự cứu rỗi Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta có 3 nền tảng để ta căn cứ vào đó mà biết chắc sự cứu rỗi của mình.

1. Lời làm chứng của Đức Thánh Linh:

– Rô-ma 8:16 “Chính Đức Thánh Linh làm chứng với lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.”

Trước khi ta tin Chúa, Đức Thánh Linh sẽ cáo trách tội lỗi ta, nhắc chúng ta về sự công bình và sự phán xét hầu đến. Bây giờ, sau khi ta tin Chúa, chức vụ Ngài đã thay đổi. Ở trong mỗi một người tín đồ, Đức Thánh Linh trấn an trong linh hồn ta và ban sự an tâm xác định cho chúng ta nay thuộc về Chúa Jêsus rồi.

– Ga-la-ti 4:6 “Vì chúng ta là con cái, Đức Chúa Trời đã sai Thánh linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta, kêu rằng Abba, Cha – “Abba ” là từ ngữ rất thân mật. Đức Thánh Linh sẽ thì thầm nhẹ nhàng trong tâm linh ta rằng: “Con hiện đang là con cái Đức Chúa Trời.”

2. Lời của Đức Chúa Trời:

Thường thường, Đức Thánh Linh làm chứng qua lời Kinh thánh tức là Lời Chúa thành văn.

– I Giăng 5:10 “Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có chứng ấy trong mình.”

– I Giăng 5:13 “Ta đã viết những diếu nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến Danh Con Đức Chúa Trời.”

Điều kiện: TIN; kết quả: BIẾT CHẮC.

Nếu ma quỉ đến và cám dỗ bạn nghi ngờ sự cứu rỗi của mình, bạn hãy đặt ngón tay chỉ vào câu Kinh Thánh nầy và nhân danh Chúa xua đuổi ma quỉ thì nó sẽ chạy xa.

Hãy nói với Sa-tan: Lời Đức Chúa Trời nói rằng nếu tôi tin Chúa Jêsus Christ thì tôi có sự sống đời đời. Vào ngày… tôi tin Chúa Jêsus. Từ ngày đó tôi bắt đầu có sự sống đời đời. Tôi đã được cứu. Tội lỗi đã được tha. Tôi đang trên đường tiến bước về thiên đàng.

Hãy dùng Kinh thánh làm nền tảng để ta xây dựng sự biết chắc ơn cứu rỗi cho mình. Lúc đó, những người khác sẽ tìm đến với bạn là người nói về sự cứu rỗi cách có uy quyền.

Những câu Kinh thánh khác mà ta có thể xây dựng nền tảng sự cứu rỗi:

o Giăng 5:24 (Tin Có).

o Công vụ 13:39 (Ai đạt được điều kiện tin thì được xưng nghĩa).

o Lu-ca 7:48 (khi tội được tha, cửa vô thiên đàng mở rộng).

o Rô-ma 10:13 “Vì ai kêu cầu Danh Chúa thì được cứu ” nếu tôi đã kêu cầu Danh Chúa Jêsus thì tôi biết chắc tôi đã được cứu.

3. Đời sống được thay đổi:

Mọi người xung quanh nhìn thấy sự thay đổi trong đời sống ta và biết chắc rằng chúng ta được cứu – thực sự là Con Đức Chúa Trời đã tái sanh.

o I Giăng 3:14 “Chúng ta biết mình đã vượt khỏi sự chết mà đến sự sống bởi chúng ta yêu thương anh em.” Đây là dấu hiệu xác định cho sự cứu rỗi.

Cơ đốc nhân là người mới trong Đấng Christ.

o 2 Cô-rinh-tô 5:17 “và điều nầy đã được thể hiện ra trong các tình cảm mới, các sở thích mới, các điều không thích mới, các tình yêu mới và sự thù ghét mới.

Quyền lực và sự hiện diện của thói quen xấu đã tiêu đi và điều nầy xác nhận tôi thật được cứu.

IV. VẤN ĐỀ CỦA SỰ BIẾT CHẮC ĐƯỢC CỨU RỖI :

Lời Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh nói rất rõ là chúng ta có thể biết chắc mình được cứu rỗi, tại sao có quá ít người biết chắc điều nầy?

Đối với một số người là vì họ đã lắng nghe theo lời tố cáo của ma quỉ.

Phương cách để thử nghiệm sự biết chắc nầy là trả lời hai câu hỏi sau đây :

1. Tôi đã tiếp nhận Chúa Jêsus Christ làm Chúa Cứu thế cho bản thân tôi chưa?

2. Tôi có thật lòng tin cậy nơi Chúa Jêsus Christ không? Nếu tôi có thể trả lời cách xác định rằng: “có ” hoặc “rồi ” cho cả hai câu hỏi nầy, thì căn cừ vào Lời của Đức Chúa Trời tôi đã được cứu.

Nghi ngờ Lời Đức Chúa Trời là một tội lỗi khủng khiếp gieo sự xấu hổ khinh thường Thánh kinh của Đức Chúa Trời.

Đối với Lời Chúa, không nên phỏng chừng vừa đúng vừa không. Phải tuyệt đối tin tưởng vì chỉ có đức tin mới tôn vinh và làm hài lòng Đức Chúa Trời. Hê-bơ-rơ 11:6.

V. NHỮNG TRỞ NGẠI CHO SỰ BIẾT CHẮC ĐƯỢC CỨU RỖI :

1. Không tin Lời Đức Chúa Trời :

Nếu tôi thật sự được cứu, tôi phải cầu nguyện xin Chúa tăng cường đức tin của tôi và giúp tôi luôn tin những gì Kinh thánh phán. Ngày nay, các tà giáo có khuynh hướng tân phái gieo rắc sự hoài nghi giá trị Lời Chúa. Ta hãy cầu nguyện để không bị thuyết phục xa cách đức tin thuần chánh nơi Lời Hằng sống vô ngộ của Đức Chúa Trời.

2. Sự mê ngủ thuộc linh :

Trong “Thiên lộ lịch trình.” Cơ đốc nhân ngủ quên và làm mất đi cuốn sách chỉ đường. Thường thường, Cơ đốc nhân ngủ quên trên đường theo Chúa cũng đánh mất cả niềm vui và sự xác quyết về ơn cứu rỗi của mình. Nếu điều nầy xảy ra cho bạn, hãy xưng tội mình theo Lời Chúa dạy trong I Giăng 1:9 và khởi sự trở lại.

3. Yêu mến thế gian :

Sự yêu mến thế gian làm cho nghẹt ngòi những ước vọng về Đức Chúa Trời, về Lời Ngài, và về sự tương giao với Chúa.

4. Thiếu đầy dẫy Đức Thánh Linh:

Giăng 7:37 -39. Việc nầy thường xảy ra do việc thiếu đầu phục sự kiểm soát của Chúa Thánh Linh trong đời sống chúng ta.

Phương cách chữa trị: – Đừng cố làm tôi hai chủ. – Hãy phó thác ý chí của bạn cho Chúa. Ngài sẽ hướng giãn bạn.

5. Quá nhấn mạnh đến những giáo lý như sự tiền định, sự lựa chọn hoặc cảm giác an ninh giả dối.

6. Tội lỗi và sự bội đạo, yếu đuối, sa sút… Phương cách chữa trị. Xưng tội, ăn năn. I Giăng 1:9.

KẾT LUẬN:

“Lạy Chúa, xin hãy tra xét lòng con và xem con có sở hữu sự cứu rỗi chưa? Nếu Chúa Jêsus thực sự sống trong con. Nếu con thực sự được cứu, xin giúp con không bao giờ nghi ngờ lời phán rõ ràng của Kinh Thánh. Nếu con chưa được cứu. Ôi, lạy Chúa, xin hãy loại bỏ đi sự an ninh giả dối – Con muốn biết sự thật.”

Cẩn thận: Hãy cẩn thận trong việc thuyết phục người ta rằng họ đã được cứu. Đây là công việc của Đức Thánh linh và Ngài là Đấng biết rõ lòng người.

Sự biết chắc được cứu rỗi giúp tôi trở thành người tín đồ Cơ Đốc mạnh mẽ hơn.

Sự biết chắc được cứu rỗi không phải là sự tự kiêu mà là sự tin cậy đơn sơ nơi Lời của Đức Chúa Trời. Khi tuyên bố “Tôi biết tôi đã được cứu rỗi” đòi hỏi ta phải có lòng khiêm tốn, vì đây hoàn toàn là việc thực hiện bởi ân điển và lòng thương xót của Chúa: Ngài cứu tôi, Ngài gìn giữ tôi và Ngài sẽ mang tôi lên thiên đàng.




CHINH PHỤC LINH HỒN

CHINH PHỤC LINH HỒN

 

LỜI GIỚI THIỆU :

Châm ngôn 11:30 “Người khôn ngoan có tài được linh hồn người ta.” Cũng xem Đa-ni-ên 12: 3, Thi thiên 126:5,6 “Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ sẽ gặt hái cách vui mừng. Người nào vừa đi vừa khóc đem giống ra rải, ắt sẽ trở về cách vui mừng, mang bó lúa mình.”

