Bạn cần bao nhiêu dấu hiệu nữa?




Bạn cần bao nhiêu dấu hiệu nữa?

Ngày tái lâm của Chúa Giê-su đang ở ngay trước cửa. Trong thời gian qua, những lời tiên tri trong Kinh Thánh đã liên tục ứng nghiệm rất rõ ràng. Vì thế, mỗi người chúng ta phải tự hỏi rằng chúng ta cần bao nhiêu dấu hiệu nữa để thức tỉnh. Vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, Ngài đã cảnh báo chúng ta đúng lúc để chúng ta có thể chuẩn bị cho ngày tái lâm của Chúa Giê-su.




TỔNG THỐNG DONALD TRUMP VÀ VUA CYRUS

Vào ngày 28/02/2018 vừa qua, tổ chức Đền Thờ (Temple Institue) của Israel đã đúc đồng xu có hình của tổng thống Donald Trump và vua Cyrus của Ba Tư. Vua Cyrus trị vì 2500 năm trước, đã cho phép người Do Thái trở về lại Jerusalem sau khi họ bị lưu đày sang Babylon. Họ đúc đồng xu này để tỏ lòng biết ơn vì ông Trump đã công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel trong tháng 12/2017. Tại sao người Do Thái lại ví ông như vua Cyrus?

Chúng ta hãy đến với sách tiên tri Ê-sai (được viết cách đây khoảng 2700 năm) của Kinh Thánh để biết câu trả lời. Trong sách này, Đức Chúa Trời thách thức chúng ta: “Hãy nói những việc sẽ xảy đến sau nầy, để chúng ta biết các ngươi là thần” (Ê-sai 41:23). Nếu chúng ta nói trước được tương lai thì chúng ta là thần, vì chỉ mình Đức Chúa Trời mới biết điều gì sẽ đến.

1) Đức Chúa Trời chọn vua Cyrus của Ba Tư để xây lại đền thờ Jerusalem và phóng thích dân Ngài

Lúc bấy giờ, dân Israel phản nghịch với Đức Chúa Trời, họ phạm nhiều tội ác và chạy theo thần của dân ngoại. Cho nên, Ngài đã dùng nhiều tiên tri để kêu gọi họ ăn năn trở về với Ngài. Tuy nhiên, họ không những khinh thường lời kêu gọi của Ngài mà còn giết chết phần lớn các tiên tri. Chính vì vậy Đức Chúa Trời công bố sẽ phán xét dân Ngài bằng cách dùng quân Babylon để tấn công nước Do Thái, san bằng đền thờ Jerusalem, tàn sát nhiều người và bắt nhiều người lưu đày sang Babylon. Nhưng Ngài cũng ban họ một niềm hy vọng. Thông qua tiên tri Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời cho biết trước là họ chỉ ở Babylon 70 năm, rồi Ngài sẽ mang họ trở về lại Jerusalem (xem Giê-rê-mi 25:11-12).

http://penelope.uchicago.edu/josephus/ant-11.html), sử gia Do Thái Flavius Josephus viết rằng: “Đức Chúa Trời đã tác động đến tâm trí của Cyrus, nên vua đã ban chiếu chỉ cho toàn Tiểu Á: Vua Cyrus truyền như vậy: ‘Vì Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng, đã bổ nhiệm trẫm làm vua của cả đất. Trẫm tin Ngài là Đức Chúa Trời mà người Do Thái thờ phượng. Chính Ngài đã nhắc đến tên trẫm trong các sách Tiên Tri và bảo trẫm phải xây nhà cho Ngài tại Jerusalem trong xứ Judea’”. Được biết là những lãnh đạo Do Thái đã cho vua Cyrus xem đoạn Ê-sai 45 nói về ông.

Mời các bạn đọc tiếp bài này ở đây: http://www.angospel.com/tan-the/173-trumpcyrus.html




Bảy Hội Thánh trong sách Khải Huyền

Lịch sử của Hội Thánh đã có nhiều bước phát triển sai lệch. Tuy vậy, cho đến hôm nay, Đức Chúa Trời vẫn luôn khôi phục lại Hội Thánh theo đúng kế hoạch của Ngài. Một bước quan trọng của sự khôi phục này chính là công cuộc Cải Chánh ở nước Đức cách đây đúng 500 năm. Nhưng đó có phải là kết thúc không? Kinh Thánh đã cho biết trước cụ thể từng bước phát triển của Hội Thánh trong 2000 năm qua, để hôm nay chúng ta có thể quyết định đi con đường của Đức Chúa Trời.

 https://www.youtube.com/watch?v=lvKpYMHRH1U

Lời mở đầu

Nhiều người biết năm nay là kỷ niệm 500 năm ngày Cải Chánh Giáo Hội. Trong hình này, Martin Luther đứng trước hoàng đế Karl V của nước Đức. Kể từ lúc đó, nước Đức và cả Châu Âu đã thay đổi rất nhiều. Điều này đã xảy ra như thế nào? Điều quan trọng hơn mà chúng ta phải thấy rằng Kinh Thánh đã cho biết trước từng bước phát triển của Hội Thánh trong 2000 năm qua.

Hôm nay, chúng ta đi đến sách Khải Huyền, sách ghi lại các khải thị mà Chúa đã ban cho sứ đồ Giăng khi ông bị lưu đày ở đảo Bát-mô. Ông là sứ đồ cuối cùng còn sống. Lúc đó, các Hội Thánh bị tản lạc khắp nơi và đang bị tụt dốc. Trong tình huống này, Chúa Giê-su đã chỉ ra cho Giăng biết những điều quan trọng. Tối nay, chúng ta muốn xem xét những điều này.

Một hôm, ông đã nghe tiếng người nói với mình nên quay lại xem thì thấy “ … bảy chân đèn bằng vàng, giữa những chân đèn có ai giống như Con Người mặc áo dài, thắt đai bằng vàng ngang ngực” (Khải huyền 1:13). Con Người và bảy chân đèn ở đây là trọng tâm của sách Khải Huyền. Con Người này chính là Chúa Giê-su. Tại sao chúng tôi lại thuyết trình về đức tin nơi Chúa Giê-su ở trong trường đại học? Chúng tôi không phải là những nhà thần học, cũng không quan trọng hiểu biết về Kinh Thánh. Tuy nhiên, chúng tôi có những kinh nghiệm giống như kinh nghiệm của sứ đồ Phao-lô, ông đã được Đức Chúa Trời kêu gọi và Ngài đã bày tỏ Chúa Giê-su trong ông. Đó là lời chứng mà tôi và những người trong nhóm Kinh Thánh đã làm chứng trong trường đại học. Đối với chúng tôi, điều quan trọng không phải là hiểu biết hay sự dạy dỗ về Kinh Thánh, mà là quen biết Chúa, trải nghiệm Ngài. Chính Giăng cũng đã thấy Chúa Giê-su ở đảo Bát-mô. Ông cũng đã thấy bảy chân đèn bằng vàng. Bảy chân đèn này hoàn toàn được làm bằng vàng. Cái hình này được xuất phát từ sách Xuất Ai Cập Ký, là một phần trong Lều Tạm mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ. Chân đèn này dùng để thắp sáng trong Đền Tạm. Đây không phải là chân đèn bình thường mà phức tạp hơn nhiều. Nó được làm bằng một khối vàng lớn, bao gồm nhiều nhánh đèn với nhiều nụ hoa và đài hoa hạnh nhân. Khải huyền 1:20 cho biết chân đèn này chính là Hội Thánh. Lúc đó, một thành phố chỉ có một Hội Thánh. Tại sao chân đèn này được gọi là Hội Thánh? Chúa Giê-su đã nói trong Ma-thi-ơ 5:14 “các ngươi là ánh sáng của thế giới”. Hội Thánh phải bày tỏ ánh sáng về Đức Chúa Trời và ý của Ngài. Chân đèn này không chỉ được bọc vàng mà được làm từ một khối vàng lớn. Có nghĩa là Hội Thánh của Đấng Christ phải được bản tính của Đức Chúa Trời, kinh nghiệm với Chúa, nhân tính của Chúa và sự công bằng của Ngài đổ đầy cách hoàn toàn. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem Hội Thánh ngày nay tương xứng với hình này như thế nào.

