Tại Sao Đấng Christ Chữa Bệnh?


Tại Sao Đấng Christ Chữa Bệnh?

Related image

a. Làm Trọn Chức Vụ Tiên Tri Của Ngài.
Sau khi chữa lành bà gia Phierơ, đoàn dân vây quanh Ngài. Mathiơ nói với chúng ta rằng: “Ngài chữa hết thảy các người bệnh, vậy cho được ứng nghiệm lời của Đấng tiên tri Ê sai đã nói rằng: Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta và gáng bệnh hoạn của chúng ta ” (Mat 8:16, 17; Es 53:4-6)


b. Bày Tỏ Lòng Thương Xót.
Nhiều câu Kinh Thánh nói về lòng thương xót của Đấng Christ thúc đẩy Ngài đáp ứng nhu cầu của dân chúng. Chúa Jesus: ”…động lòng thương xót mà chữa cho kẻ bệnh được lành ” (Mat 14:14; 20:34; Mac 1:40, 41; 5:19; 9:22)

 
c. Chuyển Tải Lòng Nhân Từ Của Đức Chúa Trời.
Nói về Êpbaphôđích, Phaolô bảo rằng “Và người mắc bệnh gần chết, nhưng Đức Chúa Trời đã thương xót người, và chẳng những người mà thôi, cả đến tôi nữa ” (Phi 2:27) Phaolô tin rằng Đức Chúa Trời đã chữa bệnh cho Êpbaphôđích.

d. Minh Chứng Rằng Đức Chúa Trời Thực Sự Đã Sai Ngài.
Các phép lạ và chữa bệnh cặp theo chức vụ của Chúa Jesus là những dấu hiệu và sự ủy nhiệm để chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã sai Ngài. Phierơ gọi Ngài” là người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ mà Đức Chúa Trời hành động nhờ Ngài ở giữa vòng các ngươi ” (Cong 2:22)

e. Hủy Phá Công Việc Của Ma Quỷ.
“Vì mục đích của Đức Chúa Jêsus là hiện ra để hủy phá công việc của ma quỷ ” (IGi 3:8)
“Thế nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Chúa Jesus ở Naxarét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa bệnh hết thảy những người bị ma quỷ ức hiếp, vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài ” (Cong 10:38)
“Ngài bởi sự chết mình mà hủy phá kẻ cầm quyền sự chết là ma quỷ ” (He 2:14). Bệnh hoạn là công việc của ma quỷ mà Chúa Jesus hiện ra để hủy phá nó.

f. Bày Tỏ Công Việc Của Đức Chúa Trời.
Một ngày kia Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài trông thấy một người mù bẩm sinh. Các môn đồ tò mò muốn biết vì đâu có sự mù lòa. Có phải đó là kết quả tội lỗi của người đó? hay của cha mẹ người? Nhưng Chúa Jesus lại quan tâm đến vấn đề khác. Ngài phán ”… ấy là để cho công việc của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. Trong khi còn ban ngày ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta. ..” (Gi 9:3, 4).
Đoạn Ngài tiến hành chữa cho người đàn ông được lành bệnh; chỉ rõ một trong những lý do mà Ngài chữa lành bệnh là để bày tỏ công việc của Đức Chúa Trời.

g. Bày Tỏ Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời.
Các việc quyền năng của Đức Chúa Trời được Chúa Giêxu thực hiện để Cha Ngài được vinh hiển. Đứng trước ngôi mộ của Laxarơ, Chúa Jesus nói với Mathê:
“Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì ngươi sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ” (11:40).
Trong Lu 13:10-17 chúng ta đọc câu chuyện người phụ nữ bị quỷ tật nguyền hãm áp trong mười tám năm, và cách Chúa Jesus đã đuổi linh đó ra khỏi người
đàn bà như thế nào. Câu 13 bảo chúng ta “Và Ngài đặt tay lên mình người tức thì người đứng lên được và ngợi khen Đức Chúa Trời ”. Lưu ý rằng ngay sau khi được chữa lành, người dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời.

http://www.hoithanhphuchungdacthang.com/chua-lanh-va-giai-cuu/tai-sao-dang-christ-chua-benh.html




Điều Gì Xảy Ra Sau Khi Chết?

Điều Gì Xảy Ra Sau Khi 

Chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi. ISa1Sm 20:3 

NGƯỜI ta thường nghe nói rằng cả cuộc đời chỉ là để chuẩn bị cho cái chết.

Tác giả Thi-thiên nói: “Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết” (Thi Tv 89:48).

 

Có thể coi ngày nay là một thời đại tự do tư tưởng của thực nghiệm cấp tiến. Chúng ta đã cố tìm cách thay đổi thế giới và những định luật chi phối nó bằng kiến thức, khoa học, phát minh, khám phá, triết học và tư tưởng duy vật. Chúng ta đã cố đặt lên ngôi những vị thần giả hiệu, tiền tài, danh vọng, và sự khôn ngoan Chết?của con người; nhưng dù chúng ta có cố gắng đến đâu chăng nữa, cuối cùng vẫn là: “Theo thông lệ mỗi người chỉ chết một lần rồi bị Chúa xét xử” (HeDt 9:27).

 

Giữa cuộc sống, chúng ta thấy sự chết khắp mọi nơi. Tiếng rú của xe cứu thương, đèn hiệu ở những nhà xác, nghĩa địa chúng ta thường đi qua, chiếc xe tang lách mình giữa những dòng xe, tất cả nhắc nhở chúng ta rằng tử thần có thể gọi chúng ta bất cứ lúc nào. Không ai trong chúng ta biết chắc lúc nào việc đó xảy ra nhưng chúng ta biết rõ là nó có thể đến bất cứ lúc nào.

Có người đã nói: “Điều chắc chắn duy nhất về đời sống, là sự chết”. Oscar Wilde nói: “Từ nay trở đi, con người có thể thắng mọi sự để tồn tại – ngoại trừ sự chết”. Các sách đề cập sự chết và trạng thái hấp hối đã được tung ra rất nhiều mấy lúc gần đây – cũng như có nhiều sách của những người tự xưng là đã trải qua sự chết rồi sống lại kể về nó. Thay vì tìm phương cách phục hòa với Thượng Đế, người đời lại mở nhiều lớp học để dạy về tình trạng hấp hối và phương pháp đối diện với cái chết – chấp nhận đó là một thành phần bình thường của đời sống. Thật vậy, cả nhân loại đang xếp hàng ngồi chờ chết, đang thọ án tử hình. Chúng ta sẽ chết cách nào hay bao giờ sẽ chết, thì không phải là vấn đề chính yếu, mà vấn đề là sau khi chết, chúng ta sẽ đi đâu?

Mỗi năm có hằng trăm ngàn người bước lên xe và không ngờ rằng đó là chuyến đi cuối cùng của họ. Dù đã áp dụng và tăng cường tất cả các biện pháp an ninh, hằng trăm ngàn người khác vẫn chết vì tai nạn tại nhà, khi đầu óc họ không hề có một ý nghĩ gì về sự chết. Vì sự chết không ngừng rình rập con người, và mặc dù y khoa và những kỹ sư khai chiến liên miên với nó, rốt cục, sự chết vẫn luôn luôn chiến thắng.

Nhờ cuộc chiến trường kỳ của khoa học, giờ đây chúng ta kéo dài cuộc sống thêm vài năm nữa, nhưng sự chết vẫn sừng sững ở cuối đường, và tuổi thọ trung bình của một người không quá xa điều Kinh Thánh ghi nhận là bảy mươi năm.

Bệnh đau tim vẫn cướp đi quá nhiều người giữa thời xuân xanh. Bệnh ung thư vẫn giáng nỗi đau đớn vào cơ thể hàng vạn người. Bệnh lao, hoại huyết, tê liệt, sưng phổi vẫn hoành hành, mặc dù sự nghiên cứu y khoa đã giảm thiểu rất nhiều số nạn nhân hằng năm. Ung thư da và Liệt kháng (AIDS hay SIDA) là hai chứng bệnh của thập kỷ 80. Chúng đang lộng hành trên thế giới và được báo động là đã hiện diện trên tất cả các đại lục. Nhưng dù thống kê tình trạng có lạc quan đến đâu, tuổi thọ chúng ta từ năm 1900 đến nay có gia tăng bao nhiêu, hay những con số ghi nhận các vụ giết người, tự tử và những hình thức chết bất đắc kỳ tử khác có thế nào đi nữa, sự kiện không tránh được là cái chết vẫn không thay đổi – vẫn là kinh nghiệm cuối cùng của chúng ta trên quả đất!

Cuộc chiến đấu suốt đời.

Từ lúc một hài nhi ra đời, cuộc chiến chống tử thần bắt đầu. Người mẹ dành nhiều năm chăm chú vào sự bảo vệ đời sống của đứa trẻ. Bà chăm sóc thức ăn, quần áo, môi trường sinh hoạt, khám sức khỏe, tiêm chủng, nhưng dù có chăm sóc và yêu thương đến đâu, đứa trẻ cũng đã bắt đầu chết dần.

Không bao lâu, những dấu hiệu hiển nhiên của sự suy nhược trở nên rõ rệt. Nha sĩ sẽ xem xét những chiếc răng hư của chúng ta. Kính mắt sẽ được dùng đến để hỗ trợ thị giác đang suy yếu. Da mặt sẽ nhăn và trễ xuống với thời gian, đôi vai chúng ta sẽ khòm, bước đi chúng ta sẽ chậm lại và kém vững vàng. Xương cốt cũng dễ gãy hơn khi sức lực chúng ta giảm sút và chúng ta cứ tiến dần về sự chết mà không hay biết.

Sự bảo hiểm sức khoẻ và bệnh viện được đem áp dụng để giúp chúng ta chịu đựng nhẹ nhàng. Người ta đóng bảo hiểm nhân thọ để dự phòng những chi phí cuối cùng và chúng ta sẽ chợt nhận ra rằng trọn cả cuộc đời chúng ta là một trận chiến vĩ đại và không bao giờ dứt với sự chết. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả chúng ta đang dự một cuộc đua, điều chúng ta hy vọng nhiều nhất trong đó là được một ít thì giờ nữa, và thắng kẻ đối địch được chừng nào hay chừng nấy, nhưng cuối cùng ta biết là sự chết sẽ luôn luôn chiến thắng!

Kẻ thù của chúng ta là gì mà bí mật như vậy – bí mật như chính sự sống. Vì chúng ta thấy sự sống đầy dẫy chung quanh ta, trong cây cỏ, muông thú cũng như trong con người, chúng ta không thể tạo ra cũng không thể giải thích được. Chúng ta cũng không thể giải thích được sự chết mặc dù chúng ta ý thức là có sự chết cũng như có sự sống vậy. Tuy nhiên chúng ta ít muốn đề cập đến sự chết hay suy xét về tầm quan trọng của nó! Khi sự sống xuất hiện và khi một đứa trẻ ra đời, chúng ta vui mừng. Khi sự sống ra đi và một người qua đời, chúng ta cố quên càng sớm càng tốt.

Ngày nay có hơn bốn tỷ người sống trên hành tinh này. Hầu hết đều sẽ chết trong vòng một trăm năm. Thân thể họ sẽ không còn cảm giác gì. Nhưng còn linh hồn họ – phần quan yếu và vĩnh cửu của sự sống? Đây mới là chỗ huyền nhiệm. Cái gì mất đi khi con người chết? Và cái mất đi sẽ về đâu?

Tại sao loài người chối bỏ Thượng Đế?

Mấy năm trước đây có một ký giả qua đời tại Denver thuộc tiểu bang Colorado. Giữa tang lễ, tang gia nghe tiếng ông nói đã được ghi âm như sau: “Đây là tang lễ của tôi. Tôi là một người vô thần và có thái độ này trong nhiều năm rồi. Tôi tuyệt đối khinh miệt sự vô nghĩa của thần học. Các tu sĩ là những người có tinh thần khiếp nhược. Các phép lạ là sản phẩm của tưởng tượng. Nếu bốn phóng viên được phái đi dự một cuộc hành hình và viết bài tường thuật một cách méo mó như những sứ đồ trong Kinh Thánh đã làm thì phải đuổi họ ngay lập tức. Tôi không muốn nghe bài hát tôn giáo. Đám tang này phải được cử hành một cách hoàn toàn hợp lý”.

Hãy đối chiếu đoạn văn trên với bài thơ đẹp đẽ về cái chết, mà Alfred Lord Tennyson đã mô tả trong ‘In Memorian: “Ngón tay của Thượng Đế chạm đến anh ta, và anh ta ngủ”.

Mỗi thời đại đều sản sinh những hạng người vì chống nghịch Thượng Đế nên đã cố tình chế nhạo và gièm pha Hội thánh, Kinh Thánh và Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ la lối để chống lại tiếng nói của Thượng Đế nhưng không nêu được một bằng chứng hiển nhiên nào. Lịch sử cho thấy có nhiều George Bernard Shaw, nhiều Robert Ingersoll, nhiều B. F. Shinner và nhiều triết gia, đã tìm đủ lý lẽ mong hủy diệt sự khiếp sợ trước cái chết.

Hãy nghe nhà nhân chủng học nói về cái chết trong rừng sâu. Tại đó không có sự “vô lý của thần học” vì không ai nghe nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy sự chết tại đây là cái gì? Trong một vài bộ lạc, người già bị đem bỏ vào bụi cho thú dữ ăn. Như thế tránh cho người trẻ phải chứng kiến sự chết. Trong một bộ lạc khác, người chết bị lột hết quần áo và thân thể bị sơn trắng. Giờ này qua giờ khác, những tiếng than khóc và gào thét báo cho thế giới biết là một linh hồn sắp lìa khỏi xác. Sự chết ngoài vòng ảnh hưởng Cơ Đốc giáo mang đầy vẻ ghê gớm và tuyệt vọng. Chẳng hạn với những người Hồi giáo thì người ta trông mong được chết trước hạn kỳ, vì người Hồi giáo tin rằng có nhiều thú vui đang chờ đợi người tận trung – nếu họ chết trong lúc tàn sát những kẻ bất trung hay đang chiến đấu vì đạo của mình.

Hãy so sánh với cái chết của một Cơ Đốc nhân. Khi Chúa Cứu Thế xuống thế gian, Ngài đã đem lại một hướng nhìn mới đối với sự chết. Con người luôn luôn xem sự chết như kẻ thù, nhưng Chúa Giê-xu phán là Ngài đã chinh phục được sự chết và đã trừ khử được nọc của nó. Cứu Chúa Giê-xu là Nhà Đại Hiện Thực khi Ngài khuyến cáo con người hãy chuẩn bị cho sự chết, chắc chắn thế nào cũng xảy đến. Chúa Giê-xu phán chớ lo lắng về sự chết của thể xác, nhưng nên lo lắng về cái chết vĩnh viễn của linh hồn thì hơn.

Tôi nghĩ đến bà Helen Morken, chờ chết, chồng và con cái vây quanh để hát thánh ca trong bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thật ra, bà đang ca hát trước mặt Chúa. Và tôi nghĩ đến các thánh đồ của Thượng Đế mà Alexander Smellie đã mô tả trong quyển sách của ông nhan đề ‘Những nhân vật của giao ước’. Ông kể về các vĩ nhân có đức tin đã chịu chết trong “các giai đoạn tàn sát” tại Tô-cách-lan, khi những cuộc xử tử là một cái gì rất lý thú. Bấy giờ chưa có ghế điện, chẳng có tiểu đội xử bắn, chẳng có thuốc mê tiêm vào khiến cho kẻ chết càng bị ít đau đớn càng hay. Ấy là thời kỳ của cực hình tra tấn – rút móng tay, đánh gãy ống quyển, treo cổ và sau đó là phân thây. Vì lý do ấy mà mỗi người được Smellie mô tả đều kinh sợ cái chết. Thế nhưng, khi phải chết họ đều chết trong niềm vui xuất thần!

Kinh Thánh cho biết có hai sự chết: một là sự chết vật chất và sự chết kia là sự chết đời đời. Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng chúng ta phải sợ cái chết thứ nhì gấp bội cái chết thứ nhất. Ngài gọi sự chết thứ nhì là địa ngục, là sự chia cách đối với Thượng Đế. Ngài phán rằng cái chết của thể xác bạn chẳng có nghĩa gì so với một linh hồn bị cố tình phân rẽ đời đời với Thượng Đế.

Cái chết của một thánh đồ.

Những lời trăn trối cuối cùng của những người đang hấp hối là những tài liệu nghiên cứu rất tốt cho những ai muốn tìm thực tế khi đối diện với cái chết.

Matthew Henry: “Tội lỗi cay đắng. Tôi ca ngợi Thượng Đế vì được sự hậu thuẫn từ bên trong”.

Martin Luther: “Chúa chúng ta là Thượng Đế, Đấng ban sự cứu rỗi: Thượng Đế là Chúa, nhờ đó chúng ta thoát chết”.

John Knox: “Hãy sống trong Chúa Giê-xu, thì xác thịt chẳng còn sợ chết”.

John Wesley: “Điều tốt nhất là Thượng Đế ở cùng chúng ta. Xin tạm biệt! Xin tạm biệt!”.

Richard Baxter: “Tôi đau, nhưng bình an. Tôi được bình an”.

William Carey, giáo sĩ: “Khi tôi đã đi rồi, hãy nói ít về tiến sĩ Carey, mà nói nhiều về Chúa Cứu Thế của tiến sĩ Carey”.

Adoniram Judson: “Tôi không mệt mỏi vì công việc của tôi, cũng không mệt mỏi vì thế gian; nhưng khi Chúa Giê-xu gọi tôi về, tôi sẽ đi với niềm vui của một cậu bé được giải thoát khỏi trường học”.

Nhưng người Cơ Đốc đã xưng nhận tội lỗi mình và nhờ đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế thật khác biết bao.

Tấn sĩ Effie Jane Wheeler từng dạy Anh ngữ và văn chương nhiều năm tại trường đại học mà tôi theo học. Bà nổi tiếng về sự tin kính cũng như sự hiểu biết về những đề tài bà giảng dạy. Tháng 5 năm 1949, vào ngày Lễ Chiến sĩ trận vong của Hoa-kỳ, bà viết cho viện trưởng Tấn sĩ Edman các đồng nghiệp và các cựu sinh viên bức thơ sau đây:

“Tôi cảm ơn quý vị đã dành rất nhiều phút giây để đọc bức thư này trong nhà thờ vì trước khi quý vị đi nghỉ hè tôi muốn quý vị biết sự thật về tôi như tôi vừa biết hôm thứ sáu. Đến phút chót bác sĩ đã cho tôi biết kết quả thật sự về bệnh chứng của tôi sau nhiều tuần đau ốm, đó là bị ung thư không thể giải phẫu được. Nếu là một Cơ Đốc nhân, chắc ông ta đã không ngần ngại hoặc bị dao động như thế, vì ông thừa biết như quý vị và tôi rằng, khi chúng ta sống trong ý muốn và hiện diện của Chúa, chúng ta tiếp nhận sự sống hay sự chết như nhau. Nếu Chúa muốn tôi sớm đến với Ngài, tôi sẽ vui vẻ ra đi. Xin quý vị chớ buồn tí nào vì tôi. Tôi không nói lên lời từ giã lạnh lùng nhưng xin gửi lời nồng nhiệt hẹn tái ngộ quý vị, trong đất lành nơi mà may ra tôi sẽ được phép đứng bên vén màn đón quý vị vào. Với lòng tràn đầy yêu thương gởi đến mỗi bạn. Ký tên: Effie Jane Wheeler”.

Đúng hai tuần sau khi viết bức thư trên, Tấn sĩ Wheeler đã đi vào sự hiện diện của Chúa, Đấng đã giữ lời hứa trừ khử nọc độc của sự chết.

Đang khi tôi viết chương sách này, tôi nhận được cùng một lúc bốn bức thư. Một bức là của một nữ thánh đồ chín mươi bốn tuổi, đang nóng lòng muốn được về với Chúa; một bức là của một phụ nữ trong khám tù tử hình, từ khi trở thành Cơ Đốc nhân sáu năm trước đây cho đến nay, vẫn có thể nhìn thấy phía sau ngày hành quyết đang đến gần, là sự vinh hiển đang trải trước mặt mình; và hai bức thư khác của những phụ nữ mà chồng họ đã qua đời sau nhiều năm sau khi họ chung sống (một bà chỉ ít lâu nữa là cử hành lễ kỷ niệm ngày cưới của họ, lần thứ bốn mươi chín). Mỗi người đều nhìn xa hơn cái chết để thấy vinh hiển trước mặt mình.

Nhân vật D. L. Moody đã nói trước lúc lâm chung: “Đây là chiến thắng của tôi, hôm nay là ngày đăng quang của tôi! Thật là quang vinh!”.

Kinh Thánh dạy rằng bạn là một linh hồn bất tử. Linh hồn bạn vĩnh cửu và sẽ sống đời đời. Nói cách khác, con người thật sự của bạn – phần biết suy tư, cảm xúc, mơ mộng, ao ước; cái cá tính, bản ngã của bạn – sẽ không bao giờ chết. Kinh Thánh dạy rằng linh hồn sẽ sống mãi mãi ở một trong hai nơi – thiên đàng hay địa ngục. Nếu bạn không phải là một Cơ Đốc nhân và bạn chưa bao giờ được sanh lại, thì Kinh Thánh dạy rằng linh hồn đi ngay đến một nơi Chúa Giê-xu gọi là Âm phủ, ở đó bạn sẽ chờ đợi sự phán xét của Thượng Đế.

Một đề tài chẳng ai ưa.

Tôi biết rằng đề tài Địa ngục không phải là điều thích thú cho lắm. Đề tài này rất ít người ưa, thường gây tranh luận và hiểu lầm. Tuy nhiên, trong những chiến dịch truyền giảng của tôi ở nhiều nơi, tôi đều dành một tối để thảo luận đề tài trên. Do sự trình bày của tôi, trong nhiều ngày liên tiếp, các nhật báo đăng nhiều thư độc giả tranh luận những điểm đồng y và không đồng ý, vì Kinh Thánh hầu như cũng đề cập đến vấn đề này không kém bất cứ vấn đề nào khác. Lúc thảo luận với sinh viên các đại học đường, tôi luôn luôn bị đặt câu hỏi sau đây “Địa ngục như thế nào? Có lửa ở Địa ngục không?” và những câu hỏi tương tự. Vì là người giảng đạo, tôi có bổn phận phải giải đáp. Tôi không thể làm ngơ, dù những lời tôi nói khiến một số người khó chịu và lo âu. Tôi cho rằng đây là chỗ khó chấp nhận nhất trong tất cả mọi giáo huấn của Cơ Đốc giáo.

Có người cho rằng mọi người chắc sẽ được cứu, Thượng Đế là Thượng Đế của tình yêu nên Ngài sẽ không bắt ai phải xuống Địa ngục. Họ cho rằng những từ ngữ đời đời, bất diệt thật ra không có nghĩa là vĩnh viễn. Tuy nhiên, chính từ ngữ nói về sự xa cách vĩnh viễn đối với Thượng Đế cũng được dùng để chỉ tính cách vô tận của Thiên đàng. Có người đã nói: “Sự công bình đòi hỏi chúng ta phải quan niệm giá trị thời gian của niềm vui nơi người công nghĩa và sự hình phạt nơi người độc ác bằng nhau, vì nguyên văn Hy-lạp đã dùng cùng một từ ngữ để chỉ thời gian của hai trường hợp”.

Nhiều người khác cho rằng sau khi chết những người nào chối từ không nhận lấy kế hoạch cứu chuộc của Thượng Đế thì phải bị tiêu diệt, không bao giờ tồn tại nữa. Nghiên cứu từng trang Kinh Thánh tôi không thể tìm thấy một bằng chứng nào hậu thuẫn cho quan điểm này. Kinh Thánh dạy rằng dù được cứu hay bị hư mất, linh hồn và bản thể vẫn hiện hữu đời đời một cách ý thức.

Cũng có những người khác cho rằng sau khi chết vẫn còn có thể có sự cứu rỗi, rằng Thượng Đế vẫn còn dành một cơ hội thứ hai. Nếu điều này đúng thì sao Kinh Thánh không hề gợi ý, mà Kinh Thánh luôn luôn cảnh cáo rằng: “Giờ đây là kỳ thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi” (IICo 2Cr 6:2).

Kinh Thánh nói gì?

Có thể trích dẫn hàng chục đoạn Kinh Thánh để chứng minh sự kiện là Kinh Thánh dạy rằng có một Địa ngục cho tất cả những ai nhất định và cố ý không tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Chúa và Đấng Cứu rỗi.

“Con bị đốt trong lò lửa này, đau đớn quá” (LuLc 16:24).

“Ta sẽ sai thiên sứ tập họp những kẻ gây ra tội lỗi và người gian ác lại, ném chúng vào lò lửa là nơi đầy tiếng than khóc và nghiến răng” (Mat Mt 13:41-42).

“Cũng vậy, trong ngày tận thế, thiên sứ sẽ đến chia rẽ người gian ác với người công chính, ném người gian ác vào lò lửa, là nơi khóc lóc và nghiến răng” (13:4950).

“Ta cũng sẽ bảo nhóm người bên trái: Những người gian ác đáng nguyền rủa kia! Đi ngay vào lò lửa không hề tắt dành cho Sa-tan và các quỉ sứ” (Mat Mt 25:41).

“Người sẽ sảy lúa thật sạch, đem trữ vào kho và đốt rơm rác trong lò lửa chẳng hề tắt” (3:12).

“Chúa sẽ báo ứng những người không muốn biết Thượng Đế và khước từ Phúc Âm của Chúa Giê-xu chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt đời đời trong Địa ngục, vĩnh viễn xa cách mặt Chúa, không còn thấy vinh quang và quyền năng Ngài” (IITe 2Tx 1:8-9).

“Đều phải uống chén rượu hình phạt nguyên chất của Thượng Đế. Họ phải chịu khổ hình trong lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và Chiên Con. Khói lửa bốc lên nghi ngút vô tận. Những người thờ lạy con thú và tượng nó cùng những ai mang dấu hiệu con thú, ngày đêm chịu khổ hình không ngớt” (KhKh 14:10-11).

“Tử vong và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Vào hồ lửa, là chết lần thứ hai. Người nào không có tên trong Sách Sự Sống phải bị quăng xuống hồ lửa” (20:14-15).

“Còn những kẻ hèn nhát, vô tín, hư hỏng, sát nhân, gian dâm, tà thuật, thờ thần tượng và dối trá đều phải vào hồ lửa diêm sinh. Đó là sự chết lần thứ hai” (21:8).

Thế nhưng tôi lại nghe có người bảo: “Tôi không tin có Địa ngục, tôn giáo của tôi là Bài Giảng Trên Núi của Chúa”.

Vâng, chúng ta hãy cùng xem một đoạn trong Bài Giảng Trên Núi: “Nếu mắt bên phải gây cho các con phạm tội, cứ móc quăng đi, vì thà chột mắt còn hơn cả thân thể bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải gây cho các con phạm tội, cứ cắt bỏ đi, vì thà cụt tay còn hơn cả thân thể bị sa vào hỏa ngục” (Mat Mt 5:29-30).

Ở đây Chúa Giê-xu dạy tỏ tường rằng có một Địa ngục. Đúng ra, Chúa Giê-xu đã kể nhiều chuyện và cho những ví dụ về vấn đề này cùng luôn luôn cảnh cáo loài người về sự dại dột sống cuộc đời tội lỗi và giả dối trên mặt đất.

Hỏa ngục ngay trên trần gian.

Việc người ác phải chịu một cảnh địa ngục nào đó trên mặt đất là một điều chắc chắn. Kinh Thánh chép: “Phải biết rằng tội chắc sẽ phải đổ lại trên các ngươi” (Dan Ds 32:23). Kinh Thánh cũng chép: “Gieo gì gặt nấy” (GaGl 6:7). Tuy nhiên, quanh chúng ta có bằng chứng là một số người ác hình như được thịnh đạt và người công bình bị đau khổ vì sự công nghĩa của họ. Kinh Thánh dạy rằng rồi đây sẽ có một thời kỳ đoán định và sự công bình sẽ được thực hiện. Có ai đó đã nói rằng: “Chúng ta không bị hình phạt vì cớ tội lỗi chúng ta, mà bởi tội lỗi chúng ta”. Cả hai trường hợp đều đúng cả.

Liệu Thượng Đế yêu thương có xô đẩy người ta xuống Địa ngục không? Câu trả lời là – Có! Vì Ngài công bình nhưng Ngài không cố ý làm điều đó. Con người tự kết tội mình bằng cách từ chối con đường cứu rỗi của Thượng Đế. Bởi tình yêu và sự thương xót, Thượng Đế đã ban cho con người một lối thoát, một con đường cứu rỗi, một niềm hy vọng đợi chờ những điều tốt đẹp hơn. Con người, trong sự mù quáng, ngu độn, cứng đầu, vị kỷ và yêu thích sự vui thú tội lỗi, từ chối phương cách giản dị của Thượng Đế giúp họ thoát ra nỗi đau đớn cùng cực của sự đọa đày vĩnh viễn.

Giả sử tôi bị ốm và cho mời bác sĩ. Bác sĩ cho tôi một toa thuốc. Nhưng sau khi suy nghĩ lại, tôi quyết định làm ngơ không nghe lời khuyên của bác sĩ và từ chối uống thuốc. Vài ngày sau, bác sĩ trở lại, ông ta thấy bệnh trạng của tôi tồi tệ hơn trước. Có thể nào tôi chê trách bác sĩ hay đổ trách nhiệm cho ông ta? Bác sĩ đã biên toa cho tôi, đã cho tôi biết phương thuốc trị bệnh, nhưng tôi đã từ chối.

Cũng một lẽ ấy, Thượng Đế đã cho biết phương thuốc đối với bệnh tật của nhân loại. Phương thuốc đó là đức tin cá nhân và sự xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu. Phương thuốc đó là phải sanh lại, chúng ta sẽ thảo luận điều này trong một chương khác. Nếu cố tình chối bỏ phương thuốc đó, chúng ta phải gánh chịu hậu quả và không thể oán trách Thượng Đế. Nếu chúng ta chối từ phương thuốc của Thượng Đế, thì đó là lỗi của Ngài hay sao?