Ít người được kêu gọi làm Mục sư, Truyền đạo nhưng mọi người tín đồ Đấng Christ đã tái sanh đều được kêu gọi làm người chinh phục linh hồn tội nhân.

Các Mục sư Truyền đạo thường bận rộn với các buổi nhóm họp và các lớp học đến nỗi họ quên việc tiếp xúc riêng tư trong công tác chinh phục linh hồn.

Có một câu chuyện kể về giấc ác mộng của một Mục sư: Ông đứng trước tòa phán xét và Đức Chúa Trời hỏi: Những linh hồn của các bạn bè và tôi tớ của ngươi ở đâu? Ông thưa: – Thưa Chúa, tôi không biết” và lập tức ông bị rơi xuống hỏa ngục. Khi kể xong câu chuyện giấc mơ của mình cho người vợ nghe, Ông Mục sư ngã xuống, qua đời.

Sự chinh phục linh hồn là một cố gắng nhứt định nhằm hướng dẫn một người nhứt định tiếp nhận một Cứu Chúa nhứt định vào một thời gian nhứt định (Billy Sunday).

Những người bình thường đã chinh phục được những vĩ nhân như Moody và Spurgeon. Anh-rê đã đưa Phi-e-rơ đến với Chúa Jêsus.

I. NHỮNG LÝ DO TA PHẢI CHINH PHỤC LINH HỒN :

1. Giá trị của một linh hồn: Có thể lắm chúng ta là người duy nhất có thể gây ấn tượng trên linh hồn đặc biệt nào đó, và linh hồn của người đó là quí báu hơn cả thế gian. Mác 8:35-38.

2. Sự kiện hỏa ngực là có thật: Nếu chúng ta thực sự tin rằng linh hồn tội nhân đang trên đường đến sự hư mất đời đời, nơi hỏa ngục là nơi lửa và diêm cháy bừng bừng là nơi đau đớn, tối tăm, khóc lóc, nghiến răng cho đến đời đời, thì chắc chắn chúng ta sẽ làm hết sức mình để thuyết phục linh hồn tội nhân ăn năn tin nhận Chúa Jêsus.

3. Sự thống khổ của Chúa Jêsus Christ trên thập tự giá dành cho mỗi tội nhân.

4. Sự trống rỗng, điên dại và hư không của thế gian nầy. Trong Đấng Christ, chúng ta tìm thấy những diều quí báu vô cùng có thể đem tặng cho bạn bè chùng ta.

5. Ước muốn có đầy đủ những người thân yêu ruột thịt được cứu trên thiên đàng. Thật là buồn bã biết bao khi biết rằng một thân nhân của chúng ta đang bị hư mất chỉ vì chúng ta lười biếng hoặc bất cẩn.

6. Sự vinh hiển của thiên đàng thúc giục ta chia xẻ cho những người khác cùng hưởng với chúng ta.

7. Những phần thưởng cá nhân Chúa dành cho những chứng nhân trung tín như mão triều thiên, bằng khen của Chúa, địa vị cao cả trong nước Chúa…v…. v.

II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÀM NGƯỜI CHINH PHỤC LINH HỒN :

1. Người đó phải được cứu và biết chắc sự cứu rỗi của mình.

2. Người ấy phải sống một đời sống trong sạch bề trong lẫn bề ngoài. Một đời sống đầu phục Chúa Jêsus Christ.

3. Người ấy phải hầu việc trong tinh thần yêu thương và kiên nhẫn, không có thái độ kiêu căng hoặc thiếu kiên nhẫn.

4. Người ấy phải có sự hiểu biết tương đối đầy đủ về Kinh thánh và biết sử dụng Kinh thánh. Hãy chuyên cần nghiên cứu Kinh thánh. Sự dốt nát về Kinh thánh không thể tha thứ được cho một chứng nhân. Đức Chúa Trời phán trong Gia-cơ 1:5 “Trong anh em có ai thiếu sự khôn ngoan hãy cầu xin Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai.”

5. Người ấy phải là người cầu nguyện, nhờ cậy Chúa biến cải tội nhân.

6. Đời sống người đó phải có quyền năng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh. Ê-phê-sô 5:18 “Đừng say rượu vì rượu xui cho luôn tuồng, nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh.”

7. Người ấy phải có sự thương xót các linh hồn hư mất. Nếu không có lòng thương xót, người ấy sẽ làm việc theo tinh thần chiếu lệ, máy móc và không có lòng – Tội nhân sẽ đáp ứng cách tương tự.

III. ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG VIỆC CHINH PHỤC LINH HỒN:

1. Phải đi ra: Thi thiên 126:5,6 “Kẻ nào đi ra gieo giống…” – Không nên đợi cho tội nhân nói với bạn hoặc mở đầu câu chuyện. Nguyên tắc của Đức Chúa Trời là bạn phải đi đến với tội nhân và mở đầu câu chuyện cứu rỗi họ.

2. Với tấm lòng yêu thương tan vỡ vì các linh hồn: “Vừa đi vừa khóc. Chúa Jêsus khóc về thành Giê-ru-sa-lem. Lòng Ngài đầy dẫy lòng thương xót người hư mất. Tiên tri Giê-rê-mi ước ao có thể khóc vì dân Y-sơ-ra-ên suốt ngày đêm. (Giê-rê-mi 9:1). Phao-lô đã khóc cho các linh hồn (Công vụ 20:19). Nhiều nước mắt và thử thách. Công vụ 20:31 “Trong ba năm, hằng đêm va ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn.”

3. Với Lời của Đức Chúa Trời: “Mang giống ra rải.” Đừng hy vọng người ta sẽ hối cải nhờ tài biện luận, hay sự tranh cãi tài ba của bạn. Phi-e-rơ nói rằng con người được tái sanh nhờ Lời của Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 1:23). Chúa Jêsus khuyên chúng ta trong thí dụ về người gieo giống phải gieo giống tốt. Một câu Kinh thánh có khi đầy đủ hơn là nhiều câu chỉ gây bối rối. Hãy học thuộc lòng các câu Kinh thánh. Học thuộc bản mục lục và địa chỉ các câu Kinh thánh để dễ tìm trưng dẫn. Hãy nương dựa nơi Lời Đức Chúa Trời trong sự cáo trách tội lỗi và tái sanh trong đức tin.

4. Sự kết quả chắc chắn: “Gặt hái cách vui mừng, mang bó lúa mình.” Bạn sẽ không chinh phục được mọi linh hồn bạn tiếp xúc đâu. Nhưng một số người sẽ được bạn chinh phục về cho Chúa. Có thể bạn chỉ chinh phục được 2% cho Chúa, và cũng có thể bạn nói về Chúa cho một người suốt 10 lần và rồi chinh phục được người đó trong lần thứ 11. Mỗi lần nói chuyện có thể là một vòng xích trong sợi dây chuyển kéo người ta đến cùng Đấng Christ.

5. Niềm vui của người đi chinh phục linh hồn: “Gặt hái cách vui mừng” “Vui mừng trở về.” Kinh thánh nói đến việc cả thiên đàng vui mừng khi thấy một tội nhân ăn năn. Lu-ca 15:7 – 10, Ê-sai 53:11 “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình và lấy làm thỏa mãn.” Niềm vui của sự cứu rỗi thường được nhân lên gấp bội trong việc chinh phục linh hồn.

IV. CÁC THỦ TỤC VÀ NGUYÊN TẮC CHUNG TRONG VIỆC CHINH PHỤC LINH HỒN :

1. Tìm kiếm và cầu nguyện Chúa cho có cơ hội và rồi sử dụng ngay cơ hội đến. Đừng nên đợi một thời cơ khác thuận lợi hơn.

2. Hướng dẫn trực tiếp tội nhân đến việc tiếp nhận Đấng Christ. Có thể ta chỉ nói chuyện về Đấng Christ, về Kinh thánh, về các đề tài liên hệ mà không bao giờ đối diện với đề tài chính.

3. Nên liên hệ với người cùng tuổi tác và phái tính. Tuy nhiên, nếu Chúa Thánh Linh thúc giục bạn nói về Chúa cho một người nào, bạn đừng ngần ngại. Cứ lập tức tiến hành.

4. Phải lịch sự: Đừng nói quá nhiều cũng đừng tranh luận. Hãy để cho tội nhân phát biểu.

5. Tránh thái độ thân mật suồng sã: Một số người chấp nhận nhưng một số khác thì không chịu được được.

6. Nên tiếp xúc với từng cá nhân khi có dịp. Trong đám đông, một người hay “giấu mặt” nhưng trong chỗ riêng tư người đó dễ thố lộ với bạn, từ lòng đến lòng hơn.

7. Luôn luôn tự tin: Nếu tội nhân xưng tội. Hãy nhớ Kinh thánh nói rằng: Gia-cơ 5:20 “Kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi.”