Bây giờ, chúng ta xem bảy thư mà Giăng gửi cho bảy Hội Thánh trong sách Khải Huyền. Ngày nay, bảy Hội Thánh này thuộc nước Thổ Nhĩ Kỳ. Tên của bảy Hội Thánh là tên của bảy thành phố: Ê-phê-sô, Si-miệc nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê. Bảy thư này đều có ý nghĩa, tất cả đều là lời của Chúa Giê-su, Ngài muốn khiển trách Hội Thánh của Ngài. Các thư này nói lên nguyên lý thuộc linh của Hội Thánh ngày nay. Bảy lá thư này đã nói tiên tri về toàn bộ sự phát triển Hội Thánh của Chúa trong 2000 năm qua. Chỉ cần 2 chương thôi nhưng đã mô tả được toàn bộ lịch sử phát triển của Hội Thánh trong 2000 năm qua. Thật là ấn tượng! Tại sao lại là số 7? Vì số 7 trong Kinh Thánh mô tả công việc trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Cũng như Đức Chúa Trời đã phục hồi lại trái đất trong bảy ngày thì bảy Hội Thánh cũng cho biết Đức Chúa Trời sẽ khôi phục lại Hội Thánh và làm nó trọn vẹn như thế nào. Các thư này rất quan trọng đối với chúng ta. Chúng ta phải hiểu và biết áp dụng nó.

Hội Thánh Ê-phê-sô

Chúng ta hãy bắt đầu với thư gửi cho Hội Thánh Ê-phê-sô. Cái tên “Ê-phê-sô” nghĩa là “đáng khao khát” và cũng có nghĩa là “bị buông ra”. Chúng ta sẽ thấy mỗi tên của thành phố đều có một nghĩa quan trọng đối với thời kỳ phát triển của Hội Thánh. Trong thư này, Chúa Giê-su giới thiệu Ngài là Đấng có bảy ngôi sao trong tay phải Ngài. Có nghĩa là lúc đó, Chúa có nhiều người dẫn dắt trung tín trong Hội Thánh, điển hình là các sứ đồ. Sau đó, Chúa cũng cho biết là trong thời gian này, Hội Thánh đã từ bỏ tình yêu ban đầu. Chúa nói: “Ta có điều trách ngươi, đó là ngươi đã bỏ tình yêu ban đầu”. Tình yêu ban đầu là tình yêu tốt nhất dành cho Chúa Giê-su. Vì vậy mà Chúa nói: “Hãy ăn năn!”. Đây không phải là sự ăn năn như lúc mới tin Chúa mà đây là sự ăn năn thường xuyên mỗi khi chúng ta rời xa tình yêu ban đầu dành cho Chúa. Chúng ta thấy vào thời đó Hội Thánh đã không còn tình yêu ban đầu đối với Chúa. Trong thư gửi cho Ti-mô-thê, Phao lô cho biết tất cả các Hội Thánh ở Tiểu Á đã rời bỏ ông (xem 2.Ti-mô-thê 1:15). Họ đã rời bỏ một người anh em hoàn toàn tuyệt đối cho Đấng Christ. Tại sao? Tại vì họ đã từ bỏ tình yêu ban đầu, là tình yêu tuyệt đối dành cho Chúa. Có cái gì đó đã len lỏi vào giữa họ và Đấng Christ. Chúa cũng nói: “nếu ngươi không ăn năn thì Ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó”. Nếu tình trạng Hội Thánh như vậy thì Hội Thánh không còn là lời chứng của Chúa và cũng không còn ánh sáng của thế giới.

Tuy nhiên, Hội Thánh này cũng có một điều mà Đức Chúa Trời đẹp lòng là họ ghét những việc làm của đảng Ni-cô-La mà Ngài cũng ghét nữa. Việc làm của đảng Ni-cô-la là gì? Trong tiếng Hy Lạp, từ Ni-cô-la bao gồm hai từ “Ni-cô” có nghĩa là “thống trị” và “la” có nghĩa là “dân”. Như vậy, đảng Ni-cô-la là phần thiểu số đang thống trị dân Chúa. Đó chính là hệ thống hàng giáo phẩm – giáo dân. Ngày nay, chúng ta thấy rằng hệ thống này đã trở nên phổ biến trong Cơ Đốc giáo. Lúc đó, Hội Thánh Ê-phê-sô đã ghét đảng Ni-cô-la này và đã không chấp nhận nó.

Bây giờ chúng ta hãy xem sơ đồ của lịch sử Hội Thánh từ thời Hội Thánh ban đầu cho đến khi Chúa Giê-su trở lại. Lá thư gửi cho Hội Thánh Ê-phê-sô là thời kỳ ban đầu của Hội Thánh cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Vào thời đó, Giăng là sứ đồ cuối cùng còn đang sống. Trong thời kỳ này, chúng ta thấy Hội Thánh đã bắt đầu sa ngã vì Hội Thánh đã từ bỏ tình yêu ban đầu dành cho Chúa. Tóm lại, Hội Thánh Ê-phê-sô tượng trưng cho các Hội Thánh trong thời các sứ đồ. Thật ra, Chúa muốn Hội Thánh phải luôn vinh hiển cho đến khi Chúa trở lại và phải có tình yêu ban đầu, cũng như không được sa ngã. Tuy nhiên chúng ta thấy là ngay trong thế kỷ đầu thì Hội Thánh đã bắt đầu tụt dốc.

Hội Thánh Si-miệc-nơ

Bây giờ chúng ta đi đến với thư thứ hai để tìm hiểu xem Chúa Giê-su muốn nói gì với chúng ta. Từ “Si-miệc-nơ” theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là một dược. Trong Kinh Thánh, từ “một dược” có liên quan rất nhiều đến chịu khổ. Ví dụ, một dược được nhắc đến khi Chúa chịu đóng đinh. Hơn nữa, từ “một dược” cũng liên quan đến từ “cay đắng”. Nếu đọc thư này thì cũng có thể hiểu nghĩa của từ “Si-miệc-nơ”. Chúa Giê-su nói: “Ta biết sự hoạn nạn, nghèo khó,…những lời phỉ báng… ngục tù”. Nhưng đặc biệt là hoàn toàn không có một lời phê bình nào của Chúa. Điều này nói lên rằng Đức Chúa Trời đánh giá rất cao khi dân Ngài sẵn sàng chịu khổ vì Ngài. Rồi Chúa Giê-su nói Ngài là “Đấng đã chết nhưng đã sống lại” và khích lệ Hội Thánh “trung tín cho đến chết”. Điều này cho biết rất rõ là trong thời gian này sẽ có rất nhiều người tử đạo, nhưng với một lời hứa là “mão miện của sự sống”. Có nghĩa là sẽ sống lại và sẽ cùng trị vì với Chúa.