Người không tin đời sống vẫn còn sau khi chết, không tin người ta có thể lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục, không chịu tin vào những gì Thượng Đế phán dạy trong Kinh Thánh về thiên đàng và hỏa ngục, sẽ có ngày thức dậy trong đời sau để nhận thấy là mình đã sai lầm, đã bị mất tất cả. Tạp chí ‘Dân chúng’(People) có trích đăng câu nói của Lem Banker, tay cờ bạc đứng hàng đầu nước Mỹ, bảo rằng: “Đừng bao giờ đánh cuộc bạn được bao nhiêu mà chỉ đánh cuộc xem bạn có thể bị thua bao nhiêu mà thôi”. Bạn có thể trả nổi sự thua thiệt, mất mát, nếu bạn bị mất đi linh hồn đời đời của mình không?

Có người khác hỏi rằng “Địa ngục có tính chất như thế nào?” Trong Kinh Thánh có bốn danh từ được dùng để chỉ Địa ngục. Danh từ thứ nhất là Sheol nghĩa là “trạng thái vô hình”, được dùng ba mươi mốt lần, là Địa ngục trong Cựu Ước. Những hình dung từ buồn rầu, đau đớn và hủy diệt có liên hệ với danh từ này.

Danh từ thứ nhì là ‘Hades’ của tiếng Hy-lạp, được dùng mười lần trong Tân Ước, đồng nghĩa như chữ Sheol trong Cựu Ước. Sự phán xét và đau khổ luôn có liên hệ đến danh từ này.

Danh từ thứ ba là ‘Tartarus’ chỉ được dùng một lần trong IIPhi 2Pr 2:4, khi nói đến các thiên sứ bất phục tòng bị quăng xuống Tartarus. Danh từ này chỉ chỗ phán xét như nhà tù, xà lim, nơi có sự tối tăm ghê gớm.

Danh từ thứ tư là ‘Gehenne’, được dùng mười một lần và dịch là “Địa ngục” ở Tân Ước. Đó là hình ảnh Chúa Giê-xu dùng để mô tả thung lũng Hin-nôm, một chỗ ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem, nơi đầy rác rưởi và cặn bã cháy hoài không dứt.

Nhiều người khác hỏi: “Kinh Thánh dạy về lửa Địa ngục có theo nghĩa đen không?”. Nhiều người khác hỏi: “Kinh Thánh có dạy về lửa theo nghĩa đen trong hỏa ngục không?” Nếu đó không phải là lửa theo nghĩa đen, thì nó còn là một cái gì tệ hại hơn nữa. Chắc chắn Chúa Giê-xu không hề thêm thắt gì đâu. Dĩ nhiên Kinh Thánh đã nhiều lần dùng chữ lửa theo nghĩa bóng. Tuy nhiên, Thượng Đế có một thứ lửa đốt cháy mà không hề tàn.

Khi Mai-sen thấy bụi gai cháy, ông lấy làm lạ vì bụi gai không bị thiêu tàn. Ba thanh niên Do-thái bị quăng vào lò lửa vì một lòng trung tín với Thượng Đế; trong lò lửa họ không bị cháy vì Chúa gìn giữ và cứu giúp họ; đúng hơn không có một sợi tóc nào của họ bị sém (DaDn 3:1-30).

Mặt khác, Kinh Thánh nói về lưỡi chúng ta “bị lửa địa ngục đốt cháy” (Gia Gc 3:6) mỗi khi chúng ta nói xấu người bên cạnh. Điều này không có nghĩa là mỗi khi chúng ta nói xấu láng giềng thì bị lửa thiêu đốt theo nghĩa đen. Nhưng dù nghĩa đen hay nghĩa bóng, việc đó không ảnh hưởng đến thực tại. Nếu không thực sự có lửa, thì Thượng Đế đã dùng một ngôn ngữ tượng trưng để chỉ một cái gì khác có thể còn đáng ghê sợ hơn nữa.

Cách biệt với Thượng Đế.

Điều chính yếu, Địa ngục là sự phân cách với Thượng Đế. Đó là sự chết thứ hai được mô tả như một sự lưu đày vĩnh viễn có ý thức, khỏi những gì gọi là sáng láng, vui thú, đẹp đẽ, công nghĩa và hạnh phúc. Kinh Thánh có nhiều chỗ mô tả cách ghê rợn về tình trạng khủng khiếp mà linh hồn sẽ gặp phải sau khi qua đời.

Điều lạ lùng là loài người chuẩn bị cho mọi việc ngoại trừ sự chết. Chúng ta chuẩn bị để học hỏi. Chúng ta chuẩn bị để làm việc. Chúng ta chuẩn bị cho nghề nghiệp. Chúng ta chuẩn bị cho hôn nhân. Chúng ta chuẩn bị cho tuổi già. Chúng ta chuẩn bị cho mọi sự trừ phút giây chúng ta đều phải chết. Tuy nhiên Kinh Thánh chép mọi người chúng ta ai cũng phải chết một lần.

Sự chết là một biến cố mà mọi người cho là không tự nhiên nếu xảy ra cho mình, nhưng xảy ra cho người khác là điều tự nhiên. Sự chết đồng hóa tất cả mọi người thành một đẳng cấp. Nó tước đoạt bạc triệu của người giàu và manh áo rách của người nghèo. Nó làm nguội lạnh sự tham lam hà tiện và nguôi ngoai lửa dục vọng đam mê. Mọi người đều không muốn biết đến cái chết, tuy nhiên tất cả đều phải đương đầu với nó – từ hoàng tử đến gã nông dân, người điên rồ và bậc hiền triết, kẻ giết người và thánh nhân. Sự chết không giới hạn tuổi, không thiên vị. Đó là điều mà tất cả mọi người sợ hãi.

Khi tuổi đã về chiều, Daniel Webster đã kể lại chuyện ông đi dự nhóm tại một nhà thờ miền quê. Vị mục sư là một người có tuổi, tánh tình giản dị, tin kính. Sau những nghi thức khai mạc, ông đứng lên đọc Kinh Thánh rồi nói một cách vô cùng đơn sơ nhưng nóng bỏng: “Thưa quí vị, chúng ta chỉ có thể chết một lần”.

Về sau, khi bình luận về bài giảng này, Daniel Webster nói: “Dù câu nói trên có vẻ lạnh lùng và yếu ớt, ngay lúc đó, nó là những lời gây xúc động và thức tỉnh nhất mà tôi chưa bao giờ được nghe”.

Điểm hẹn với thần chết.

Thật rất dễ cho rằng người khác phải giữ lời hẹn gặp gỡ sự chết nhưng thật khó để nhớ rằng chúng ta cũng phải giữ lời hẹn đó. Khi chúng ta trông thấy những người lính đi ra mặt trận hay nghe tin về một tử tội hoặc đi thăm một người bạn bị thương gần chết, chúng ta ý thức được một sự nghiêm trọng nào đó đang vây quanh những người này. Sự chết hẹn gặp tất cả mọi người và kỳ hẹn chỉ là thời gian. Có những cuộc hẹn hò khác trong đời, gặp gỡ vì công việc hay du hí, chúng ta có thể bỏ qua, sai hẹn và gánh lấy hậu quả, nhưng đây là cuộc gặp gỡ không ai có thể lãng quên, không ai có thể sai hẹn. Người ta chỉ có thể gặp nó một lần, nhưng phải gặp!

Nếu sự chết về phần xác là hậu quả duy nhất của đời sống xa cách Thượng Đế, thì sẽ không có gì để chúng ta sợ hãi quá, nhưng Kinh Thánh cảnh cáo rằng có một sự chết thứ nhì, tức là sự đày đọa vĩnh viễn cách xa Thượng Đế.

Tuy nhiên còn có một khía cạnh sáng tỏ hơn. Khi Kinh Thánh tuyên phán Địa ngục dành cho người tội lỗi, Kinh Thánh cũng hứa hẹn Thiên đàng cho thánh đồ. Đề tài Thiên đàng dễ chấp nhận hơn đề tài Địa ngục nhiều. Nhưng Kinh Thánh đã dạy dỗ cả hai điều.

Khi dọn đến nhà mới, bạn muốn biết rõ về cộng đồng mà bạn sắp chung sống. Nếu chuyển đến một thành phố khác, bạn muốn biết tất cả về thành phố này – những đường xe lửa, kỹ nghệ, công viên, hồ, trường học v.v… Và vì sẽ đến một nơi khác đời đời, chúng ta phải biết về nơi đó. Những chi tiết về Thiên đàng được tìm thấy trong Kinh Thánh. Do đó, chúng ta nghĩ đến và nói đến thiên đàng là điều hợp lý. Nói đến thiên đàng, thì địa cầu trở nên tồi tàn. Những mối lo âu về các vấn đề rắc rối của chúng ta trên địa cầu hình như giảm bớt đi rất nhiều nếu chúng ta có sự trông đợi sáng suốt vào tương lai. Trên một phương diện nào đó, người Cơ Đốc tìm được thiên đàng ở trên mặt đất này. Người Cơ Đốc có bình an của linh hồn, bình an của lương tâm và bình an với Thượng Đế. Giữa những khó khăn rắc rối, người Cơ Đốc có thể mỉm cười, bước đi rộn ràng, linh hồn vui vẻ và nét mặt sáng tươi.

Có một thiên đàng.

Nhưng Kinh Thánh cũng hứa với Cơ đốc nhân một thiên đàng trong đời sống tương lai. Khi John Quincy Adams được 94 tuổi, có người hỏi ông rằng: “Sáng nay ông thấy thế nào?” Ông trả lời: “Tốt, tốt lắm. Nhưng cái nhà tôi đang sống không được tốt mấy”. Cho dù cái nhà chúng ta đang ở có hư hoại hay yếu ớt, nếu là những người Cơ Đốc, chúng ta cũng có thể thật sự cảm thấy mạnh khỏe và vững vàng. Chúa Giê-xu đã dạy là có một thiên đàng.

Chúng ta có thể trích dẫn nhiều phân đoạn Kinh Thánh, nhưng phân đoạn hay nhất là GiGa 14:2 “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở, nếu không, ta đã nói cho các con rồi. Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi”. Phao-lô biết chắc chắn về thiên đàng nên đã nói: “Chúng ta đầy tin tưởng, muốn rời bỏ thân xác này, để về nhà trên trời với Chúa là tốt hơn” (IICo 2Cr 5:8).

Sự trông đợi về tương lai của Cơ Đốc nhân thật khác hẳn sự trông đợi của Bob Ingersoll, người theo thuyết bất khả tri, khi ông tuyên bố trước cửa mồ anh mình: “Đời sống là một màn thưa chật hẹp giữa đỉnh cao lạnh lẽo và trơ trọi của hai cái vĩnh viễn. Chúng ta cố gắng vô ích để nhìn bên kia các đỉnh. Chúng ta kêu gào và lời đáp duy nhất là âm vang của tiếng chúng ta kêu khóc.”

Sứ đồ Phao-lô hằng nói: “Chúng ta biết”. “Chúng ta biết chắc”. “Chúng ta luôn luôn biết chắc”. Kinh Thánh nói rằng Áp-ra-ham “trông đợi một thành phố xây trên nền móng vững chắc do Thượng Đế vẽ kiểu và xây cất” (HeDt 1:10).

Nhiều người hỏi: “Thiên đàng có thật không?” Có! Chúa Giê-xu phán: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con”. Kinh Thánh dạy rằng Hê-nóc và Ê-li được cất lên trời – với thân thể, theo nghĩa đen – đến một chỗ có thật như Sài-gòn, Paris hay BangKok chẳng hạn!

Nhiều người đã hỏi: “Thiên đàng ở đâu?” Kinh Thánh không cho biết thiên đàng ở đâu. Chúng ta không rõ điều này. Nhưng bất luận thiên đàng ở đâu thì ở đó có Chúa Cứu Thế.

Một nơi đẹp đẽ.

Kinh Thánh dạy rằng thiên đàng là nơi đẹp đẽ. Kinh Thánh gọi đó là “thành của Thượng Đế” – “một đô thị” – “một quê hương tốt hơn” – “một sản nghiệp thừa kế” – “một vinh quang”.

Bạn có thể hỏi: “Ở thiên đàng chúng ta có nhận ra nhau không?”. Có nhiều chỗ trong Kinh Thánh cho biết là sẽ có một cuộc hội ngộ lớn lao của những người đã ra đi từ trước.

Có người lại hỏi: “Bạn có tin rằng trẻ con sẽ được cứu không?”. Có. Kinh Thánh bày tỏ rằng Thượng Đế không định tội trẻ con cho đến khi chúng đến tuổi nhận xét và hiểu biết. Hình như có nhiều dấu hiệu chỉ rõ ràng sự tha tội được áp dụng cho chúng khi chúng ý thức được trách nhiệm về các hành vi thiện ác của chúng.

Kinh Thánh cũng bày tỏ rằng thiên đàng sẽ là một nơi của sự hiểu biết lớn lao về các điều mà chúng ta không bao giờ học được dưới thế gian này.

Isaac Newton, khi lớn tuổi, đã nói với một người ca ngợi sự khôn ngoan của ông, rằng: “Tôi là một đứa bé trên bờ biển đang nhặt đây đó một hòn sỏi, một vỏ hến, nhưng đại dương vĩ đại của sự thật hãy còn nằm trước mặt tôi”.

Thomas Edison đã có lần nói: “Tôi không biết được lấy một phần triệu của một phần trăm về bất cứ điều gì”.

Nhiều bí mật của Thượng Đế, những sự đau lòng, những thử thách, thất vọng, những thảm kịch và sự im lặng của Thượng Đế đối với sự đau khổ sẽ được giãi bày ở đó. Eli Wiessel đã nói rằng cõi đời đời là “… nơi mà các câu hỏi và câu trả lời chỉ là một”. Còn trong GiGa 16:23, Chúa Giê-xu phán: “Lúc ấy các con không còn thắc mắc hỏi han gì nữa. Ta nói quả quyết, các con nhân danh ta cầu xin điều gì, Cha cũng ban cho”. Tất cả các câu hỏi đều sẽ được giải đáp!

Nhiều người hỏi: “Vâng, thế thì chúng ta sẽ làm gì ở thiên đàng? Chỉ ngồi đó rồi vui hưởng những khoái lạc của sự sống sao?” Không. Kinh Thánh cho biết rằng chúng ta sẽ phục sự Thượng Đế. Sẽ có công việc để chúng ta làm cho Ngài. Chúng ta sẽ để nhiều thì giờ ngợi khen Ngài. Kinh Thánh chép: “Chẳng có sự nguyền rủa nữa. Ngôi của Thượng Đế và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài hầu hạ Ngài” (KhKh 22:3).

Đó sẽ là thời kỳ vui mừng, hầu việc, reo cười, ca hát và ngợi khen Thượng Đế. Hãy tưởng tượng là chúng ta sẽ phục vụ Ngài mãi mãi, mà chẳng hề bị mệt mỏi!

http://www.hoithanhphuchungdacthang.com/su-cuu-roi/dieu-gi-xay-ra-sau-khi-chet.html

 




LỜI CÔNG BỐ TÍCH CỰC – LÀM SAO ĐỂ SỐNG BẰNG ĐỨC TIN MÀ KHỐNG CHỐI BỎ THỰC TẾ

LỜI CÔNG BỐ TÍCH CỰC

LÀM SAO ĐỂ SỐNG BẰNG ĐỨC TIN MÀ KHỐNG CHỐI BỎ THỰC TẾ

 Lời của Đức Chúa Trời nói rằng bạn được chữa lành bởi những lằn roi của Đức Chúa Jesus và Ngài sẽ tiếp trợ cho bạn mọi nhu cầu, nhưng bạn vẫn bị những triệu chứng đau đớn về thân xác và các hóa đơn chưa thanh toán vẫn gia tăng. Bạn biết rằng bạn phải tiếp tục bước đi bằng đức tin, nhưng bạn cũng tự nghĩ, “tôi cần nói chuyện với bác sĩ, nhưng làm sao tôi có thể vừa nói với bác sĩ các nan đề của tôi mà vẫn giữ vững đức tin?” Hoặc bạn có thể đang nghĩ, “Tôi cần nói chuyện với các chủ nợ, nhưng làm sao tôi có thể nói với họ tình trạng tài chính của mình mà không phải vì tôi nghi ngờ Đức Chúa Trời về khả năng tiếp trợ tất cả các nhu cầu của tôi?”

Nhiều Cơ đốc nhân thấy họ đang ở giữa đức tin và các nan đề. Họ muốn giữ vững đức tin nhưng cũng thấy mình đang lún vào các nan đề của cuộc sống. Nếu đó là bạn thì tôi có tin tốt lành đây! Tôi sắp chỉ cho bạn thấy làm sao bạn vẫn bước đi bằng đức tin mà không cắm đầu xuống cát – giả vờ rằng mình không có nan đề nào hết.

HÃY ĐỐI DIỆN VỚI SỰ THẬT

Câu trả lời cho tình trạng khó xử này được tìm thấy trong câu chuyện của Abraham. Vào tuổi 75, Đức Chúa Trời hứa hẹn ban cho người một con trai, nhưng phải mất đến hai mươi lăm năm để lời hứa thành sự thật. Abraham đã làm gì trong thời kỳ đó?

Rô-Ma 4:18-20 cho chúng ta biết: “Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy. Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém. Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời.”

Tôi muốn các bạn lưu ý là Abraham không hề giả bộ rằng thân thể người vẫn có thể sanh đẻ được. Kinh Thánh nói rằng người “đối diện với sự thật” – thấy thân thể hao mòn. Người không giả bộ như mình là một chang trai trẻ, đầy sinh lực. Không! Người đối diện với sự thật là người đã quá già để còn ham muốn. Cho dù người còn ham muốn, vợ người chắc chắn sẽ không đồng tình, hoặc nếu bà đồng tình, bà chắc chắn không thể hoài thai.

Vậy, Abraham đã bước đi trong đức tin như thế nào. Trước hết, người đối diện với sự thật. Trước khi bạn biết bạn muốn đến đâu, bạn phải hiểu bạn đang ở đâu. Đây là điểm bắt đầu của đức tin. Đây là sự đối diện với sự thật. Nhưng bạn đừng đứng lại ở đó. Nếu bạn đứng lại, bạn không còn đức tin nữa.

Vậy, sự thật là gì? Sự thật khác với lẽ thật.

Nhiều người nhầm lẫn sự thật với lẽ thật. Chúng không giống nhau. Sự thật có thể thay đổi; lẽ thật thì không. Sự thật liên quan đến các tình huống và các điều kiện; lẽ thật liên quan với Lời của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Jesus cầu nguyện và nói, “Lời này là lẽ thật!” Lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật, nhưng báo cáo của bác sĩ chỉ thể hiện sự thật. Báo cáo của ngân hàng chỉ cho bạn biết sự thật, không phải lẽ thật.

Lời chẩn đoán của bác sĩ có thể thay đổi tùy theo bệnh nhân trả lời như thế nào. Nếu lời chẩn đoán của bác sĩ có thể thay đổi thì đó không phải là lẽ thật mà là sự thật. Nhưng Lời của Đức Chúa Trời vẫn nói, “Bởi những lằn roi của Đức Chúa Jesus, tôi được chữa lành” (Phi-e-rơ I 2:24). Câu đó vẫn được đọc như thế dù tôi nghĩ như thế nào. Câu đó vẫn được đọc như thế trong ngày hôm nay, ngày mai và trong thế hệ sau chúng ta. Câu đó luôn luôn nói rằng tôi được chữa lành. Đó là lẽ thật! Lẽ thật không bao giờ thay đổi.

 Báo cáo của ngân hàng có thể cho thấy tiền bị âm trong tháng này và dương trong tháng khác. Nói cách khác, báo cáo của ngân hàng dao động theo thu nhập của khách hàng và tiền rút ra. Báo cáo chỉ cho thấy sự thật. Nhưng Lời của Đức Chúa Trời vẫn nói, “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jesus Christ.” (Phi-líp 4:19). Lời này sẽ nói như thế trong ngày hôm nay cũng như ngày mai. Tôi dám khẳng định câu Kinh Thánh này không bao giờ thay đổi. Quan điểm của con người có thể thay đổi, nhưng Lời của Đức Chúa Trời đời đời bền vững.

Đây là điều Phao-lô muốn nói trong Rô-ma 3:4, “… Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối…” Những lời hứa của Đức Chúa Trời là muôn đời và thành tín.

Bạn đã thấy sự khác nhau giữa sự thật và lẽ thật chưa?

HÃY ĐÁNH TRẬN TỐT LÀNH

Ti-mô-thê I 6:12 nói hãy đánh trận tốt lành vì đức tin. Nếu sống bằng đức tin rất dễ và các kết quả đến tức thì thì không cần phải đánh trận tốt lành vì đức tin. Nghi ngờ, sợ hãi và không tin là những kẻ thù của đức tin. Chúng thường mạnh lên khi câu trả lời cần nhiều thời gian hơn.

Làm sao bạn đánh trận tốt lành vì đức tin trong suốt thời gian chờ đợi Đức Chúa trời thực hiện lời hứa của Ngài? Sống bằng đức tin sẽ dễ dàng khi Đức Chúa Trời đáp lời nhanh. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu câu trả lời cần một thời gian dài mới đến? Bạn sẽ bỏ cuộc? Dĩ nhiên không! Nhưng bạn sẽ làm gì trong khoảng thời gian đó?

Câu trả lời ở ngay trong Ti-mô-thê I 6:12: “Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành. Bắt lấy sự sống đời đời, là sự mà con đã được gọi đến, và vì đó mà con đã làm chứng tốt lành trước mặt nhiều người chứng kiến.”

Và Phao-lô đã nhắc chúng ta nhớ thí dụ của Đấng Christ khi đánh trận tốt lành vì đức tin: “…Đức Chúa Jesus Christ là Đấng làm chứng tốt nơi Bôn-xơ Phi-lát…”(Ti-mô-thê I 6:13).

Cuối cùng, Phao-lô cổ vũ chúng ta “phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (Ti-mô-thê I 6:14). Điều răn nào chúng ta phải giữ? Điều răn hãy đánh trận tốt lành vì đức tin. Làm sao chúng ta đánh trận tốt lành vì đức tin? Rất đơn giản, bằng cách duy trì  sự công bố đức tin của chúng ta.

Bạn thấy đó, kẻ thù của đức tin muốn kiểm soát cái lưỡi của bạn. Kẻ thù muốn bạn nói những lời nghi ngờ, sợ hãi và không tin cậy. Chúng muốn bạn thực hiện một lời công bố xấu.

Một lời công bố xấu dựa trên những lo âu và nan đề bạn đang trải qua. Điều đó có phải là điều bạn muốn làm khi bạn bị vây bởi những lo âu? Bạn muốn than trách! Bạn muốn trách cứ! Bạn muốn hét to lên! Nhưng bạn biết Đức Chúa Trời đã hứa sẽ đến và giải cứu bạn khỏi hầm bẫy bạn đang sa vào! Hãy bình tĩnh! Hãy tiếp tục công bố Lời của Đức Chúa Trời! Lời của Ngài sẽ xảy ra nếu bạn không bỏ cuộc!

Bạn nói, “Nếu tôi tiếp tục công bố là tôi đã được chữa lành và thịnh vượng dù sự thật trái ngược, vậy tôi có đang nói dối không?” Sao bạn có thể nói dối khi bạn nói lẽ thật? Lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật. Thực vậy, đó là hình thức cao nhất của thực tế.

LỜI CÔNG BỐ TỐT KHÔNG PHẢI LÀ LỜI DỐI TRÁ

Để tôi chỉ cho bạn thấy Đấng Christ đã duy trì lời công bố tốt của Ngài như thế nào cho dù sự thật trái  ngược.

Đức Chúa Jesus bị đưa đến tòa của Bôn-xê Phi-lát để xét xử. Để Đức Chúa Jesus phải đáp, Phi-lát nói, “à, ngươi là một ông vua!”

Đức Chúa Jesus trả lời, “Ngươi đúng khi nói ta là một ông vua. Thực vậy, bởi lý do này ta được sinh ra, và vì lý do này ta đến thế gian để làm chứng cho lẽ thật. Tất cả những ai bên phía lẽ thật đều lắng nghe ta.”

Hãy để tôi hỏi các bạn một câu hỏi. Đấng Christ nói về lẽ thật bằng cách tuyên bố bản thân Ngài là vua. Nhưng, trên thực tế kẻ thù có thể bắt bẻ lời của Ngài, “Nếu ngươi là vua, tại sao ngươi bị xét xử? Nếu ngươi là vua, ngai vàng của ngươi đâu? Nếu ngươi là vua, sao ngươi không trị vì?”

Điều tôi muốn nói ở đây là: Đấng Christ trông không giống như một ông vua, nhưng địa vị trên thiên đàng của Ngài là vua. Và đúng lúc, vương quốc của Ngài sẽ được bày tỏ cho thế gian. Sau hai ngàn năm, ngày nay trên trái đất này hơn một tỷ người tôn Đức Chúa Jesus là vua của họ, và hàng ngày càng có thêm nhiều người công nhận điều này.

Nhưng ngày nay có bao nhiêu người tôn Phi-lát hay Ceasar là vua của họ? Chẳng có ai. Bạn thấy đó, sự thật đã rõ ràng, Ceasar đã là vua, nhưng lẽ thật thì chính Đức Chúa Jesus là vua. Lẽ thật chiến thắng. Sự thật thất bại.

Đức Chúa Jesus thực hiện công bố tốt về Ngài là ai, cho dù điều đó không giống sự thật. Nhưng sự thật đã thay đổi. Giờ đây người tuyên bố theo Đấng Christ nhiều hơn bất kỳ ai đã từng sống. Lời công bố của Đấng Christ đã thay đổi thế giới.

Ngài là mô hình của chúng ta. Chúng ta cũng có thể thực hiện lời công bố chúng ta thực sự là ai – những tạo vật mới, công bình, thánh khiết, được chữa lành, thịnh vượng, khôn sáng, chiến thắng, vượt qua thế gian – và bằng cách làm như vậy, chúng ta có thể thay đổi thế giới của cá nhân chúng ta.

Chúng ta không chối bỏ sự thật, chúng ta chỉ tin rằng sự thật sẽ thay đổi và lẽ thật sẽ lên ngôi. Và vì chúng ta biết được quyền năng của Lời của Đức Chúa trời, chúng ta có thể đối đầu với sự thật và nói, “Đúng, sự thật là tôi đang cảm thấy đau ốm và các hóa đơn của tôi chồng chất, nhưng lẽ thật là, tôi đã được chữa lành và được ban phước.”

Khi chúng ta biết Lời của Đức Chúa Trời sẽ lên ngôi, chúng ta có thể đi gặp bác sĩ và hỏi về sự thật. Chúng ta có thể nói chuyện với tất cả các chủ nợ và nói với họ sự thật. Nhưng về tất cả các việc này, trong lòng ta biết rõ lẽ thật là gì. Để lẽ thật chiến thắng và sự thật phải tháo lui chỉ là vấn đề thời gian.

Mối quan tâm của tôi dành cho các Cơ đốc nhân đang kinh hoàng vì sự thật. Hậu quả là, họ từ chối đi gặp bác sĩ, tuyên bố rằng họ đã được chữa lành, nhưng trên thực tế họ sợ bị phát hiện ra sự thật – có thể họ bị cancer hay các loại bệnh không thể chữa lành. Hoặc họ từ chối điều chỉnh cách sống về mặt tài chính, cầu xin Đức Chúa Trời cung cấp mọi nhu cầu của họ, nhưng thực ra họ muốn Đức Chúa Trời tiếp trợ cho lòng tham của họ.

Bạn thấy đó, khi sự thật rõ ràng sẽ thay đổi, chỉ có Lời của Đức Chúa Trời là không đổi thì bạn có thể đối diện với sự thật bằng Lời của Đức Chúa Trời, và biết rằng Lời của Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng!

http://www.tbm.org/positive_confession_of_gods_word.htm




Phóng thích thiên sứ của bạn để làm việc cho bạn

Phóng thích thiên sứ của bạn để làm việc cho bạn

Tom Brown

         

Mark Buntain là một nhà truyền giáo ờ Ấn độ. Ông đã xây dựng một viện mồ côi, một nhà thờ và một bệnh viện ở Calcutta. Nhưng thảm họa đã xảy ra ở đó. Những trận mưa như trút nước đổ xuống đã buộc chính phủ phải di tản thành phố. Mark cũng buộc phải lên máy bay di tản.

 

Những câu hỏi xoáy trong đầu ông, “Liệu cơn lũ này có cuốn trôi hết các công trình làm cho người nghèo không?” Ông cảm thấy thất vọng. Ông bèn làm một việc duy nhất mà ông biết – cầu nguyện. Có một người đàn ông ngồi ở ghế bên cạnh, bắt đầu trấn an Mark. Ông đó nói với Mark rằng mọi việc sẽ tốt đẹp. Ông ta còn vạch ra một số bước đi mà Mark cần làm để hội truyền giáo của ông hoạt động hiệu quả hơn nữa.

 

Một tiếp viên đến bên Mark và hỏi ông muốn dùng thức uống gì. Mark đặt thức uống với anh ta xong quay qua người đàn ông bên cạnh để xem ông ấy đặt thức uống gì, nhưng trong sự kinh ngạc của Mark, người đàn ông đã biến mất. Ông ta đã bốc hơi! Mark tìm ông ấy trên khắp chiếc máy bay nhỏ đó nhưng ông ta không có trên đó. Mark bèn hiểu mình vừa được thiên sứ viếng thăm.