8. Đừng để bị lôi cuốn vào các cuộc tranh luận. Ma quỉ hay dùng thủ đoạn nầy để tội nhân nó tránh sự ăn năn.

9. Đừng nhờ cậy khả năng riêng là kinh nghiệm riêng của bạn. Hãy luôn thầm nguyện xin Chúa dẫn dắt.

10. Đừng nổi nóng hoặc thiếu kiên nhẫn. Đây là quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời, và việc người ta suy xét kỹ trước khi tiếp nhận là việc phải lẽ.

11. Hãy tiếp xúc với tội nhân y như mình cũng là tội nhân như họ. Chứ không phải một thánh nhân.

KẾT LUẬN:

Khi một người sẵn sàng tiếp nhận tin Chúa, hãy nên mời người đó quì gối cầu nguyện. Hãy cầu nguyện cho người đó, nhưng nếu người đó tự cầu nguyện được càng tốt.

Sau khi cầu nguyện hãy cho người đó đọc một vài câu Kinh Thánh bảo đảm sự cứu rỗi. Hãy theo dõi cầu nguyện và chăm sóc người mới tin Chúa bằng sự tiếp xúc thêm.

Nên giúp người đó làm chứng về Chúa càng sớm càng tốt.

Nếu các cố gắng của bạn chưa có kết quả, hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi Đức Chúa Trời ban ơn kết quả.




SỰ DÂNG MÌNH CHO CHÚA

SỰ DÂNG MÌNH CHO CHÚA

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Sự dâng mình là một từ liệu của Cựu Ước có nghĩa là biệt riêng, cung hiến cho chức vụ hay cho sự vinh hiển Danh Chúa.

Danh từ nầy xuất hiện hai lần trong Hê-bơ-rơ 7:8 và Hê-bơ-rơ 10:20.

Trong bản tiếng Anh: “Bởi đường mới và sống mà Ngài đã cung hiến cho chúng ta”, “ngang qua cái màn.” Sự dâng mình không có nghĩa là sự qui đạo hay tình trạng trọn vẹn vô tội.

Sự dâng mình chỉ là việc linh hồn phó thác trọn vẹn cho Chúa Jêsus – không giữ lại điều gì. Đây là sự tận hiến cho Đấng Christ mãi mãi, như là được Chúa mua chuộc bằng một giá cao, ta không còn thuộc về ta nữa mà ta hoàn toàn thuộc về Chúa.

I Sử ký 29:5 “Vậy ngày nay, ai là người vui lòng dâng mình cho Đức Giê-hô-va?

“Ai vui lòng”? – Đức Chúa Trời trình bày một cơ hội để ta dâng mình cho Ngài.

“Vui lòng dâng mình” – Sự dâng mình là một hành động của ý chí. Tôi phải quyết định. Bản ngã của tôi phải đầu phục uy quyền của Đấng Christ như là người chủ của tôi. Ai là ông chủ của đời tôi?

Riêng bản thân tôi – tác giả bài nầy – đã quyết định dâng mình cho Chúa, sau khi nghe bốn bài giảng về bốn sự đầu phục của Áp-ra-ham.

1. Rời khỏi quê hương và bà con. Sáng 12:1.

2. Phân rẽ khỏi Lót. Sáng 13:9.

3. Đuổi A-ga và Ích-ma-ên. Sáng 21:10.

4. Dâng con là Y-xác. Sáng 22.

I. SỰ DÂNG MÌNH LÀ GÌ?

Sự dâng mình liên hệ đến hai hành động:

1. Đầu phục ý chí của tôi cho Đức Chúa Trời – vì sự vinh hiển của Ngài.

2. Sự dâng mình là hành động của Đức Chúa Trời khi Ngài tiếp nhận sự hy sinh của tôi.

Các thầy tế lễ không tự dâng mình. A- rôn và các con của ông chỉ có việc đầu phục ý Chúa. Sự dâng mình liên hệ đến sự tôi dâng hiến đời tôi cho Đức Chúa Trời (Mi-chê 4:13)

Nó liên hệ đến sự biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời (Dân số 6:12). Nó liên hệ đến sự đầy dẫy (Xuất 29: 33) – Được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Nó cũng liên hệ đến việc biệt riêng mình ra cho công tác phục vụ Chúa (Xuất 28:3).

II. AI CÓ THỂ DÂNG MÌNH?

Những người đã được huyết Chúa tẩy sạch tội lỗi được quyền dâng mình cho Chúa.

Những người làm thành viên của gia đình Đức Chúa Trời được mời gọi dâng mình cho Chúa. Sự dâng mình không chỉ độc quyền giới hạn cho người có tài năng, nhưng mở rộng cho mọi tín đồ.

Phao-lô nói: “Vậy hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh đẹp lòng Đức Chúa Trời… (Rô-ma 12:1)

III. SỰ KÊU GỌI DÂNG MÌNH :

Rô-ma 12:1 “Tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời.” Chúng ta không bị bắt buộc bằng uy quyền hay bằng sức mạnh, nhưng bằng sự thương xót của Chúa. Sự dâng mình của chúng ta không được thúc đẩy bởi sự sợ hãi, nhưng bởi sự yêu thương vả sự thương xót.

Một số sự thương xót củ Đức Chúa Trời đối với chúng ta là “sự xưng nghĩa, sự nên thánh, sự ngự trị của Đức Thánh Linh, sự không còn định tội, sự giúp đỡ hằng ngày, thiên

đàng sau khi chết, sức khỏe, bạn bè, Hội thánh… Chúa ban cho ta nhưng không.”

IV. HÀNH ĐỌNG CỦA SỰ DÂNG MÌNH :

Rô-ma 12:1 “Dâng thân thể mình… .”

1. Đây là sự tự nguyện: Phao-lô nài nỉ, khuyên mời. Điều nầy giống như tặng một món quà. Chúng ta không bị bắt buộc tặng quà cho ai.

2. Đây có tính cách cá nhân: “Thân thể mình.” Điều nầy có nghĩa là đời sống ta, mọi sự ta có.

3. Đây là sự hy sinh: “Tế lễ sống và thánh.” Đây là việc đặt đời sống ta trên bàn thờ như Áp-ra-ham dâng Y-sác.

Sự dâng mình cho Đức Chúa Trời chắc chắn đẹp lòng Cha chúng ta.

Cha về phần xác sẽ buồn lòng nếu đứa con ngần ngại đến cùng mình. Người con chấp nhận sự bảo vệ của Cha, cơm ăn áo mặc của Cha, nhưng người Cha cũng muốn có sự thông công thân mật của người con.

Tôi tin rằng đây là hành động tuyệt đỉnh của sự thờ phượng. Sáng 22:5 “Ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi.”

V. LÝ LẼ CỦA SỰ DÂNG MÌNH :

Rô-ma 12:1 “Sự thờ phượng phải lẽ.”

Nếu chúng ta thực sự được cứu chuộc thì việc chúng ta dâng mình hầu việc Chúa là hoàn toàn hợp lý.

Billy Sunday nói: “Hầu việc Đức Chúa Trời là điều hoàn toàn hợp lý. Đó là điều phải làm.”

Có lẽ chúng ta sẽ nói rằng điều đó khó quá. Đúng vậy, việc Đức Chúa Trời từ giã người Con của Ngài cũng khó quá. Áp-ra-ham dâng con mình là Y-xác cũng khó lắm. Cuộc đời của Giô-xép rất khó khăn. Việc Môi-se phải từ bỏ cuộc sống tiện nghi trong cung điện của Pha-ra-ôn cũng khó khăn. Việc ông Gióp mất hết của cải cũng thật khó khăn. Phao-lô phải làm chứng về Chúa tại Rô-ma và Ê-phê-sô rất khó khăn, nhưng đó là ý chỉ của Chúa, và các thánh nhân nói trên đã thuận phục ý Chúa.

VI. TÔI PHẢI DÂNG GÌ CHO CHÚA?

Rô-ma 12:1 “Dâng thân thể mình.”

1. Thân thể của tôi phải được dâng cho Ngài để Ngài sử dụng theo ý Ngài muốn nhầm làm vinh hiển Danh Chúa. Thân thể chúng ta không còn thuộc về chúng ta nữa. Thân thể chúng ta đã được Chúa mua chuộc bằng chính huyết Ngài.

a. Dâng cho Chúa sức khỏe của ta. Ngợi khen Chúa vì sức khỏe Chúa cho và sử dụng sức khỏe đó cho Ngài.

b. Dâng cho Chúa đôi bàn chân ta để đem Tin lành đến cho người khác.

c. Dâng đôi bàn tay ta cho Chúa để làm các việc lành và nâng đỡ người sa ngã.

d. Dâng cho Chúa đôi mắt để tìm kiếm người đang hư mất.

e. Dâng cho Chúa đôi tai ta để nghe tiếng thở than của người bị ma quỉ áp bức và tìm kiếm họ về cho Chúa.