Ở đây, Chúa Giê-su cũng cho biết họ sẽ gặp hoạn nạn trong 10 ngày. Lịch sử cho biết là từ khi thời kỳ của mười hai sứ đồ sắp kết thúc, thì có mười cuộc bức hại các Cơ Đốc nhân rất lớn trong đế chế của La Mã. Tôi liệt kê 10 hoàng đế La Mã ở đây, bắt đầu là Nero. Người ta nói hắn là hoàng đế La Mã tàn bạo nhất. Hắn đã bắt Cơ Đốc nhân làm đuốc thắp sáng và đóng đinh các Cơ Đốc nhân. Người kế tiếp là Domitian, là người đã bắt Giăng đi lưu đày. Người thứ bảy là Decius đã bắt đầu bức hại các Cơ Đốc nhân trên toàn đế chế La Mã. Chính phủ đã tổ chức sự bức hại đó. Hoàng đế thứ mười là Diocletian đã tiến hành các cuộc bức hại Cơ Đốc nhân hết sức tàn bạo. Mục tiêu của hắn là loại bỏ cái tên Giê-su Christ ra khỏi trái đất này. Hắn đã ra lệnh cho đốt toàn bộ sách của Cơ Đốc nhân, đặc biệt là Kinh Thánh. Nếu ai bị phát hiện đang đọc Kinh Thánh thì sẽ bị bỏ vào tù. Các Cơ Đốc nhân trên toàn đế chế La Mã bị giết bởi thú dữ, bởi rìu, và đóng đinh… Vậy ai đã đứng sau các cuộc bức hại Cơ Đốc nhân này? Kinh Thánh nói rõ là ma quỷ. Chúa Giê-su không nói là các hoàng đế mà Ngài nói là ma quỷ. Vì Hội Thánh là cái mà ma quỷ muốn hủy diệt. Trong các giai đoạn của đế chế La Mã, hắn tìm mọi cách để làm điều đó.

Như vậy, trên sơ đồ là thời kỳ Hội Thánh Si-miệc-nơ. Chỉ một mình cái tên “Si-miệc-nơ” đã là một lời tiên tri rất rõ ràng về những gì sẽ xảy ra: Hội Thánh sẽ bị bức hại bởi các hoàng đế La Mã, và đặc biệt là bởi 10 cái tên hoàng đế được liệt kê ở đây. Thời kỳ này được kết thúc vào năm 313 SCN. Chính xác vào thời gian đó thì chúng ta thấy có một sự phát triển khác

Các bạn có thể xem hết bài ở đây.




TÀ LINH GIÊ-SA-BÊN: (Bài số 21)

NHỮNG BÀI VIẾT LÀM TĂNG TRƯỞNG PHẦN TÂM LINH

TÀ LINH GIÊ-SA-BÊN: (Bài số 21)

Xuất phát từ nhiều người đàn bà nhưng hiện nay có tà linh Giê Sa bên bắt đầu nhập phá đàn ông luôn.

Nguồn gốc của tà linh nầy Chúa có nói trong Kinh Thánh sách 1 Các Vua 16: 30-33. Giê-Sa-Bên là vợ của vua A Háp, dụ dổ chồng nghe theo lời bà dẩn dắt dên Y-Sơ ra ên vào tôn thờ tà thần Ba-Anh, At-tạt-tê, làm điều ác chọc giận Đức Chúa Trời. Hiện nay tà linh Giê-sa-bên thường có mặt trong mọi nơi: trong gia đình, nhà thờ, sở làm, mạng Face Book v.v. và quấy rối mọi người. Nếu chúng ta không đề cao cảnh giác, không biết nhận diện ra nó thì chúng ta sẽ bị vướng vào bẩy vò của chúng nó và khi chúng ta bị nọc độc chúng nó thấm dần dần vào tâm linh của chúng ta, giết chết tâm linh chúng ta để rồi chúng ta biến dạng trở nên người như chúng nó. Cũng giống như chúng ta thấy trong chuyện phim Dracula vậy. Lời Chúa phán trong Kinh Thánh dưới đây:

Khải Huyền 2:19-20:”Ta biết công-việc ngươi, lòng thương-yêu ngươi, đức-tin ngươi, sự hầu việc trung-tín ngươi, lòng nhịn-nhục ngươi, và công-việc sau-rốt ngươi còn nhiều hơn công-việc ban đầu nữa. 20Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên-tri, dạy-dỗ và phỉnh-phờ tôi-tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà-dâm, và ăn thịt cúng thần-tượng.“

Tà linh Giê sa bên không luôn luôn hoạt động đâu. Nó có một thời gian ngủ quên và người đó rất tốt đẹp, ngoan ngoản, dể thương, thu hút nhiều người theo nó, bị nhiều người lầm tưởng là người tốt, và không ai biết gì về họ hết. Nhưng một khi nó thức dậy rồi thì mọi thứ chung quanh nó sẽ thay đổi, như tất cã các cữa địa ngục đang mở toang. Kinh khủng một khi nó chuyển từ trạng thái ngủ đến trạng thái biểu hiện. Ai nấy phải thay đổi và bỏ chạy trốn hết. Ai không bỏ chạy là nạn nhân của nó sau đó.

I-NHỮNG ĐÂU HIỆU CHO MỌI NGƯỜI THẤY (9 DẤU HIỆU):

1- MUỐN CAI TRỊ NGƯỜI KHÁC.

Trong giới linh, tà linh Giê-sa-bên sống nhờ thu hút điện lực từ những nạn nhân của họ. Tà linh Giê-Sa-Bên có sức thu hút rất mảnh liệt khi gặp một người lạ, cùng phái hay khác phái. Vì muốn cai trị người khác một cách tuyệt đối theo ý mình muốn cho nên người có tà linh Giê-Sa-Bên tỏ ra rất tốt, làm ra vẽ muốn bảo vệ người khác khỏi bị hành hại để thu hút cho người đó tưỡng rằng mình đang có phước mới gặp được người tốt bụng như vậy. Ai dè khi vô vòng nó rồi thì sẽ nó sẽ cắn nuốt không thương xót, làm đủ mọi cách để cai trị mình một cách trắng trợn cho nên phải có một cách duy nhất là bỏ nó mà chạy thoát thân không nhìn lại phía đằng sau lưng. Nếu ai đã từng bị dính vào tà linh nầy rồi thì hiểu ngay và học bài học nầy suốt cã cuộc đời. Người Việt nam có câu:” Ngọt mật chết ruồi” là vậy. Nếu gặp một người lạ mà cho mình đường mật thì hãy coi chừng bị xụp vào cái bẩy oan uổng. Khó có ai thoát ra khỏi được cái bẩy của tà linh Giê-Sa-Bên nầy nếu không có Chúa Cha bảo vệ họ. Thường thường họ hay ép người khác mắc nợ họ bằng cách cho những món quà nho nhỏ cho họ bị kẹt vào bẩy của họ. Những người nầy nhận đuợc uy quyền từ quỷ satan làm gì cũng ép buột người khác làm theo ý mình bằng đủ mọi cách không muốn cho người khác có quyền tự do. Sống mà muốn cai trị mọi người chung quanh, muốn nắm quyền trên những người chung quanh không bao giờ cho ai quyền tự do lựa chọn và cũng không bao giờ biết cảm ơn người khác.

2-LUÔN LUÔN NÚP DƯỚI BÓNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH KHÁC VÌ MUỐN CHIẾM LẤY DANH TIẾNG CỦA HỌ CHO MÌNH.