 

Người ta có rất nhiều ý kiến khác nhau về thiên sứ, nhưng điều chỉ dẫn đích xác duy nhất về thiên sứ chính ở trong Kinh Thánh, Lời của Đức Chúa Trời. Một số người nghĩ rằng thiên sứ là các bé thiên thần bay lượn xung quanh, cầm trong tay một món đồ chơi nhỏ dưới dạng một cây cung và một mũi tên. Nhưng Kinh Thánh mô tả thiên sứ là những chiến binh to lớn, các thiên sứ có mặt ở đó để dẫn dắt, bảo vệ và giải cứu chúng ta. Một số người cũng nghĩ thiên sứ là những người đã chết. Nhưng Kinh Thánh đã phân biệt rõ ràng các thánh với thiên sứ. Thiên sứ là một lớp thể chất khác với con ngươi.

 

Thiên sứ là ai? Hê-bơ-rơ 1:14 cho chúng ta biết: “Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?” Có ba điểm quan trọng đã được đề cập đến trong câu này. Một, thiên sứ là các thần linh, do vậy thường không thể thấy. Không phải vì bạn không thấy thiên sứ có nghĩa không có thiên sứ ở đó. Hai, nhiệm vụ của thiên sứ là chăm sóc và phục vụ con người. Con người không phục vụ thiên sứ, thiên sứ phục vụ con người. Ba, sự phục vụ của thiên sứ chủ yếu giới hạn cho những người đã được cứu hoặc sẽ được cứu. Thiên sứ không có nhiệm vụ phục vụ cho những người không được cứu; dầu vậy, vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho tất cả nên thiên sứ hầu như giúp đỡ mọi người. Chỉ có thiên đàng mới cho chúng ta biết các thiên sứ đã giúp đỡ chúng ta thường xuyên như thế nào.

 

THIÊN SỨ TRONG TÂN ƯỚC

Hê-bơ-rơ 8:6 nói rằng chúng ta có một giao ước tốt hơn dựa trên những lới hứa tốt hơn so với con người trong thời Cựu Ước. Điều này đúng về sự phục vụ của thiên sứ.

Theo Cựu Ước, các thánh không có uy quyền trên thiên sứ, do đó họ phải chờ thiên sứ đến giúp đỡ. Ngày nay, thiên sứ phục vụ chúng ta vì chúng ta có thể sử dụng Danh của Đức Chúa Jesus, là danh lớn hơn mọi danh thiên sứ, để sai thiên sứ làm công việc của họ. Trước khi Đức Chúa Jesus lên thập tự giá, Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Jesus “thấp hơn thiên sứ một chút.” Nhưng Kinh Thánh cũng dạy rằng giờ đây Ngài đã “chiến thắng vinh hiển” do đó các thiên sứ đầu phục Ngài và Danh của Ngài (xem Hê-bơ-rơ 2:9, Phi-e-rơ 3:22 và Phi-líp 2:10).

Cô-rinh-tô 1 6:3 nói rằng chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ. Quan tòa luôn luôn lớn hơn kẻ bị xét đoán. Kinh Thánh cho chúng ta biết các tín đồ có thẩm quyền để sai khiến thiên sứ thay mặt họ phục vụ.

Bạn đã từng sai khiến thiên sứ của bạn chưa? Hay các thiên sứ vẫn đang ngồi đó chờ bạn sai khiến họ làm việc?

CỞI TRÓI THIÊN SỨ CỦA BẠN

Trong Ma-thi-ơ 18:18, Đức Chúa Jesus đã trao cho Hội Thánh chìa khóa của vương quốc thiên đàng. Ngài phán, “Bất cứ cái gì các ngươi trói buộc ở thế gian sẽ bị trói buộc trên thiên đàng, và bất cứ cái gì các ngươi cởi trói ở thế gian sẽ được cởi trói trên thiên đàng.” Chúng ta hầu hết đều có nghe câu Kinh Thánh này và thường “trói buộc” ma quỉ. Kinh Thánh cũng có nói với chúng ta rằng chúng ta có thể “trói buộc một người khỏe”, và rằng một thiên sứ toàn năng sẽ “trói buộc ma quỉ trong hàng ngàn năm”. Từ “trói buộc” là một thuật ngữ để mô tả quyền lực “cột trói” Satan của chúng ta.

Tuy nhiên, Đức Chúa Jesus cũng nói rằng chúng ta có năng quyền để “cởi trói”. Chúng ta cởi trói gì? Chắc chắn không phải là Satan. Vậy thì ai? Dĩ nhiên là các thiên sứ. Một giọng nói vang lên, “Hãy cởi trói bốn thiên sứ đang bị trói… Và cả bốn thiên sứ đều được cởi trói” (Khải Huyền 9:14-15). Chắc bạn đã thấy thiên sứ phải được cởi trói. Ai có quyền năng để cởi trói các thiên sứ? Đức Chúa Jesus đã phán chính chúng ta. Chúng ta có các chìa khóa của vương quốc!

Các bạn sẽ hỏi, “Chúng tôi cởi trói cho thiên sứ bằng cách nào?”

Tôi nghĩ để có câu trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy đọc Thi thiên 103, câu 20: “Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, hãy vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va.”

Các thiên sứ lắng nghe – nghe và làm theo – GIỌNG NÓI Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng thiên sứ không chỉ lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời, mà còn lắng nghe giọng nói Lời của Ngài. Hãy làm thử thí nghiệm này: Hãy cầm quyển Kinh Thánh và áp sát nó vào tai bạn. Hãy nghe! Bạn có nghe gì không? KHÔNG CÓ GÌ HẾT! Tại sao? Vì quyển Kinh Thánh không có tiếng nói trừ phi bạn cho nó một giọng nói.

Nói cách khác, các thiên sứ hành động theo Lời của Đức Chúa Trời mà chúng ta nói ra bằng miệng của chúng ta. Họ nghe chúng ta nói Lời của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta nói Lời của Đức Chúa Trời, các thiên sứ nhanh chóng thực hiện điều đó trong cuộc sống của chúng ta.

Bạn đã thấy chúng ta đã ngăn cản các thiên sứ thực hiện nhiệm vụ của họ cho chúng ta như thế nào chưa? Chúng ta trói buộc các thiên sứ khi chúng ta nói trái với Lời của Đức Chúa Trời, và nói những điều như thế này “Chẳng có gì được việc cho tôi.” “Nếu tôi không gặp xui thì tôi cũng chẳng may mắn chút nào.” “ Tôi quá vụng về.” “Tôi sống theo Luật của Murphy.” “Tôi không thể nào thoát khỏi nợ nần.”

THIÊN SỨ NGHE NHỮNG LỜI NÓI CỦA CHÚNG TA

Đức Chúa Jesus phán, “Ta nói cùng các ngươi, ai sẽ xưng ta trước mặt thiên hạ, thì Con người cũng sẽ xưng họ trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời.” (Lu-ca 12:8). Đức Chúa Jesus công bố cho thiên sứ điều chúng ta công bố. Khi chúng ta công bố Đức Chúa Jesus là Chúa của chúng ta, Đức Chúa Jesus công bố cho các thiên sứ rằng Ngài là Chúa của chúng ta. Các thiên sứ biết điều chúng ta công bố trên thế gian. Đức Chúa Jesus nói lại lời của chúng ta cho các thiên sứ, và tùy theo điều chúng ta nói, họ sẽ làm cho những lời của chúng ta xảy ra.

Trong Kinh Thánh, có một câu chuyện lý thú minh họa cho lẽ thật này. Bạn đã biết câu chuyện này. Đức Chúa Jesus đã bị ma quỉ dụ dỗ trong bốn mươi ngày, còn Đức Chúa Jesus, trong khi Ngài bị cám dỗ Ngài chỉ làm một điều: Ngài nói Lời của Đức Chúa Trời. Ngài liên tục nói,” có lời chép rằng, …..  có lời chép rằng………..  có lời chép rằng.” Sau khi Đức Chúa Jesus cứ nói lên Lời của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh viết “Thì ma quỉ rời bỏ Ngài, và các thiên sứ đến và chăm sóc Ngài” (Ma-thi-ơ 4:11). Bạn có nghĩ rằng lý do khiến các thiên sứ đến với Đức Chúa Jesus là vì Ngài liên tục nói Lời của Đức Chúa Trời? Tôi nghĩ vậy! Các thiên sứ lắng nghe giọng nói Lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jesus nói lên Lời của Đức Chúa Trời, và các thiên sứ đến để phục vụ Ngài. Các thiên sứ cũng sẽ làm tương tự cho bạn nếu bạn cũng làm điều Đức Chúa Jesus đã làm – đó là nói Lời của Đức Chúa Trời!

HÃY NHỜ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM NƠI NƯƠNG NÁU MÌNH

Thi-thiên 91:9-12 nói, “Bởi vì ngươi đã nhờ Đức Giê-hô-va làm nơi nương náu mình, và Đấng Chí Cao làm nơi ở mình. Nên sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến cho ngươi, cũng chẳng có ôn dịch nào tời gần trại ngươi. Vì Ngài sẽ ban lệnh cho thiên sứ Ngài, bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi.”

Đức Chúa Trời hứa một sự bảo vệ toàn diện cho ai nhờ Ngài làm nơi nương náu mình. Điều bí mật để cầu xin quyền năng ở câu Thi-thiên này là nhờ Ngài làm nơi nương náu. Đó là chìa khóa. Đức Chúa Trời hứa một sự bảo vệ khi bạn còn nhờ Ngài làm nơi nương náu.

Vậy bằng cách nào bạn nhờ Đức Chúa Trời làm nơi nương náu? Câu trả lời ở ngay đầu của đoạn Thi thiên này, nói “Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được hằng ở dưới bóng của Đấng Toàn năng. TÔI NÓI VỚI ĐỨC GIÊ-HÔ-VA RẰNG, ‘Ngài là nơi nương náu tôi và là đồn lũy tôi, cũng là Đức Chúa Trời tôi, tôi tin cậy Ngài.’” Bạn nhờ Ngài làm nơi nương náu theo như cách David đã làm – NÓI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI rằng Ngài là nơi nương náu của bạn! Bạn công bố Ngài là nơi nương náu và là đồn lũy của bạn thì lời công bố của bạn sẽ làm cho Đức Chúa Trời trở thành nơi nương náu và đồn lũy của bạn.

Còn Đức Chúa Trời sẽ làm gì khi bạn công bố Ngài là nơi nương náu và là đồn lũy của bạn? Ngài sẽ ra lệnh cho các thiên sứ của Ngài bảo vệ bạn toàn diện để không có gì có thể hại bạn hoặc tai họa giáng xuống bạn. Thiên sứ phục vụ bạn vì bạn công bố Đức Chúa Trời là ai đối với bạn và Ngài sẽ làm điều gì cho bạn.

Đây là điều mà Shadrach, Meshach và Abednego đã làm trước khi bị ném vào lò thiêu. Họ đã tuyên bố một cách rõ ràng rằng, “Tâu bệ hạ, Đức Chúa Trời mà chúng tôi thờ phượng có khả năng giải cứu chúng tôi không bị thiêu đốt trong lò thiêu, và Ngài sẽ giải cứu chúng tôi ra khỏi bàn tay của ngài!” Họ vững vàng trong đức tin. Và kết quả như thế nào? Đức Chúa Trời đã gửi xuống một thiên sứ để bảo vệ họ không bị thiêu cháy. Thiên sứ nghe được Lời của Đức Chúa Trời từ môi miệng của những vị thánh can đảm này – và người đã vâng theo những lời nói của họ.

KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI

Câu Kinh Thánh sau cùng mà tôi muốn giới thiệu với các bạn sẽ chứng minh cho thấy thiên sứ chịu tác động rất lớn bởi lời nói của chúng ta. Đó là câu Thi thiên 34:7 “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đóng trại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài, và giải cứu họ.” Thiên sứ của Đức Giê-hô-va giải cứu những người biết kính sợ Chúa, không phải những người sợ thảm họa.

Kính sợ Chúa có nghĩa là gì? Câu 11 và 12 nói rằng, “Hỡi các con, hãy đến nghe ta; Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Đức Giê-hô-va. Ai là người ưa thích sự sống, và mến ngày lâu dài để hưởng phước lành.” Thiên sứ chắc chắn sẽ làm cho chúng ta kéo dài sự sống và hưởng những ngày tốt lành. Nhưng kính sợ Chúa là gì? Câu tiếp theo nói rằng nếu chúng ta muốn có nhiều ngày tốt lành thì “Khá giữ lưỡi mình khỏi lời ác, và môi mình khỏi nói sự dối gạt.”

Kính sợ Chúa được biểu lộ bằng việc giữ gìn miệng lưỡi. Nếu bạn kính sợ Chúa thì bạn sẽ nói lẽ thật. Vậy lẽ thật là gì? Đức Chúa Jesus phán, “Lẽ thật là Lời này!” Lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật cao nhất trong vũ trụ.

Bằng cách nói ra Lời của Đức Chúa Trời, bạn đang giữ miệng lưỡi mình không nói lời ác và dối trá. Khi bạn nói Lời Chúa, thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ đóng trại chung quanh bạn để giải cứu bạn khỏi những khi hoạn nạn. Thiên sứ làm điều này vì bạn đã bày tỏ sự kính sợ Chúa qua việc nói lên Lời của Ngài.




SỰ VUI MỪNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI – Tom Brown

SỰ VUI MỪNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Tom Brown

         

Một trong những câu Kinh Thánh thông dụng nhất là Nê-hê-mi 8:10 “Chớ buồn thảm, vì sự vui mừng của Đức Chúa Trời là sức lực của các ngươi.”

Vì sao sự vui mừng lại quan trọng? Vì “sự vui mừng của Đức Chúa Trời là sức lực của các ngươi!” Sự vui mừng làm nên sức lực. Và sức lực thì cần đế chiến đấu. Bạn được gọi “hãy đánh trận tốt lành” (Ti-mô-thê I 6:12). Trong tâm linh tôi cảm thấy rất nhiều người trong cơ thể Đấng Christ đang khổ sở đánh trận tốt lành. Họ đang khổ sở vì họ đã đánh mất sự vui vẻ của họ.

Có thể bạn đã chán đánh trận tốt lành với cuộc hôn nhân của bạn. Bạn chán người hôn phối. Bạn nghĩ rằng người ấy không còn yêu thương bạn nữa, do đó bạn chiến đấu vì tình yêu của người đó.

Có thể bạn đang đau ốm và chán vì đau ốm. Bạn đã đau ốm quá lâu đến nỗi bạn không còn nhớ được mạnh khỏe là như thế nào. Cũng có lúc, bạn chiến đấu với bệnh tật, nhưng bệnh tật dường như sẽ chiến thắng. Do đó bạn nghĩ, chẳng ích gì, tôi nên chấp nhận bệnh này và học cách sống với nó. Tôi sẽ không bao giờ khỏi bệnh.

Chắc chắn bạn đã có lần chiến đấu với những món nợ tài chính. Nhưng sự việc chẳng thay đổi bao nhiêu, và bạn bắt đầu chán nản. Bạn nghĩ bạn chẳng bao giờ thoát khỏi tình trạng thiếu tiền trả các hóa đơn.

Các con bạn cũng có thể là vấn đề. Bạn tự hỏi liệu chúng cuối cùng có ngăn nắp hay không. Bạn bị kiệt sức vì sự bừa bãi của chúng. Bạn tự hỏi Liệu Đức Chúa Trời có thay đổi chúng hay không?

AI CŨNG CÓ NAN ĐỀ

Tôi biết bạn đang cảm thấy gì. Là một mục sư, mỗi ngày tôi phải đối diện với nhiều thử thách. Tôi cố hết sức để là một mục sư tốt. Tôi dạy lời của Chúa, khuyên nhủ người quẫn trí, thăm người bệnh v.v… Nhưng vẫn còn đó những người không bao giờ hài lòng với công việc của tôi. Họ trách cứ:

“Tôi không được nuôi dưỡng về tâm linh.” “Mục sư không thăm tôi trong bệnh viện.” “Mục sư không có đó để khuyên nhủ tôi khi tôi cần ông ấy.” “Tôi không đi nhà thờ vì anh X là người vô thần.” “Tôi không đi nhà thờ vì những người trong nhà thờ không thân thiện.” “Ở nhà thờ không ai để ý đến tôi.” V.v…

Sau khi gặp phải những lời than trách này và nhiều thử thách khác, tôi cũng muốn bỏ cuộc. Tôi than thở với những nan đề của mình, Là một mục sư tốt thì có ích gì. Họ không đánh giá tôi đúng. Tôi muốn nói, “Quên họ đi!” Dĩ nhiên đó là xác thịt tôi nói, không phải từ lòng tôi.

Lòng tôi nói, “Họ không biết họ đang làm gì. Họ chỉ làm cho họ thất vọng. Họ không muốn làm tôi buồn. Tôi hãy vui mừng.” Đây là điều bạn cần làm: Hãy vui mừng!

HÃY LUÔN LUÔN VUI MỪNG

Phi-Líp 4:4 nói, “Hãy luôn luôn vui mừng trong Đức Chúa Trời. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng!” Bạn nên vui mừng thường xuyên như thế nào? Tôi biết câu trả lời, Luôn luôn! Bạn nên luôn luôn vui mừng, vì “vui mừng”là trái dễ bị mất nhất. Bạn không thể sống với sự vui mừng bạn có trong ngày hôm qua. Sự vui mừng chỉ mang đến cho bạn sức lực khi bạn có nó.

Nếu bạn có sự vui mừng vào tuần trước, sự vui mừng đó không cho bạn sức lực trong ngày hôm nay. Sự vui mừng chỉ có thể cho bạn sức lực trong ngày hôm nay nếu bạn có nó trong ngày hôm nay. Đây chính là lý do vì sao bạn phải luôn luôn vui mừng.

Bạn không thể nói, “Tôi không cảm thấy vui mừng.” Chúa không có phán, “Hãy vui mừng, chỉ khi ngươi cảm thấy vui mừng.” Không! Ngài nói, “Hãy luôn luôn vui mừng.” Rõ ràng Chúa biết rằng chúng ta không luôn luôn cảm thấy vui mừng. Nhưng bạn cần luôn luôn vui mừng vì nếu bạn không vui mừng, bạn đã đánh mất sức lực để chiến đấu.

Gia-cơ 1:2 nói, “Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn.” Sự vui mừng trọn vẹn không phải là hạnh phúc. “Hạnh phúc” (happiness) có từ từ “xảy ra” (happen). Do vậy, hạnh phúc dựa trên điều gì đó đang xảy ra. Nếu điều gì đó tốt đang xảy ra, thì bạn thấy hạnh phúc. Tuy nhiên, Chúa nói rằng sự vui mừng trọn vẹn cũng có kể cả khi đang giữa sự thử thách trăm bề – cả khi xe bị hư, hay khi con cái đau ốm, hay khi ông chủ cắt bớt giờ làm, hay khi người hôn phối đang khó chịu,v.v…

Vì sao Gia-cơ lại bảo chúng ta rằng hãy coi những thử thách trăm bề như điều vui mừng trọn vẹn? Vì sự vui mừng cho bạn sức lực để chiến đấu với các thử thách, và bạn sẽ chiến đấu các thử thách, bạn sẽ vượt qua. Gia-cơ tiếp, “vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.” Bạn thấy đó, Gia-cơ nghĩ trong đầu “chiến thắng mọi thử thách”, chứ không”chấp nhận thử thách của người.” Như vậy, bằng sự vui mừng, bạn vượt qua thử thách của bạn.

DẦU VẬY TÔI VẪN VUI MỪNG

Tôi thích câu ở Ha-ba-cúc 3:17 “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa.” (Nghe có vẻ như người này có nhiều nan đề.) Hãy xem tiếp câu sau:

“Dầu vậy…Dầu vậy…Dầu vậy…Dầu vậy…Dầu vậy.”

Lưu ý, người không đầu hàng các nan đề của mình. Người sẽ làm gì đó cho các nan đề của người.

Người nói, “Dầu vậy tôi sẽ VUI MỪNG TRONG ĐỨC CHÚA TRỜI, tôi sẽ VUI MỪNG TRONG ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA SỰ CỨU RỖI TÔI”

Người vui mừng vì, “Đức Chúa Trời Tối Cao là sức mạnh của tôi; Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Ngài khiến cho tôi đi trên các nơi cao.”

Bạn thấy đó, Ha-ba-cúc không có ý định chịu thất bại. Người có vẻ như bị thất bại, nhưng người không chịu thất bại. Sự khác nhau giữa người thất bại với người chiến thắng chỉ là thái độ của họ.

Thái độ biết ơn sẽ khiến bạn vượt qua trong cuộc sống. Đó là loại thái độ mà nhà tiên tri này có. Cho dù chẳng có điều gì tốt xảy ra trong cuộc đời của người – không có trái cây, không có mùa màng, không có chiên, không có trâu bò – nhưng người vẫn vui mừng.

Trong thế giới hiện đại ngày nay, Ha-ba-cúc có thể nói theo cách này:

“Dù không có thức ăn trong tủ lạnh, và không có tiền trong ngân hàng, dù bệnh tật nặng thêm, và sự đau đớn hành hạ, dù con cái bị nghiện, và người hôn phối không chấp nhận tôi, dầu vậy tôi vẫn vui mừng trong Đức Chúa Trời, tôi vẫn vui mừng Trong Đức Chúa Trời là Đấng cứu chuộc tôi.”

Dù hoàn cảnh như thế nào, bạn vẫn có thể vui mừng!

NGUỒN CỦA SỰ CỨU RỖI

Chúng ta hãy đọc một câu cuối cùng trong Kinh Thánh: “Chắc chắn Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi. Đức Chúa Trời, chính Đức Chúa Trời là sức mạnh của tôi, lời ca của tôi; Ngài đã là sự cứu rỗi tôi. Vậy nên CÁC NGƯƠI HÃY BẰNG SỰ VUI MỪNG MÚC NƯỚC TỪ CÁC NGUỒN SỰ CỨU RỖI” (Ê-sai 12:2-3).

Bạn có biết có các “nguồn” sự cứu rỗi không? Khi bạn được cứu, bạn được thừa hưởng rất nhiều nguồn. Mỗi nguồn chứa đựng ơn phước riêng:

Mỗi nguồn có một tấm bảng trên đó ghi: CHỮA LÀNH. Nguồn khác ghi: THỊNH VƯỢNG. Còn nguồn khác nữa ghi: KHÔN SÁNG. Khi bạn nhìn quanh tất cả các nguồn, bạn sẽ thấy một nguồn khác với một biểu tượng có nghĩa: PHỤC HỒI GIA ĐÌNH.

Bạn càng nhìn vào các nguồn bạn được thừa hưởng, lòng bạn càng vui mừng.

Hãy lưu ý là trong câu Kinh Thánh này nói bằng sự vui mừng, bạn múc nước lên từ các nguồn của sự cứu rỗi. Bạn cần cơ bắp – sức lực – để kéo nước lên tứ các nguồn. Nếu bạn không có sức lực bạn không thể kéo nước lân từ các nguồn. Đó là lý do vì sao Ê-sai nói, “bằng sự vui mừng các ngươi hãy kéo nước lên từ các nguồn của sự cứu rỗi.” Cần có sự vui mừng để kéo nước lên từ các nguồn chữa lành, thịnh vượng, khôn sáng và phục hồi gia đình. Không có sự vui mừng, bạn không thể kéo nước lên từ những nguồn tuyệt vời đó.

Sự vui mừng khiến cho bạn mạnh mẽ và có thể kéo được nước lên từ các nguồn cứu rỗi.

Bạn có thể đang đau ốm. Dù Chúa đã ban cho nguồn nước “chữa lành”, nhưng chỉ có bằng sự vui mừng bạn mới có thể kéo nước từ nguồn này lên. Vậy, hãy vui mừng dù bạn đang đau ốm.

Bạn đang nghèo khó. Nhưng chỉ bằng sự vui mừng bạn mới có thể kéo mước từ nguồn “thịnh vượng.”

Bạn có thể đang bị bủa vậy bởi sợ hãi, lo lắng và thất vọng. Nhưng, bằng sự vui mừng bạn có thể kéo nước lên từ nguồn “khôn sáng”!

Đừng buồn. Đừng chán nản.

Ma quỷ có khả năng tấn công bạn (nói cho cùng, hắn là chúa trong thời gian này) nhưng hắn không có quyền đánh cắp sự vui mừng của bạn. Sự vui mừng là một nguồn lực tâm linh ở bên trong tâm linh con người. Satan có thể đụng đến cơ thể bạn, tiền tài của bạn và gia đình bạn như sách của Gióp đã dạy, nhưng ma quỷ không thể đụng đến tâm linh bạn. Tâm linh bạn nằm ngoài các giới hạn đụng đến của ma quỷ. Vì ma quỷ không thể đụng đến tâm linh bạn nên cũng không thể đánh cắp sự vui mừng của bạn.

Satan không thể đánh cắp sự vui mừng của bạn vì nó thuộc về tâm linh. Nếu bạn đánh mất sự vui mừng thì điều đó do bạn đã bỏ nó đi. Tuy nhiên, nếu bạn vẫn luôn vui mừng, Satan buộc phải thả các ơn phước của bạn ra.




Đức Chúa Trời là Thợ gốm, Chúng ta là Đất sét

Đức Chúa Trời là Thợ gốm,

Chúng ta là Đất sét

 

Một trong những ẩn dụ mạnh nhất trong Kinh Thánh về sự biến đổi và thanh tẩy chúng ta trong Chúa là ẩn dụ về người thợ gốm và đất sét. Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời là Thợ gốm và chúng ta là đất sét. Chính Đức Chúa Trời Ngài sẽ nhào nặn, biến đổi và thanh tẩy chúng ta khi chúng ta còn lưu lạc trong cuộc sống trên thế gian này.

Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời cho chúng ta một ẩn dụ riêng biệt trong Kinh Thánh, điều này có nghĩa chúng ta phải tìm ra ẩn ý trong ẩn dụ đó để hiểu Ngài đang muốn phán gì cho chúng ta qua ẩn dụ đó. Nếu chúng ta khám phá được, chúng ta sẽ thấy đúng điều Đức Chúa Trời muốn phán cho chúng ta qua ẩn dụ đó. Nói cách khác, chúng ta phải tìm hiểu đồ gốm được làm như thế nào nếu chúng ta muốn hiểu đầy đủ hết những gì Đức Chúa Trời muốn phán cho chúng ta trong ẩn dụ lạ thường nhất này.

Dưới đây là câu chìa khóa trong Kinh Thánh. Câu này cho chúng ta thấy được ẩn ý của Đức Chúa Trời khi phán Ngài là Thợ gốm còn chúng ta là đất sét của Ngài:

Hỡi Đức Giê-hô-va, dầu vậy, bây giờ Ngài là Cha chúng tôi! Chúng tôi là đất sét, Ngài là thợ gốm chúng tôi; chúng tôi thảy là việc của tay Ngài.”(Ê-sai 64:8)

Tôi chưa hề tự làm đồ gốm nên tôi không có một ý tưởng gì về đồ gốm được làm như thế nào. Nhưng tôi luôn luôn có cảm giác Đức Chúa Trời sẽ bằng cách nào đó đưa đến một ai đó có thể trình bày và diễn tả quá trình làm đồ gốm được thực hiện như thế nào để chúng tôi có thể thấy ẩn dụ này rất đúng với điều Đức Chúa Trời muốn làm trong từng người một trong chúng ta về sự lớn lên của chính từng người trong Ngài.

Tôi vừa nhận được một DVD từ một người bạn. Hội thánh của bạn tôi vừa được một mục sư tên là Pat Lazovich đến thăm. Mục sư Pat vốn có làm đồ gốm trước khi được Đức Chúa Trời gọi ông dành trọn thời gian hầu việc Chúa. Do có kinh nghiệm trước đây về cách làm đồ gốm nên Đức Chúa Trời đã dùng ông đi đến nhiều Hội thánh khác nhau, trình bày đồ gốm thực tế đã được làm như thế nào, từ đó cho thấy ẩn dụ này thật sát hợp và đúng theo trật tự mà Đức Chúa Trời muốn để nhào nặn, tạo hình, và biến đổi tất cả chúng ta trong sự lớn lên của chính chúng ta trong Ngài.

Tôi đã xem hết cái DVD, sự trình bày và giải thích của ông về ẩn dụ này thật tuyệt vời. Tôi không thể có đủ lời khen ông về sự trình bày của ông về người thợ gốm và đất sét. Nếu có ai trong các bạn muốn mời ông đến Hội thánh của mình để ông trình bày cho các bạn, ông là Mục sư chính của Calvary Chapel ở Sierra Vista, AZ.

Trong bài này, tôi trình bày những bước chính của quá trình làm đồ gốm, sau đó là những giải thích vì sao những bước đó đều rất phù hợp trong ẩn dụ mà Đức Chúa Trời phán rằng Ngài là Thợ gốm và chúng ta là đất sét của Ngài.

Hãy nắm vững điều khám phá đầy ý nghĩa này, vì điều đó sẽ cho bạn thấy một cách rõ ràng và ấn tượng không chỉ việc Đức Chúa Trời nhào nặn và biến đổi chúng ta như thế nào trong cuộc sống này, mà còn vì sao Ngài lại làm một số việc đối với chúng ta trong quá trình nhào nặn này, vì quá trình này thực sự có những lúc rất đau đớn và khó chịu.

Tôi sẽ phân tích các bước chính của quá trình làm đồ gốm cùng với những giải thích từng bước đó phù hợp như thế nào với việc thanh tẩy chúng ta của Đức Chúa Trời:

1. Đức Chúa Trời cần Lời của Ngài trong chúng ta trước khi Ngài bắt đầu quá trình thanh tẩy

Điều đầu tiên mục sư Pat cho bạn thấy là đống đất sét ông sẽ sử dụng để làm một món đồ gốm ông muốn làm. Trước khi ông có thể để đống đất sét đó lên bàn xoay điện để bắt đầu quá trình nhào nặn để làm món đồ gốm ông muốn, trước hết ông phải thêm đủ NƯỚC vào đống đất sét đó để nó đủ dẻo và mềm để sử dụng. Nếu ông thêm không đủ nước vào đất sét, đất sét sẽ vẫn rắn và cứng và ông không thể sử dụng được.