2. Thì giờ của tôi dâng cho Chúa: Chúa phải quản trị việc sử dụng thì giờ của tôi. Hãy để Ngài sắp xếp chương trình. Mọi thì giờ học hành, làm việc, chơi nghỉ của tôi phải được xem như là những thì giờ thiêng liêng. Hãy để Chúa hướng dẫn bạn từng giờ từng phút. Ê-phê-sô 5:16, Cô-lô-se 4:5 ” Hãy lợi dụng thì giờ.”

3. Tài năng của tôi dâng cho Chúa: Dầu tôi có Một, hai hay năm mười ta lâng, cũng dâng hết cho Ngài.

a. Tài năng nói, giảng, dạy Lời của Chúa.

b. Tài năng hát, âm nhạc, điều khiển ban nhạc đều dâng cho Chúa.

c. Tài năng viết sách, làm thơ, đặt chuyện. Hãy viết cho Ngài.

d. Tài năng cầu nguyện, cầu thay, làm một chiến sĩ cầu nguyện. Đây là một trong những ta lâng lớn nhất.

e. Tài năng lãnh đạo và tổ chức. Hội thánh ngày nay rất cần.

f. Tài năng giúp đỡ người khác, phụ tá, chấp hành.

g. Tài năng chuyên môn thể hiện trong các nghề nghiệp: y tá, dạy học, điện tử, bán buôn…

4. Tài sản của tôi dâng cho Chúa: Chúng ta hãy vui vẻ dâng cho Chúa vàng, bạc và mọi sự chúng ta có. Không chỉ dâng cho Chúa phần mười, nhưng dâng tất cả cho Ngài.

5. Lòng tôi dâng cho Chúa: Đây là điều Chúa mong muốn tôi dâng cho Ngài hơn tất cả mọi sự khác. Tấm lòng là tượng trưng cho con người bề trong, con người thật. 2 Cô-rinh-tô 8:5″… trước hết đã dâng chính mình cho Chúa….” Dâng mình cho Chúa có nghĩa là dâng hết mọi sự tôi có cho Chúa, nhưng trước hết và trên hết là dâng lòng tôi cho Chúa.

VII. CÁC KẾT QUẢ CỦA SỰ DÂNG MÌNH:

Rô-ma 12:2.

1. Một đời sống không làm theo đời nầy. Đây không phải là đời sống vị kỷ, trần tục.

2. Một đời sống được biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần. Người được đổi mới suy nghĩ như Đức Chúa Trời nghĩ, với những giá trị vĩnh cửu, với quan điểm đời đời.

3. Một đời sống hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Vui vẻ đi theo kế hoạch của Ngài dành cho tôi.

4. Một đời sống đẹp lòng Chúa và đẹp lòng người.

5. Một đời sống tốt lành. Mọi người sẽ trỗi dậy và xưng bạn là người có phước vì bạn vâng lời Đức Chúa Trời.

6. Một đời sống hạnh phúc,vui vẻ, đắc thắng bởi vì tôi sống theo ý chỉ trọn vẹn của Đức Chúa Trời, là Đấng đã tạo nên tôi và cứu tôi bằng chính huyết báu của Ngài.

KẾT LUẬN:

Sự dâng mình là một tiến trình. Đó là sự đầu phục từng ngày, từng giờ trong cuộc sống. Sự đầu phục mới mẻ mỗi ngày nhờ sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh là hành động thờ phượng cao cả nhất. Hãy dâng mình bạn cho Chúa ngay bây giờ.

Chú ý: Đừng bao giờ lấy lại. Một món quà tặng không nên xin lại bao giờ.




GIỜ TĨNH NGUYỆN

GIỜ TĨNH NGUYỆN

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Tôi tin rằng giờ tĩnh nguyện là bí quyết của đời sống hằng ngày của người Cơ đốc.

Các cuộc quan sát cho thấy rằng các Cơ đốc nhân thất bại ở đây chẳng bao lâu trở nên nguội lạnh và sa ngã.

Người tín đồ Cơ đốc cứ duy trì liên tục giờ tĩnh nguyện riêng sẽ tăng trưởng (lớn lên) đều đặn hằng ngày với Chúa.

Sáng 19:27 “Áp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đứng chầu Đức Giê-hô-va.”

Áp-ra-ham là gương mẫu tuyệt vời về giờ tĩnh nguyện buổi sáng. Ta hãy lưu ý :

1. Ông dậy sớm buổi sáng. Đây là thói quen tốt nhất của người Cơ đốc.

2. Ông có một nơi đặc biệt để gặp Chúa. Chúng ta cũng nên có một nơi gặp gỡ riêng với Chúa.

3. Ông thực hiện giờ tĩnh nguyện hằng ngày.

4. Ông đứng trước mặt Chúa, chờ đợi Ngài phán dạy với ông.

2 Phi-e-rơ 3:18 “Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta.”

Thảo mộc sống cần không khí, ánh sáng mặt trời và thức ăn.

Thân xác chúng ta cần thức ăn, ánh mặt trời và sự vận động thân thể.

Đời sống thuộc linh của chúng ta cũng cần sự bồi dưỡng, không phải bất thường, nhưng là mỗi một ngày trong đời sống Cơ đốc.

Đa-vít nói trong Thi 5:3 “Đức Giê-hô-va ơi, buổi sáng Ngài sẽ nghe tiếng tôi. Buổi sáng tôi sẽ trình bày duyên cớ tôi trước mặt Ngài và trông đợi.”

Chúa Jêsus chẳng những cầu nguyện vào mỗi buổi sáng nhưng đôi khi Ngài đã cầu nguyện suốt đêm.

Lu-ca 6:12″….Chúa Jêsus đi lên núi cầu nguyện và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời.” Cũng xem Ma-thi-ơ 14:23.

Gương sáng của Chúa Jêsus và kinh nghiệm của các Cơ đốc nhân trưởng thành trong Chúa đã thành động cơ thúc giục chúng ta giữ kỹ giờ tĩnh nguyện với Chúa và với Lời Ngài.

Đây la sứ điệp mà tôi cần hơn hết trong đời sống Cơ đốc của cá nhân tôi (Douglas).

I. MỤC ĐÍCH GIỜ TĨNH NGUYỆN :

1. Tôi tin rằng mục đích căn bản của giờ tĩnh nguyện là giao thông với Đức Chúa Trời. Ngài mong muốn sự thông công nầy nhiều hơn là chúng ta mong muốn. Đức Cha muốn chúng ta thờ phượng Chúa hằng ngày. Tôi đã quan sát thấy những người yêu thương tìm đến bên nhau “Tôi đang yêu Đấng yêu thương linh hồn tôi.”

2. Mục đích thứ hai có lẽ là để có được sức mạnh hằng ngày. Đời sống người Cơ đốc là cuộc chiến tranh chống tội lỗi, thế gian và ma quỉ. Ê-phê-sô 6:12 “chúng ta đánh trận..” chống các kẻ thù thuộc linh.

3. Giờ tĩnh nguyện còn cho ta cơ hội để học Kinh thánh có hệ thống và cầu nguyện nữa.

II. SỬA SOẠN CHO GIỜ TĨNH NGUYỆN :

Hãy đi ngủ đúng giờ. Tránh thức khuya và uống cà phê đậm đặc gây khó ngủ. Bạn hãy duy trì một kỷ luật nghiêm khắc ở chỗ nầy và Đức Chúa Trời sẽ ban phước dư dật cho bạn.

Phải tỉnh thức hẳn trước khi bạn đọc Kinh thánh và cầu nguyện. Hãy rửa mặt bằng nước lạnh hoặc uống nước nóng.

Một người bạn nói: “Một tách trà giúp tôi có một giờ tĩnh nguyện sáng suốt.”

Nếu bạn đang quì gối mà còn buồn ngủ, hãy thay đổi vị thế của bạn Áp-ra-ham “đã

đứng.”

Bạn có thể vừa bước đi vừa cầu nguyện lớn tiếng nếu điều đó giúp bạn tập trung tâm trí.

Trong khi đọc Kinh thánh bạn phải dẹp hết những vật dụng dễ gây sự phân tâm (như thư từ, hình ảnh…)

Trong giờ bồi linh, đừng chỉ nói chuyện.

Thi 46:10 “Hãy yên lặng, và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời.”

Hãy ngưng nói chuyện và lắng nghe tiếng phán của Chúa. Gióp 2:13. Các bạn của ông Gióp ngồi xuống với ông suốt bảy ngày “không nói một lời.” Ngày nay, chúng ta đã đánh mất nghệ thuật tuyệt vời nầy.

Hãy tìm kiếm sự dẫn dắt, chỉ đạo và ban phước của Đức Thánh Linh trong giờ tĩnh nguyện của bạn.

Hãy sẵn sàng vâng theo điều bạn đọc được trong Kinh thánh. Giăng 2:5.

Hãy đến trước mặt Chúa với tấm lòng trong sạch.