Những người bị tà linh Giê-Sa-Bên chiếm hửu thường hay bám vào những người tin Chúa tốt, hay những người lảnh đạo tốt, biết thương người với mưu đồ phá hoại hay bêu xấu phía sau lưng công việc Chúa tốt của người đó. Họ luôn tìm đến những người có danh tiếng tốt về Chúa kết bạn, khen tặng, giúp đở làm cho người kia đặt hết lòng tin vào người đó nhưng sau một thời gian ngắn con mồi ngon kia sẽ bị xụp ngay vào bẩy bị tê liệt ngay nếu không biết đề cao cảnh giác. Thời gian sẽ cho bạn biết nó lòi đuôi ra vì tánh xác thịt rất lớn như là hạ thấp người lãnh đạo của họ xuống, tìm cách nói xấu sau lưng, đâm chém, vu khống. Nói hành, ham danh, khoe khoang, cho mình là số một, giỏi hơn ai hết trong nhóm họ, làm thầy, không muốn làm trò. Khi mọi người biết được thì liền tránh xa ngay.

3- TRƯỚC MẶT MỌI NGƯỜI LÀM RA VẺ SỐT SẮNG ĐẠO CHÚA CHO MỌI NGƯỜI CHÚ Ý CHẤP NHẬN HỌ VÌ HỌ MUỐN TẠO CHO MÌNH MỘT SỐ ĐÔNG THEO PHE LẬP ĐÃNG ĐỂ HỌ DỂ SAI KHIẾN.

Họ nói về Chúa hay lắm. Khoe khoang như là người hiểu biết về Chúa rành rẽ để lừa gạt mọi người mà thôi. Thật ra họ che giấu sự gian ác bên trong không cho ai biết đến.

4-PHÍA SAU LƯNG THÌ KÉO NGƯỜI RIÊNG RA ĐÂM CHÉM NGƯỜI LÃNH ĐẠO CỦA HỌ TÁCH BIỆT RA MỘT SỐ NGƯỜI ĐỂ NÓI XẤU, ĐÂM THỌT NHIỀU NGƯỜI ĐỂ LẬP CÔNG CHO HỌ THEO PHE MÌNH.

5-ĐÓNG KỊCH HAY LÀM NẠN NHÂN CỦA SỰ BẤT CÔNG.

Không bao giờ chấp nhận mình làm sai điều gì hết. Cứ kiêu ngạo cho mình là đúng trong mọi sự việc. Ai hỏi gì thì nói dối, không nói sự thật, đoán xét, chỉ trích người khác. Trả thù những ai chống đối mình, cay đắng không tha thứ cho những ai không thích mình. Hay nói nhiều, than vãn, trách móc, nói xấu người nầy người kia. Không có lời tốt ra từ miệng người nầy.

6-TRÁ HÌNH NHƯ LÀ NGƯỜI KHIÊM NHƯỜNG NHƯNG BÊN TRONG KHI RA MẶT THÌ ĐẦY DẨY SỰ KIÊU CĂNG, ĐOÁN XÉT, NÓI HÀNH, VU KHỐNG, TRẢ THÙ VÀ CHỐNG ĐỐI NHỮNG AI KHÔNG THEO PHE HỌ.

Họ sống trong sự lừa dối và trá hình. Những người quen biết họ tránh xa họ hết cho nên họ thường đi tìm người mới để dụ dổ, kết bạn, như đi săn con mồi ngon cho họ thịt.

7-THƯỜNG KẾT ÁN NGƯỜI KHÁC LÀ CÓ TÀ LINH GIÊ-SA-BÊN ĐÁNH SAI LAC HƯỚNG MỌI NGƯỜI KHÁC KHÔNG CHÚ Ý ĐẾN CHÍNH HỌ LÀ TÀ LINH GIÊ-SA-BÊN.

Họ đi đến đâu thì kết án người nầy người nọ cho là quỷ nhập, bị là tà linh Giê-Sa Bên nhập v.v., đánh lạc hướng mọi người không chú ý đến chính họ đang có tà linh Giê-Sa-Bên.

8-CÓ SỰ THU HÚT NGƯỜI YẾU ĐUỐI BỆNH HOẠN ĐẾN VỚI HỌ ĐỂ GIÚP ĐỠ VÀ KÉO NGƯỜI ĐỨNG VỀ PHE HỌ.

Trong lúc những người yếu đuối, bệnh hoạn đang cần người chăm sóc thì có những người có tà linh Giê-Sa-Bên chạy đến ngay. Họ ra vẽ rất sốt sắng chăm sóc người đang yếu đuối để lập công, cho người đó ra có cảm giác an toàn với người ấy. Họ làm ra vẽ giáo viên, người bạn tốt, chăm sóc từ vật chất lẩn tinh thần cho người đang yếu đuối. Nhưng một ngày nào đó, họ thay đổi trở nên một người khác, kết án bạn đủ thứ, cô lập bạn, làm bạn rối loạn lên, bạn cảm thấy không an toàn nữa, mệt mõi, tình cảm kiệt quệ và bạn sẳn sàng từ bỏ tất cã vì người nầy. Nếu bạn từ bỏ tất cã vì người nầy mà không chạy trốn là chính bạn đã bị người đó biến bạn thành người của chúng nó rồi. Dần dần bạn sẽ trở thành công cụ của tà linh Giê sa bên ngay và bạn bắt đầu làm những hành động giống như họ cho những nạn nhân khác giống như bạn.

9-BÔNG TRÁI XÁC THỊT CỦA QUỶ DỬ: ĐẦY DÂM DỤC, DỤC VỌNG, VU KHỐNG, THÙ NGƯỜI LÀNH, LƯỜNG THẦY PHÃN BẠN, ĐÂM SAU LƯNG CHIẾN SỈ

Khi bạn liên hệ với người có tà linh Giê-Sa-Bên trên người khác phái thì bạn sẽ thấy đời sống bạn trong thời gian sau bị mất cá tính, mất giá trị bản thân, cuộc sống bạn có vẽ chấm dứt, tình yêu Chúa của bạn không còn nữa, sức mạnh của quỷ quái Giê-sa-bên hút hết nghị lực của bạn làm cho bạn muốn bỏ cuộc và chạy trốn.

Những người đang bị tà linh Giê-sa-bên nhập thường có cái tôi rất to lớn, tánh xác thịt nổi lên nên ích kỷ, thiếu tự tin, hay bị mặc cãm tội lổi dày xéo tâm linh, rất sợ nói đến Đức Chúa Cha vì họ biết rằng họ không thể đến gần với Chúa Cha được. Họ chỉ cầu mong Chúa huyết Chúa Jesus tha tội cho họ suốt cuộc đời mà thôi.

II-NHỮNG DẤU HIỆU CHO NHŨNG AI CÓ TÀ LINH GIẾ SA BÊN ĐÃ XÂM NHẬP VÀO MÌNH HẦU ĂN NĂN TỤ ĐUỔI TÀ LINH CHO MÌNH:

1-HAY LO SỢ HỒI HỢP, KHÔNG BIẾT LO SỢ ĐIỀU GÌ:

Thường những người nầy đã là nạn nhân của tà linh Giê-sa-bên lúc trước. Có lẽ đến từ người mẹ, người vợ hay người chồng trong gia đình của họ. Từ từ họ biến dạng và trở nên làm công cụ cho tà linh Giê-sa-bên sau đó. Họ đang sống trong sự hồi hộp, lo sợ bông lung mà không biết lo sợ điều gì?

2- HAY TRỐN TRÁNH NGƯỜI KHÁC

Họ thường cảm thấy mặc cảm tội lổi hay trốn tránh người khác. Ma quỷ rất sợ bị lộ diện cho nên hay tránh né, không dám nhìn thẳng mặt ai hết. Tự biệt riêng mình ra để tìm con mồi mà chạy đến để tấn công. Như sư tử núp trong hang đá rình xem con mồi nào yếu đuối mà chạy đến vồ thịt vậy.