Khi nước được thêm vào đất sét, nước sẽ làm cho đất sét mềm và dẻo. Nếu đất sét không đủ mềm và dẻo, thợ gốm không thể sử dụng nó để làm món đồ gốm mà anh ta muốn làm. Ẩn dụ chúng ta rút ra trong bước đầu tiên này chính là: nước dùng trong quá trình này đại diện cho Lời
của Đức Chúa Trời
.

Dưới đây  là câu Kinh Thánh hay, câu này cho chúng ta thấy ẩn ý thật sự của từ “nước” trong Kinh Thánh là tượng trưng cho Lời của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, Lời của Đức Chúa Trời giống như nước đối với linh hồn của chúng ta. Cũng như cơ thể vật lý của chúng ta cần nước để sống và tồn tại trên thế gian, linh hồn của chúng ta cũng cần Lời của Đức Chúa Trời chảy tràn trong chúng ta để nuôi sống phần hồn bên trong chúng ta.

để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch,  đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chỉ giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.” (Ê-phê-sô 5:26-27)

Điều mà điều này muốn nói với chúng ta là Đức Chúa Trời không thể bắt đầu nhào nặn và biến đổi chúng ta trong cuộc đời này trừ phi chúng ta phải sẵn sàng làm phần việc của mình trước. Phần việc của chúng ta là phải nhận lấy Lời của Ngài và cố gắng đọc, hiểu, và thấm nhuầnnhững điều có trong Kinh Thánh càng nhiều càng tốt, với Đức Thánh Linh giúp chúng ta hiểu điều chúng ta đang đọc thực sự là gì.

Kinh Thánh dạy rằng chúng ta phải lớn lên trong sự hiểu biết của Đức Chúa Trời, và một trong những cách chính để bạn lớn lên trong sự hiểu biết của Đức Chúa Trời là phải đọc một quyển Sách mà sẽ cho bạn sự hiểu biết này – Kinh Thánh! Không có cách nào khác để có sự hiểu biết của Đức Chúa Trời ngoài đọc Kinh Thánh.

Nếu bạn không dành đủ thời gian của cuộc đời bạn để đọc Kinh Thánh và thấm nhuần những hiểu biết thực tế trong Sách này càng nhiều càng tốt, thì Đức Chúa Trời sẽ có rất ít để làm trong sự lớn lên của chính bản thân bạn trong Ngài, và bạn cũng sẽ thấy rất ít, nếu có một sự lớn lên thật sự về tâm linh trong Ngài trong cuộc đời này.

Nguyên nhân vì sao các thánh đồ của Đức Chúa Trời (God’s Saints) không lớn lên về tâm linh trong cuộc đời này và được thanh tẩy đúng mức trong Đức Thánh Linh là do họ không dành đủ thời gian để đọc và hiểu Kinh Thánh, để có những hiểu biết thực tế có thể áp dụng như thế nào trong cuộc sống thường nhật của họ.

Đức Thánh Linh cần có cái gì đó để làm, nhằm làm cho quá trình lớn lên này chuyển động hoàn toàn – và cái gì đó đó chính là sự hiểu biết – và sự hiểu biết đó chỉ có thể có được bằng cách đọc Kinh Thánh. Không có cách nào khác!

Cũng như người thợ gốm không thể sử dụng đất sét trừ phi đống đất sét đó đã được thêm vào đủ nước – tương tự, Đức Chúa Trời không thể bắt đầu quá trình thanh tẩy trong cuộc đời của chúng ta trừ phi trước hết chúng ta phải nạp đủ Lời của Ngài trong chúng ta. Lời của Ngài không thể bắt đầu vận hành hiệu quả trong bạn và cuộc đời của bạn trừ phi bạn bắt đầu trước, nhận lấy Lời Ngài vào trong bạn ở nơi tốt nhất.

Vậy, không có gì phải thắc mắc, bước đầu tiên hết bạn phải làm, nếu bạn thực sự muốn Đức Chúa Trời nhào nặn và định hình bạn thành một loại người mà Ngài muốn bạn trở thành trong Ngài trong cuộc đời này, là phải dành đủ thời gian cho Lời của Ngài – cố gắng hiểu, với sự giúp
đỡ của Đức Thánh Linh, tất cả những hiểu biết có trong Kinh Thánh, và những hiểu biết này có thể kết hợp như thế nào trong cuộc sống cá nhân và cuộc hành trình cùng với Đức Chúa Trời của bạn.

2. Bạn phải được để đúng ‘tâm’ trong Đức Chúa Jesus Christ

Sau khi mục sư Pat đã thêm đủ nước vào đất sét để làm cho nó được dẻo và mềm, ông sẽ bắt đầu làm việc với nó – việc tiếp theo mà ông sẽ làm là để cục đất sét vào tâm của bàn xoay điện. Bàn xoay sẽ bắt đầu xoay và ông có thể dùng tay để bắt đầu quá trình nhào nặn và định hình cục đất sét khi nó được xoay trên bàn xoay.

Tuy nhiên, nếu cục đất sét không được đặt đúng tâm ở giữa của bàn xoay thì ông sẽ không thể làm việc với nó, và ông cũng sẽ không thể làm món đồ gốm mà ông muốn làm.

 Mục sư Pat nói việc cục đất sét được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay là bước đầu tiên để có thể làm một món đồ gốm. Nếu ông cứ cố làm một món đồ gốm với một cục đất sét không được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay thì cuối cùng cục đất sét cũng bị vỡ ra trước khi ông hoàn tất quá trình.

Tương tự như việc cục đất sét phải được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay trước khi người thợ gốm có thể bắt đầu nhào nặn và định hình nó – chúng ta cũng phải được đặt đúng tâm trong Đức Chúa Jesus Christ trước khi Đức Chúa Trời có thể bắt đầu nhào nặn và định hình chúng ta.

Được đặt đúng tâm trong Đức Chúa Jesus có nghĩa là gì? Tôi tin rằng được đặt đúng tâm trong Đức Chúa Jesus có nghĩa bạn phải hoàn toàn và trọn vẹn đầu phục chính bạn và cuộc đời của bạn với Ngài và từ nay Ngài sẽ toàn quyền kiểm soát toàn bộ cuộc đời của bạn. Đức Chúa Jesus phải trở thành Chúa và Cứu Chúa của cuộc đời bạn, chứ không chỉ là Cứu Chúa. Nhiều Cơ-đốc-nhân không nhận Đức Chúa Jesus là Chúa thật sự trong cuộc đời họ.

Hãy ghi nhớ – bạn phải theo ý muốn hoàn hảo của Đức Chúa Trời trước khi Ngài bắt đầu dẫn dắt bạn và cuộc đời của bạn theo hướng mà Ngài muốn bạn đi theo. Đức Chúa Trời sẽ không dẫn dắt bạn trọn vẹn đến định mệnh thiêng liêng của bạn trong Ngài, và thanh tẩy bạn trọn vẹn đến mức Ngài thực sự mong muốn trong cuộc đời này trừ phi bạn đầu phục hoàn toàn trước với Ngài. Đó là tất cả những gì bạn phải làm để được tất cả từ Ngài.

Tương tự như người thợ gốm không thể nhào nặn cục đất sét thành món đồ gốm mà anh ta muốn làm trừ phi cục đất đó được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay – cũng như Đức Chúa Trời không thể làm việc đúng mức với chúng ta trong cuộc đời này trừ phi chúng ta được đặt đúng tâm trong Ngài bằng sự đầu phục trọn vẹn.

Mục sư Pat cũng trình diễn điều này với một cục đất sét. Vì cục đất sét không được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay nên khi ông đã làm được nửa đường thì thật bất chợt, cục đất bị nứt và vỡ ra, rơi khỏi bàn xoay – tất cả chỉ vì ngay từ đầu nó đã không được đặt đúng tâm ở giữa bàn xoay.

Cũng với cách đó, nếu chúng ta cố sống cuộc sống của chúng ta không có Đức Chúa Jesus dẫn đường, cuộc đời của chúng ta cuối cùng cũng tan nát và chúng ta sẽ không bao giờ đạt được và hoàn thành định mệnh thiêng liêng mà Đức Chúa Trời đã chọn cho từng người một trong chúng ta trong cuộc đời này. Đây là lý do vì sao Đức Chúa Jesus đã phán với chúng ta bằng Lời của Ngài rằng nếu không có Ngài chúng ta chắc chắn không làm được cái gì hết trong cuộc đời này – và nếu chúng ta cố xây căn nhà của chúng ta trong cuộc đời này mà không có sự dẫn dắt trực tiếp của Ngài, nếu chúng ta cứ cố làm bằng chính sức lực và sự khôn ngoan của chúng ta, công sức của chúng ta cuối cùng sẽ ‘uổng công’.

Dưới đây là câu Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ điều này:

Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà, thì những thợ xây cất làm uổng công.” (Thi-Thiên 127:1)

3. Sự thanh tẩy là một quá trình chậm, đều, và tăng dần

 Điểm tiếp theo mà mục sư Pat chỉ ra là cái bàn xoay điện xoay ‘chậm’ và ‘đều’ như thế nào khi ông dùng tay để nhào nặn cái bình. Ông giải thích rằng để làm cái bình ông muốn từ cục đất sét, cái bàn xoay phải xoay chậm và đều như thế. Nếu chiếc bàn xoay xoay nhanh hơn, cục đất sét sẽ bị vỡ hoàn toàn trước khi ông hoàn thành cái bình.

Tương tự, chúng ta cũng phải nhẫn nại với Đức Chúa Trời về cách Ngài muốn làm việc và xây dựng cuộc đời chúng ta trong Ngài. Trong thế giới vận động nhanh, cá nhân chủ nghĩa này, chúng ta có thói quen mọi việc phải tức thời. Nhưng trong vương quốc Đức Chúa Trời, Ngài thường làm mọi sự thành theo một nhịp độ thời gian chậm hơn nhiều so với nhịp độ của chúng ta. Nếu chúng ta không tập cách theo Ngài với nhịp độ chậm hơn, chúng ta sẽ dễ đi đến thất vọng và mất kiên nhẫn, và rồi cuối cùng là mất đi sự vui mừng và bình an trong Ngài, chưa nói đến những lời cầu khẩn có thể có của chúng ta trong Ngài.

Cũng như một thiếu niên sẽ có những lằn rạn nứt trên da nếu nó lớn quá nhanh trong thời kỳ dậy thì, do vậy chúng ta phải để cho Đức Chúa Trời xây dựng chúng ta trong Ngài bằng một phương pháp chậm và đều. Nếu chúng ta cố đẩy vỏ bọc quá xa và quá nhanh với Ngài, các phần
khác nhau của cuộc đời chúng ta có thể hoàn toàn bị xổ tung và văng tứ phía.

Không chờ đến thời điểm của Đức Chúa Trời về người mà bạn sẽ kết hôn trong cuộc đời này có thể sẽ khiến bạn kết hôn không đúng người. Không chờ đến công việc mới tiếp theo mà bạn sẽ làm có thể khiến bạn quẹo sai đường trong thiên mệnh mà Đức Chúa Trời đã lập sẵn cho cuộc đời bạn, và điều này sẽ khiến bạn phải trả giá bằng nhiều năm lãng phí và không kết quả, nếu không muốn nói bạn có thể mất hoàn toàn sự kêu gọi của Ngài.

Cũng như người thợ gốm phải cần thời gian để nhào nặn và định hình món đồ gốm khi nó đang được xoay trên bàn xoay – cũng tương tự như cách Đức Chúa Trời nhào nặn, định hình, và biến đổi tất cả chúng ta một cách chầm chậm và đều như thế. Đây chính là lý do vì sao một trong
9 trái Thánh Linh là trái nhẫn nại. Chúng ta đều cần sự nhẫn nại của Đức Thánh Linh vận hành trong chúng ta để giữ cho chúng ta chờ đến đúng thời điểm của Đức Chúa Trời, khi Ngài muốn thực hiện các việc trong cuộc đời của chúng ta, nhất là trong thế giới vận động nhanh mà chúng ta đang sống.

4. Chính Bàn tay của Đức Chúa Trời sẽ nhào nặn, định hình, và biến đổi bạn.

Điều tiếp theo mà bạn cần hiểu rõ về quá trình thanh tẩy bạn trong Chúa là chính tay của Đức Chúa Trời vận hành thông qua Đức Thánh Linh có ở bên trong bạn sẽ biến đổi và thanh tẩy bạn một cách siêu nhiên. Đây là một công việc siêu nhiên, trực tiếp được chính Đức Thánh Linh thực hiện.

Một khi mục sư Pat đã đặt cục đất sét vào đúng tâm ở chính giữa bàn xoay, và đã thêm vào cục đất sét đủ nước để làm cho nó dẻo và mềm, mục sư bắt đầu quá trình nhào nặn cục đất sét.

Điều đầu tiên ông làm khi cục đất sét đang được xoay trên bàn xoay là dùng tay mình nhấn xuống ở phía trên cục đất sét để tạo một cái lỗ trong đó. Một khi đã có cái lỗ ở phía trên cục đất sét, bàn tay của mục sư sẽ đưa vào sâu bên trong ngay giữa cục đất sét để định hình, rồi ông dùng tay để tạo đúng dáng cho cục đất sét trong khi nó vẫn được xoay trên bàn xoay.

Như vậy, tay của mục sư Pat làm việc với cả bên trong và bên ngoài của cục đất sét để nhào nặn, định hình và biến đổi nó thành cái bình mà ông muốn làm khi cục đất sét đó vẫn được xoay trên bàn xoay. Vậy có thể nói đôi tay của mục sư làm và định hình tất cả từ một cục đất sét không có hình dáng gì ban đầu. Mục sư Pat nói ông không thể làm cái bình nếu tay của ông không đưa sâu vào bên trong ở chính giữa cục đất sét để tạo hình nó.

Tương tự, chính bàn tay của Đức Chúa Trời đưa sâu vào chính giữa linh hồn và tâm linh của chúng ta, nơi sự thanh tẩy bên trong được thực hiện, để nhào nặn và biến đổi chúng ta thành các thánh mà Ngài muốn chúng ta trở thành trong Ngài. Đây chính là lý do vì sao chúng ta hải bật đèn xanh hoàn toàn để Đức Chúa Trời làm công việc thanh tẩy bên trong này trong chúng ta, vì Ngài cần sự hợp tác trọn vẹn của chúng ta để có thể đạtđược mức sâu thẳm như thế trong lòng chúng ta.

Vì Đức Chúa Trời đang thực hiện một công việc siêu nhiên thật sự ở bên trong chúng ta nên nhiều lúc, điều này sẽ rất đau đớn và khó chịu, vì Ngài sẽ bỏ đi tất cả các tính xấu và tiêu cực mà Ngài không muốn chúng ta có trong cá tính của chúng ta, đồng thời, Ngài cấy và truyền vào tất cả những tính tốt, tích cực và thánh khiết mà Ngài muốn có trong chúng ta.

Mục sư Pat cũng phải dùng tay ép xuống một lực mạnh khi ông nhào nặn và định hình cục đất sét. Tương tự, Đức Chúa Trời cũng đôi khi phải ép một lực đáng kể lên chúng ta để chúng ta thay đổi thành loại người mà Ngài muốn chúng ta trở thành trong Ngài.

Việc loại bỏ các tính xấu như tính kiêu ngạo, ngạo mạn, nóng nảy, và ham muốn đều rất đau đớn do xác thịt chúng ta muốn giữ những tính xấu này vận hành trong cá tính chúng ta. Nhưng hãy để Đức Chúa Trời thực hiện công việc mổ xẻ bên trong này bằng Đức Thánh Linh, và cuối cùng bạn sẽ được nhào nặn và định hình thành thánh mà Ngài muốn bạn trở thành trong Ngài, và cuộc đời của bạn sẽ có sự vui mừng, hạnh phúc và trọn vẹn thật sự.

5. Hãy để Đức Chúa Trời phát triển trọn vẹn tiềm năng của bạn trong cuộc đời này

Điều tiếp theo mục sư Pat chỉ cho bạn thấy là khi đôi tay ông bắt đầu làm việc với cả bên trong và bên ngoài của cục đất sét, cục đất sét bắt đầu to lên khi nó tiếp tục xoay trên bàn xoay. Cục đất sét bắt đầu lớn dần và cao dần lên.

Nhưng, ông bất chợt ngừng công việc, công việc chỉ mới làm được một nửa. Từ đây ông chỉ cho thấy rằng tất cả chúng ta đều cần để Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta theo ý Ngài muốn. Ông nói không có ai muốn mua một cái bình chỉ mới hoàn thành một nửa.

Tương tự, chúng ta không được bỏ và trốn khỏi Ngài khi chúng ta đang leo lên lưng chừng ngọn núi Ngài muốn chúng ta leo theo tiếng gọi và thiên mệnh của chúng ta trong Ngài. Chúng ta luôn luôn cần tiếp tục bám chặt và để Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta theo ý Ngài muốn trong cuộc đời này. Rất nhiều Cơ-đốc-nhân đã bỏ và trốn khỏi Đức Chúa Trời khi họ đã leo được nửa ngọn núi mà Ngài muốn họ leo vì Ngài. Kết quả là, họ không bao giờ có thể biết họ phải đi thêm bao xa nữa với Đức Chúa Trời dù họ tiếp tục bám trở lại.

Mục sư Pat nói một khi bạn đã khởi động quá trình này với Đức Chúa Trời, hãy để Ngài quyết định Ngài sẽ đưa bạn đi bao xa trong cuộc đời này, và không nên sợ hãi nếu Đức Chúa Trời thật sự muốn kéo căng các khả năng và tầm nhìn của bạn trong kế hoạch thiêng liêng mà Ngài đã vạch sẵn cho cuộc đời bạn.

Hãy để Đức Chúa Trời dẫn bạn đi xa như Ngài muốn bạn phải đi và bạn sẽ không bao giờ phải lo rằng mình sẽ hối tiếc một khi bạn rời khỏi thế gian này và đi vào cuộc sống đời đời trên thiên đàng. Bạn sẽ rời khỏi cuộc sống này và biết rằng bạn đã hoàn thành mọi điều mà Đức Chúa Trời muốn bạn hoàn thành vì Ngài, nếu bạn vẫn đứng vững với Ngài và không từ bỏ Ngài vì sợ hãi hay lười biếng.

6. Đức Chúa Trời biết rõ Ngài muốn làm gì trong cuộc đời của bạn.

Việc tiếp theo mà mục sư Pat chỉ ra khi ông đang nắn cục đất sét thành đúng chiếc bình ông muốn làm là việc ông đã biết chính xác loại bình ông sẽ làm trước khi ông bắt đầu làm. Ông biết chắc chắn cái bình cao bao nhiêu, ngang bao nhiêu trước khi nó hoàn thành, vì thậm chí ông đã có sẵn một sơ đồ hoàn hảo cho cái bình trước khi ông ngồi xuống bắt đầu làm nó.

Tương tự, Đức Chúa Cha đã lập sẵn sơ đồ hoàn hảo cho cuộc đời của tất cả chúng ta. Ngài biết rõ Ngài muốn chúng ta trở thành như thế nào khi Ngài gọi chúng ta, chúng ta sẽ kết hôn với ai trong cuộc đời này, chúng ta có bao nhiêu con theo ý Ngài, và Ngài cũng biết rõ làm sao để liên kết các giai đoạn đặc biệt đó trong cuộc đời để chúng ta có thể đạt được một cách an toàn và trọn vẹn.

Cũng như cục đất sét cần tin tưởng hoàn toàn vào người thợ gốm sẽ làm nó thành đúng cái bình mà ông ta muốn làm – tương tự, chúng ta cũng cần tin tưởng trọn vẹn vào Đức Chúa Trời sẽ nhào nặn, định hình, và biến đổi cá tính của chúng ta, đồng thời dẫn dắt cuộc đời chúng ta theo những hướng đi cụ thể mà Ngài muốn chúng ta đi theo các hướng đó.

Vì Đức Chúa Trời là toàn năng còn chúng ta thì không, nên điều hợp lý là chúng ta phải hoàn toàn tin tưởng vào Đức Chúa Trời sẽ xây dựng ‘nhà’ của cuộc đời chúng ta trong Ngài thay vì chúng ta cứ cố gắng làm tất cả bằng chính sức lực và sự khôn ngoan của mình, hoặc sức lực và sự khôn ngoan của bất kỳ ai khác trên thế gian này.

7. Đừng vượt qua các đường ranh giới mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho cuộc đời của chúng ta.

Điều tiếp theo mà mục sư Pat sẽ cho bạn thấy là dù bạn muốn làm cái bình đó thành cái bình mà bạn đã thiết kế từ lúc đầu, bạn cũng phải rất cẩn thận để không làm cho cái bình quá cao hay quá lớn và vượt quá thiết kế ban đầu của cái bình. Nếu bạn làm cho cái bình cao hơn hay lớn hơn, cái bình sẽ bị bể ra và hoàn toàn vỡ tan, và phá hủy hoàn toàn điều mà bạn ngay từ đầu muốn làm với cái bình.

Tương tự với Đức Chúa Trời, dù chúng ta sẽ hiểu rõ và đi xa như Đức Chúa Trời mong muốn dẫn chúng ta đi trong cuộc đời này theo tiếng gọi đặc biệt của Ngài, chúng ta cũng cần nhận biết rằng đồng xu có 2-mặt nên còn một mặt khác nữa. Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng chúng ta không vượt qua điều mà Đức Chúa Trời gọi chúng ta, hay vươn ra các vị trí mà Ngài không muốn chúng ta dự phần vào.

Nếu Đức Chúa Trời đặt để bạn là một luật sư, một mục sư, hay một bác sĩ – bạn đừng cố vươn ra sự đặt để khác mà Ngài không muốn chúng ta dự phần vào. Nếu Ngài muốn đặt để bạn chơi ở vị trí third base trong đội của Ngài, bạn đừng cố vươn ra vị trí của người shortstophay left-fielder.

Hãy đứng trong những đường ranh giới mà Đức Chúa Trời lập sẵn cho cuộc đời bạn. Nếu bạn vượt ra ngoài các đường ranh giới này, bạn sẽ vượt ra khỏi sự kêu gọi thiêng liêng của bạn và do vậy sẽ không có sự xức dầu, không có sự bảo vệ, và không có kết quả trong những cố gắng
khác đó. Đức Chúa Trời biết rõ Ngài muốn đưa chúng ta đi bao xa trên thế gian này còn chúng ta phải tôn trọng các đường ranh giới mà Ngài lập ra cho cuộc đời của chúng ta.

Billy Graham được gọi thành nhà truyền giáo và ông đã đứng vững trọn vẹn trong sự kêu gọi này trong suốt cuộc đời của ông. Ông không hề cố trở thành một nhạc sĩ hay một mục sư. Ông đứng vững trong đường ranh giới mà Đưc Chúa Trời đã lập ra cho cuộc đời ông ngay từ đầu và kết quả là, ông đã trở nên một trong những nhà truyền giáo nổi tiếng nhất của mọi thời đại vì tất cả các kết quả tốt mà ông đã đạt được vì Đức Chúa Trời ở lời kêu gọi đặc biệt này.

8. Ánh mắt và sự chú ý của Đức Chúa Trời luôn luôn nhìn vào bạn.

 Một điều hay khác mà mục sư Pat chỉ cho thấy là mắt ông luôn luôn phải nhìn vào cục đất sét khi làm. Nếu ông để mắt khỏi cái bình và lơ đãng khi ông đang nhào nắn và định hình nó thì ông có thể làm sai và làm hỏng cái bình ngay lúc đó.

Tương tự, một khi chúng ta đã hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không bao giờ không để mắt không nhìn bạn và luôn để ý đến bạn. Bạn sẽ luôn luôn có sự quan tâm trọn vẹn và hoàn toàn của Ngài, vì Ngài có mặt khắp nơi và không thiên vị ai. Đức Chúa Trời chắc chắn để
mắt tới mọi người vì Ngài có mặt khắp nơi, nhưng chỉ khi bạn hoàn toàn đầu phục Ngài, Ngài mới bắt đầu làm việc và xây dựng cuộc đời của bạn theo hướng Ngài muốn bạn đi theo.

Điều này có nghĩa bạn có thể tin tưởng trọn vẹn vào Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất công việc mà Ngài đã bắt đầu với bạn cho đến ngày bạn chết và lìa xa thế gian. Kết quả là, bạn sẽ có thể ra đi khỏi thế gian này với điều tốt nhất, với tất cả các sứ mệnh thiêng liêng của bạn đã được hoàn thành trọn vẹn cho Ngài một khi bạn vẫn đứng vững và không chối bỏ Ngài ở bất cứ đâu trong cuộc hành trình.

9. Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn thực hiện những cắt tỉa lớn trong cuộc đời của bạn.

Việc cuối cùng mà mục sư Pat sẽ làm là dùng một con dao và bắt đầu cắt bỏ tất cả các phần đất sét dư thừa tích lại chung quanh cái bình khi ông vẫn nhào nắn và định hình nó trên bàn xoay. Điều ông làm là làm cho láng sạch các cạnh dư thừa để cái bình hoàn hảo và đẹp dưới đôi mắt thường.

Tương tự, Đức Chúa Trời cũng sẽ cắt tỉa hết những điều khác thường và các tính chất khác mà Ngài không muốn chúng ta có trong cuộc đời này. Đức Chúa Trời có thể cắt tỉa những người bạn xấu và tiêu cực mà bạn đang qua lại vì những ảnh hưởng tiêu cực của họ đối với bạn vàđối với sự phát triển tâm linh của bạn trong Ngài.

Ngài cũng sẽ cắt tỉa hết các thói quen xấu mà bạn vẫn còn như hút thuốc lá hay ăn quá nhiều các loại thức ăn không tốt – và Ngài chắc chắn sẽ cắt tỉa hết các tính xấu và tiêu cực mà bạn còn trong cá tính của mình như một số trong các tính xấu được đề cập đến ở trên.

Dù sự cắt tỉa này nhiều khi rất đau đớn do sự gắn bó của bạn với các điều đó, nhưng bạn chỉ cần nhận thức rằng điều đó để chính bạn tốt hơn về lâu dài, và tốt hơn hết bạn nên để Đức Chúa Trời cắt tỉa hết mọi điều Ngài muốn trong cuộc đời bạn hay trong cá tính của bạn. Chống lại không để Đức Chúa Trời cắt tỉa bạn sẽ không bao giờ đạt đến các tầm cao, đến sự kêu gọi, và đến con người mà Ngài muốn bạn trở thành trong Ngài trong cuộc đời này.

10. Hãy để Đức Chúa Trời nhào nặn bạn thành người riêng biệt mà Ngài muốn bạn trở thành trong Ngài.

Sau khi mục sư Pat hoàn thành quá trình biến đổi cục đất sét thành một cái bình sứ đẹp đẽ, ông đưa ra lời khuyên hãy để Đức Chúa Trời nhào nắn và định hình bạn thành một người riêng biệt mà Ngài muốn bạn trở thành trong Ngài, chứ không phải người nào khác muốn bạn trở thành.

Bạn được Đức Chúa Trời tạo thành để trở thành một người duy nhất – không giống với bất kỳ ai khác đã được tạo thành và sinh ra trên thế gian này. Hãy nhận thức rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nhào nắn và định hình bạn thành một người hoàn thành mà Ngài muốn bạn
trở thành trong Ngài.

Đức Chúa Trời, Cha và Người thợ gốm của chúng ta, là Người duy nhất có toàn trí, toàn năng và toàn lực để có thể thực sự thanh tẩy chúng ta thành các thánh đồ đẹp đẽ, thánh thiện và công bình. Ngài đang kêu gọi tất cả chúng ta trở thành trong Ngài trong cuộc đời này.

Kết luận

 Xem mục sư Pat trình bày cảnh thật về cách làm một cái bình gốm đã cho chúng ta bằng mắt thấy hiểu rất rõ ẩn dụ người thợ gốm và cục đất sét. Xem đôi tay của mục sư Pat lấy cục đất sét thô, cứng, và không có hình dạng gì hết rồi biến đổi nó thành một cái bình gốm đẹp đẽ, điều này hoàn toàn phù hợp với điều Đức Chúa Trời muốn làm với mỗi chúng ta trong cuộc đời này.

Vì chúng ta khi sinh ra trên thế gian này đều có tội, hư hỏng và vấp ngã nên chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể nhào nắn, định hình, và biến đổi chúng ta thành những chiếc bình vinh dự, đẹp đẽ xứng đáng để Ngài sử dụng. Sự thanh tẩy, khi được thực sự làm bởi Đức Chúa Trời, là trạng thái cao nhất mà tất cả chúng ta phải cố gắng để đạt trong mối tương giao cá nhân của chính chúng ta với Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh đã có sẵn ở trong chúng ta, sẵn sàng, đang chờ đợi, và đang mong muốn làm công việc này ở bên trong chúng ta.

Tôi kết thúc bằng sự liệt kê lại các điểm chính dưới đây:

1. Đức Chúa Trời cần Lời của Ngài trong chúng ta trước khi Ngài bắt đầu quá trình thanh tẩy

2. Bạn phải được để đúng ‘tâm’ trong Đức Chúa Jesus Christ (Sự đầu phục trọn vẹn)

3. Sự thanh tẩy là một quá trình chậm, đều, và tăng dần

4. Chính Bàn tay của Đức Chúa Trời sẽ nhào nặn, định hình, và biến đổi bạn.

5. Hãy để Đức Chúa Trời phát triển trọn vẹn tiềm năng của bạn trong cuộc đời này

6. Đức Chúa Trời biết rõ Ngài muốn làm gì trong cuộc đời của bạn.

7. Đừng vượt qua các đường ranh giới mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho cuộc đời của
chúng ta.

8. Ánh mắt và sự chú ý của Đức Chúa Trời luôn luôn nhìn vào bạn.

9. Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn thực hiện những cắt tỉa lớn trong cuộc đời của bạn.