Thi 51:17 “Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là tấm lòng đau thương. Lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dẽ đâu “

III. TÀI LIỆU CẦN CHO GIỜ TĨNH NGUYỆN :

1. Kinh thánh: Dành thì giờ đọc Kinh thánh đều đặn trong giờ tĩnh nguyện. Dành một chỗ đặc biệt yên tĩnh để đọc và suy gẫm Lời Chúa. Hãy trông đợi sự hiện diện của Ngài. Hãy để lòng bạn yên tĩnh. Hãy đọc Kinh thánh cách trung tín theo chương trình vạch sẵn.

2. Sổ tay và viết máy để ghi lại sự dạy dỗ từ Lời Chúa.

3. Một sổ tay ghi lời cầu nguyện và dành chỗ trống sẵn để ghi câu trả lời của Chúa.

IV. KIM CHỈ NAM HỌC KINH THÁNH TRONG GIỜ TĨNH NGUYỆN :

Trong việc học Kinh thánh, nên chọn một kế hoạch. Đọc từng đoạn đọc từng sách hoặc đọc theo các đề tài. Sau khi đọc Kinh thánh, hãy ghi lại các câu trả lời theo các câu hỏi sau đây:

1. Hôm nay tôi đọc được điều gì mới?

2. Có mạng lịnh nào tôi phải vâng theo?

3. Có gương tốt nào tôi phải noi theo?

4. Có gương xấu nào tôi phải tránh?

5. Có tội lỗi nào tôi phải từ bỏ?

6. Có lời hứa nào tôi phải ghi nhớ?

7. Có tư tưởng gì mới về chính Đức Chúa Trời?

VI. MỘT CHƯƠNG TRÌNH CHO GIỜ TĨNH NGUYỆN:

Nên tránh để cho giờ tĩnh nguyện trở thành máy móc, khô khan. Ở đâu có Thánh Linh của Đức chúa Trời ở đó có tự do. Dầu vậy, cũng tránh những thay đổi bất thường, hoặc sự khuôn sáo trống rỗng.

Nếu được, hãy có giờ tĩnh nguyện vào đúng thì giờ định sẵn mỗi ngày.

Nên nhắm đến chương trình định sẵn, có lẽ nên dành phân nửa thì giờ đọc Kinh thánh và phân nửa thì giờ cầu nguyện.

Đừng cứng ngắc. Nếu Thánh Linh hành động trong giờ cầu nguyện, hãy tiếp tục cầu nguyện. Nến lời Chúa soi sáng ánh sáng mới mẻ, hãy tiếp tục đọc Lời Chúa cho đầy đủ.

Thứ tự gợi ý cho giờ tĩnh nguyện: Lời cầu nguyện ngắn, giờ đọc Kinh thánh và giờ cầu nguyện.

Điều nầy sẽ giúp ta không lập đi lập lại điều cầu nguyện. Hãy học cách cầu nguyện theo sự dạy dỗ của khúc Kinh thánh mà ta vừa học. Hãy dùng Kinh thánh như là Lời căn bản cho ta trong sự ngợi khen và khẩn nguyện.

VI. CẦU NGUYỆN TRONG GIỜ TĨNH NGUYỆN :

Sự cầu nguyện có chất lượng đòi hỏi phải trả giá. Nó đòi hỏi thời gian và kỷ luật. Sự kiên trì cầu nguyện mỗi ngày thực sự là sự thử nghiệm tinh thần cầu nguyện của ta.

Hãy kiểm tra lại sổ cầu nguyện và lưu ý sự trả lời của Chúa cho các vấn đề ta đã cầu nguyện. Đừng quên tạ ơn Chúa về sự trả lời cầu nguyện.

Thi thiên 50:15 “Trong ngày gian truân hãy kêu cầu cùng Ta. Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ ngợi khen Ta.” Hãy làm điều nầy và ngợi khen Chúa.

Trong sự cầu nguyện, hãy cầu khẩn cách đơn sơ nhưng thành thật. Hãy nói chuyện với Đức chúa Trời là Cha như người con nói với cha mình. Hãy lưu ý bốn yếu tố căn bản bao gồm trong sự cầu nguyện:

1. Tôn thờ: Ngợi khen và thờ phượng của linh hồn ta dâng lên Đức chúa Trời. Thi thiên 95:6 “Hãy đến cúi xuống mà thờ lạy. Khá quì gối xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng tạo hóa chúng tôi.”

2. Xưng tội: ăn năn và từ bỏ các tội được biết. Thi 32: 5 “Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi. Tôi nói: Tôi sẽ xưng các sự vi phạm tôi cùng Đức Giê-hô-va, còn Chúa tha tội ác tôi.

3. Cảm tạ: Tạ ơn Chúa về mọi sự, vui hay buồn. Phi-líp 4:6 “Dùng lời cầu nguyện, nài xin và tạ ơn…”

4. Khẩn nguyện: Cầu thay, khẩn xin, thỉnh cầu và ước muốn. I Ti-mô-thê 2:1 “Phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn…”

VII. NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA GIỜ TĨNH NGUYỆN :

1. Sa-tan sẽ chú tâm chống nghịch bạn luôn luôn trong giờ tĩnh nguyện. Đây sẽ là cuộc tranh đấu hằng ngày. Nếu bạn bỏ sót một buổi sáng, không nhứt thiết đó là một sự thất bại. Hãy thừa nhận khuyết điểm của mình và được Chúa tha thứ ngay lúc Thánh Linh nhắc nhở bạn về sự thiếu liên tục kiên trì nầy.

2. Tập trung tinh thần trong giờ tĩnh nguyện là một vấn đề thực sự khó khăn. “Vì chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết” (Ê-phê-sô 6:12). Đó là cuộc chiến tranh tư tưởng. Muốn chiến thắng, ta phải suy gẫm về thập tự giá. về huyết báu và về quyền phép lớn lao của sự phục sinh. Các con nhỏ trình bày một vấn đề thì cha mẹ lập tức thi hành một kế hoạch giúp đỡ. Chúa chúng ta là Cha hay thương xót sẽ giúp ta thành công trong giờ tĩnh nguyện với Ngài.




SỰ SA NGÃ

SỰ SA NGÃ

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Trong Hội thánh ta thấy hiện tượng ngày nay có người tín đồ nói năng mạnh mẽ, nhưng một ngày nào đó chính người ấy lại yếu đuối, sa ngã.

Đôi khi chúng ta nói: Ai bỏ Chúa chứ tôi thì không. Nhưng bạn hãy nhớ lời cảnh cáo nghiêm trọng;

1 Cô-rinh-tô 10:12 “Ai tưởng mình đứng, coi chừng kẻo ngã.”

Châm 16:18 “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.”

Nhờ ân điển và sức mạnh của Chúa, chúng ta được giữ gìn,Ngài là Đấng có khả năng, gìn giữ chúng ta khỏi sa ngã. Tuy nhiên, nếu chúng ta cố tình khước từ ân điển và sự trợ giúp của Ngài, chúng ta sẽ sa ngã.

II Ti-mô-thê 1:12″… ta chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó.” Ngài chắc sẽ giữ gìn chúng ta.

I. ĐỊNH NGHĨA SỰ SA NGÃ :

– Sa ngã là quay hướng, là trở lòng khỏi Đức Chúa Trời. 1 Vua 11:9 “Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Sa-lô-môn, bởi vì lòng người trở bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời.”

– Sa ngã là trở nên nguội lạnh và từ bỏ tình yêu ban đầu. Khải 2:4 “Dầu vậy, điều Ta trách ngươi là ngươi đã bỏ mất tình yêu ban đầu.”

– Sa ngã là dời khỏi tính chất đơn sơ của Tin lành và hướng về sự cứu rỗi luật pháp. Ga-la-ti 5:4 “Ai muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi.”

Một số người định nghĩa sự sa ngã như là một tội lỗi phân rẽ người tín đồ khỏi Chúa. Ê-sai 59:2 “Nhưng ấy là sự gian ác các người làm xa cách mình với Đức Chúa Trời.”

Nói chung, sa ngã là trở nên nguội lạnh và không còn thích thú nơi Chúa, không thích đọc Kinh thánh, cầu nguyện, đi nhà thờ, không thích làm chứng đạo và hướng lòng về với thế gian.

II. SA NGÃ LÀ MỘT DIỄN TRÌNH TỪ NGỮ :

Tôi không tin rằng có người thình lình sa ngã. Có thể chúng ta sẽ kinh ngạc vì sự thể hiện ra bên ngoài về một tội lỗi khủng khiếp nào đó. Nhưng sự thật là có nhiều việc nhỏ mọn đã thâm nhập và làm ngập lụt đời ta.

Câu chuyện ông Lót sa ngã là thí dụ điển hình về bảy bước đi xuống của đời ông:

1. Tham muốn: Sáng 13:10 “Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô đanh.” Thường thường, đôi mắt chúng ta là cơ quan đầu tiên xa rời Chúa. Đôi mắt ta nhìn thấy một cái gì đó hấp dẫn hơn. Nhiều người đã sai lầm khi chăm chú vào những mục tiêu sai lầm của cuộc sống.