3-THƯỜNG HAY MỆT MỎI, ĐUỐI SỨC, KHÔNG CÓ SỨC KHOẺ

Những người bị tà linh Giê-sa-bên thường hay mệt mỏi, đi đứng không có cơ bắp của bắp thịt cứng rắn, rủ rượi, chán đời, đi lê lết mệt mỏi. Họ thường hay bệnh hoạn, không có sức khoẻ, và thu hút nguồn điện lực từ những con mồi nạn nhân của họ.

4- CÓ NHỮNG Ý NGHỈ DÂM DỤC XẤU XA KHÔNG BÌNH THƯỜNG

Những người nầy rất ham dâm dục. Làm mà không biết chán, sống trong tội lổi xúc phạm đến đền thờ của Đức Chúa Trời. Họ bị ma quỷ làm cho đui mù không có ý nghỉ là phạm tội với Chúa vì đang che giấu tưỡng là Chúa không thấy những hành động của họ. Họ thường theo thuyết tin lành siêu ân điển cho rằng tin Chúa một lần là đủ cã. Có tội không cần phải ăn năn cũng sẽ được cứu rổi.

5- THƯỜNG HAY BỊ BỆNH KÉO DÀI RẤT LÂU, THIẾU SỨC KHOẺ.

Những người nầy thường hay bị bệnh kéo dài rất lâu, khó mà lại sức vì thân thể đang bị tà linh Giê-sa-bên đang chiếm hửu mà không hay biết.

6-THƯỜNG GẶP NHIỀU ĐIỀU KHÔNG MAY XÃY RA (TAI NẠN, LÀM HƯ HỎNG ĐỒ GÌ MÌNH ĐỤNG ĐẾN, LÀM ĂN THUA LỔ, KHÔNG THÀNH CÔNG V.V.)

7-THƯỜNG TIÊN ĐOÁN NHỮNG SỰ VIỆC XÃY RA CHO NGƯỜI KHÁC NHƯ LÀ TIÊN TRI NHƯNG THUỘC VỀ MA QUỶ.

Người nầy cho rẳng họ có thần thông đến từ Chúa cho họ có sự khôn ngoan hơn người khác biết những điều đang xãy ra chung quanh họ trên những người khác. Nhưng chính họ thì toàn là gặp những chuyện xui xẻo không may mắn xãy ra vì ma quỷ đến để cướp giết và huỷ diệt trên đời sống của họ.

III-CHÚA CÓ MỞ ĐƯỜNG CHO NHỮNG AI ĐANG LÀ NẠN NHÂN CỦA TÀ LINH GIÊ-SA-BÊN HAY LÀ BẠN ĐANG LÀM CÔNG CỤ CHO NÓ ĐỀU ĐƯỢC RA KHỎI:

Hãy quỳ gối xuống ĂN NĂN LÀM THEO CÁCH NĂM NGÓN TAY CÁCH THẬT LÒNG DƯỚI ĐÂY ĐỂ ĐƯỢC CHA GIẢI PHÓNG RA KHỎI TÀ LINH GIÊ SA BÊN NẦY.

1-NGÓN CÁI: Chấp nhận mình là tội nhân xứng đáng bị kết án tử hình, bị đóng đinh trên cây thập tự giá vì phạm tội nầy:________ . 2- NGÓN TRỎ: Bằng lòng chấp nhận Chúa Jesus Christ đã chết thế cho tội ______ của mình trên thập tự giá đền tội cho mình rồi 3- NGÓN GIỮA: Tin rằng Chúa Cha sẽ tha thứ tội lổi nầy_______cho mình và Cha không nhìn thấy tội lổi nầy của mình nữa 4- NGÓN ẤP: Khước từ tội lổi, hứa với Chúa là bạn sẽ không làm những tội lổi như thế nữa, quay đầu lại 180 độ ngay từ hôm nay. 5- NGÓN ÚT: Đuổi tà linh, nói với chúng nó: TRONG DANH CHÚA JESUS CHRIST TA RA LỆNH CHO TÀ LINH _____ HÃY LUI RA KHỎI TA, ĐI XUỐNG NƠI VỰC SÂU NGAY GIỜ NẦY, HÃY CÚT NGAY! Amen!

Nó rất hung dử, trước khi xuất ra quấy phá mạnh lắm, giật người té ngã hay làm gì cho người đó sợ không dám đuổi nó đi. Không nên sợ vì đã có Cha bảo vệ rồi. Cảm tạ ơn Cha.

Tà linh Giê-sa-bên là loại quỷ dử, đến để cướp giết và huỷ diệt hội thánh của Chúa, huỷ diệt gia đình, huỷ diệt cơ sở thương mại nếu chúng nó nhập phá người nào thì chỉ có Chúa mới giải phóng được người đó ra khỏi vòng tay của quỷ dử nầy mà thôi. Nhưng Chúa cũng ban cho chúng ta có sự khôn ngoan để tránh được chúng nó. Tôi không thể chỉ dạy cho bạn tất cả mọi thứ, nhưng đây là một số điều mà tôi đề cập đến. Hy vọng bạn nhận ra ngay tà linh Giê-Sa-Bên và tránh xa nó trước khi quá trể. Amen!

(Viết bởi sợ bày tỏ của Chúa Cha, soi sáng bởi Chúa Thánh Linh trong Danh Chúa Jesus)




HÃY TÌM KIẾM SỰ BÌNH AN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Bài số 12)

NHỮNG BÀI VIẾT LÀM TĂNG TRƯỠNG ĐỜI SỐNG TÂM LINH:

HÃY TÌM KIẾM SỰ BÌNH AN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Bài số 12)

Mời các bạn đọc những câu Kinh Thánh nói về sự bình an của Đức Chúa Trời dưới đây:

bình an, đem tin tốt về phước lành, rao sự cứu chuộc, bảo Si-ôn rằng: Ðức Chúa Trời ngươi trị vì, chơn của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào!

bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh.

bình an sẽ kíp giày đạp quỉ Sa-tan dưới chơn anh em. Nguyền xin ân điển của Ðức Chúa Jêsus chúng ta ở cùng anh em!

Ngày nay mọi người trên thếgiới điên đảo về những tin tức hung dử , không còn nghe được những tin vui như ngày xưa nữa. Mổi lần chúng ta mở đài radio hay T.V. lên thì toàn là nghe hung tin chết người như là: động đất, bảo tố, núi lữa xịt, tai nạn lưu thông chết người, đói kém, dich lệ, bắt cóc giết người lấy nội tạng, cướp trộm, cháy nhà, bảo lụt, đói kém, đồ ăn bị nhiểm độc, tận thế sắp đến nơi rồi, v.v. làm cho con người tin Chúa hay không tin Chúa đều hoang mang, đầu óc rối bời, ăn ngủ không được, sống trong nổi lo sợ không biết ngày mai mình sẽ ra thể nào? Cho nên sự lo lắng, sợ hãi sanh ra bệnh tật dày vò thân thể nhiều người không lối thoát. Họ không biết rằng có một giải pháp duy nhất để thoát ra khỏi mối âu lo ngày nay là đặt lòng tin vào đấng tạo hoá, là Đức Chúa Trời, là Đấng tạo dựng ra con người chúng ta. Ngài hứa Ngài sẽ bảo vệ con cái của Ngài trên cỏi đời nầy và đời sau. Mạng sống và tương lai của chúng ta đều nằm trong bàn tay của Cha. Nếu Cha muốn chúng ta còn sống trên đất nầy để hầu việc Ngài thì Ngài sẽ lo cho chúng ta một cách trọn vẹn nếu chúng ta biết đặt Ngài trên hàng đầu trong đời sống của chúng ta. Nếu Ngài muốn chúng ta ra đi thì Ngài rước chúng ta về nước Ngài là nước Thiên Đàng Vỉnh Cửu, nơi mà chúng ta hằng mong ước từ lâu mà cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của cuộc đời của chúng ta. Ai trong chúng ta không có sự bình an hay đã đánh mất sự bình an rồi thì hãy tìm cho được bằng cách làm theo những lời chỉ dẩn dưới đây:

1-Những ai chưa biết đến Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá phải làm gì?

www.youversion.com) Bắt đầu đọc Kinh Thánh cựu Ước có nói về đấng tạo hoá là Đức Chúa Trời. Ngài lấy bụi đất nắn lên hình người, hà sinh khí vào lổ mủi, và loài người trở nên một loài sanh linh. Ngài tạo dựng ra chúng ta giống hình ảnh của Ngài cho nên chúng ta phải tôn thờ Ngài là đấng tạo dựng ra mình. Rồi sách Tân Ước bắt đầu sách Mathi-ơ nói về sự giáng sinh của Chúa Jesus, con một của Đức Chúa Cha đến trong thế gian để chết thay cho con người tội nhân như loài người chúng ta. Nếu chúng ta biết ăn năn tội lổi của mình chấp nhận Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên cây thập tự giá đền tội cho mình rồi thì sẽ được trở nên trắng án, được trở về làm con của Ngài, và Ngài ban cho Đức Thánh Linh ngự vào lòng làm đền thờ của Ngài trong thân thể của chúng ta. Ngài ban cho chúng ta một sự bình an tràn ngập trong tâm hồn, một sự bình an siêu nhiên, lạ thường mà không phải có tiền mà mua được. Ai đã làm rồi thì biết không có gì đánh đổi sự bình an nầy mà Chúa Cha đã ban cho con cái của Ngài rất tuyệt vời!

2-Những ai đã biết đến Chúa rồi, làm phép báp tem rồi mà đang trong trình độ ham hẩm, lười biếng học hỏi lời Chúa, lười biếng cầu nguyện, chờ người khác như mục sư, truyền đạo, linh mục, chấp sự v.v. dạy dổ đút cơm tâm linh hằng ngày, không biết tự đi kiếm thức ăn tâm linh để tự nuôi sống và lớn lên phải làm gi? Hãy quỳ gối, hạ mình xuống ăn năn làm theo bài : “DỌN SẠCH LÒNG ĐỂ GẶP CHA” có viết trên FB của tôi. Làm xong thì phải siêng năng đọc Kinh Thánh, cầu nguyện để đến gần Cha mổi ngày, có mối tương giao mật thiết giữa Cha con thì mới có sự bình an thật mà Cha ban cho loài người chúng ta.

3-Những ai đã là nhà lãnh đạo tôn giáo đang tưỡng mình đã đến tột đỉnh của tôn giáo rồi, không cần phải học hỏi gì nữa từ ai hết, kiêu ngạo, hãnh diện về những thành tích củ rích của mình và đang mất sự bình an, bện hoạn đang dày vò thân xác phải làm gì? Hãy quì gối xuống, hạ mình xuống, mọp sát đất trước mặt Đức Chúa Cha, ăn năn tội lổi của mình trước mặt Ngài mà xin một ân huệ của Ngài. Làm theo bài :”DỌN SẠCH LÒNG ĐỂ GẶP CHA.” Bảo đãm rằng bạn sẽ tìm lại được sự bình an trong cuộc đời bạn mà bạn đã đánh mất từ bao nhiêu năm qua.

4-Những người đang đứng vững trong Chúa có một đời sống tốt đẹp, có sự bình an rồi phải làm gì? Hãy cẩn thận vì Chúa dạy trong Kinh Thánh:” Ai đang đứng hãy giử kẻo Ngã” (1 Cô-Rin-Tô 10:12) Hãy luôn luôn đềcao cảnh giác vì ma quỷ như sư tử rống rình mò chung quanh anh em tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được(1 Phie-Rơ 5:8). Một khi mình cãm thấy ăn ngủ không ngon, mất sự bình an thì hãy nhìn lại chính mình xem mình đã té ngã từ đâu hầu ăn năn và làm lại từ đầu. Thường thường 90% là bạn đang bị ma quỷ kiện cáo tội: Kiêu ngạo, đoán xét, và nói hành. Hãy ăn năn mổi tội lỗi và làm theo cách 5 ngón tay chỉ dẩn của tôi cho những tội lổi nào mình đã phạm và đuổi tà linh ra khỏi, chúng ta sẽ tìm lại được sự bình an cho tâm hồn trở lại ngay sau đó.

Chú ý: Mổi khi chúng ta đi ra ngoài tiếp xúc với thành phần chưa tin Chúa, ma quỷ thường dùng những người đó tấn công chúng ta. Hãy xin huyết Chúa Jesus bao phủ chúng ta và bao phủ những người chúng ta sẽ tiếp xúc với họ hầu cho ma quỷ bị trói buột bằng huyết Chúa Jesus không cựa quậy được, không tấn công chúng ta được. Ai đã có kinh nghiệm làm rồi thì cãm thấy bí quyết nầy thật là trên cã tuyệt vời!

1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23)

(Viết bởi sự bày tỏ của Chúa Cha)




TIN LÀNH ÂN ĐIỂN, TIN LÀNH LUẬT PHÁP VÀ TIN LÀNH ĐƯỢC TÁI SANH (BÀI SỐ 8)

NHỮNG BÀI VIẾT GIÚP TÂM LINH TĂNG TRƯỞNG:

TIN LÀNH ÂN ĐIỂN, TIN LÀNH LUẬT PHÁP VÀ TIN LÀNH ĐƯỢC TÁI SANH (BÀI SỐ 8)

Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.”(Giăng 3:3)

Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư-mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. 15Hãy coi chừng tiên-tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông-sói hay cắn-xé.” (Mathio 7: 13-15)

Cám tạ Chúa cho tôi một đề tài nóng bỏng hôm nay vì có một người bạn trên Face Book vào hỏi tôi theo ý cô Anhue Doan thì hai phe nhóm Tin Lành Ân Điển (thời kỳ Tân Ước) và phe Tin Lành theo Luật Pháp của Chúa (thời kỳ Cựu Ước) đang cải nhau trên Face Book, phe nào đúng, phe nào sai? Bạn ấy nói rằng theo ý bạn thì bạn thấy nếu đạo Chúa phe Tin Lành Ân Điển tin rằng Chúa Jesus đã làm xong hết luật pháp rồi thì mình chỉ cần có lòng tin nơi Chúa Jesus thì sẻ được cứu rổi, như thế sẽ có nhiều người được cứu vào nước thiên đàng. Phe theo luật pháp thời kỳ Cựu Ước chú trọng về luật pháp ai mà làm cho nỗi và sẽ ít người được cứu. Ai mà làm cho trọn hết luật pháp của Chúa được? Như thế ít ai được cứu rổi linh hồn.

Chú ý: Những ai là người mới tin Chúa, lần đầu tiên đến với Chúa có thể ăn năn mọi tội lổi mà không cần phải khai trình ra hết những tội lổi họ đã làm từng chi tiết, Chúa Thánh Linh cũng tha thứ và bôi xóa hết tất cã một lược xong. Họ có lần đầu nhận được sự tái sanh. Nhưng sau đó họ nghe lời ma quỉ xúi giuc, phạm tội, vấp ngã, chạy trốn Chúa. Mỗi lần họ phạm tội có Chúa Thánh Linh, có Ngài nhắc nhỡ mà họ không nghe lời nên làm tội lổi rồi chạy trốn Chúa. Vì cớ đó nên họ đang là chiên đi lạc đường không biết lối về nên Ngài chỉ dạy tôi họ phải khai trình ra hết từng tội một ăn năn khước từ đuổi tà linh Ngài mới chấp nhận. Làm như thế tôi gọi là dọn rác tâm linh. Chúa rất đẹp lòng. Cảm tạ Chúa Cha nhân từ.