10. Hãy để Đức Chúa Trời nhào nặn bạn thành người riêng biệt mà Ngài muốn bạn trở
thành trong Ngài.

English Version




LÀM SAO ĐỂ LỜI CẦU NGUYỆN CỦA BẠN ĐƯỢC NHẬN – Tom Brown

 LỜI CẦU NGUYỆN CỦA BẠN ĐƯỢC NHẬN

Tom Brown

          Bạn cầu nguyện để được kết quả. Nhưng, thật đáng tiếc, nhiều người cầu nguyện nhưng không nhận được câu trả lời cụ thể cho lời cầu nguyện của họ. Tôi sắp chỉ cho bạn biết cách cầu nguyện để được trả lời. Một khi bạn đã biết cách cầu nguyện để được trả lời, bạn sẽ không còn bị thiếu thốn nữa. Cuộc đời của bạn sẽ không bao giờ bị đau ốm, bị phá sản, hay bị thất bại nữa.

Bước đầu tiên và quan trọng nhất để có được câu trả lời cho lời cầu nguyện của bạn là: Hãy tìm kiếm những câu Kinh Thánh mà hứa hẹn một cách chắc chắn điều bạn đang cầu nguyện.

Khi người ta nói người ta đang cầu nguyện cho một điều gì đó, tôi thường hỏi họ, “Bạn dựa trên câu Kinh Thánh nào để đạt được điều bạn đang cầu xin?”, người ta thường trả lời, “À, chẳng có câu nào đặc biệt.” Vậy, đó là điều họ sẽ nhận, chẳng có gì đặc biệt.

Đức Chúa Jesus phán, “Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó.” (Giăng 15:7). Hãy lưu ý là Đức Chúa Jesus đã bắt đầu lời hứa này bằng từ “Ví bằng”. Từ “Ví bằng” là một từ có điều kiện. Từ “ví bằng” có nghĩa lời hứa này cho những người cầu xin là có điều kiện. Đó là gì? Đức Chúa Jesus phán rằng bạn có thể cầu xin bất cứ điều gì bạn muốn một khi “lời ta ở trong các ngươi.”

Bạn phải có lời của Đức Chúa Trời ở trong bạn nếu bạn mong đợi một câu trả lời cho lời cầu nguyện của bạn. Thường thì các cơ đốc nhân cầu nguyện cho một cái gì đó, thí dụ như sự chữa lành, nhưng họ lại không có bất kỳ lời hứa nào từ Đức Chúa Trời ở trong họ để đảm bảo Đức Chúa Trời sẽ đáp lời.

Đức Chúa Trời có rất nhiều lời hứa sẽ chữa lành bạn. Điều bạn cần làm là tìm ra những lời hứa đó và ngẫm nghĩ những lời đó cho đến khi chúng thành sự thật cho bạn. Bằng cách này, bạn sẽ có thể chiến thắng sự nghi ngờ khi sự chữa lành của bạn không đến ngay lập tức.

Bạn đã thấy nếu bạn cầu xin sự chữa lành và không biết những lời hứa của Đức Chúa Trời sẽ chữa lành bạn, khi các triệu chứng kéo dài, bạn bắt đầu nghi ngờ không biết có được trả lời hay không. Một khi bạn nghi ngờ, câu trả lời bị xóa bỏ.

Gia cơ 1:6-7 nói, “Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đó. Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa.” Đức Chúa Trời chỉ trả lời cho những người cầu nguyện với đức tin, không phải những người cầu nguyện nhưng nghi ngờ.

Một vài người có thể nói, “Nhưng nếu Đức Chúa Trời không muốn chữa lành cho chúng tôi khi chúng tôi cầu nguyện thì có lẽ Đức Chúa Trời không muốn chúng tôi khỏi bệnh. Có lẽ ý của Ngài không muốn chữa lành chúng tôi.”

Lẽ thật là, Lời của Đức Chúa Trời là ý muốn của Ngài. Nếu bạn muốn biết ý muốn của Đức Chúa Trời là gì, hãy đọc lời của Ngài. Ngài chỉ hứa những gì Ngài muốn làm. Vì Ngài đã hứa chữa lành chúng ta, chúng ta có thể chắc chắn rằng ý muốn của Ngài là chữa lành chúng ta. Vì không biết Lời của Ngài, những chậm trễ đáp lời có thể khiến chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời từ chối trả lời chúng ta. Nhưng nếu biết Lời của Ngài, những chậm trễ chỉ là các cơ hội để chúng ta đứng vững trên Lời của Đức Chúa Trời bằng đức tin.

HÃY CẦU XIN VÀ BẠN SẼ ĐƯỢC NHẬN

Bước thứ hai để lời cầu nguyện được đáp lời là: Bạn phải cầu xin Đức Chúa Trời điều mà bạn muốn và tin rằng bạn sẽ nhận được nó.

Bạn muốn cái gì? Hãy cụ thể và cầu xin.

Tiến sĩ Cho, vị mục sư của Hội thánh lớn nhất thế giới, đã nói rằng nhiều năm trước đây khi Nam Hàn còn nghèo, ông đã cầu xin Đức Chúa Trời một chiếc xe đạp. Vào lúc đó chiếc xe đạp là một món lớn. Rồi nhiều tháng trôi qua, ông vẫn không nhận được chiếc xe đạp. Cuối cùng, ông đã hỏi Đức Chúa Trời sao lâu quá ông vẫn chưa nhận được sự trả lời cho lời cầu nguyện của mình. Đức Chúa Trời đáp, “Con trai, con không nói với ta con muốn loại xe đạp nào. Có rất nhiều nhãn hiệu khác nhau, màu sắc khác nhau và nhà sản xuất khác nhau. Hãy cụ thể. Con muốn loại xe đạp nào?”

Tôi nghĩ nhiều người cần nói cụ thể các yêu cầu của họ. Đức Chúa Jesus hỏi người đàn ông mù, “ngươi muốn ta làm gì cho ngươi?” Rõ ràng người đàn ông mù muốn được sáng mắt, nhưng Đức Chúa Jesus không bao giờ giả định Ngài biết điều bạn mong muốn. Ngài muốn bạn thưa với Ngài.

Một khi bạn cụ thể yêu cầu của mình, bạn phải tin rằng bạn đã nhận được câu trả lời, kể cả trước khi bạn có thể thấy được câu trả lời.

Trong Mác 11:24, Đức Chúa Jesus phán, “Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.” Hãy lưu ý rằng trong câu Kinh Thánh này không nói hãy tin bạn sẽ được. Không! Câu này nói hãy tin bạn đã được. Điều này có nghĩa bạn phải tin rằng bạn đã có sự đáp lời, cho dù bạn chưa nhận được sự đáp lời bằng vật chất. Đó là đức tin.

Nhiều khi người ta cầu nguyện, nghĩ rằng mình tin nhưng thực ra họ chưa tin, chỉ hy vọng. Hy vọng và đức tin không giống nhau. Bạn không thể mong sẽ nhận được điều đã hứa bằng hy vọng, mà chỉ bằng đức tin. Đức tin là điều được đòi hỏi ở người cầu nguyện.

Nếu bạn cầu nguyện và mong rằng Đức Chúa Trời sẽ, một lúc nào đó trong tương lai, trả lời lời cầu nguyện của bạn, bạn không tin mà chỉ hy vọng. Đức tin nói Đức Chúa Trời đã trả lời lời cầu nguyện của bạn ngay khi bạn cầu nguyện. Bạn đang tin hay đang hy vọng?

Tôi nhớ lại câu chuyện mà Happy Caldwell có lần đã kể. Khi anh ta còn là một tội nhân, anh ta và bạn bè của anh ta thích uống thật say. Ngày kia, họ lái xe trên một xa lộ cũ ở Arkansas, và khi họ đi qua một quán rượu cũ nát bên đường thì thấy tấm bảng ghi: NGÀY MAI, BIA MIỄN PHÍ.

“Whoa!” họ đều thích thú. Họ ráng chờ đợi một cách khổ sở để được nốc ùng ục bia miễn phí. Ngày hôm sau, họ phóng nhanh đến quán rượu cũ kỹ đó.

“Dấu hiệu bia miễn phí vẫn còn!” Happy la lên. Họ nhảy ra khỏi xe, xông vào các cánh cửa của quán rượu, và gọi to người pha rượu, “Này! Hãy cho chúng tôi uống bia miễn phí!”

“Các anh nói gì vậy?” Người pha chế rượu hỏi

Các chàng trai chỉ vào tấm bảng, “Ông quảng cáo bia miễn phí. Do vậy chúng tôi mới đến đây.”

Người pha chế rượu cười vang, “Bia miễn phí – ngày mai!”

Ma quỉ cũng giống như người pha chế rượu. Nó sẽ khiến bạn nghĩ rằng ngày mai bạn sẽ có câu trả lời. Và khi ngày mai bạn đến đó, nó sẽ nói, “Hãy đợi đến ngày mai.” Khi mà bạn còn chờ vào ngày mai, ngày mai sẽ không bao giờ đến. Đức Chúa Trời nói, “Hãy tin là các ngươi có câu trả lời trong ngày hôm nay – NGAY BÂY GIỜ!” Đây là điều Đức Chúa Jesus muốn nói trong Mác 11:24 “…Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.”

CẢM TẠ ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ ĐÃ TRẢ LỜI

Bước thứ ba để lời cầu nguyện được đáp lời là: Cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã đáp lời, trước khi bạn có thể thấy điều đó. Vì bạn đã tin Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của bạn nên bước tiếp theo phải là cảm tạ Ngài trước vì sự đáp lời đó. Làm điều này chứng tỏ bạn tin vào Lời của Đức Chúa Trời.

Bạn có thể hỏi, “Sao tôi có thể cảm tạ Đức Chúa Trời đã đáp lại lời cầu nguyện của tôi khi tôi chưa được thấy điều đó?” Vì Ngài đã hứa trả lời nên điều tốt nhất đối với bạn là bạn hãy cảm tạ Ngài.

Giả sử có một người đàn ông hào hiệp hứa với tôi là ông ta sẽ mua cho tôi một bộ suit mới trong tuần tới. Tôi có nên nói, “Thưa ngài, khi nào ngài thật sự mua bộ suit đó và tôi mặc nó vào thì tôi sẽ rất biết ơn ngài và cảm ơn ngài về bộ suit đó. Còn bây giờ tôi chưa cảm ơn ngài vì chưa được mặc bộ suit mà ngài đã hứa.” Dĩ nhiên tôi sẽ không nói như vậy. Tôi sẽ cảm ơn ông ta ngay về bộ suit mới, cho dù tôi chưa được nhận nó. Tôi cảm ơn ông ta vì tôi tin vào lời nói của ông ta. Đối với Đức Chúa Trời, cũng đúng như vậy.

Đức Chúa Trời hứa đáp lời các lời cầu nguyện của chúng ta, và lời hứa của Ngài là thành tín để chúng ta biết ơn. Do vậy sau khi bạn đã cầu nguyện và tin bạn đã được đáp lời, hãy cảm tạ Đức Chúa Trời về sự đáp lời đó.

HÃY LUÔN SUY NGHĨ TÍCH CỰC

Bước thứ tư cũng là bước cuối cùng để lời cầu nguyện được đáp lời là: Hãy để tất cả các suy nghĩ đều khẳng định là bạn đã có sự đáp lời cho lời cầu nguyện của bạn.

Đây là bước cuối cùng mà nhiều tín đồ đã thất bại. Họ đã làm rất tốt cho đến bước cuối cùng này, vì nhiều tín đồ không biết cách chiến đấu với ma quỉ. Satan chiến đấu với tâm trí. Tâm trí chính là đấu trường mà cuộc chiến diễn ra.

Đừng cho phép bất kỳ một suy nghĩ vô tính nào xâm nhập vào tâm trí của bạn. Hãy để tâm trí bạn luôn khẳng định bạn có những điều cầu xin với Đức Chúa Trời. Lý do bạn phải giữ cho tâm trí mình các điều tích cực vì sự nghi ngờ thường bắt đầu trong tâm trí. Nếu bạn có thể vứt nó ra khỏi tâm trí thì bạn cũng có thể vứt nó ra khỏi lòng bạn.

Đó là bốn bước thực hành để lời cầu nguyện được đáp lời!




NGHE TIẾNG CHÚA

NGHE TIẾNG CHÚA

Dẫn nhập

Đức Chúa Tròi còn đang phán với chúng ta ngày nay không? Chúng ta có thể nghe tiếng Ngài không? Nhiều nhà lãnh đạo Cơ Đốc vẫn bị lầm lẫn vấn đề này.

Một số người tin rằng Đức Chúa Trời có thể hướng dẫn và đưa ra phương hướng khi chúng ta có nhu cầu. Một số khác nói rằng Đức Chúa Trời chỉ có thể phán với chúng ta qua những gì chúng ta đọc trong Kinh Thánh. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời vẫn đang còn phán với chúng ta bởi Thánh Linh của Ngài như Ngài đã từng phán trong thời Kinh Thánh. Còn bạn tin gì?

Sách lịch sử Pseudepigrapha có kể về một phái của người Pharisi hiện diện khoảng năm 800 TC. Giáo phái này dạy rằng tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn phán cho con người thì Ngài đã phán qua các sách của Môise. Còn bất cứ lời phán hoặc những sách tiên tri tiếp theo đều không có giá trị. Họ chỉ chấp nhận năm sách đầu của Kinh Thánh, không hơn không kém.

Dường như nhiều nhà lãnh đạo Hội Thánh ngày nay cũng tin như vậy (với một vài sửa đổi). Ví dụ như những nhà “thần học Pharisi hiện đại” dạy rằng bây giờ Đức Chúa Trời chỉ phán với chúng ta qua những gì đã được chép trong Kinh Thánh. Ngoài ra Đức Chúa Trời không còn đang phán nữa.

Mặc dù Kinh Thánh là một quyển sách hoàn tất, và không một ai dám thêm vào đó điều gì, thì ý nghĩ cho rằng chúng ta đang hầu việc một ĐỨC CHÚA TRỜI CÂM (Đấng không thể nói được) là một trò đùa thần học đại ngớ ngẩn.

Trong thời Cựu Ước, nhiều người đã ngã chết bởi vì không vâng theo lời phán của Đức Chúa Trời, nhưng ngày nay nhiều người “…Cự Đấng truyền lời báo cáo từ trên trời “(Hêb 12:25).

Bảy lần chúng ta được cảnh cáo rằng: “Ai có tai mà nghe hãy nghe lời Đức thánh Linh phán (thì hiện tại) cùng các Hội Thánh “(Khải 2:73:22)

A. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHE TIẾNG CHÚA

Chúa Jesus phán: “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời “(Mat 4:4).Từ ngữ nói ra được dùng trong thì hiện tại tiếp diễn. Điều này có nghĩa là một điều gì đó đã xảy ra trong quá khứ, đang xảy ra trong hiện tại và sẽ còn xảy ra trong tương lai.

Câu Kinh Thánh này có thể được dịch là: “Người ta sống… nhờ mọi lời đã được nói ra và vẫn tiếp tục được nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời là Đấng đã phán trong quá khứ, đang phán trong hiện tại, và còn tiếp tục phán trong tương lai. ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG PHẢI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI CÂM!

Nói như vậy không có nghĩa là Kinh Thánh còn đang được viết và chúng ta phải bổ sung vào. Tôi KHÔNG tin như vậy. Tuy nhiên, Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời muốn “Ta sẽ ở và đi lại giữa họ, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta. ” (ICôr 6:16),”anh em là thơ gởi gắm (thơ sống),để mọi người đều biết và đọc ” (IICôr 3:23).

Chúng ta cần phải nghe tiếng Chúa biết bao! Chúng ta chỉ có thể sống (có một đời sống được phước của Chúa trong Hội Thánh chúng ta ngày nay) bởi nghe mọi lời phán ra từ miệng Đức Chúa Trời ngay trong lòng của chúng ta.

1. Biết Ý Muốn Của Đức Chúa Trời

Mỗi người lãnh đạo Hội Thánh đều đối diện với câu hỏi này: Đức Chúa Trời muốn tôi làm gì, và tôi phải để cho Đức Chúa Trời làm gì? Trách nhiệm của tôi chấm dứt ở đâu để cho Đức Chúa Trời bắt đầu hành động?

Mặt khác, Kinh Thánh chép: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy “(Xa 4:6).

Một số người gợi ý câu Kinh Thánh này dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ làm mọi việc bởi Thánh Linh của Ngài, còn chúng ta không cần phải làm gì cả.

Nhưng mặt khác, Chúa Jesus phán: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mình, mà không sửa soạn sẵn và không theo ý ấy, thì sẽ bị đòn nhiều “(Lu 12:47). Điều này dạy chúng ta cách rõ ràng rằng Đức Chúa Trời trao trách nhiệm cho các tôi tớ Ngài phải biết ý muốn của Ngài và làm theo.

Chúng ta có thể giải quyết sự rắc rối này cách dễ dàng bằng cách nghiên cứu lại các lời của Chúa Jesus. “Đầy tớ này đã biết ý chủ mình mà không…theo ý ấy thì sẽ bị đòn nhiều”. Chúa Jesus đã đối chiếu người đầy tớ này với người đầy tớ không biết ý của chủ. Người đầy tớ đó sẽ “bị đòn ít” (câu 48). Cả hai trường hợp: Nếu bạn biết mà không làm hoặc nếu bạn không biết mà không làm cũng đều bị đánh đòn.

a. Lời Làm Chứng Của Tôi. Khi tôi còn đang được huấn luyện để trở thành giáo sĩ, hầu như tôi thường làm chứng cho bất cứ người nào tôi gặp, với mong ước rằng sẽ có những người tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình. Tôi đã nghiên cứu sách vở, và rút ra dàn ý sau. Bằng cách chia xẻ cho tội nhân bốn điểm này, tôi có thể hướng dẫn vài người tin Chúa.

  • Bạn là một tội nhân (Rô 3:23)
  • Hình phạt cho tội lỗi là sự chết đời đời (6:23).
  • Chúa Jesus gánh tội lỗi của bạn trên thập tự giá (IPhi 2:24)
  • Tiếp nhận Chúa Jesus và bạn sẽ được cứu (Giăng 1:12)

Tôi xin xác quyết rằng tất cả những điều trên đều là chân lý. Đây là điều mà tất cả mọi người cần biết để được cứu. Nếu họ tin những điều này thật lòng, họ sẽ được sinh lại từ trên cao bởi quyền năng tái tạo của Đức Thánh Linh.

Nhưng suốt cả mùa hè năm đó, không có ai được sinh lại hoặc tiếp nhận Chúa mặc dù tôi đã cố gắng hết sức. Tôi đã làm điều gì sai?

Tôi đã tin cậy quá nhiều vào công thức, phương pháp thay vì tin cậy vào sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Tôi đã không nghe tiếng Chúa hướng dẫn nên những cố gắng của tôi đã ở đưng (không kết quả).

Vài năm sau, khi chứng kiến anh Heeley hướng dẫn hàng chục linh hồn trở lại với Đấng Christ tôi đã tìm ra lỗi lầm mình mắc phải trong khi chinh phục linh hồn. Mọi nơi anh Heeley đi đến, anh điều hướng dẫn nhiều người đến với Chúa.

Khi anh Heeley cần hớt tóc, anh cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin hướng dẫn con đến một người nào cần Chúa và sẵn sàng tiếp nhận Ngài”. Anh lên xe và đi qua vài tiệm hớt tóc. Khi nào anh cảm thấy Đức Thánh Linh chỉ trong lòng anh tiệm nào, anh liền đi vào tiệm đó với lòng mong muốn đem người thợ hớt tóc đó trở về cho Đấng Christ. Rất ít khi anh thất bại.

Khi anh Heeley muốn bơm chiếc xe đạp hoặc đi chợ cho vợ anh, anh đều làm như vậy. Anh cầu nguyện để nhận được sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh – rồi lắng nghe sự hướng dẫn dịu dàng của Đức Chúa Trời. Anh luôn tìm ra những tội nhân sẵn sàng tiếp nhận Đấng Cứu Thế vì anh vâng theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Một ngày kia tôi hỏi anh: “Nầy anh Heeley ơi, anh đã dùng phương pháp gì để làm chứng cho những người khác vậy?”. “Tôi không có một phương pháp nào cả” anh trả lời, “Tôi nghe tiếng của Thánh Linh hướng dẫn tôi phải nói điều gì cho họ. Tôi không bao giờ nói điều gì đó hai lần. Chúa giúp đỡ tôi biết nhu cầu của họ, và nói với họ điều đó trong sự quan tâm yêu thương. Điều này làm cho họ biết rằng Đức Chúa Trời và tôi điều quan tâm đến họ”.

Anh Heeley được sinh ra và lớn lên tại Shanxi nhưng mãi đến năm bốn mươi tuổi anh mới được nghe Tin Lành. Anh được một người chinh phục linh hồn lưu động là người tỏ ra yêu thương, quan tâm đến anh, hướng dẫn anh quay về với Đấng Christ. Bây giờ anh Heeley làm những gì người ấy đã làm. Anh đi khắp nước Trung Quốc bày tỏ lòng quan tâm, yêu thương mọi người và hướng dẫn họ quay trở lại với Đấng Christ. Bí quyết của anh là nghe và vâng theo tiếng của Đức Chúa Trời.

Tôi đã cố gắng bắt chước Heeley từ khi tôi gặp anh. Tôi đã nhận biết rằng Đức Chúa Trời sẽ hướng dẫn bạn nếu bạn mong muốn như vậy. Lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời và Ngài sẽ hướng dẫn bạn đến với những người đang cần sự cứu rỗi và sẵn sàng tiếp nhận Đấng Cứu Thế.

Chúng ta không chỉ nghe theo tiếng Chúa trong khi chinh phục linh hồn nhưng trong cả những lãnh vực khác của chức vụ chúng ta. Vậy thì điều gì ngăn trở chúng ta nghe tiếng Chúa.

B. NHỮNG ĐIỀU NGĂN TRỞ CHÚNG TA NGHE TIẾNG CHÚA

1. Những Tấm Lòng Không Trọn Thành Trước Mặt Chúa

“Vì con mắt Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian, đặng giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài “(IISử 16:9).

Những người trong thời Kinh Thánh đã hiểu rõ rằng tấm lòng là ngai của: 1) cảm xúc hoặc tình cảm, 2) những động cơ, và 3) những chủ đích của con người.

a. Tình Cảm Trần Tục. Nếu tình cảm của chúng ta đặt nền tảng trên những gì thuộc về thế gian hơn là những gì thuộc về thiên đàng, thì điều này làm buồn lòng Đức Chúa Trời (IGiăng 2:15). Kinh Thánh dạy chúng ta phải yêu mến Đức Chúa Trời với cả tấm lòng, linh hồn, tâm trí và sức lực của chúng ta (Mat 22:37).

b. Những Động Cơ Không Trong Sáng. Nếu những động cơ của chúng ta không trong sạch như của tiên tri Balaam (Dân 23:1-30) thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét chúng ta cách nghiêm khắc. Balaam đã đổi những ân tứ mà Đức Chúa Trời ban cho ông để lấy những của cải danh vọng và uy tín.

c. Những Ý Định Sai Lầm. Anania và shaphiara (Công 5:142) đã không thật thà khi dâng tiền vào công việc của Chúa vì họ đã giữ lại một phần lớn cho họ. Bởi vì ý định của họ sai lầm nên Đức Chúa Trời đã giết họ.

Ô! Chúng ta cần phải canh giữ tình cảm, động cơ và ý định của chúng ta biết bao! để chắc chắn rằng nó trong sạch trước mặt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời biết rõ mỗi tấm lòng chúng ta.

“Loài người xem bề ngoài nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng “(ISa 16:7).Chúng ta không thể dấu những điều này khỏi Chúa. Và nếu chúng ta không giữ lòng mình trong sạch, ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không nghe được tiếng Ngài.

2. Sự Cứng Lòng

“Ngày nay nếu chúng ta nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng “(Hêb 4:7).

Khi tôi và nhóm của tôi đi truyền giảng Phúc Âm. Chúng tôi thường kiêng ăn và cầu nguyện để Đức Chúa Trời ban quyền năng và chúng tôi có thể chữa lành bịnh tật, chúc phước cho mọi người. Chúng tôi thường biệt riêng một ngày để kiêng ăn và cầu nguyện cho những vấn đề này.

Chúng tôi thường chọn ba cặp (chồng và vợ) Cơ Đốc nhân đã trưởng thành để lập một nhóm cầu nguyện. Có lẽ chúng tôi có năm hoặc sáu nhóm như vậy trong những ngày kiêng ăn cầu nguyện.

Những nhóm cầu nguyện xếp ghế thành vòng tròn và những người đến để được cầu nguyện sẽ ngồi vào giữa vòng tròn này. Chúng tôi khuyến khích những nhóm này cầu nguyện trong Thánh Linh (bằng tiếng mới – ICôr 14:13,14) và xin Thánh Linh ban quyền năng thiên thượng cho những người được cầu nguyện.

a. Sự không tha thứ ngăn trở tiếng Chúa. Có một phụ nữ đến trong vòng tròn cầu nguyện của vợ chồng chúng tôi. Căn bịnh viêm khớp nặng đã làm bà đau đớn ở lưng và bàn tay. Các ngón tay của bà bị co lại, bà không thể xòe ra được.

Bà nói rằng Chúa đã ngừng phán với bà. Hơn tám tháng rồi bà không còn nghe tiếng Chúa nữa.

Khi cả nhóm bắt đầu cầu nguyện trong Thánh Linh, trong trí tôi hiện lên một bức tranh về một cánh đồng lúa đã được thu hoạch. Đất khô cứng với những gốc rạ. Tôi đang suy nghĩ bức tranh này có ý nghĩa gì đối với nhu cầu của người chị em này, Đức Thánh Linh phán với tôi rằng: “Đây là bức tranh về tấm lòng của người chị em con. Chai cứng và khô cằn”.

Tôi cầu nguyện “Chúa ơi, tại sao vậy” Thánh Linh trả lời rằng “chồng bà ta đối xử tệ với bà, và bà đã không tha thứ cho chồng. Sự không tha thứ của bà đã làm cho lòng bà cứng cỏi. Và bởi vì bà không tha thứ cho chồng nên bà cũng không được tha thứ. Tất cả những điều này gây nên sự chán nản khốn khổ trong lòng bà và nó làm cho bà phải chịu đau đớn bởi bịnh viêm khớp này.”

Lúc đó tôi không hoàn toàn chắc chắn rằng Thánh Linh đã phán với tôi như vậy. Vì vậy tôi đã thử để biết đó là lời của Thánh Linh hay là trí tưởng tượng của tôi. Tôi kể cho bà nghe về bức tranh (khải tượng) hiện lên tong đầu tôi. Tôi cũng thuật lại cho bà những gì tôi nghĩ là Chúa đã phán với tôi về tình trạng của bà. Rồi tôi hỏi “có điều nào đúng như vậy không?” Bà tan vỡ trong nước mắt và trả lời: “Vâng, anh Ralph ơi tất cả điều đúng”

b. Sự Tha Thứ Làm Cho Nghe Tiếng Chúa Trở Lại. Sự thương xót của Chúa tràn ngập lòng tôi đối với người chị em yêu dấu này. Tôi nói với bà trong khi nước mắt chảy dài: “Chị ơi, Chúa Jesus yêu thương chị vô cùng. Ngài muốn chữa lành cho chị và chuyện trò với chị. Chị hãy nói lên sự tha thứ của chị rằng” Tôi tha thứ cho chồng tôi về những điều độc ác nào mà anh ấy đã làm để hành hạ tôi”. Khi chị làm như vậy Chúa sẽ chữa lành cho chị, chị sẽ có một tấm lòng mềm mại (thay vì tấm lòng cứng cỏi) và Chúa sẽ phán với chị.

Bà đã làm như tôi gợi ý và chỉ trong ba phút các sự đau đớn của bịnh viêm khớp điều tan biến. Các ngón tay của bà được tự do và bà có thể bẻ nó như một người bình thường.

Vài ngày sau bà nói với tôi qua dòng nước mắt của sự vui mừng rằng: “Anh Ralph ơi, Chúa đã nói chuyện trở lại với tôi. Ngài thật tốt biết bao.” Sau này tôi biết rằng bà là một người lãnh đạo trong một Hội Thánh lớn.

Câu chuyện này cho chúng ta thấy rằng có một tấm lòng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời thật quan trọng biết bao. Tấm lòng cứng cỏi, chai đá, vô tín và hàng chục “trạng thái lòng” khác ngăn trở chúng ta nghe tiếng Chúa.

3. Tình Trạng Chưa Được Tái Sanh

Tôi đã đi trên mười lăm xứ sở để giảng Tin Lành. Nan đề lớn nhất mà tôi gặp phải là những người lãnh đạo Hội Thánh chưa được tái sanh, những người giáo sĩ chưa từng được Thánh Linh của Đức Chúa Trời sanh lại. Có cần phải ngạc nhiên khi họ không nghe được tiếng Chúa?

Cách đây hơn 200 năm, John Wesley nhà sáng lập một trong những phong trào phục hưng vĩ đại nhất trên thế giới, đáp tàu từ thuộc địa Georgia về Anh sau một chuyến truyền giáo tại đó. Ông đã ở đó để cố gắng xoa dịu hình phạt nặng nề của những người tù.

Trên chuyến tàu, các giáo sĩ Moravian ở Bavaria đã hỏi ông rằng: “Nầy anh John Wesley, anh đã được sanh lại chưa?”

Ông trả lời: “Tôi là một giáo sĩ thụ phong Anh Quốc giáo”

“Đó không phải là điều chúng tôi hỏi anh, John ạ! Anh đã được Thánh Linh của Đức Chúa Trời sanh lại chưa?”

John Wesley đáp: “Tôi đã hầu việc Chúa giữa những người tù, giúp đỡ kẻ nghèo khó và làm tất cả mọi việc lành từ khi tôi tốt nghiệp thần học” (John Wesley cố gắng tránh né vấn đề “Thiên đàng hoặc địa ngục” này).