2. Chọn nơi thấp: Lót đã chọn đồng bằng thay vì núi non. Sáng 13:11. Cũng xem Sáng 19:17 “Hãy chạy trốn lên núi, kẻo phải bỏ mình chăng?” Các bạn thân mến, hãy nâng cao tầm nhìn của bạn, hãy nhắm lên cao, Hãy nhìn xem Chúa Jêsus. Hê-bơ-rơ 12:1.

3. Thỏa hiệp : Lót đóng trại mình ở Sô-đôm. Sáng 13:12,13 “Vả, dân Sô-đôm là độc ác và là kẻ phạm tội trọng cùng Đức Giê-hô-va.” Lót đã thỏa hiệp và sống gần nơi tội lỗi. Trong khi đó, Áp-ra-ham thịnh vượng với Đức Chúa Trời ở nơi cao. Kinh thánh dạy “Hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ.”(Tim 2:22). Đừng sống gần Sô-đôm (tội lỗi).

4. Bị giặc bắt giữ: Sáng 14:11,12. Nếu một người sống gần tội lỗi thế nào cũng có ngày bị tội lỗi bắt giữ. Người say rượu đã tin Chúa hãy tránh xa hũ rượu. Người ăn trộm đã tin Chúa hãy lánh xa chỗ cám dỗ. Chơi với lửa thế gian thế nào cũng bị đốt cháy. Nếu bạn cho tội lỗi một ngón tay nó sẽ nuốt luôn cả bàn tay, cả cánh tay, rồi cả thân thể và đến cả linh hồn của bạn.

5. Trần tục: Lót ngồi ở cửa thành Sô-đôm. Sáng 19:1 cho biết Lót là thành viên của Hội đồng thành phố Sô-đôm. Lót đã có thế lực trần gian nhưng đã mất hết thế lực thuộc linh. Sáng 19:16 “Nhưng Lót lần lữa.”Lót yêu thích Sô-đôm. Lót yêu thích điều Đức Chúa Trời ghét bỏ và đang chuẩn bị tiêu diệt. Bạn có yêu tội lỗi không? Đức Chúa Trời không yêu thích tội lỗi đâu.

6. Dung dưỡng tội ác: Sáng 19:8 “Lót sẵn sàng đưa đẩy các con gái vào chỗ phạm tội. Khi một người đi xuống, hắn kéo người khác xuống theo. Rô-ma 14:7 rất là thực tế. Lót đã thành người gây trò đùa cho các con rõ. Sáng 19:14.

7. Say sưa: Sáng 19:33-38. ở đây ta thấy Lót uống rượu say sưa và đã phạm tội vô luân. Lót yêu thích tội lỗi. Lót lần lữa trong tội lỗi. Rượu chè luôn luôn dẫn đến sự vô luân. Chúng ta không nên kết án ông Lót. 2 Phi-e-rơ 2:6-8. Vẫn còn là sự thật. Chúng ta hãy quan sát và cẩn trọng.

III. NHỮNG NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI CỦA SỰ SA NGÃ :

1. Tham muốn: Sáng 13:10. Lót tham muốn điều ngược lại với ý Chúa dành cho ông.

2. Tiếc của đời: Sáng 19:26. Vợ ông Lót quay lại tiếc nhìn những của cải bà ham thích và trở thành tượng muối.

3. Sợ hãi: Ma-thi-ơ 26:70-74. Phi-e-rơ chối Chúa và sợ con người.

4. Tinh thần kiêu ngạo: Châm 16:18 “Tự cao đi trước sự sa ngã.”

5. Ích kỷ: Châm 14:14 “Lòng kẽ nào lìa xa Đức Chúa Trời sẽ được no nê sự kết quả của mình.”

6. Thờ hình tượng: Xuất 32: 8 “Dân Y-sơ-ra-ên thường xa cách Chúa và đi theo các thần giả.”

7. Không vâng lời: Vua Sau-lơ trong I Sa-mu-ên 15:11. “Ngươi đã xây bỏ ta, không làm theo lời ta.”

8. Yêu thích vàng bạc, áo quần: A-can ăn cắp đồ cấm. Xem Giô-suê 7:1-24.

9. Thích tiền: Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Xem Giăng 13:29.

10. Đàn bà ngoại: Sa-lô-môn trong Nê-hê-mi 13:26.

11. Tham vọng quyền hành: Si-môn thuật sĩ. Công vụ 8:19. Ông cố mua quyền năng thuộc linh bằng tiền.

12. Lòng yêu mến thế gian: Đê-ma trong II Ti-mô-thê 4:10.

IV. NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY RA SA NGÃ :

1. Không giữ giờ tĩnh nguyện: Nhiều người ăn năn trở lại cùng Chúa, và đôi khi qua dòng nước mắt đã thổ lội “Tôi đã mất Chúa vì mất giờ Tĩnh nguyện.”

2. Không cầu nguyện: Chúng ta cần cầu nguyện luôn để xin Chúa ban sức mạnh. Không cầu nguyện cũng là hình thức tự cao tự mãn và Châm 16:18 đã thành hiện thực.

3. Không đọc Kinh thánh: II Ti-mô-thê 2:15 “Hãy chuyên tâm… giảng dạy Lời của Lẽ thật.” Không tìm kiếm ý Chúa trong Kinh thánh là dễ dàng đi vào ý riêng.

4. Không đi nhà thờ: Hê-bơ-rơ 10:5 “Chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm.”

5. Không vâng lời Đức Thánh Linh: Ê-phê-sô 4:30 “Chớ làm buồn Thánh Linh của Đức Chúa Trời.”

6. Không xưng Danh Chúa ra: Ma-thi-ơ 10:33 “Ai chối ta trước mặt thiên hạ, ta cũng chối người đó trước mặt Cha ta ở trên trời.” Xem Rô-ma 10:9.

7. Không bước đi trong ánh sáng: I Giăng 1:7 “Bước đi trong sự sáng như Ngài trong sự sáng.” Chúng ta phải vâng theo luồng ánh sáng Ngài ban cho ta và đi theo lập tức.

V. HẬU QUẢ CỦA SỰ SA NGÃ:

Chắc chắn là mất quyền năng, mất bình an, mất niền vui và hạnh phúc.

Bóng tối bắt đầu vần vũ trên đường đi. Sa ngã sẽ dẫn đến mất phần thưởng và bản thân người sa ngã sẽ “bị hư mất ” (1 Cô-rinh-tô 3:15).

Một số người dạy rằng sự sa ngã có thể dẫn đến sự hư mất linh hồn.

VI. ĐỨC CHÚA TRỜI MỜI GỌI TRỞ LẠI :

Giê-rê-mi 3:22 “Hỡi con cái bội nghịch, hãy trở lại: Ta sẽ chữa sự bội nghịch cho. Nầy chúng tôi trở về cùng Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời chúng tôi.

VII. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA THA THỨ CHO NGƯỜI SA NGÃ BIẾT ĂN NĂN:

Ô-sê 14:4 “Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của chúng nó. Ta sẽ lấy lòng tốt yêu chúng nó, vì cơn giận của ta đã xây khỏi nó rồi.”

KẾT LUẬN:

Xin cho tôi khuyên bạn trong Danh Chúa và trong quyền năng của Ngài. Bạn đừng bao giờ để mình rơi vào sự sa ngã, yếu đuối.

Khải 21:10 “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống.” Người Cơ đốc thật rất ghét sự sa ngã.

Thi 101:3 “Tôi sẽ chẳng để điều gì đê mạt trước mặt tôi. Tôi ghét công việc kẻ bất trung.”

Đối tượng chiêm ngưỡng thường trực của chúng ta là “Nhìn xem Chúa Jêsus (Hê-bơ-rơ 12:2).

Mục đích của Phao-lô là Đấng Christ. Phi-líp 3:14. “Tôi nhắm mục đích mà chạy hầu cho được giật giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.”




ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN.

ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG CỦA CƠ ĐỐC NHÂN.

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Sau khi tin Chúa, tiếng kêu gào của lòng tôi là sự thánh khiết là trở nên giống như Đấng Christ, là đắc thắng tội lỗi và sống vượt lên trên sự lôi cuốn của thế gian.

Đức Chúa Trời đã đưa tôi đến trường Kinh thánh để dạy tôi bài học.

Đôi khi có người sau nhiều năm thất bại, đã tham dự một kỳ bồi linh nghe các giáo sĩ, mục sư làm chứng và thình lình được Chúa ban phước. Một số Cơ đốc nhân cố gắng và cố gắng rồi khi không thành công họ lại càng sa sút xuống trình độ thấp kém hơn mức bình thường.

Những tín đồ Cơ đốc khác lại chưa bao giờ nghe nói đến đời sống đắc thắng của Cơ đốc nhân và cứ tiếp tục phạm tội và rồi xưng tội? Phạm tội rồi xưng tội.  Đây có phải là tất cả những gì Đấng Christ cung hiến cho chúng ta chăng?

I. ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG LÀ CÓ THỰC :

Kinh thánh dạy về sự đắc thắng vinh hiển của mọi người tín đồ Cơ đốc.

I Giăng 5:4 “Vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời thì thắng hơn thế gian và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta ”

Sứ đồ Giăng không hề nói về sự đắc thắng ở trên trời nhưng là sự đắc thắng hằng ngày của chúng ta trên mặt đất nầy. Nếu Kinh thánh nầy không thành hiện thực trong đời sống người tín đồ, thì chắc có cái gì sai sót ở đây. Sa-tan sẽ dùng hết sức của nó và bằng mọi cách che đậy sự hiểu biết của Cơ đốc nhân về vấn đề nầy.

Ma quỉ không cần lưu ý đến người tín đồ chỉ có tiếng theo đạo mà thiếu quyền năng, nhưng chắc chắn ma quỉ lo ngại hết sức về quyền năng của một đời sống Cơ đốc nhân đắc thắng.

Tôi muốn xác chứng rằng đời sống đắc thắng nầy là có thực không chỉ dành cho một ít người tín đồ nên thánh nhưng là dành cho mỗi một người con được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời.

II. NHỮNG LỜI HỨA CỦA ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG :

– Giăng 7:37,38 “Đức Chúa Jêsus đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta và uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.” Đây là lời hứa của chính Chúa Jêsus dành cho bạn, một tín đồ của Ngài.

– Giăng 10:10 “Còn ta đã đến, hầu cho chiên được sống,và được sự sống dư dật.” Chúa Jêsus không muốn chúng ta có chút ít sự sống và chỉ chút ít đắc thắng, nhưng Ngài muốn ta sống dư dật và đắc thắng có thừa.

– Rô-ma 6:14 “Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu.” Đây là lời khẳng định mạnh mẽ.

– 2 Cô-rinh-tô 2:14 “Song ta ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn.” Sự đắc thắng nầy luôn luôn là của chúng ta trong Đấng Christ.

– 1 Cô-rinh-tô 10:13 “Ngài cũng mở đàng cho anh em ra khỏi.” Đây là lời hứa đắc thắng sự cám dỗ dành cho mọi người tín đồ.

– Rô-ma 8:37 “Trái lại trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần.” Đây không phải là đắc thắng thường nhưng là chiến thắng oanh liệt,vượt trổi hơn mọi kẻ thù nghịch của ta. – Ga-la-ti 5:16. Đời sống người Cơ đốc không hề làm trọn những điềuham muốn của xác thịt.

III. NGUYÊN TẮC CỦA ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG: “BỞI ĐỨC TIN.”

Nguyên tắc đắc thắng của đời sống người Cơ đốc là một món quà được Đức Chúa Trời ban cho bởi đức tin. Sự cứu rỗi của chúng ta là một món quà Chúa ban. Chúng ta không xứng đáng nhận lãnh hoặc làm cách gì để sở hữu được. Chúng ta chỉ có được nhờ đức tin. Sự đắc thắng cũng là một món quà. Chúng ta không thể sở hữu được nhờ sức riêng. Điều nầy không thể nào đạt được. Rô-ma 1:17 “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.” Cũng xem Ga-la-ti 3:11, và Hê-bơ-rơ 10:38.

Người tín đồ được cứu và bắt đầu một đời sống mới trong Thánh Linh. Hầu hết các Cơ đốc nhân đều giống người Ga-la-ti ngu muội đã cố gắng trong xác thịt bằng việc làm. Sự đắc thắng là công việc của Chúa Cứu thế trong chúng ta chứ không phải là cố gắng của ta chút nào. “Sức mạnh của chúng ta được nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cô-rinh-tô 1:9). Khi chúng ta thừa nhận sự yếu đuối của mình, rằng mình không có khả năng chiến thắng và đầu phục quyền phép của Đấng Christ, Ngài sẽ đạt sự đắc thắng cho ta.

Người say rượu tin Chúa và lập tức đạt sự đắc thắng trên thói say rượu. Đó là đời sống đắc thắng. Mọi người tín đồ đều cần sự đắc thắng, thắng chính mình và thắng tội lỗi.

” Đức tin không làm gì cả, đức tin để Đức Chúa Trời làm cả mọi việc.” (Tấn sĩ C. G. Trumbull).

Bí quyết đắc thắng nằm ở chỗ Đấng Christ ngự trong ta. Đắc thắng là ở chỗ tin cậy Chúa chứ không phải là cố gắng bằng sức riêng.

IV. BÍ QUYẾT CỦA ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG: “Sự đồng nhất hóa với Đấng Christ.”

Tôi tin rằng bí quyết của đời sống đắc thắng là sự đồng nhứt hóa của chúng ta với Đấng Christ. Rô-ma 6:4-22 được mọi người thừa nhận là chương đắc thắng của Kinh thánh.

Trong thập tự giá của Đấng Christ có hai chân lý mà Chúa đã dạy. Đó là sự thay thế (đền tội) và sự đồng nhứt hóa.

Đối với tội nhân chúng ta dạy sự thay thế (đền tội) “hãy nhìn xem và sống.”

Đối với thánh đồ chúng ta dạy sự đồng nhứt hóa tức là sự làm một với Đấng Christ.

“Hãy nhìn xem và chết.”

1. Đồng nhứt hóa với Đấng Christ trong sự chết của Ngài: Tôi đã cùng chết với Đấng Christ.”

– Rô-ma 6:5 “Chúng ta làm một cùng Ngài (Christ và tôi) bởi sự chết giống như sự chết của Ngài.”

– Rô-ma 6:6″… Người cũ của chúng ta (bản tính tội lỗi A-đam) đã bị đóng đinh trên thập giá với Ngài…..”

– Ga-la-ti 2:20 “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ.” Sự đồng hóa tuyệt đối. Sự chết giải phóng một người một lần và vĩnh viễn khỏi quyền lực và sự thống trị của tội lỗi.

– Rô-ma 6:7 “Vì ai đã chết thì thoát khỏi tội lỗi.”

2. Đồng nhứt hóa với Đấng Christ trong sự chôn cất của Ngài. Tôi đã đồng chôn với Đấng Christ.

– Rô-ma 6:4 “Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài.” Những việc chết, sự chết phải được đem chôn.

3. Đồng nhứt hóa với Đấng Christ trong sự sống lại của Ngài. Tôi đã sống lại với Đấng Christ.

– Rô-ma 6:5 “Chúng ta (Đấng Christ và người tín đồ) cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau.”

4. Đồng nhứt hóa với Đấng Christ trong đời sống đắc thắng hiện tại của Ngài.

– Rô-ma 6:4″… chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. (cũng phải bước đi trong tính chất mới mẻ của đời sống).

– Rô-ma 6:6″… Chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa.”

– Rô-ma 6:8″… Chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài.”

– Rô-ma 6:10 “Hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời.”

Bí quyết đắc thắng ở đây là Đấng Christ đang sống trong lòng và trong đời sống của mỗi người tín đồ nhằm mục tiêu Ngài sẽ làm Chúa? làm chủ của đời sống người đó.

– Cô-lô-se 1:27 “Đấng Christ ở trong anh em, là sự trông cậy  hy vọng về sự vinh hiển.”

Tôi là người chết và Đấng Christ đang sống, đang cai trị trong thân thể dâng hiến của tôi, và Ngài đang đạt sự đắc thắng liên tục cho tôi.”

V. ĐIỀU KIỆN TẤT YẾU CỦA ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG :

– Đầu phục Chúa, chịu phó mình cho Chúa, chịu nhườg cho Chúa.

Nếu tôi thực chết đối với tội lỗi cùng với Đấng Christ, thì một điềuduy nhất tôi phải làm là phó mình tôi cho Đức Chúa Trời.

Rô-ma 6:13 “Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống.”

Hãy nắm lấy địa vị mới của bạn bởi đức tin, tức là “Sự sống lại từ kẻ chết.” Bây giờ bạn đang sống trên lãnh vực sống lại và về phía đắc thắng của thập tự giá.

Tội lỗi và thế gian không nắm giữ được bạn.

Bạn đừng chống cư tội lỗi. Bạn không thể cự được. Bạn đã chết rồi cơ mà. Thay vào đó, bạn hãy phó mình cho một quyền lực mạnh mẽ hơn, đó là quyền năng đắc thắng của Đấng Christ phục sanh.

VI. SỰ LỰA CHỌN CỦA ĐỜI SỐNG ĐẮC THẮNG: “Thắng hay bại”

Là một Cơ đốc nhân, tôi vẫn còn có ý chí tự do của riêng tôi. Nếu tôi chọn sự đắc thắng, chắc chắn tôi được Chúa ban cho món quà đắc thắng. Nếu tôi khước từ món quà đắc thắng nầy, tôi sẽ cứ tiếp tục sống một sống Cơ đốc nhân thất bại.

– Rô-ma 6:16 “Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục hoặc của tội lỗi đến sự chết hoặc của sự vâng phục để được nên công bình sao?