(Viết bởi sự bày tỏ của Chúa Cha)




Tìm Của Báu

Tìm Của Báu

 

Của báu đây chứa đựng trong một kho tàng vô giá mà ai cũng có thể cầm trong tay,  đó là cuốn Kinh Thánh.  Vâng Kinh Thánh là một kho tàng đầy báu vật mà không tiền bạc nào trên đời này mang đến cho ta được.  Nhưng nếu bạn không biết cách khai thác kho báu vật ấy  thì dù bạn có sở hữu bao lâu cũng vô ích.  Sau đây là bẩy lời khuyên để bạn có thể khai thác kho báu vật Kinh Thánh để được giàu sang trong phần tâm linh:

Hãy dành một thời gian đều đặn mỗi ngày để nghiên cứu Kinh Thánh.  Bạn cần lập chương trình cẩn thận vì nếu không,  bạn sẽ rất dễ bỏ qua.

Trước khi bạn đọc Kinh Thánh,  hãy cầu xin Chúa giúp đỡ và ban thông sáng.

Hãy suy nghĩ rất cẩn thận về những gì mình sẽ đọc.  Nghĩa là phải đào sâu mới tìm được của báu,  nên không thể hời hợt vội vàng.

Trước khi bạn muốn hiểu một phân đoạn Kinh Thánh,  cố tìm hiểu xem tác giả muốn nói gì cho người đọc và đương thời của tác giả.

Hãy ghi lại trên một cuốn sổ một điểm hay một nguyên tắc nào mà bạn có thể đem ra thực hành.

Đừng nản lòng,  vì một số phần trong Kinh Thánh rất khó hiểu,  nhưng có rất nhiều điều bạn hiểu được.  Khi bạn áp dụng được những gì bạn học được trong khúc Kinh Thánh thì những thay đổi sẽ xảy ra trong đời bạn.

Sau khi đọc,  bạn cầu xin Chúa cho có nghị lực thực hiện điều Chúa dạy.

Xin Chúa ban cho bạn nghị lực để khám phá của báu trong kho tàng Kinh Thánh mỗi ngày



Description of Tabernacle

 

A Description of the Tabernacle

The Tabernacle is the most complete and marvelous type or “picture” of Christ in all of the Old Testament. As we study the Tabernacle, you will want to refer frequently to the picture of the Tabernacle and its courtyard here (click to open and view this PDF document, which you might like to print out so that you can have it handy as you go through the remaining lessons.)

The Tabernacle is the most complete and marvelous type or "picture" of Christ in all of the Old Testament

The Tabernacle was approximately 45 feet in length and 15 feet in width. The rear end and the two sides were made of boards, standing upright. Each board was approximately 2 feet wide, 15 feet in height, and 2 inches in thickness.

The Tabernacle itself was divided into two unequal chambers. The larger, outer chamber was about 15 feet wide and 30 feet long. It was called “the Holy Place.” It contained three articles—the Table of Show-bread, the Golden Candlestick and the Altar of Incense. The priests went into the Holy Place daily, performing their duties.

The smaller, inner chamber was approximately 15 feet by 15 feet. It was called “the Holy of Holies.” It contained the Ark of the Covenant with the blood-stained Mercy Seat, overshadowed by two cherubim made of pure gold. This was the dwelling-place of God. God told Moses,

“There I will meet with you, and I will commune [speak] with you from above the mercy seat…” Exodus 25:22

Only the high priest went into the Holy of Holies, and he went in only once a year, bearing the blood of the sin offering.

The Tabernacle stood in a courtyard surrounded by curtains of fine, white, pure linen, about 8½ feet high. The curtains enclosed an area of approximately 175 feet in length and 87½ feet in width.

Inside the courtyard were the Brazen Altar where the daily sacrifices were offered and the brass Laver, filled with water, where the priests washed.

There was but one entrance into the courtyard and this was on the east side. Over the entrance hung a curtain of fine-twined linen in blue, purple and scarlet.

Every detail of the materials and construction of the Tabernacle was according to the pattern which God showed Moses on the mountain. The Bible says,

“Moses did look upon all the work, and, behold, they had done it as the LORD had commanded, even so had they done it: and Moses blessed them.” Exodus 39:43

The Tabernacle was set up for use exactly one year after the Passover, when the children of Israel left Egypt. The Bible says,

“Then a cloud covered the tent of the congregation, and the glory of the LORD filled the tabernacle.” Exodus 40:34


The Tabernacle Speaks of Christ

Everything about the Tabernacle speaks of the Lord Jesus Christ. Anyone who lets the Holy Spirit teach him about the Tabernacle will never be led astray into false cults, but will be sure that Jesus Christ is the way to God—the only way.

In the center of this vast encampment we see the Tabernacle.

Let us look down on the children of Israel encamped at the foot of Mount Sinai. We see hundreds and hundreds of tents—as far as the eye can see. In the center of this vast encampment we see the Tabernacle. The courtyard is enclosed by a “fence” of white linen curtains.

There is only one entrance into the courtyard. Just inside that entrance is the Brazen Altar upon which the sacrifice is burning continually. The Brazen Altar points to Christ—the Lamb of God, who died to take away the sin of the world.

Beyond the Brazen Altar is the Laver where the priest washes his hands and feet daily before he goes into the Holy Place. The priest then goes into the Holy Place to trim the lamps on the Golden Candlestick and to place the bread upon the Table of Showbread. Then he goes to the Altar of Incense and places sweet incense on the coals of fire.

On one day out of the year, the Day of Atonement, the high priest goes into the Holy of Holies, into the very presence of God, with the blood of the sin offering. He sprinkles this blood on the Mercy Seat. There the very presence of God was manifested in a glory cloud which is called “the Shekinah glory.” It was there that Jehovah, the God of Israel, dwelled with His people. God said,

“There I will meet with you, and I will commune with you from above the mercy seat, from between the two cherubim which are upon the ark of the testimony…” Exodus 25:22

In the daytime a great pillar of cloud stood over the Tabernacle like a vast umbrella. The pillar of cloud shaded the children of Israel from the burning rays of the desert sun.

Tabernacle by day and by night

In the evening, as the night shadows fell, the pillar of cloud changed slowly into a pillar of fire! In the night time it became a protective light for the children of Israel. How tender is God’s care for His people!

What did the pillar of cloud and the pillar of fire represent? It represented the presence of God in the midst of His people. Even the children of the camp understood this. If you were to ask a small child in the camp about the meaning of the pillar of cloud and the pillar of fire, he would say, “It means that God is with us.

http://ubdavid.org/bible/light/light7-2.html.

The Courtyard

The Tabernacle was the dwelling place of Jehovah—the God of Israel. It stood in the center of the tents of the twelve tribes of Israel. The courtyard surrounding the Tabernacle was enclosed by a “fence” of white linen curtains, standing about eight feet, nine inches high. No one could see over or under these curtains. (If you haven’t already done so, you may wish to open a larger version of this diagram here.)

Tabernacle courtyard

The courtyard was rectangular in shape being about 175 feet long and about 87½ feet wide. The “fence” of white linen was held up by 60 pillars, set into 60 brass sockets which were buried in the sand for a foundation. Each pillar was made secure by cords fastened to brass tent pegs. The pillars were all connected to each other by a silver connecting bar.