Những người Moravian vẫn cứ ép ông: “Hỡi anh John, Chúa Jesus phán: Ngươi phải được sanh lại”

Đương đầu với câu hỏi này nhiều lần, Wesley đã để nhiều thì giờ còn lại của cuộc hành trình đọc lại cuốn Tân ước của mình. Ông đã gặp những câu Kinh Thánh như thế này: “Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời” (Rô 8:16).

Ông suy nghĩ: “PhaoLô đang nói đến điều gì? ‘ Đức Thánh Linh làm chứng trong lòng chúng ta…’ điều đó có nghĩa gì?”

Rồi ông đọc trong IGiăng 1:10“Ai tin đến Con Đức Chúa Trời thì có chứng ấy trong mình “

Ông trầm ngâm “Ta chưa từng kinh nghiệm được chứng nào trong lòng như Giăng nói. Ta được sanh lại chưa?”

Càng nói chuyện nhiều với những giáo sĩ Moravian và đọc Kinh Thánh Tân ước bao nhiêu, ông càng tin chắc rằng mình chưa có “đức tin để được cứu rỗi”.

a. Đức tin để được cứu hay sự chấp nhận của trí tuệ. Một ngày kia ông đọc Gia 2:19 “ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ”. Wesley bắt đầu nhận ra sự khác biệt giữa “đức tin để được cứu” và sự chấp nhận của trí tuệ về những sự kiện lịch sử được ghi lại trong Kinh Thánh về Chúa Jesus. Ma quỉ cũng tin những sự kiện đó nhưng không có đức tin để được cứu.

Tin rằng Hội Thánh, những giáo sư thần học và hội đồng giáo sĩ không thể giúp ông có được sự sanh lại của Đức Thánh Linh, nên Wesley bắt đầu tìm kiếm sự thật thuộc linh này.

Một thời gian ngắn sau khi trở về Anh, một đêm kia Wesley đi vào ngôi nhà thờ nhỏ tại Luân Đôn để nghe giảng. Đang khi ngồi nghe phúc âm được rao giảng cách rõ ràng và dễ hiểu, sau này ông làm chứng lại rằng: “Lòng tôi bỗng ấm áp khác thường”. Ông rời nhà thờ đêm đó với sự bình an, vui mừng và đầy sự tạ ơn.

Cuối cùng ông đã kinh nghiệm được niềm vui của sự tái sanh. Bây giờ ông đã biết điều mà PhaoLô, Giăng và Giacơ nói đến. Cuối cùng thì ông đã biết sự khác nhau giữa lẽ thật thuộc linh về phúc âm và sự chấp nhận của trí tuệ về điều này. Ông dành những năm còn lại của chức vụ để chỉ cho mọi người biết rằng sanh lại là điều cần yếu biết bao.

b. Bạn Có Thể Biết Chắc Rằng Bạn Đã Được Cứu Còn bạn thì sao? Bạn đã được sanh lại chưa? Bạn có thể biết được điều này. Tại sao bạn không mời Chúa Jesus ngự vào lòng bạn?

Hãy cầu nguyện những lời đơn giản như vầy:

“Lạy Chúa Jesus, con tuyên bố Ngài là Chúa của con. Con tin rằng Ngài đã gánh tội lỗi của con trên cây thập tự để giải phóng con khỏi tội lỗi. Con tin rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại và hiện nay đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.

Con tin cậy Chúa Jesus và chỉ có huyết Ngài mới có thể trả giá cho tội lỗi của con. Con xin tiếp nhận Đức Thánh Linh để Ngài làm chứng trong lòng con rằng con là con cái của Đức Chúa Trời. Con xin dâng mọi điều trong danh Đức Chúa Jesus Christ. A-men.”

Nếu bạn thật lòng cầu nguyện như vậy, Chúa Jesus sẽ đến ngự vào lòng bạn. Bây giờ hãy đi và nói với mọi người rằng “Tôi đã tiếp nhận Chúa Jesus làm cứu Chúa của tôi và tôi biết chắc chắn rằng tôi đã được cứu và tôi đang trên đường về thiên đàng”.

Kinh Thánh chép: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi tin trong lòng mà được sự công bình còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi “(Rô 10:910)

Bây giờ bạn đã được tái sanh và biết mình là ai – bạn là một ứng cử viên để Chúa Jesus bắt đầu phán với bạn. Bạn có thể nghe tiếng của Ngài. Chúa Jesus phán:”Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó và nó theo ta “(Giăng 10:27)

Khi Chúa Jesus ngự vào lòng bạn, Ngài sẽ tẩy xóa lòng bạn và giải phóng nó khỏi tội lỗi và sự tối tăm, cất đi khỏi bạn tấm lòng cứng cỏi và ban cho bạn tấm lòng bằng thịt dịu dàng, mềm mại để có thể nghe tiếng Ngài.

“Các ngươi sẽ trở nên sạch… Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo “(Êxê 36:2527).

4. Sự Không Vâng Lời Ngăn Trở Tiếng Chúa

Anh Judson CornWall kể lại rằng một lần kia khi anh đang cầu nguyện với Chúa cách nhiệt thành, cầu xin Ngài phán với anh. Cuối cùng Chúa phán hỡi Judson, làm sao ta có thể phán với con khi con không làm theo những điều ta phán cùng con lần trước”. Anh CornWall lập tức đứng dậy làm những điều Chúa đã bảo anh trước kia. Sau đó anh bắt đầu nghe tiếng Chúa trở lại.

“Như vậy đức tin đến bởi sự người ta nghe lời của Đức Chúa Trời “(Rô 10:17).

Đức tin có thể được định nghĩa là “sự vâng theo những gì Đức Chúa Trời phán bảo”. Nghe tiếng Chúa không có nghĩa là chỉ nghe bằng lỗ tai của bạn. Nhưng có nghĩa là vâng theo những gì Ngài đã phán.

Khi con trai tôi được chín tuổi tôi bảo nó rằng ” Con đem giỏ rác đổ vào thùng lớn kia”. Nó trả lời “vâng thưa bố”. Ba muơi phút sau tôi trở về và thấy giỏ rác vẫn còn y chỗ cũ. Có phải con trai tôi đã nghe tôi? Theo nghĩa Kinh Thánh thì không. Nó đã không nghe tôi cho đến khi nó vâng lời tôi.

Tôi đã gọi con trai tôi vào và chỉ cho nó thấy cái “giỏ” mà tôi đã để sẵn trên bàn học của nó. Lần này thì nó đã nghe tôi và xách giỏ rác đi.

Đức tin đến bởi sự nghe lời Đức Chúa Trời, đó là nghe và làm theo những gì Đức Chúa Trời phán dạy.

a. Sự Kiêu Căng Ngăn Trở Sự Vâng Lời. Trở ngại lớn nhất cho sự vâng lời của chúng ta là sự KIÊU CĂNG. Tôi đã nghe Oral Roberts nói như thế nầy: “Mỗi khi tôi đặt tay cầu nguyện cho kẻ bịnh, tôi lại phải đóng đinh sự kiêu ngạo của tôi lên thập tự giá bởi vì tôi biết rằng chỉ một số ít người tôi cầu nguyện cho sẽ lành bịnh. “

Mặc cho những người nghi ngờ, những người chế giễu và những nhà báo hay phê bình, Oral Roberts vẫn kiên nhẫn làm những điều mà Chúa bảo ông làm với sự khiêm nhường. Hàng ngàn người đã được chữa lành bởi sự trung tín của ông đối với sự kêu gọi cách lạ thường của Chúa và chức vụ chữa bệnh ngày càng được mở rộng ra hơn.

Nhiều người trong chúng ta đã thối lui không làm điều mà Chúa phán bảo bởi vì chúng ta sợ những người khác sẽ nghĩ về chúng ta như thế nào nếu như chúng ta vâng lời Chúa. “Sự sợ loài người gài bẫy “(Châm 29:25).”Sự sợ loài người ” là cách nói khác của sự kiêu ngạo. Về cơ bản, là chúng ta không làm những gì Chúa muốn chúng ta làm bởi vì LÒNG KIÊU NGẠO.

Tâm trí xác thịt của chúng ta nghĩ rằng “Nếu chúng ta thử làm điều Chúa bảo chúng ta và thất bại, thì những người khác sẽ nghĩ gì? Những bạn bè đồng công sẽ không hiểu tôi. Giáo phái của tôi cũng sẽ không chấp nhận những điều mà Đức Chúa Trời bảo tôi làm.

Tất cả những tư tưởng đó bắt nguồn từ sự sợ loài người- SỰ KIÊU NGẠO! Rất nhiều người ao ước làm theo ý Chúa nhưng đã thối lui vì sợ loài người.

Tôi thường bị hỏi rằng:”Nầy anh Ralph, làm sao anh có thể chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đang phán với anh?”

Tôi trả lời: ” Không phải lúc nào tôi cũng chắc chắn hết. Đôi khi tôi không biết rõ ràng. Tôi phải thử. Tôi kiểm tra các sự kiện với những người có thể liên quan đến.”

Kinh Thánh chép “Hãy xem xét mọi điều “(ITê 5:21). Cách duy nhất để bạn chứng minh một điều gì là phải thử điều đó. Tôi thường thất bại khi làm thử- nhưng một trong những yếu tố của đức tin là sự rủi ro. Bạn phải liều mình trở thành kẻ điên dại vì cớ Đấng Christ.”

Đừng để sự kiêu căng làm tê liệt bạn. Hãy thử làm những gì bạn cảm thấy Đức Chúa Trời bảo bạn làm.Tuy nhiên đôi khi bạn sẽ thất bại- nhưng cũng sẽ có thành công. Hãy liều mình. Bước ra trong đức tin và thử làm những điều kỳ diệu cho Đức Chúa Trời.

b. Những Định Kiến Ngăn Trở Sự Vâng Lời. Một trong những câu chuyện hay nhất được chép trong Kinh Thánh là II Các vua chương 5, đã minh họa cách sống động những định kiến của chúng ta đã ngăn trở chúng ta nghe và vâng theo tiếng Chúa như thế nào.

1) Na-a-man Suýt Đánh Mất Một Phước Hạnh. Na-a-man là quan tổng binh của Vua Si-ry có một đứa tớ gái Ysơraên bị bắt trong chiến tranh. Na-a-man bị bệnh phung nan y. Đứa đầy tớ gái nói với ông rằng trong Ysơraên có một nhà tiên tri tên là Êlisê là người có quyền năng của Đức Chúa Trời để chữa lành mọi bịnh tật.

Nhờ tài ngoại giao khéo léo, Na-a-man liên lạc với vua của Ysơraên và sắp xếp viếng thăm tiên tri Êlisê. Khi Na-a-man đến tại cửa nhà Êlisê, vị tiên tri sai đầy tớ ra nói lại những gì Đức Chúa Trời bảo Na-a-man phải làm. “Hãy đi tắm mình bảy lần dưới sông Giô- đanh thịt ngươi tất sẽ nên lành, và ngươi sẽ được sạch “(Câu 10).

Na-a-man giận dữ bước ra khỏi nhà, vừa đi vừa nói rằng: “Ta nghĩ rằng vị tiên tri theo phép lịch sự thông thường sẽ ra đón ta, ta nghĩ ông ta sẽ cầu khẩn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình, lấy tay đưa qua đưa lại trên chỗ phung và ta sẽ được lành “(Hãy lưu ý định kiến ông sẽ được chữa lành như thế nào).

“Nếu ta cần phải tắm dưới sông- Ta sẽ trở về Siry tắm dưới sông A-ba-na và Bạt-ba có nước trong như pha lê- chứ không tắm dưới dòng sông Giô-đanh bùn lầy nầy”. Suy nghĩ như vậy, ông giận dữ bước ra.

Một trong những người đầy tớ nài xin ông: “Cha ơi, nếu tiên tri có truyền cho cha một việc khó, cha há chẳng làm sao, phương chi sao cha không vâng theo (từ mấu chốt) khi người bảo cha rằng hãy tắm thì được sạch? .

Cuối cùng thì Na-a-man cũng bị thuyết phục, đi xuống sông Giô-đanh và trầm mình bảy lần như nhà tiên tri đã bảo ông. Khi ông vâng lời thì da thịt ông lành lặn như da thịt của đứa trẻ. Na-a-man đã hoàn toàn được chữa lành.

Na-a-man suýt đánh mất cơ hội phước hạnh mà ông đang tìm kiếm. Tại sao? Bởi vì định kiến của ông về cách Đức Chúa Trời sẽ chữa bịnh cho mình. Định kiến và sự kiêu ngạo của ông đã ngăn cản ông vâng lời.

Bạn thấy chưa, định kiến đâm rễ trong sự kiêu căng. Có một câu nói rất tác hại là “Ta biết mọi sự. Ta có thể nhận biết mọi sự trước khi xảy ra -như sự đó sẽ xảy ra ” (một phẩm chất đáng tôn thờ).

Khi mọi việc không xảy ra như chúng ta đã định trước- điều đó phá đổ hình ảnh đáng tôn thờ (đầy kiêu ngạo) của chúng ta, và chúng ta, giống như Na-a-man, bước ra một cách giận dữ và rất phật ý bởi vì Đức Chúa Trời đã không làm theo định kiến của chúng ta về cách mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện.

2) Khuôn Mẫu Của Đức Chúa Trời Cho Cuộc Đời Bạn.

Giáo lý thần học của chúng ta (một định kiến về Đức Chúa Trời) thường dẫn đến mâu thuẫn với sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh trong đời sống chúng ta – và khi xảy ra như vậy, chúng ta phải đối diện với sự nguy hiểm nghiêm trọng là lạc mất ý muốn của Đức Chúa Trời.

Khi Đức Chúa Trời buộc tôi phải trở thành một nhà truyền giáo lưu động, tôi phản đối cách kịch liệt. Bởi vì trong mười một năm tôi đã mở nhiều Hội Thành và chăm sóc cho họ. Bây giờ Đức Chúa Trời bảo tôi phải làm công việc mà tôi sẽ không còn chăm sóc các Hội Thánh địa phương nữa.

Tôi cãi lại: ” Chúa ơi điều đó không có căn cứ trên Kinh Thánh. Mọi việc Ngài làm hoặc sẽ làm, Ngài phải làm qua Hội Thánh địa phương “. Đó là giáo lý của tôi lúc đó. Tôi đã phản đối cùng Đức Chúa Trời rằng: ” Ý kiến truyền giảng lưu động không phải là kiểu mẫu của sách công vụ các sứ đồ. Có lẽ con sẽ làm mọi việc theo khuôn mẫu ” (Hêb 8:5 là câu Kinh Thánh đắc ý nhất của tôi).

Một buổi sáng chủ nhật kia, khi tôi đang đi đến giảng ở một nơi nọ, Chúa đã phán với tôi rằng:

“Tại sao con không đọc những câu Kinh Thánh còn lại? Tôi đã biết Chúa muốn phán gì. Đọc phần còn lại của 8:5.

“Chúa ơi, tại sao con phải đọc phần còn lại của câu Kinh Thánh này? Con đã đọc nó hàng trăm lần rồi. Con cũng chia sẽ câu Kinh Thánh đó mấy lần. Con cũng biết những câu Kinh Thánh trước đó và sau đó nữa. Vậy thì tại sao lại phải đọc phần còn lại của câu Kinh Thánh này?”

Tiếng Chúa vẫn cứ thúc giục trong lòng tôi: “Con hãy đọc phần còn lại của câu Kinh Thánh đó”.Tôi đã mở Kinh Thánh ra và đọc: “Đức Chúa Trời phán bảo rằng hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi” (Hêb 8:5). Bốn chữ đã chạm vào tôi như một dòng điện: “Đã chỉ cho ngươi”

“Hãy làm MỌI VIỆC theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi “

Giáo lý thần học của tôi được đặt trên kiểu mẫu đã chỉ cho Môise, cho Đavít, cho Hội Thánh đầu tiên, nhưng Đức Chúa Trời đã phán rằng:

“Con phải làm theo cách mà Ta chỉ cho con. Nôê đã đóng chiếc thuyền theo kiểu mẫu Ta đã chỉ cho Nôê. Môise đã làm hòm giao ước theo kiểu mẫu Ta đã chỉ cho Môise. Salômôn xây dựng đền thờ theo kiểu mẫu Ta đã chỉ cho ông. Phierơ, PhaoLô, GiaCơ và Giăng đã làm những gì Ta bảo họ làm. Đó là kiểu mẫu của Ta cho đời sống họ.

“Con phải làm những gì Ta bảo con làm. Đó sẽ là kiểu mẫu của Ta cho đời sống của con”.

Cuối cùng tôi đã hiểu. Tôi đã nghe và vâng theo tiếng của Đức Chúa Trời. Tôi đã không thể tự mình làm gì chỉ bởi “điều đó phải luôn luôn được làm theo cách này”. Tôi phải vâng theo Đức Chúa Trời.

Hỡi các bạn của tôi, đó vẫn còn là một nan đề phải không? Đức Chúa Trời có một chương trình cho mỗi chúng ta. Chức vụ mà Chúa ban cho Billy Graham giống như chức vụ của Giăng Báptít mà Kinh Thánh làm chứng rằng: “Giăng chưa làm phép lạ nào “(Giăng 10:41). Keneth Hagin và Oral Roberts cũng như Êtiên là những người: “…làm dấu kỳ phép lạ rất lớn trong dân “(Công 6:8).

Cả ba giáo sĩ vĩ đại này đang làm những gì Đức Chúa Trời đã bảo họ làm – tuy nhiên không ai giống ai hết. Mỗi người trong chúng ta phải nghe và vâng theo tiếng của Đức Chúa Trời. Đó là điều phân biệt bạn với hàng ngàn người khác. Phần đông trong số họ không nghe và vâng theo tiếng Chúa. Nhưng bạn phải nghe và vâng theo tiếng Ngài.

Đừng để những truyền thống của bạn ngăn trở bạn làm theo những gì Đức Chúa Trời bảo bạn làm. Hãy nghe và vâng theo tiếng Ngài. Một số người sẽ khinh bỉ chống đối và chỉ trích bạn. Số khác sẽ nghi ngờ và tấn công bạn. Niềm kiêu hãnh của bạn sẽ bị tổn thương. Nhưng mặc cho bất cứ điều gì xảy ra, Hãy làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.

3) Kinh Nghiệm Trên Đảo Khusan. Vào năm 1962 tôi cùng một người bạn nữa đi truyền giáo cho một hòn đảo nhỏ nằm ngoài bờ biển phía đông của tỉnh Zhejiang. Có một tín đồ tin Chúa cách đây ba năm mời chúng tôi đến để thành lập Hội Thánh

Theo lệ thường của những người truyền giáo, tôi đã giảng cách nhiệt thành trong mấy đêm – nhưng không có một ai trở lại với Đấng Christ. Người bạn giáo sĩ và tôi hết sức nản lòng, và thất vọng. Chúng tôi thông báo một buổi cầu nguyện vào lúc 4 giờ mỗi buổi sáng. Bằng cách này, chúng tôi có thể cầu nguyện với một số thành viên trước khi họ đi đánh cá hoặc thâu gặt mùa màng.

Chúng tôi nghĩ rằng khoảng mười hay muời hai người đến tham dự. Nhưng thật ngạc nhiên, ngôi nhà thờ nhỏ chật ních với hơn 100 người (Bằng với số người đến dự mỗi buổi tối truyền giảng).

Bây giờ mọi người điều biết bạn không có những cuộc vận động truyền giáo vào lúc 4 giờ sáng – nhưng đây là điều mà buổi cầu nguyện đã đem lại. Đức Chúa Trời đã đập vỡ những định kiến của tôi về phương cách Ngài sẽ làm và dạy tôi bài học về việc nghe và vâng theo lời Ngài.

Chúng tôi thường bắt đầu thì giờ cầu nguyện bằng điệp khúc ngắn như thế này:

Xin ngự vào lòng con, xin ngự vào lòng con.
Hỡi Thánh Linh êm dịu, xin ngự vào lòng con.
Khi con ngồi nơi chơn Ngài, lòng con được thỏa nguyện.
Hỡi Thánh Linh êm dịu, xin ngự vào lòng con.

Sau khi đã hát một hoặc hai lần, một phụ nữ bắt đầu nói tiên tri. Giọng cô ngập ngừng. Cô ngập ngừng như rất khó khăn khi thốt ra những lời đó. Điều nầy làm tôi hơi bối rối nhưng tôi nghĩ ” Hãy để cho linh hồn khốn khổ này cố gắng – cô ta sẽ không gây ra điều phiền toái nào đâu “.

Cô lập lại ba lần những lời này: “Hãy cởi giày ngươi ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh “. Tôi cảm thấy thương hại cho cô bởi vì những lời nói lắp bắp của cô không thích hợp với giờ phút như thế này.

Người bạn tôi, anh Heeley, lại nghe hoàn toàn khác. Anh nghe tiếng phán của Thánh Linh kêu gọi tội nhân ăn năn. (Tôi rất vui mừng vì anh có lỗ tai thuộc linh tốt hơn tôi).

Anh đứng dậy và bắt đầu nói cách nhỏ nhẹ, ” Hỡi anh em, tôi tin Chúa đang phán với chúng ta và chúng ta phải vâng lời Ngài. Tôi không biết chắc có phải Chúa phán theo nghĩa đen là chúng ta cởi giày hay không. Nhưng trong trường hợp này sẽ không có gì nguy hại nếu chúng ta làm như vậy.”

Chúng tôi bắt đầu cởi giày cách có ý thức xen lẫn cảm giác hơi không bình thường. Anh Heeley tiếp tục: “Có lẽ đây là điều mà Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Chúng ta sẽ phải cởi bỏ những chiếc giày cũ của đời sống tội lỗi mà bước đi trong đường lối của đời sống công bình. Chúng ta phải từ bỏ đời sống nô lệ và phản nghịch mà bước đi trong đời sống mới tự do và vâng phục Chúa Jesus “.

“Nếu các bạn muốn thực hiện ngay bây giờ, chỉ cần các bạn để những chiếc giày ra phía sau và bước xuống để chúng ta cùng cầu nguyện chung với nhau.

Tôi sửng sốt, những “bài truyền giảng năng nổ” của tôi đã không mang lại kết quả, nhưng sự nghe và vâng lời Đức Chúa Trời cách nhạy bén của anh Heeley đã có kết quả. Mọi người bắt đầu đến quỳ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ từ mọi ngõ ngách. Và điều kỳ diệu nhất mà tôi từng chứng kiến đã xảy ra.

Khi họ bước lên phía trước, dường như có một sợi dây vô hình ở ngay đằng trước. Tất cả những người tiến lên tiếp nhận Chúa, đi qua sợi dây đó đều ngã sấp mặt xuống đất như bị một thiên sứ vô hình đánh ngã. Đây chính là những người nông dân và những người đánh cá có thể chịu đựng cay đắng trong cuộc sống lại bị xô ngã xuống nền nhà thờ khóc lóc thảm thiết trong sự đau đớn và ăn năn về tội lỗi của mình như thể lòng họ đang tan vỡ.

Tôi nghĩ rằng khi tốp người đầu tiên ngã xuống những người còn lại sẽ hoảng sợ và chạy ra khỏi buổi nhóm.

Nhưng không, họ cứ thẳng hàng tiến tới cho đến khi hết thảy tội nhân điều nhận được món quà của sự ăn năn và sự cứu rỗi. (Hơn 50 người trở lại với Đấng Christ).

Ô! Ai đã từng nghe một cuộc chinh phục linh hồn như vậy chưa? Có ai đã nghe “phương pháp” truyền giáo như vậy chưa? Nhưng bạn thấy đó, bí quyết chỉ là “có một lỗ tai để nghe những gì Đức Thánh Linh phán”.

Tôi phải xấu hổ thừa nhận rằng tôi đã không nghe tiếng phán của Đức Thánh Linh khi những điều đó xảy ra. Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, bạn tôi đã nghe và đã vâng lời Chúa. Và một cuộc phục hưng lớn đã nổ ra liên tiếp từ đảo này cho đến đảo khác

Lạy Chúa! Xin giải phóng con khỏi sự không vâng lời, những định kiến, những truyền thống và tấm lòng cứng cỏi là những điều ngăn trở con nghe tiếng Chúa và vâng theo Ngài. AMEN!

Cay Gay Cua Nguoi Chan Bay




VÂNG THEO TIẾNG CHÚA

VÂNG THEO TIẾNG CHÚA

 

“Như vậy đức tin đến bởi sự người ta nghe… lời (Rhema) của Đức Chúa Trời “(Rô 10:17).

A.LỜI LOGOS VÀ LỜI RHEMA

Có hai chữ Hylạp được dịch là “lời” trong Kinh Thánh tiếng việt đó là chữ “LOGOS “ và “RHEMA “. Lời Logos thường là những”lời” được viết lại. Lời Rhema thường là những lời sự sống hoặc lời ban sự sống.

(Chú thích của tác giả: Những ví dụ dưới đây không có nghĩa chính xác như cách dùng của từ Hylạp. Chúng được đưa ra như những ví dụ để minh họa ý kiến của tác giả đã nghiên cứu và giải thích mối liên hệ giữa lời Logos và lời Rhema.)

Chúa Jesus phán: “Có lời (Logos) chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời (Rhema) nói ra từ miệng Đức Chúa Trời “(Mat 4:4)

Nói về người Bêrê: “Những người này có ý hẳn hoi hơn người Têsalônica, đều sẵn sàng chịu lấy đạo (Rhema),ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh (Logos) để xét xem lời giảng có thật chăng “(Công 17:11).

Những câu Kinh Thánh này minh họa mối liên kết giữa lời Logos và lời Rhema. Chúng luôn luôn đi cùng với nhau. Chúng ta phải biết Kinh Thánh (lời Logos) để xem xem lời (Rhema) mà chúng ta nghe có thật sự đến từ Đức Chúa Trời hay đến từ các thần khác. Đức Thánh Linh (Rhema) và Kinh Thánh (Logos) luôn luôn hòa hợp với nhau.

Chúa Jesus phán với những người Pharisi: “Các ngươi lầm vì không hiểu Kinh Thánh (Logos),và cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời (Rhema) là thế nào “(Mat 22:29).Những người Pharisi trong thời Chúa Jesus đã không biết lời Logos cũng như lời Rhema.

Nhiều người lãnh đạo Hội Thánh không biết Kinh Thánh cũng như quyền phép của Đức Chúa Trời. Những người lãnh đạo hay Hội Thánh như vậy sẽ khiến Đức Chúa Trời nhả họ ra (Khải 3:15).

Những nhà lãnh đạo Hội Thánh khác biết Kinh Thánh nhưng lại không biết quyền phép Đức Chúa Trời, thường bị khô khan.

Cũng có những người lãnh đạo Hội Thánh biết quyền phép của Đức Chúa Trời nhưng không biết Kinh Thánh, thường kiêu căng.

Nhưng nếu bạn biết cả Kinh Thánh và quyền phép của Đức Chúa Trời – sẽ khiến cho bạn và Hội Thánh của bạn lớn lên.

1.Lời Rhema đến từ Đức Chúa Trời

Một lời Rhema thường là một sự truyền đạt từ Đức Chúa Trời để phát họa một chương trình hay ban quyền năng trong một hoàn cảnh đặt biệt. Khi chúng ta đọc Kinh Thánh và một câu Kinh Thánh nào đó đụng chạm đến chúng ta với quyền năng, tức là chúng ta đang nhận được một lời Rhema (lời sống) cho nhu cầu cá nhân của chúng ta.

Khi chúng ta đang cầu nguyện cầu xin sự khôn ngoan hay sự trả lời của Đức Chúa Trời cho nan đề bế tắc của chúng ta, và bỗng nhiên Chúa phán trong lòng chúng ta cho biết cách giải quyết nan đề với những từ ngữ rất rõ ràng, đó là lời Rhema.

Khi chúng ta đang thi hành chức vụ và bỗng nhiên được thúc dục phải làm một hành động đặc biệt nào đó mà mang lại kết quả phước hạnh, đó là lời Rhema.

(Cẩn thận: Chúng ta không nên xem tất cả động cơ, sự thúc giục, cảm giác là lời Rhema. Không một lời Rhema nào lại trái với Kinh Thánh (Logos), là lời đời đời của Đức Chúa Trời).

Nếu tôi bịnh tôi có thể mở Kinh Thánh và đọc: “…Bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh “(IPhi 2:2)Tôi được lời hứa là ý muốn của Đức Chúa Trời là chữa lành cho tôi. Tuy nhiên có thể tôi không được chữa lành khi tôi đọc câu Kinh Thánh đó.

a.Phierơ và Người Què. Người què, trong công vụ đoạn ba, đã nằm tại cổng đền thờ trong nhiều năm nhưng không được Chúa Jesus chữa lành khi Ngài đi ngang qua đó nhiều lần.

Phierơ, vừa mới kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần cách cá nhân, đi lên đền thờ cầu nguyện, và khi người què xin ông của bố thí thì ông nhận được một lời Rhema. “Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ ở Naxarét hãy bước đi (Công 3:6).

Lập tức người què đứng lên, theo Phierơ vào đền thờ, vừa đi vừa nhảy ngợi khen Đức Chúa Trời. Có lẽ người què này biết câu Kinh Thánh: “Vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi “(Xuất 15:26). Tuy nhiên ông đã không được chữa lành cho đến khi Phierơ nghe tiếng Đức Chúa Trời và truyền lại lời ban sự sống (lời Rhema) cho ông.

“Như vậy đức tin đến bởi sự người ta nghe… lời (Rhema) của Đức Chúa Trời “(Rô 10:17). Khi Đức Chúa Trời phán với bạn – đức tin đến. Nếu bạn vâng theo những gì Đức Chúa Trời đã phán bảo, các phép lạ sẽ xảy ra cho bạn như chúng đã xảy ra trong thời Kinh Thánh.

b. Phép Lạ Tại Hebei. Khoảng 15 năm trước, khi tôi đang thi hành chức vụ tại Hebei với nhà truyền giáo D’Sousa, người Đài Loan. Ông mời tôi đi thăm một người bịnh phải nằm liệt giường. Khi chúng tôi đến nhà người bịnh và bắt đầu cầu nguyện cho anh ta, tôi cảm thấy Đức Thánh Linh đang ban cho tôi một sứ điệp cho anh ta.