Sự lựa chọn là thuộc về tôi. Công bình hay tội lỗi?

Rô-ma 6:18 “Vậy anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi…” Tôi đã được tự do khỏi ách nô lệ của tội lỗi.

Lời cảnh cáo trong câu 19: Nếu tôi chọn việc làm tôi mọi cho sự gian ác ô uế thì nó sẽ dẫn tôi đến việc phạm hết tội ác này đến tội ác khác…

Lời khuyến khích trong câu 22. “Nhưng bây giờ anh em đã được buông tha (giải thoát) khỏi tội lỗi để “làm nô lệ ” cho Chúa Jêsus.

Vậy sự lựa chọn ở đây là tôi sẽ đầu phục cả đời sống và thân thể tôi cho ai đây? Tôi nộp chi thể mình cho tội lỗi để tiếp tục thất bại hoặc là tôi phó mình cho Đấng Christ

để được liên tục đắc thắng với kết quả là sự nên thánh và cuối cùng là hưởng sự sống đời đời.

KẾT LUẬN:

Chúng ta sẽ làm gì nếu chúng ta thử nghiệm sống đời đắc thắng và đã thất bại? Hãy nhớ lại giải pháp “Xưng tội ” trong I Giăng 1:9 vẫn còn là sự thực. Đấng Christ không thất bại đâu. Sự vấp ngã của bạn không làm cho Đấng Christ yếu hơn. Ngài sẽ tha thứ cho bạn và Ngài sẽ dùng sự vấp ngã nầy để tăng cường sức mạnh cho bạn trong khi bạn đương đầu với một sự thất bại tương tự như thế.

Đừng nương dựa vào những chiến thắng trong quá khứ khi bạn muốn chiến thắng trong tương lai. Phải luôn luôn nương dựa nơi Đấng Christ và chỉ dựa một mình Ngài mà thôi.

Hãy nhớ thuộc lòng những lời hứa của Chúa trong Kinh thánh. Hãy đem những lời hứa đó trưng dẫn ra cho ma quỉ. Phải liên tục nương dựa và yên nghỉ trong Chúa.

Sự đắc thắng chỉ có thể là của chúng ta khi chúng ta vâng theo mọi mạng lịnh của Đức Thánh Linh phán với chúng ta cách cá nhân.

Thời điểm bạn có thể sống đời sống đắc thắng là BÂY GIỜ, là HIỆN TẠI. Hãy bắt đầu ngay hôm nay. Chúng ta không chỉ biết chân lý bằng đầu óc nhưng cũng hãy kinh nghiệm chân lý nầy ngay trong đời sống mỗi chúng ta. Nguyện vọng của tôi là “Tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng là Đấng Christ sống trong tôi… ” (Ga-la-ti 2:20).

 




SỰ NGỢI KHEN

SỰ NGỢI KHEN

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Điều tối quan trọng trong cuộc sống là gì? Làm ăn sinh sống? Được cứu và lên thiên đàng? Hầu việc Chúa? Tôi tin rằng câu trả lời là ngợi khen Chúa.

Nói tóm một lời, cứu cánh của đời người là gì?

Xin thưa đó là sự ngợi khen Chúa và vui hưởng trong Ngài mãi mãi.

Ê-sai 43:7 “Những kẻ xưng bằng tên ta, ta đã dựng nên họ vì vinh quang ta.” Chúng ta được tạo dựng để ngợi khen và làm vinh hiển Danh Chúa mỏi ngày.

Cuộc đời chúng ta phải là một bài ca ngợi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.

1 Cô-rinh-tô 10:31 “Anh em hoặc ăn hoặc uống, hoặc làm sự chi khác hãy vì vinh hiển của Đức Chúa Trời mà làm.” Ngợi khen Chúa là mục đích Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta. Phần chúng ta phải tĩnh nguyện,ngợi khen Ngài mỗi ngày.

I. Ý NGHĨA CỦA SỰ NGỢI KHEN :

Ngợi khen là tôn vinh, làm vinh hiển.

Động từ Yadah trong nguyên văn Hy bá lai có nghĩa là “Dang tay ra” và được dịch là ngợi khen. Có nghĩa là chấp tay trong sự kỉnh kiền tôn kính và dang tay ra, đứng lên ca ngợi Chúa, buông thả hết mọi sự vì Chúa.

Vấn đề của chúng ta là hãy buông thả hết mọi sự, mọi âu lo phiền muộn và dâng mình cho sự ca ngợi Chúa.

Chúng ta chỉ ca ngợi cái gì chúng ta tôn trọng và đánh giá cao. Nếu chúng ta tôn trọng Chúa hơn tất cả và chiêm ngưỡng Ngài, chúng ta sẽ dễ dàng ca ngợi Ngài.

II. NGỢI KHEN LÀ ĐIỀU BẮT BUỘC :

1. Đối với các thiên sứ: Thi thiên 103:20, 148:2.

2. Đối với các thánh: Thi 30:4, 149:5.

3. Đối với các dân tộc: Thi 117:1.

4. Đối với các trẻ em: Ma-thi-ơ 21:16, Thi 8:2.

5. Đối với người cao kẻ thấp: Thi 148:12.

6. Đối với mọi loài thọ tạo: Thi 150:6, Thi 148: 1-10

“Mọi vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va “

“Đức Chúa Trời được tôn vinh từ các từng trời, các thiên sứ, mặt trời, mặt trăng,

ngôi sao, quả đất, lửa, tuyết, sấm, gió, đồi núi, trái cây, thú rừng, thú nhà, các côn trùng và chim chóc.

III. LÝ DO TẠI SAO TA NGỢI KHEN CHÚA :

1. Vì sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời. Ê-sai 24:14.

2. Vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Thi 138:5.

3. Vì sự tối cao của Đức Chúa Trời. Thi 148:13.

4. Vì sự vĩ đại của Đức Chúa Trời. Thi 145:3.

5. Vì sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Xuất 15:11.

6. Vì sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Đa-ni-ên 2:20.

7. Vì quyền năng của Đức Chúa Trời. Thi 21:13.

8. Vì sự nhơn từ của Đức Chúa Trời. Thi 107:8, 15, 21, 31.

9. Vì sự thương xót của Đức Chúa Trời. 2 Sử ký 20:21.

10. Vì sự nhơn từ và chơn thật của Đức Chúa Trời. Thi 138:2.

11. Vì sự thành tín và chơn thật của Đức Chúa Trời. Ê-sai 25:1.

12. Vì Ngài ban ơn cứu rỗi. Lu-ca 1:68, 69.

13. Vì những công việc lạ lùng của Đức Chúa Trời. Thi 150:2, Thi 107:8, 15, 21, 31.

IV. TA NGỢI KHEN CHÚA NHƯ THẾ NÀO?

1. Với sự thông hiểu. Thi 47:7.

2. Với cả linh hồn. Thi 103:1.

3. Với cả tấm lòng. Thi 9:1.

4. Với môi lưỡi. Thi 63:3, Thi 119:171.

5. Với miệng. Thi 51:15.

6. Với sự vui vẻ. Thi 63:5.

7. Với sự vui mừng, phấn khởi. 2 Sử ký 29:30.

8. Với sự cảm tạ. Thi 147:7.

9. Với sự liên tục. Thi 71:6.

10. Cho đến cuối cuộc đời. Thi 104:33.

11. Càng ngày càng hơn nữa. Thi 71:14.

12. Hằng ngày ngợi khen Chúa. 2 Sử ký 30:21.

V. TA NGỢI KHEN CHÚA VỀ VIỆC GÌ?

Chúng ta phải ngợi khen Chúa về mọi việc, mọi sự. Phi-líp 4:6.

Chúng ta phải ngợi khen Chúa cả khi đau ốm, hoạn nạn, cả khi mạnh khỏe, thịnh vượng.

Người tín đồ thật của Đấng Christ là người có thể tin cậy và ngợi khen Chúa, ngay cả khi trải qua những giọt lệ tối tăm vì biết rằng mọi sự đều hiệp lại làm ích cho mình. Rô-ma 8:28.

KẾT LUẬN:

Có lẽ chúng ta phải nhận rằng chúng ta chưa ngợi khen Chúa đủ. Cầu xin Chúa dạy chúng ta ngợi khen Chúa nhiều hơn trong tương lai và bắt đầu từ ngày hôm nay.

Thi 51:15 “Lạy Chúa, xin Ngài mở môi tôi” Xin khiến tôi ngợi khen Chúa càng ngày càng hơn.

Ngợi khen Chúa là đặc ân của mọi người con Chúa.

Hát Thánh ca là cách tốt nhất ngợi khen Chúa.

Nếu ai ngợi khen công tác thành công của chúng ta, lập tức chúng ta hãy qui sự vinh hiển và ngợi khen về cho Chúa.

Ngợi khen là thái độ của tấm lòng. 1 Cô-rinh-tô 10:31.

Chúng ta phải hết lòng ngợi khen Chúa. Khải 5:9.