Tôi nói với anh ” nếu anh không ăn năn, anh sẽ chết “.

Bỗng nhiên anh tan vỡ và khóc nức nở. Anh cầu nguyện và khóc lóc thảm thiết, chiếc giường nhỏ của anh bắt đầu rung rinh.

Lời (Rhema) của Chúa lại đến với tôi “Hãy nắm tay anh ta và bảo anh ta đứng dậy bước đi trong danh Chúa Jesus.”

Tôi nắm tay anh ta và bắt đầu kéo nhẹ anh ra khỏi giường. Anh ngồi dậy cách chậm chạp và đứng run rẩy trên đôi chân mình. Một chốc sau anh la lớn và nhảy khắp phòng. Anh đã được chữa lành cách kỳ diệu chỉ trong vài phút.

Sau này tôi được biết anh là một tín đồ sa ngã, và trước khi tin Chúa, anh là một kẻ cướp nổi danh, đã từng giết nhiều người.

Anh đã xa lánh Đức Chúa Trời, thối lui trong tội lỗi và mắc phải bịnh tim không sao chữa trị được và cả bịnh thận. Sức khỏe của anh rất xấu và bác sĩ căn dặn rằng không ai được di chuyển anh, bởi vì điều đó có thể giết chết anh. (Tôi rất vui vì đã không biết điều đó – có lẽ nếu biết tôi sẽ e ngại khi vâng lời Chúa).

Đêm đó, anh đã làm chứng tại buổi truyền giáo. Bởi vì anh quá nổi tiếng trong cộng đồng nên khi nghe bài làm chứng của anh nhiều người trở lại tin Chúa và được chữa lành.

B.MỐI THÔNG CÔNG – KHÔNG PHẢI LÀ CÔNG THỨC

Chúng ta phải biết rằng lời ban sự sống của Đức Chúa Trời rất ít khi được ban cho theo hình thức tôn giáo hoặc công thức. Chúa Jesus đã chữa lành cho một người mù bằng cách trộn bùn vào nước miếng rồi bôi lên mắt người đó. Sau đó Ngài biểu anh ta đi đến rửa ở ao Silôê và được chữa lành. (Giăng 9:141).

Nếu tôi cũng trộn bùn với nước miếng rồi bôi lên mắt người mù, thì điều mà họ sẽ nhận được chỉ là cặp mắt dính đầy bùn. Nhưng nếu Đức Chúa Trời bảo tôi làm như vậy (như Ngài đã bảo Chúa Jesus) thì người mù sẽ được chữa lành.

Đây không phải là công thức nhưng là nghe tiếng Chúa và làm theo những gì Chúa phán. Vào dịp khác Chúa Jesus đã chữa cho người mù bằng cách khác (Mat 9:29Mác 10:52).

Mối tương giao mật thiết với Cha trên trời của Chúa Jesus là bí quyết trong chức vụ của Ngài. Chúa Giêxu phán: “…vì Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài “(Giăng 8:29) Bởi vì lòng Chúa Jesus luôn luôn ngay thẳng trước mặt Cha trên trời, nên Ngài có thể nghe và vâng theo tiếng Cha mình cách dễ dàng.

Chúa Jesus nói rõ hơn: “Con chẳng tự mình làm nỗi việc gì được; chỉ làm điều chi mà con thấy Cha làm; vì mọi điều Cha làm con cũng làm y như vậy “(Giăng 5:19)

1. Dành Thì Giờ với Đức Chúa Trời

Chúa Jesus biết Kinh Thánh! Ngài đã làm các thầy thông giáo bối rối bởi kiến thức về Kinh Thánh của mình lúc mười hai tuổi tại đền thờ. Nhưng bí quyết trong chức vụ của Ngài là sự nhạy bén với tiếng của Cha- làm điều gì Ngài thấy Cha làm và cũng làm y theo cách Cha làm.

Khi Chúa Jesus cần phải nghe tiếng của Cha, Ngài đi biệt riêng thì giờ để cầu nguyện (đôi khi cùng với kiêng ăn). Bạn còn nhớ Chúa Jesus bắt đầu chức vụ bằng 40 ngày kiêng ăn cầu nguyện. Sau đó chúng ta thấy Ngài thường thức suốt đêm để cầu nguyện (cũng như trước khi Ngài chọn mười hai sứ đồ). Chúng ta cũng thấy Ngài rút khỏi đám đông đi vào đồng vắng cầu nguyện.

Ngoài ra, một đời sống tận hiến sẽ đem đến sự nhạy bén trong việc nghe tiếng Chúa. Bạn có đang phát triển mối liên hệ của bạn với Cha trên trời bằng những thì giờ cầu nguyện và kiêng ăn không? Nếu không, bạn hãy thử đi và xem điều gì sẽ xảy ra. Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên.

C. VẬT THẬT – KHÔNG PHẢI VẬT THAY THẾ

Tôi mong ước những buổi nhóm nhân sự hoặc những tài liệu huấn luyện đều nhấn mạnh việc dạy cho các học viên biết làm thế nào để nhận lãnh các ân tứ của Đức Thánh Linh và làm thế nào để nghe tiếng của Đức Chúa Trời trong chương trình dạy của họ.

1. Lời Của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh, Chứ Không Phải Là Kiến Thức Suông.

Cảm tạ Đức Chúa Trời vì những người như tiến sĩ John Wimber, tiến sĩ Peter Wagner và tiến sĩ Donald Mc Govern, là những tôi tớ dũng cảm của Đức Chúa Trời, là những người nổi bật trong lịch sử của đất nước chúng ta bởi vì họ đã thừa nhận tầm quan trọng của Đức Thánh Linh trong công tác truyền giáo và xây dựng Hội Thánh.

Họ không giống với những người đồng thời của họ là những người chỉ nhấn mạnh trên triết lý, văn chương, lịch sử, tâm lý và nhiều môn khác thay vì Kinh Thánh. Những người này dạy cho những học viên của mình cách chuẩn bị cho trận chiến thuộc linh với Satan và các quỷ sứ của nó.

Họ dạy cho các học viên cách chữa lành người bệnh như thế nào, đuổi quỷ và giảng Tin Lành kèm với phép lạ xác nhận cho lời của Đức Chúa Trời. Thay vì dạy cho học viên kiếm những bằng cấp thần học, họ gây dựng những con người nóng cháy với Đức Thánh Linh là những người có thể xua tan những ảnh hưởng của ma quỷ trên đất nước chúng ta.

Chúng ta cần những người như Philíp, người đã đi xuống thành phố Samari để giảng về Đấng Christ.

Kinh Thánh chép: “đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói; vì có những tà ma kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi nhiều kẻ bị ám, cùng kẻ bại và kẻ được chữa lành cũng nhiều “(Công 8:67).

Sự huấn luyện của chúng ta phải sản sinh ra những người như Êtiên và Philip – là những người sẽ thách thức với quyền lực của sự tối tăm và đắc thắng. Và rồi chúng ta sẽ thấy “Tin lành này về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân “(Mat 24:14).

2. Đức Tin – Không Phải Sự Kiêu Ngạo

Nếu chúng ta cứ tiếp tục thay thế kiến thức suông cho lời Rhema của Đức Chúa Trời, chúng ta đang có khuynh huớng thất bại. Một trong những điều nguy hiểm nhất của nền giáo dục cao là sản sinh ra những con người kiêu căng thay vì những con người đầy dẫy đức tin. Nói cách khác theo PhaoLô “Sự hay biết sanh kiêu căng còn sự hy sinh làm gương tốt “(ICôr 8:1)

Đừng để chúng ta thờ phượng kiến thức của trần gian, đừng đặt đức tin của chúng ta vào sự khôn ngoan trong tri thức và những kỹ thuật mà chỉ đem lại sự kiêu ngạo và không kết quả, thay thế cho quyền năng của Đức Chúa Trời trong đời sống và chức vụ của chúng ta. Hơn thế nữa chúng ta hãy khát khao trở thành những người nghe và làm theo lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy học cách nghe tiếng của Đức Chúa Trời.

D.SỨ ĐIỆP – KHÔNG PHẢI VỮA HỒ

Những người lãnh đạo Hội Thánh ở các nước phương tây che dấu sự thiếu kém quyền năng và khả năng nghe tiếng Chúa của họ bằng cách đầu tư hàng triệu đôla vào những ngôi nhà thờ tráng lệ và những thánh địa hào nhoáng. Họ nghĩ rằng điều này sẽ gây ấn tượng và hấp dẫn mọi người tin Chúa.

Khi bạn học lịch sử Hội Thánh, bạn sẽ thấy rằng Hội thánh càng sa ngã bao nhiêu thì những người lãnh đạo càng đầu tư vào những cấu trúc đồ sộ của nhà thờ bấy nhiêu và ít giúp đỡ mọi người cũng như rao giảng Tin Lành. Những kiến trúc này dường như chỉ phục vụ duy nhất một mục đích – đó là thỏa mãn sự kiêu căng của những người lãnh đạo và những thành viên giàu có trong Hội Thánh.

Quan sát cách Hội Thánh hoạt động, bạn sẽ nghĩ rằng mạng lịnh sau chót của Chúa Jesus là “Hãy đi khắp thế gian và xây dựng nhiều ngôi giáo đường cho mọi người”. Ưu tiên hàng đầu của hầu hết các nhà lãnh đạo Hội Thánh là “xây dựng những ngôi nhà lớn hơn “.

1.Sự Ưu Tiên Của Đức Chúa Trời

Điều Chúa Jesus phán là: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người “(Mác 16:15). Đức Chúa Trời đặt sự ưu tiên trên sứ điệp – chứ không phải trên vữa hồ (giáo đường).

Người ta người không thể không đối chiếu hành động của những người lãnh đạo Hội Thánh với Chúa chúng ta. Ngài đã chọn chuồng chiên làm nơi sanh ra, sống như một thành viên trong một gia đình thợ mộc nghèo khổ ở Naxarét, và cho chúng ta biết rằng Ngài đã đến để giảng Tin Lành cho người nghèo. Ngài không có nơi gối đầu trong những năm thi hành chức vụ. Khi chết Ngài được liệm trong tấm vải liệm mượn của người khác. Thân thể Ngài được đặt trong ngôi mộ mượn của người khác trong suốt những giờ chinh phục sự chết địa ngục và mồ mả. Ngài đã trở nên nghèo vì cớ chúng ta.

Kể từ đó những người lãnh đạo Hội Thánh nhận được quyền phép để phung phí tài nguyên của Hội Thánh vào những ngôi giáo đường sặc sỡ và những vùng đất thánh lộng lẫy, trong khi hơn hai tỉ người đang chờ nghe Tin Lành?.

Không có sách vở nào ghi lại sự bành trướng của những ngôi giáo đường mãi cho đến thế kỷ thứ ba khi Hoàng Đế La mã Constantin, là “Cơ Đốc Nhân” đầu tiên nhập Hội Thánh vào chính trị.

Ảnh hưởng của Constatine là một tai họa và có hại về mặt thuộc linh cho Hội Thánh. Một khi nhà thờ trở nên được tôn trọng và giàu có, Hội Thánh sẽ mất quyền năng của Đức Chúa Trời. Một Hội Thánh sống – rao giảng sự sống và phước hạnh khắp mọi nơi – nay trở thành một Hội Thánh chết, thiếu hụt Lời và quyền năng của Đức Chúa Trời. Phaolô cảnh cáo chúng ta: “Những kẻ như thế con hãy tránh xa “(IITi 3:5).

2.Hội Thánh Tại Trung Quốc: Một Ví Dụ

Trung Quốc đưa ra một bài học thú vị cho điều gì có thể xảy ra khi Hội Thánh được giải thoát khỏi sự say mê những ngôi giáo đường và trang điểm cho nhà thờ.

Từ trước những thay đổi vào năm 1950 Đức Chúa Trời đã dấy lên những công tác tại bản xứ mà bởi đó có thể nhận ra cánh tay của Đức Chúa Trời trên Trung Quốc và văn hóa của họ.

Không dựa vào những phương pháp của các nước phương tây, họ bắt đầu nhận thấy nhiều phương diện của nền văn hóa Trung Quốc hòa hợp với Kinh Thánh như điểm mạnh và cơ cấu của những gia đình Trung Quốc cũng như sự quan trọng của nó được xem là một nơi để thờ phượng.

Nhờ vậy, bắt đầu các tín hữu gặp nhau ở nhà để thờ phượng và cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời như những thành viên trong gia đình.

Bây giờ chúng ta có thể hiểu tại sao sau những thay đổi vào năm 1950 (Khi tất cả những giáo sĩ phương tây bị buộc phải rời Trung Quốc) hàng triệu anh chị em trên khắp miền đất nước đã tìm thấy được đời sống thuộc linh phong phú không phải bởi ngôi giáo đường theo kiểu mẫu phương tây nhưng bởi mạng lưới Hội Thánh tư gia phát triển.

Sau những thay đổi vào năm 1950, những tín hữu Trung Quốc bắt đầu chia sẻ niềm tin của họ với những bà con và bạn bè. Qua “việc truyền giáo cho người thân” (đó là sự truyền giáo từ người thân này qua người thân khác) một phép lạ kỳ diệu của sự tăng trưởng Hội Thánh bắt đầu xảy ra tại Trung Quốc.

Sau 120 năm hoạt động của những giáo sĩ phương tây, có khoảng hai triệu tín hữu tại Trung Quốc vào năm 1952. Hai mươi năm sau (1972), khi Trung Quốc mở cửa trở lại đối với phương tây, có khoảng hai mươi triệu tín hữu. Ngày nay (1990) theo nguồn tin đáng tin cậy thì cộng đồng tín hữu ở Trung Quốc vào khoảng năm mươi đến sáu mươi triệu người.

Tại sao số tín hữu phát triển kỳ diệu như vậy? Thoát khỏi tiền bạc của các giáo sĩ phương tây (điều mà đôi khi là ảnh hưởng kiềm chế sự phát triển) và các cách thức của những giáo sĩ phương tây, thích ứng nhanh chóng với những phương thức hài hòa hơn đối với văn hóa của họ.

Bởi vì Hội Thánh ở Trung Quốc được vượt khỏi gánh nặng kinh tế của những ngôi giáo đường to lớn, họ có thể đem tiền bạc của họ giúp đỡ những người khác và truyền giảng Tin Lành. Sự ưu tiên đã trở thành “truyền giảng sứ điệp” – không “sản xuất những vữa hồ” (xây dựng nhiều giáo đường)

3. Truyền giảng sứ điệp

Không một chữ nào trong Tân ước bảo xây dựng những ngôi nhà thờ bằng vật chất cả (Cựu ước cũng không). Tuy nhiên đó lại là sự ưu tiên hàng đầu của các Hội Thánh và các tổ chức tây phương. Nhưng các Hội Thánh ở Trung Quốc có đường lối tốt hơn.

Sự nhấn mạnh trong Kinh Thánh trong Tân ước là “giảng đạo”.”Về phần các môn đồ thì đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo “(Mác 16:20).

“Thật vậy tôi không hổ thẹn về Tin Lành (sứ điệp) đâu vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin “(Rô 1:16).

“Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao truyền Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra… chúng tôi giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự… Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời “(15:20ICôr 1:2324).

Những ngôi giáo đường tráng lệ không thể khiến tôi nhận được sự cứu rỗi. Chỉ có quyền năng của Đức Chúa Trời mới có thể cứu kẻ bị hư mất.

Những nghi thức tôn giáo không thể đem một người nào đến với Chúa sự sống, là đấng đã chiến thắng sự chết địa ngục và âm phủ. Nhưng rao giảng Tin Lành thì sẽ cứu rỗi được tội nhân. PhaoLô viết: “…Bởi quyền phép của dấu kỳ phép lạ, bởi quyền phép của Đức Thánh Linh Đức Chúa Trời… tôi đã đem đạo Tin Lành của Đấng Christ đi khắp chốn “(Rô 15:19). Tôi muốn thêm điều này: Tin Lành sẽ không được đem ra khắp chốn trừ khi được cặp theo những dấu kỳ phép lạ của Đức Chúa Trời.

4. Những nghĩa trang thuộc linh

Nhiều năm về trước, tôi có đi vào một ngôi thánh đường to lớn ở Úc. Ngôi Thánh đường có trên 2500 chỗ ngồi, những ban đồng ca nam hát những âm điệu nhịp nhàng, hệ thống âm thanh hoàn hảo, vị mục sư với học vị cao có thể đọc thuộc lòng những bài giảng và những bài cầu nguyện. Nhìn chung, mọi việc đều chu đáo. Chỉ có một sự rắc rối – họ có đủ mọi thứ nhưng không có người. Đây là thành phố của hơn năm triệu dân.

Tôi đã dự truyền giảng vào một đêm thứ tư tại ngôi Thánh Đường đó. Các ban hợp ca hát, người đánh đàn, vị Mục sư đọc những bài cầu nguyện và bài giảng. Tất cả mọi việc đều diễn ra như vậy trong một giờ rưỡi.

Bên cạnh tôi chỉ có hai người trong ngôi nhà thờ, đó là hai người phụ nữ đã lớn tuổi. Cả ba chúng tôi ngồi nghe những nghi thức của một tôn giáo chết đang làm đại diện cho Đấng Christ. Ngôi Thánh đường tọa lạc trên một vùng đất hàng triệu đô la.

Có lẽ tốt hơn nên bán khu đất này, đóng cửa ngôi nghĩa trang thuộc linh này và chôn sự lăng nhục này trong sự phục sinh của Đấng Christ hằng sống, là Đấng có ánh mắt như ngọn lửa hừng bàn chân Ngài chiếu ra những tia lửa sáng chói, Đấng nắm giữ mọi quyền phép trên trời và dưới đất, và là đấng đã phán rằng sẽ nhả những Hội Thánh nào truyền Tin Lành hâm hẩm.

Cũng ở Hội Thánh đó, một Mục sư đã được cứu và được đổ đầy Đức Thánh Linh. Ông bắt đầu hướng dẫn những buổi chữa bịnh và hàng trăm người tham gia buổi cầu nguyện chữa bịnh vào tối thứ ba của ông.Nguyên tắc của Hội Thánh này đã không chấp nhận những buổi cầu nguyện như vậy trong nhà thờ. Ông bị từ chối không cho tổ chức tại nhà thờ này, nên phải tổ chức nhóm trong một hội trường rất nhỏ, không đủ nơi ăn ở cho những người bịnh và những người tàn tật đến để tiếp nhận sự cứu rỗi và sự chữa lành.

5. Sắp đặt lại thứ tự ưu tiên của những nguồn tài nguyên

Hỡi các vị lãnh đạo Hội Thánh – Hãy tin tôi. Sự say đắm những ngôi đền thờ to lớn ở các Hội Thánh phương tây là sự say đắm bất khiết trước mặt Đức Chúa Trời. Khi họ xây dựng những ngôi đền thờ tráng lệ bằng tiền để rao giảng Tin Lành, họ đã xúc phạm đến Đức Chúa Trời là Đấng đã ủy thác cho chúng ta gần hai ngàn năm trước đây rằng: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 16:15). Nếu chúng ta không đặt công cuộc truyền giảng Tin Lành lên hàng đầu, thì mọi việc chúng ta làm chỉ là “gỗ, cỏ khô, rơm rạ” (ICôr 3:12).

Hai tỉ người vẫn đang chờ nghe Tin Lành! Đức Chúa Trời phán rằng: “Nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi” (Êxê 3:20).

Sau khi đem Tin Lành đến khắp mọi nơi trên Đế Quốc La Mã, PhaoLô đã có thể nói rằng: “Tôi tinh sạch về huyết của anh em hết thảy” (Công 20:26). Còn chúng ta tôi nghĩ rằng không. Chúng ta phải đặt lại thứ tự ưu tiên các nguồn tài nguyên của chúng ta để làm những gì Đức Chúa Trời phán bảo qua Kinh Thánh, và những gì Ngài phán bảo chúng ta bởi Thánh Linh Ngài.

Tôi không chống lại những ngôi giáo đường giản dị, dùng trong những nhu cầu cần thiết. Nhưng tôi chống lại những tài nguyên được đầu tư cho những ý đồ cá nhân để xây dựng những công trình tráng lệ mà lẽ ra nó phải được dùng để giúp đỡ kẻ nghèo và rao giảng Tin Lành.

E.KẾT LUẬN

Người Phi châu có kể chuyện một con chuột kết bạn với một con voi. Con chuột luôn luôn ngồi trên lưng con voi, ngay sau lỗ tai phải. Ở đây nó có thể nói chuyện thoải mái với anh bạn voi của mình.

Một ngày kia chúng đi qua một cây cầu. Cây cầu có vẻ chắc chắn, vì vậy chú voi mạnh dạn đi qua. Khi đã đến bên kia cầu, con chuột nói với con voi rằng: “Ồ! chúng ta đã làm rung cây cầu lên phải không?”

Bạn và tôi cũng giống như con chuột đó. Chúng ta được gắn chặt với một Đức Chúa Trời quyền năng. Tự mình – Giống như con chuột – Chúng ta không thể làm gì được. Nhưng cùng làm việc với Đức Chúa Trời, lắng nghe và vâng theo tiếng Ngài, chúng ta có thể giày đạp quỉ Satan, giải phóng những kẻ nô lệ cho tội lỗi, bệnh tật và nghèo khổ (Rô 16:20).

Hãy nhớ rằng:

1 Những kiến thức trong học viện

Chỉ ích lợi trong một vài lãnh vực, nó không thể sản sinh ra quyền năng cứu rỗi, chữa bịnh của Đức Chúa Trời, nó cũng không cần cho những người lãnh đạo trong Hội Thánh ngày nay. Hãy nhớ rằng hầu hết những môn đồ của Chúa Jesus được mô tả là “người dốt nát không học, nhưng đã từng ở với Chúa Jesus “(Công 4:13).Vậy, hãy để nhiều thì giờ ở với Chúa Jesus bằng sự cầu nguyện và kiêng ăn. Rồi xem điều gì sẽ xảy ra.

2 Lời Rhema của Đức Chúa Trời và kế hoạch của Ngài là độc đáo…

Mọi cá nhân, tổ chức, kiểu mẫu, phương pháp, công thức và truyền thống – nếu không ở trong sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh – sẽ là những trở ngại lớn cho chúng ta trong việc nghe tiếng Chúa và vâng theo Ngài

3 Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho đời sống bạn tốt hơn những kế hoạch của chính bạn

Hãy trông cậy Đức Giê-hô-va trong sự cầu nguyện cho đến khi bạn thông hiểu rõ ràng về kế hoạch của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy cầu nguyện

Lạy chúa Jesus, con muốn nghe tiếng Ngài. Xin hãy ban đức tin cho con khi con nghe tiếng Ngài.Con xin dâng trọn đời sống con, Hội Thánh của con chức vụ của con cho Ngài. Xin hãy hướng dẫn con bởi lời (Rhema) và lẽ thật (Logos) của Ngài. AMEN.

Bây giờ hãy yên lặng lắng nghe! Ngài đang phán với bạn điều gì? Bạn hãy xin Ngài phán với bạn. Hãy ngừng lại và lắng nghe trong một hoặc hai phút.

Mari, mẹ của Chúa Jesus, đã nói với các người hầu bàn điều mà ngày nay chúng ta cũng phải vâng theo: “Người biểu chi, hãy vâng theo cả “(Giăng 2:5).




Tin Lành Về Đền Tạm

Tin Lành Về Đền Tạm

Hoithanh.com – Khi giải phóng dân Ysơraên ra khỏi xứ Ê díp tô, Ngài đưa họ đến từng trải hết sức màu nhiệm: đi qua Biển Đỏ như đi trên đất cạn. Sau đó, họ tiến đến sa mạc Sinai. Tại đây, ĐCT đã kêu gọi Môi se lên núi Sinai và ban cho ông mệnh lệnh dựng Đền Tạm theo sự chỉ dẫn của Ngài. Gọi là Đền Tạm vì đây là đền thờ có thể tháo dỡ và di chuyển được, đến một địa điểm nào đó, khi được lệnh họ phải tháo dỡ và lắp ráp dựng lên.

Đền tạm không chỉ là khuôn mẫu của sự thờ phượng dưới đất mà còn là hình bóng của sự thờ phượng trên trời. Hêbơrơ 8:5: “Sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như Môise khi gần dựng Đền Tạm, thì ĐCT phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi”

Đền Tạm là một biểu tượng gồm 2 phương diện:

1.  Đền tạm được lắp ráp ngay giữa các lều trại của dân sự nói lên sự hiện diện của ĐCT ở giữa họ

2. Đền tạm nói lên phương cách linh nghiệm ĐCT sắm sửa cho loài người để họ có thể đến gần Ngài, nếu không thì họ không thể ra mắt Chúa trong sự thánh khiết, uy nghiêm và toàn thiện của Ngài được

CẤU TRÚC ĐỀN TẠM (Xuất 25-40;Hê 9:1-10 ) chia làm 2 phần:

I. Sân ngoài ( hành lang bên ngoài )

1. Cửa vào

2. Bàn thờ bằng đồng ( bàn thờ của lễ thiêu )

3. Thùng rửa ( Chậu rửa )

II. Lều tạm ( Đền Tạm )

  1. 1. Nơi thánh
  1. Bàn bánh trần thiết
  2. Chân đèn bằng vàng
  3. Bàn thờ xông hương
  1. Bức màn ngăn cách giữa nơi thánh và nơi chí thánh
  1. 2. Nơi chí thánh

Hòm giao ước ( bản luật pháp Môise, gậy trổ hoa của Arôn, bình đựng mana bằng vàng )

  1. Vài chi tiết khác: Mái che trên Đền Tạm, Thịt sinh tế, Huyết, Chức tế lễ
  1. CHI TIẾT:

Có thể nói Đền Tạm là bức tranh về sự thờ phượng của chúng ta. Mỗi phần của Đền Tạm có ý nghĩa biểu tượng riêng cho Cơ Đốc Nhân ngày nay. Khi chúng ta đi xuyên qua Đền Tạm, trước tiên đến sân ngoài ( hành lang bên ngoài ) sau đó đến nơi thánh rồi nơi chí thánh.

I. Hành lang bên ngoài ( Xuất 27:1-19; Hê 10:1-11 )

Đền Tạm luôn được lắp ráp xây mặt về phía Đông. Xung quanh Đền Tạm có 1 hàng rào bao quanh dài khoảng 50m, rộng khoảng 25m, cao khoảng 2,5m làm bằng những tấm bố vi bằng vải gai giăng trên các trụ cách nhau khoảng 2,5m, có đinh và nuông trụ bằng bạc, cùng lỗ trụ bằng đồng. Người ta đi vào sân ngoài Đền Tạm qua 1 cái cửa làm bằng vải gai mịn, chỉ xanh, đỏ điều và đỏ sậm. Trong hành lang có 2 vật thánh là bàn thờ bằng đồng ( bàn thờ của lễ thiêu ) và cái chậu ( thùng rửa )

  1. Cái cửaCửa vào hành lang rộng khoảng 10m. Mọi người Do Thái có thể vào cửa này. Đôi khi toàn thể các gia đình hay toàn thể cộng đồng đến tụ họp nơi cửa này. (Lê 8:1-5) . Đó là nơi mà các sinh hoạt cộng đồng thường diễn ra. Đối với chúng ta ngày nay, nó là biểu tượng cho 2 điều:
  1. Tượng trưng cho Chúa Jesus:

Giăng 10:7-9: “ Đức Chúa Jesus phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, Ta là CỬA của chiên… Ta là CÁI CỬA, nếu ai bởi Ta mà vào thì sẽ được cứu rỗi, họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ”

Đền tạm nói lên sự hiện diện của ĐCT ở giữa dân sự Ngài, muốn bước vào đó thì dân sự bắt buộc phải qua cái CỬA này. Điều này lại càng quan trọng với chúng ta ngày nay, để bước vào mối tương giao với ĐCT, chúng ta phải bước vào cái CỬA mang tên Jesus. CỬA ấy không chỉ dẫn chúng ta đến với các vật dụng tiếp theo mà dẫn chúng ta đến với sự cứu rỗi, đến với đồng cỏ. Vậy nên, quyết định đến cùng Chúa Jesus là điều cần thiết cho chúng ta

  1. CỬA vào mở rộng này chỉ rằng đường đến với sự thờ phượng ĐCT rộng mở cho tất cả mọi người. Giăng 6:37: “ Phàm những kẻ Cha cho Ta sẽ đến cùng Ta, kẻ đến cùng Ta thì Ta không bỏ ra ngoài đâu ”. Qua Chúa Jesus, bất kỳ ai muốn đến cùng ĐCT đều có thể đến. Ngài luôn luôn chào đón chúng ta bước vào sự hiện diện Ngài.
  1. Bàn thờ bằng đồng ( bàn thờ của lễ thiêu ) Xuất 38:1-2: Bên trong cái cửa rộng này là 1 bàn thờ làm bằng gỗ Sitim bọc đồng. Đây là vật thể lớn nhất trong đền tạm, cao khoảng 1,40m rộng khoảng 0,8m. Bàn thờ này rỗng và được đổ đầy đất. Chừng nửa bề cao có cái bờ chạy bốn phía để các thầy tế lễ đứng lên trên. Bàn thờ được đặt ở phía Bắc Đền Tạm gần lối vào hành lang. Nó có ý nghĩa rất quan trọng trong sự thờ phượng của người Do Thái. Người ta đem những con thú tốt nhất đến, tại đó con sinh bị giết. Trong lễ nghi này huyết con thú phải đổ ra để làm sinh tế chuộc tội như là 1 của lễ dâng lên cho ĐCT. Đền Tạm nhận tất cả mọi sự đổ huyết này dường như rất khó chịu cho chúng ta ngày nay. Nhưng tin mừng cho chúng ta là trên thập tự giá Đức Chúa Jesus đã trở thành sinh tế một lần đủ cả cho chúng ta. Việc giết chết thú vật làm sinh tế không còn nữa. Chúng ta không còn dâng thú vật bèn là dâng chính mình, dâng những điều tốt nhất của chúng ta cho ĐCT. Roma 12:1-2: “Vậy hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của ĐCT khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh đẹp lòng ĐCT, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của ĐCT là thể nào”. Sự thờ phượng bao gồm việc đặt toàn bộ đời sống mình lên bàn thờ ( kế hoạch, thời gian, gia đình, công việc, thú tiêu khiển…) và nói rằng: “Nhưng không theo ý con mà xin theo ý Cha” (Math 26:39). Không giống những thầy tế lễ ngày nay chúng ta không còn lên trên bàn thờ bọc đồng nữa mà chỉ đơn sơ cuối xuống trên đầu gối mình mà thưa rằng: “Lạy Chúa, con thuộc về Ngài. Xin hãy làm chủ đời con. Con xin dâng chính mình con cho Ngài. Xin Ngài hãy cho con biết Ngài muốn con làm điều chi.”

Sau khi chúng ta quyết định đến cùng Chúa Jesus chúng ta phải sẵn sàng dâng cho Ngài điều mình chiếm hữu và thuộc về mình. Người Do Thái đã mang đến nhiều sinh tế chứ không chỉ một. Đây là hành động của sự phục tùng. Không 1 ai trừ ĐCT hiểu trọn vẹn cái giá của sự đầu phục của chúng ta. Đền Tạm vừa là nơi thờ phượng vừa là nơi của sự chết. Phải chết là điều đau đớn. Đôi khi điều này phải từ bỏ những điều nhất định. Luca 9:23  lời Chúa kêu gọi: “Nếu ai muốn theo Ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta”. Bàn thờ bằng đồng là hình bóng cho sự chết của Chúa Jesus trên thập giá. Ngài là tấm gương cho sự đầu phục ĐCT của chúng ta hôm nay. Philip 2:7-8: “Chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự”. Vậy nên chúng ta hãy ra ngoài trại quân đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu sỉ nhục. (Hêb 13:13)

  1. Thịt sinh tế: ĐCT nói rất rõ rang về việc sẽ làm gì cho thịt sinh tế. Lúc đốt trên bàn thờ, lúc đốt bên ngoài trại quân. Trong các tình huống khác, thầy tế lễ và người dâng tế lễ cùng chia sẻ thịt con sinh. Những đòi hỏi phức tạp này đã được ứng nghiệm trong của lễ của Chúa Jesus. Ngài đã vì cớ chúng ta phó chính mình cho ĐCT như của dâng và của tế lễ (Êphêso 5:2). Điều này cũng là sự bày tỏ về đòi hỏi của ĐCT mà hết thảy mọi người thờ phượng phải làm theo cách chính xác ý muốn Ngài, bởi vì con người sống theo ý riêng không thể nào làm đẹp lòng ĐCT được. Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jesus một lần đủ cả.(Hêb 10:10)
  1. Thùng rửa (chậu rửa) (Xuất 30:18-21;Heb 10:22)

Là cái thùng lớn bằng đồng để chứa nước, dùng cho các thầy tế lễ rửa chân tay trước khi thi hành chức vụ nơi bàn thờ hoặc hội mạc. Điều này nói lên ý nghĩa về sự thanh tẩy khi thờ phượng; chúng ta phải có tâm linh thanh sạch và tinh khiết trước mặt ĐCT. Chúng ta không thể có mối thông công với ĐCT nếu chúng ta không sẵn sàng để được thanh tẩy.

Giăng 13:8: “Đức Chúa Jesus đáp rằng: Nếu ta không rửa cho ngươi thì ngươi chẳng có phần chi với ta hết”

Hêb 10:22 : “Chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong mà đến gần Chúa”

Thùng rửa được làm thành bởi các tấm gương bằng đồng đánh bóng mà những người nữ Ysơraên dâng hiến. Nước để tẩy rửa đổ vào trong thùng. Mặc dù huấn thị thiên thượng mà ĐCT dành cho việc cất Đền Tạm rất chi tiết, xong kích cỡ của chậu rửa lại được bỏ qua. Đây là một lời chừng đẹp đẽ về tâm tánh của ĐCT, tình yêu và ân điển Ngài không đo lường được. Ngài sẵn sàng tha thứ và biến đổi những ai thật lòng tìm kiếm Ngài với tinh thần ăn năn.

Hình bóng đẹp đẽ của thùng rửa phán với chúng ta về lời ĐCT có tác dụng tẩy sạch  và làm tươi tỉnh linh hồn chúng ta:

Êphêsô 5:25-26: “…Đấng Christ đã yêu Hội Thánh phó chính mình vì Hội Thánh, để khiến Hội nên Thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch”

Thi 19:7: “Luật pháp của Đức Giê hô va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại…”

ĐCT rửa sạch chúng ta bằng lời của Ngài. Thông tin, báo chi, phim ảnh, không có tác dụng làm sạch mà chúng chỉ gây thêm lo lắng sợ hãi, vẫn đục cho tâm trí chúng ta. Nhưng lời ĐCT là nguồn phước và là sự thanh tẩy cho linh hồn của chúng ta. Vì thế chúng ta cần phải đọc và suy ngẫm lời Chúa mỗi ngày

Thi 1:1-3: “Phước cho người nào chẳng theo mưu kế kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ kẻ nhạo bang. Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê hô va và suy ngẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước sanh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo, mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng”

Các tấm gương đã được dâng hiến bởi những người nữ Ysơraên để làm thùng rửa minh họa về lời Chúa trong đời sống chúng ta. Gương không chỉ cho chúng ta thấy khuyết điểm mà còn giúp chúng ta sửa khuyết điểm ấy. Trong khi đối diện với gương chúng ta có thể sửa soạn chính mình và làm cho mình đẹp hơn. Điều này xảy ra tương tự khi chúng ta đọc hoặc lắng nghe lời Chúa. Đức Thánh Linh bày tỏ tình trạng tấm lòng chúng ta trước mặt ĐCT. Lời Chúa phán xét chúng ta và đi vào chỗ mà người khác không thể vạch trần ra được. Hêb 4:12-13: “Vì lời ĐCT là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươn hai lưỡi thấu vào đến đỗi chia hồn linh cốt tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào giấu kín được trước mặt Chúa nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mặt Đấng mà chúng ta phải thưa lại”

Thùng rửa với tấm gương bằng đồng phản ánh sự ô uế của các thầy tế lễ đồng thời cung cấp nước để tẩy sạch họ. Cũng vậy lời Chúa chỉ cho chúng ta thấy những điều cần thay đổi và dẫn chúng ta đến với sự ăn năn. Hãy xem xét chính mình chúng ta qua chiếc gương lời Chúa, hãy đọc và suy ngẫm lời Chúa mỗi ngày.

II.Đền tạm

Đền Tạm xây về phía Đông là một chiếc lều hình chữ nhật dài khoảng 14m rộng khoảng 5m làm bằng những tấm ván bằng gỗ Sitim có màn phủ kín. 20 tấm ở phía Bắc, 20 tấm ở phía Nam, 6 tấm ở phía Tây, đầu mỗi tấm ván có 2 cái mộng để tra vào 2 lỗ mộng bằng bạc. Các tấm ván được liên kết với nhau bởi 5 cây xà ngang chạy qua các khoen bằng vàng ở trên các tấm ván. Có 10 bức màn mỗi bức dài khoảng 12m rộng 2m làm bằng vải gai mịn. Những bức màn này được gắn kết với nhau bằng nhiều móc vàng làm thành 1 tấm. Tấm màn nguyên này do 10 bức màn hợp thành dài khoảng 18m ở phía Đông và phía Tây, 13m ở phía Bắc và phía Nam còn khoảng 9m rủ xuống góc phía Tây. Bức màn này giăng trên các tấm ván bọc kín làm thành vách đền tạm

Bên trong có 2 phần: nơi thánh là phần rộng hơn chỉ có các thầy tế lễ con cháu Arôn mới được phép vào nơi thánh để thi hành chức vụ của họ đối với ĐCT. Bên trong nơi thánh chứa 3 đồ vật: bàn bánh trần thiết, chân đèn bằng vàng, bàn thờ xông hương. Một bức màn căng ngang ngăn cách nơi thánh và nơi chí thánh. Nơi chí thánh thì nhỏ hơn nơi thánh. Mỗi năm thầy tế lễ thượng phẩm được vào đó một lần vào đại lễ Chuộc tội. Trong nơi chí thánh có hòm giao ước và nắp thi ân với cherubim bằng vàng. Sự vinh hiển của ĐCT ở trên nắp thi ân ấy.( Hêb 10:19-20)

 1.Nơi thánh (Xuất 40:1-38; Hê 9;10)

Trái ngược với quang cảnh đông đúc bên ngoài hành lang, bên trong nơi thánh rất ít người được vào, chỉ có những thầy tế lễ đã được chuẩn bị sẵn sàng mới được vào. Biểu tượng ở đây thật rõ ràng: một Cơ Đốc Nhân chỉ thích vào nơi sân ngoài của mối tương giao của họ với Chúa như những con người không trưởng thành, họ lớn lên ở sân ngoài, họ không bao giờ học biết được niềm vui của sự thờ phượng chặt chẽ. Suốt cả từng trải thuộc linh của họ, họ ưu thích những gì nhận từ nơi ĐCT hơn điều họ có thể dâng cho Ngài. Họ không bao giờ biết cách phục vụ ĐCT và phục vụ người khác. Khi thầy tế lễ bước ra khỏi sân ngoài bận rộn để vào nơi thánh, họ bước vào nơi yên tĩnh. Trong căn phòng ấy có thể có hơn 1 người nhưng có sự yên tĩnh thánh khiết ở đó. Các thầy tế lễ bước vào nơi thánh hằng ngày. Cũng vậy sự thờ phượng phải là từng trải hằng ngày của chúng ta. Chúng ta thật sự thờ phượng ĐCT khi dành trọn 1 thời giờ để bước ra khỏi sinh hoạt của cuộc sống và biệt riêng để tìm kiếm ĐCT.

  1. Bàn bánh trần thiết( Xuất 25:23-30): Được đặt ở phía Bắc nơi thánh là một cái bàn nhỏ dài khoảng 90cm rộng 48cm cao 80cm làm bằng gỗ Sitim bọc vàng bên trên để 12 ổ bánh trần thiết, bánh bày luôn như vậy mỗi ngày, đến ngày Sabát thì phải đổi bánh mới. Ở trong sự hiện diện của ĐCT sự thờ phượng không bao giờ trở thành cũ kỹ hay cổ hủ .

Ca thương 3:23: “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Chúa là lớn lắm”

Hình ảnh về bàn bánh trần thiết với 12 ổ bánh tượng trưng cho sự hiệp nhất trọn vẹn trong thân thể. Và cũng tượng trưng cho sự cung ứng của ĐCT với dân sự Ngài. Chúa Jesus phán: “ Ta là bánh hằng sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35) không có loại thức ăn nào làm thỏa mãn linh hồn chúng ta, Chúa Jesus là bánh thật của chúng ta. Chúng ta có đang dự phần với bánh này chăng ? Chất bổ dưỡng ngon ngọt nhất trên đời này chỉ được tìm thấy trong phòng cầu nguyện. Nếu chúng ta thôi không ăn nuốt từ Thánh Linh và lời Ngài, chúng ta sẽ trở nên yếu đuối và sống trong hình thức Cơ Đốc đáng thương và vô vị.

  1. Chân đèn bằng vàng ( Xuất 25:31; 30:7-8): Trong nơi thánh không có cửa sổ, chân đèn bằng vàng là ánh sáng duy nhất trong đền tạm. Chân đèn làm bằng ròng, có một thân chính giữa, mỗi bên có 3 ngọn đèn. Đèn bởi thắp bởi lọ dầu ô li ve tốt nhất các thầy tế lễ phải thức canh để giữ cho đèn không bao giờ tắt.

Khải huyền 1:20 Chúa Jesus bày tỏ: 7 chân đèn là 7 Hội Thánh nói cách khác Hội Thánh là sự sáng của thế gian này. Chúa Jesus cũng nói: “Các ngươi là sự sáng của thế gian…Sự sáng của các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” ( Math 5:14-16). Chúng ta là ngọn đèn và là ánh sáng của thế gian, để giữ cho lửa không tắt chúng ta phải được chìm ngập trong sự xức dầu của Đức Thánh Linh, trong sự cầu nguyện, đồng thời chúng ta phải hướng đến bên ngoài bằng lời sự sống của ĐCT. Đèn không thể để dưới cái thùng được mà nó phải ở trên chân đèn. Mỗi 1 cá nhân với Hội Thánh địa phương cùng hướng đến thế gian hư mất bên ngoài, hoàn thành chức vụ mà Chúa giao phó, ban cho điều mình đã nhận lãnh, thì sự xức dầu của ĐCT sẽ gia tăng trong đời sống chúng ta. Chính sự xức dầu đó sẽ khiến chúng ta chiếu sáng trong thế gian tối tăm này.

  1. Bàn thờ xông hương ( Xuất 30:1-9): Là vật thánh cuối cùng trong nơi thánh. Nó được đặt phía trước bức màn phân cách nơi thánh và nơi chí thánh. Khác với bàn thờ ngoài hành lang, nó được làm bằng gỗ Sitim bọc vàng ròng. Phải xông hương trên đó luôn sáng chiều tối. Mùi thơm của hương thẩm thấu qua bức màn bay đến nơi hiện diện vinh hiển của ĐCT ở trên hòm giao ước. Hương tượng trưng cho lời cầu nguyện của các thánh đồ ( Khải huyền 5:8; 8:1-5 )

Khải huyền 8:3-4: “Đoạn 1 vị thiên sứ khác đến đứng bên bàn thờ, người cầm lư hương vàng, và được nhiều hương để dâng hương ấy trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi với lời cầu nguyện của mỗi thánh đồ. Khói hương từ tay thiên sứ bay lên trước mặt ĐCT, với lời cầu nguyện của các thánh đồ”

Thi 141:2: “Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương…”

Ngoài những lời cầu nguyện của chúng ta, lời ngợi khen, sự thờ phượng, ân tứ của chúng ta cũng được đặt ở trước mặt Chúa. ( Công 10:31 ). Bàn thờ xông hương liên kết chúng ta với chức vụ của Hội Thánh, ngợi khen, thờ phượng và thông công với ĐCT trong sự cầu nguyện. Đây là chức vụ hướng lên trên của chúng ta. Hội Thánh ban đầu đã hành động trong bầu không khí cầu nguyện và thờ phượng sâu nhiệm. Khi các môn đồ hầu việc Chúa, họ được ban cho những chỉ dẫn cần thiết để thi hành công việc Ngài ( Công 13:1-3 ). Trên con đường tiến đến đời sống Cơ Đốc đắc thắng, bàn thờ xông hương nối kết chúng ta với sự vinh hiển. Lời cầu nguyện bằng đức tin đánh dấu giai đoạn bắt đầu của đời sống Cơ Đốc. Khi chúng ta chấp nhận Phúc Âm không ngừng là phương tiện kỳ diệu nhất để đạt đến sự hiểu biết vinh hiển của ĐCT. ĐCT muốn có mối tương giao với chúng ta. Chúng ta không thể lơ là cầu thả trong mối quan hệ với ĐCT. Hãy dành thời giờ trước hết trong ngày cho Chúa. I Tesalonica 5:16-17: “Hãy vui mừng cầu nguyện không thôi” John Wesley từng nói : “Ông không bao giờ cầu nguyện quá 5 phút nhưng chưa bao giờ bước đi 5 phút mà không cầu nguyện” Moody cũng nói: “Cơ Đốc Nhân nào quỳ gối nhiều sẽ đứng vững nhiều hơn”. ĐCT dùng sự cầu nguyện để thánh hóa chúng ta. Cầu nguyện không phải là độc thoại mà là đối thoại cao quý, sự đối mặt của ĐCT thánh khiết. Khi chúng ta cầu nguyện, tâm linh của chúng ta mở ra trước công việc của Đức Thánh Linh là Đấng đem tiếng phán của ĐCT đến với chúng ta. Đền Tạm với bàn thờ xông hương tượng trưng cho lời cầu nguyện của các thánh đồ bay đến ngôi thi ân của ĐCT càng khích lệ chúng ta hơn trong đời sống cầu nguyện bởi vì không 1 lời cầu nguyện nào của chúng ta là phí phạm vô ích, đổ sông đổ biển vì tất cả được chứa đựng lại ở Ngôi vinh hiển.

  1. Màn ngăn cách ( Heb 10:19-22 ): Đối diện với bàn thờ xông hương là 1 bức màn để ngăn cách giữ nơi thánh và nơi chí thánh. Màn làm bằng vải gai mịn, chỉ xanh lơ, đỏ tía, đỏ sậm, có thêu hình chê ru bim cực xảo. Nó phân cách giữa nơi thánh và nơi chí thánh, nói cách khác nó ngăn cách giữa điện thiết triều của ĐCT và phòng chờ đợi của loài người. Nhưng khi Chúa Jesus chịu chết trên thập tự giá, bức màn này đã bị xé làm 2. Math 27:50-51: “Đức Chúa Jesus lại kêu 1 tiếng lớn nữa rồi trút linh hồn. Và này bức màn trong đền thờ bị xé ra làm 2 từ trên chí dưới”. Nơi chí thánh là 1 căn phòng bị che lại vốn là 1 nơi chết choc cho bất cứ ai ra vào trừ thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào 1 lần với huyết chuộc tội, thì nay đã trở nên 1 nơi rộng mở của sự sống và ơn phước cho bất cứ ai tin nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa. Bức màn bị xé ra làm 2 tượng trưng cho thân thể của Đức Chúa Jesus đã bị vỡ ra để vạch ra cho chúng ta 1 con đường mới và sống, để ai nấy có thể đến gần ĐCT.

 Heb 10:19-20: “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài”. Ngày xưa bất kì ai bước qua bức màn vào nơi chí thánh mà không phải là thầy tế lễ thượng phẩm đều phải chết. Nhưng ngày nay hết thảy chúng ta đều đến gần ĐCT qua Đức Chúa Jesus.

 Heb 4:16: “Vậy chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần”

II. Nơi chí Thánh

Rộng khoảng 8m, là một khối đều đặn ở phía Tây đền tạm hình dung cho nơi ngự thật của ĐCT. Mỗi năm thầy tế lễ và 1lần vào ngày lễ chuộc tội ( Xuất 24:7; 34:27) nó làm hình bóng về thiên đàng. Heb 9:24: “Vả Đấng Christ vào nơi thánh chẳng phải người làm ra theo kiểu mẫu nơi thánh thật

Vật dụng duy nhất trong phòng là hòm giao ước làm bằng gỗ Sitim bọc vàng. Trên đỉnh hòm là nắp thi ân nhận huyết của các của tế lễ. Tại đây chính sự hiện diện và vinh quang của ĐCT được tỏ bày trong hòm có bảng giao ước, gậy trổ hoa của Arôn và bình đựng mana bằng vàng.

Nắp thi ân đậy trên hòm giao ước làm bằng vàng nguyên khối, mỗi đầu có 1 chêrubim gắn liền với nắp, 2 chêrubim đối mặt nhau, xè cánh ra và nhìn xuống nắp thi ân. Nắp thi ân ở ngay trên bảng 10 điều răn hình dung cho nơi gặp gỡ của luật pháp và sự thương xót. Đó cũng là hình bóng về Đấng Christ. 2 chêrubim bày tỏ 1 cách sinh động rằng thiên thượng đặc biệt chú ý đến sự cứu chuộc loài người

Ở trên nắp thi ân huyết được rưới để tẩy sạch tội lỗi dân sự và bên trên huyết, sự vinh hiển của ĐCT được bày tỏ ra. Bức màn được xé ra làm 2 từ trên chí dưới chứng tỏ đây không phải là việc con người làm bèn là ĐCT Ngài mời gọi chúng ta bước vào các nơi trên trời 1 cách tự do qua Đức Chúa Jesus. Không ai được phép bước vào nơi chí thánh mà không bởi Chúa Cứu Thế – thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, là Đấng mà sự hiện diện của Ngài đã được biểu trưng bởi hòm giao ước. Đời sống chúng ta có giá trị vượt trổi bởi vì Chúa Cứu Thế đã rảy trên chúng ta chính huyết của Ngài. Khi chúng ta bước vào nơi chí thánh và mối tương giao với ĐCT thánh khiết, chúng ta kinh ngạc khi khám phá rằng Chúa Jesus đã không ngừng cầu nguyện thế cho chúng ta. Ở trong nơi chí thánh chúng ta khám phá uy quyền được tượng trưng bởi cây gậy Arôn. Chúa Jesus tuôn đổ trên chúng ta sự sống của Ngài. Ngài là sức mạnh của sự sống lại đã ban cho chúng ta đắc thắng trên sự chết và Satan. Ở dưới Thầy chúng ta, chúng ta học biết các luật lệ của Ngài và nhận được sức mạnh để sống theo lời Ngài đã được chép trên bảng lòng chúng ta.

ĐCT hiện diện ở khắp mọi nơi. Có những lúc và những nơi mà ở đó chúng ta cảm thấy sự hiện diện Ngài gần gũi chúng ta một cách đặc biệt. Nơi chí thánh là 1 chỗ như vậy. Để bước vào nơi chí thánh, chúng ta phải đi qua nơi thánh ( Xuất 26:31-33 ). Đó là nơi chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mới vào được. Arôn thầy tế lễ thượng phẩm đầu tiên – việc ông vào nơi chí thánh được ghi lại ở ( Xuất 28:29-42 ) để đại diện cho dân sự trước mặt ĐCT. Ông là Thánh cho Đức Giê hô va và ông mang tội lỗi dân sự vào nơi chí thánh. Hình ảnh đó tượng trưng cho Đức Chúa Jesus –  thầy tế lễ thượng phẩm trọn vẹn và toàn hảo của chúng ta ( Heb 7:26-28 ). Ngài đã gánh tội lỗi chúng ta trên cây gỗ và hiện nay Ngài đang cầu thay cho chúng ta trước ngôi ĐCT trong sự công bình và thánh khiết

Thầy tế lễ phải trải qua bước chuẩn bị để vào nơi chí thánh. Sự đầu phục và sự thanh tẩy là 1 phần của sự chuẩn bị ấy. Cũng vậy với chúng ta ngày nay để có thể kinh nghiệm sự hiện diện của ĐCT 1 cách mạnh mẽ ở trong nơi chí thánh, chúng ta phải xưng nhận tội lỗi mình, tiếp nhận sự tha thứ của ĐCT và vâng phục ý chỉ của Ngài. Chúng ta phải dẹp bỏ tự kỷ để Ngài làm chủ đời sống mình khi ấy sự thờ phượng của chúng ta là những gì Ngài muốn và chúng ta có thể tiếp cận Ngài với sự vui mừng và ngợi khen.

Trong nơi chí thánh không có cửa sổ nào. Trang bị duy nhất là hòm giao ước bày tỏ sự hiện diện của ĐCT không có điều gì làm sao lãng thầy tế lễ thượng phẩm khỏi sự thờ phượng thuần khiết trong sự hiện diện của ĐCT. Sự kêu gọi tương tự cho chúng ta ngày nay là những người thờ phượng, chúng ta nhận biết sự hiện diện vinh hiển của ĐCT, chúng ta chọn lựa tìm kiếm ĐCT và tận hưởng sự hiện diện của Ngài. Trong 1 thời giờ như vậy 1 môn đồ của cộng đồng bị lãng quên, không còn bận rộn, không còn ồn ào, không còn bị chi phối bởi việc này việc khác mà chỉ mình họ với Chúa. Chính giờ phút thiêng liêng ấy, người thờ phượng không cầu xin gì cả. Người ấy không thờ phượng để mong nhận ân huệ từ ĐCT mà học biết rằng niềm vui và sự hiện diện của Ngài có ý nghĩa biết bao.

  1. Huyết sinh tế ( Xuất 12:2-13 ; Lêvi 16:14-15 ; Heb 9:12-27 ): ĐCT cũng nói một cách dùng tế lễ như thế nào. Đôi lúc huyết phải rảy trên vật dụng Đền Tạm, thường là được rảy trên bàn thờ bằng đồng, vào ngày Đại lễ Chuộc tội, huyết được đem vào trong bức màn và được rảy trên nắp thi ân. Những nghi thức này được ứng nghiệm trong huyết của Chúa Jesus ( Math 26:26-28 )

Heb 9:11-14 “Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy;Ngài đã Vượt Qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy; Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.Vì nếu huyết của dê đực bò đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được phần xác thịt họ và nên thánh thay, huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!”

Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch, không đổ huyết thì không có sự tha thứ ( Heb 9:22 ). Nhưng huyết của bò đực và dê đực thì không thể cất tội lỗi đi được ( Heb 10:4 ) còn huyết của con người đã trở nên băng hoại do tội lỗi bước vào, nên cần phải có huyết vô tội mới cứu chuộc được con người. Chúa Jesus đã dùng chính huyết mình, huyết vô tội và hoàn hảo làm của lễ 1 lần đủ cả và lập sự cứu chuộc đời đời. Nhờ huyết của Chúa Jesus mà mọi vi phạm chúng ta được xóa bỏ, tội lỗi chúng ta được thanh tẩy, chúng ta được sự cứu chuộc, sự bình an và sự nên thánh, chúng ta được xưng công bình và được giải hòa với ĐCT. Sự hy sinh và huyết của Đức Chúa Jesus đáp ứng mọi yêu cầu của luật pháp.

  1. Chức tế lễ: Thời Cựu Ước ĐCT đã lập chức tế lễ để đại diện cho dân sự trước mặt Ngài. Chức vụ của họ liên quan đến 1 hệ thống nghi thức phức tạp biểu tượng về những điều thuộc linh, là hình bóng cho những điều sau, chứ không phải là hình thật ( Heb 8:5 ; 10:1 )

Col 2:17 “ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”

 Chức tế lễ của Đấng Christ đã làm trọn khuôn mẫu của chức vụ này vì Ngài là vị thượng tế đặc biệt giống như Menchixeđec ( Heb 7 ) không như những thầy tế lễ Lêvi. Những thầy Lêvi phạm tội còn Chúa Jesus thì không. Những thầy Lêvi chỉ phục vụ khi họ còn sống, trong khi Chúa Jesus chúng ta đã từ kẻ chết sống lại và thiết lập chức tế lễ đời đời. Những thầy Lêvi dâng sinh tế cho họ và cho dân chúng. Chúa Jesus không cần dâng sinh tế cho Ngài, ngược lại Ngài dâng chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội cho loài người. Con người tội lỗi không thể tiếp cận ĐCT thánh khiết. Qua Chúa Jesus, ĐCT đã mở ra con đường hầu cho loài người được tha thứ và đến gần Ngài.

Heb 7:23-28: “Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ. Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời: không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân;Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ.Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm;nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng đã nên trọn lành đời đời.”

“Ấy vậy, vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin. Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.” ( Heb 4:14-16 ) Chúng ta được kêu gọi để đến gần ĐCT để dâng tế lễ bằng lời ngợi khen bởi môi miếng xưng danh Ngài ra ( Heb 13:15 ) và dâng chính mình làm của lễ sống và thánh làm đẹp lòng ĐCT ( Ro 12:1 )

  1. KẾT LUẬN

Đền Tạm tiêu biểu cho Đức Chúa Jesus và đã được hoàn toàn ứng nghiệm nơi Ngài. Chúa Jesus là Đền Tạm cho dân Ngài thờ phượng ĐCT, Chúa Jesus là thầy tế lễ thượng phẩm đã đổ huyết ra chuộc tội chúng ta và được phục sinh đi vào nơi rất thánh trên trời trước sự hiện diện ĐCT, Ngài đã mở ra con đường để chúng ta đến gần ĐCT.

Đền Tạm cũng bày tỏ cho chúng ta khuôn mẫu của sự thờ phượng trên trời. ĐCT không muốn chúng ta chỉ dừng lại ở sự thờ phường ồn ào ngoài sân ngoài ( hành lang ) Ngài muốn chúng ta bước vào nơi thánh bằng lời cầu nguyện như 1 thức hương dâng lên Ngài, để nhận lãnh lời Ngài làm linh lương nuôi sống đời sống thuộc linh của chúng ta. Để đem lời Ngài đến với thế giới hư mất và chiếu sáng liên tục trong thế gian này. Không dừng lại ở đấy Ngài muốn đưa chúng ta vào chiều kích cao hơn tại nơi chí thánh, chỉ mình chúng ta với Chúa, tại nơi đó không còn cầu xin nữa mà chúng ta tiếp nhận sự vinh hiển Ngài từng trải sự hiện diện Ngài đầy dẫy trong đời sống chúng ta

Đền Tạm nhắc nhở chúng ta:

– Chỉ trong Chúa Jesus chúng ta mới có thể tiếp cận ĐCT

– Chúng ta có thể tin rằng Chúa Jesus có thể giúp chúng ta vượt qua những khó khăn tồi tệ nhất trong đời vì Ngài đã đi qua con đường đó rồi ( Heb 4:15-16 )

Đền Tạm vừa là nơi thờ phượng vừa là nơi sự chết tại đó con sinh bị giết. Tại đó chúng ta cũng thấy được chính Chúa Jesus đã bị nộp vì tội chúng ta và chết vì sự gian ác của chúng ta. Chúng ta nên sống và chết với lòng hy sinh can đảm như Chúa đã làm, không chỉ chết thuộc thể mà chết về xác thịt, về lòng ham mê trần thế, chết về bản ngã con người cũ, và từ bỏ những điều mình thích để sống cho ĐCT.

ĐỨC CHÚA JESUS CHRIST HÔM QUA NGÀY NAY VÀ CHO ĐẾN ĐỜI ĐỜI KHÔNG HỀ THAY ĐỔI. ( HEB 13:8 )

SV Lê Thị Diễm Kiều – Trường Thần học Quốc tế Agape

http://hoithanh.com/Home/duong-linh/2842-tin-lanh-ve-den-tam.htmlBài vở cộng t