Upon the connecting bar of silver hung a curtain of fine-twined white linen. There was only one place of entrance into the courtyard—the “door” of colored curtains on the east side. The one gate or “door” of entrance represents the Lord Jesus. He said, “I am the door: by Me if any man enter in, he shall be saved.” (John 10:9)

In the courtyard with its one door, God is giving us a picture of salvation. Those outside the courtyard are lost; those inside are saved. To be inside the courtyard, in the family of God, is most blessed. It is no wonder that David said,

“A day in Your courts is better than a thousand. I had rather be a doorkeeper in the house of my God, than to dwell in the tents of wickedness.” Psalm 84:10

The whole purpose of the Tabernacle was to show sinful men how they could approach the holy God and have fellowship with Him.

What is the first thing the sinner meets as he turns toward God? He meets the curtains of white linen, a type of the righteousness which man must have to approach God.

As a man stands before the white curtain of linen, he is faced with the fact that he is a sinner. He does not have the righteousness which God requires. The Bible says,

“We are all as an unclean thing, and all our righteousnesses are as filthy rags…” Isaiah 64:6

Apart from Christ, our very best righeousnesses are as “filthy rags.” This is the emblem chosen by the Spirit of God to describe the best of human righteousness, in contrast with what God requires—”fine linen, clean and white.”

He meets the curtains of white linen (graphic copyrighted by New Tribes Mission; used by permission)

God uses this picture of the courtyard with its fine linen, clean and white, to show man his sins and the desperate wickedness of his heart which shuts him out from a holy God.

Shuts him out? No! God has provided a way for sinful man to approach Him. He may enter by the one gate on the east side—the God-provided way! That one way is by the Lord Jesus Christ. Jesus said,

“I am the way, the truth, and the life: no man comes unto the Father, but by Me.” John 14:6

http://ubdavid.org/bible/light/light7-3.html

The Gate

There was but one way of entrance into the courtyard of the Tabernacle. In front of the Tabernacle, facing east, was the one “gate,” composed of beautifully colored curtains. The east in the Scripture is always connected with the rising of the sun. Thus the beams of the rising sun would fall first on the beautiful curtains of blue, purple and scarlet.

What does this one gate represent? It represents the Lord Jesus Christ. Why was there but one gate? Because there is but one way by which the sinner can come to God. The Lord Jesus said, “I am the door; by me if any man enter in, he shall be saved….” (John 10:9)

What does this one gate represent? It represents the Lord Jesus Christ.

How definite are the words of the Lord! There is but one door to heaven—the Lord Jesus Christ. The Bible says,

“Neither is there salvation in any other: for there is none other name under heaven given among men, whereby we must be saved.” Acts 4:12

The gate was a wide gate—some 35 feet wide. It was wide enough so that any or all might enter freely. God is a Savior-God, and when He says, “Whosoever will, may come,” He means it.

The gate was an attractive gate (graphic copyrighted by New Tribes Mission; used by permission)

The gate was an attractive gate—a beautiful curtain of blue, purple and scarlet. The blue speaks of Jesus as the heavenly One. The purple speaks of Him as the royal, kingly One. The scarlet speaks of Him as the Savior, the One who shed His blood for our sins.

The gate was an accessible gate. We often see gates or doors which are locked or bolted. This gate was closed, but it was never locked. All one needed to do to enter was to reach out with the hand and push back the curtain and enter. It was so simple that a child could do it.

So it is with our great salvation. All we have to do is reach out the hand of faith to the Lord Jesus by believing on Him.

Dear friend, have you entered the one gate of salvation by trusting the Lord Jesus Christ as your Savior? Conversion is not an accident; it is a real, personal experience with the Lord Jesus.

In Old Testament times the heathen Gentile nations worshipped many false gods. But God revealed Himself to Israel as the one true and living God. “Hear, O Israel: The LORD our God is one LORD.” (Deuteronomy 6:4)

There was only one gate leading into the courtyard

God likewise revealed to Israel that there was only one way sinful man could approach Him. There was only one gate leading into the courtyard. Why was there only one? Because God had provided for no more. God is sovereign; He has the right to do as He pleases. God has given Jesus Christ, His Son, to us to be our Savior. He is the way to God—the only way.

The gate was for all: the wealthy and the poor, the prince and the beggar alike. A grey-haired grandfather and a little child might enter it side by side.

The gate of the court was wide so that any or all might enter there.

“For God so loved the world, that He gave His only begotten Son, that whosoever believes in Him should not perish, but have everlasting life.” John 3:16

God has made it abundantly clear that He loves sinful men and wants them to be saved. The Bible says that God is “not willing that any should perish, but that all should come to repentance.” (2 Peter 3:9) Why then do men not step through the one gate of salvation? Jesus said, “You will not come to Me, that you might have life.”(John 5:40)

Some might say, “But I am too bad to come to Him.” Oh, but that gate was not for “good” people; it was for sinners. The gospel is God’s good news to guilty sinners. Jesus is the sinner’s Friend, and He wants to be the sinner’s Savior. He said, “I am the door; by Me if any man enter in, he shall be saved.” (John 10:9) “Shall be saved” is the Lord’s word. There is no doubt about it.

It was only one step. One moment the guilty sinner was outside the gate, the white linen curtain was against him, keeping him out. The next moment he was inside, and the curtain was for him, keeping him in.

Receiving Christ as Savior is not a long, tedious process. It is done in a moment. That moment is when the person comes as a sinner to Jesus and receives Him as his Savior.

What a transition takes place in that moment! The sinner has stepped from darkness to light, from death to life, from being an enemy of God to a child of God!

If by chance there is someone reading this who is yet unsaved, let me plead with you to come to God by Jesus Christ. He is the way, the only way, of approach to God. Unless you come God’s way, you will spend eternity in separation from God. But this is not God’s will. He has provided a great salvation for you. Come to Jesus today!

http://ubdavid.org/bible/light/light7-4.html

 

 




The Tabernacle of Moses

The Tabernacle

For six days Moses sat in silent thought.

God first spoke His law to the people; then He called Moses to come to the top of Mount Sinai. The Lord said to Moses, “Come up to Me into the mount…and I will give you tables of stone.” On these two tablets of stone God had written the Ten Commandments with His own finger.

For six days Moses sat in silent thought. Suddenly, on the seventh day, God spoke to Moses out of the cloud, “Speak to the children of Israel…and let them make Me a sanctuary; that I may dwell among them.”(Exodus 25:2, 8)

God revealed to Moses every detail of the construction of the Tabernacle

Jehovah God, the God of Israel, who had redeemed them from the bondage of Egypt and given them His law to live by, was now going to dwell among His people. The “sanctuary,” or dwelling place of God among His people, is called the Tabernacle. God showed Moses the pattern of the Tabernacle and gave him specific instructions regarding the building of it. God said,

“According to all that I show you, after the pattern of the tabernacle, and the pattern of all the instruments thereof, even so shall you make it.” Exodus 25:9

The Tabernacle is of such great importance that 50 chapters are given to explaining its pattern, construction, and service.

The importance of a subject in the Bible can be measured by the space given to it in God’s Word. The Tabernacle is of such great importance that 50 chapters are given to explaining its pattern, construction, and service. This is amazing when you consider that only two chapters are given to the subject of creation.

God revealed to Moses every detail of the construction of the Tabernacle. Nothing was left to Moses’ imagination. Moses simply followed God’s exact instructions. More than 20 times in the book of Exodus we read, “as the LORD commanded Moses.”

Five names are used in the Bible to describe the Tabernacle. It was called “a sanctuary” because it was set apart for God. It was called “the tabernacle” because it was the dwelling place of God among His people. It was called “a tent” because it was the temporary dwelling place of God. It was called “the tabernacle of the congregation” because it was where God met with His people. And it was called “the tabernacle of testimony” because it was the place where the two tablets of stone were kept.

What was the purpose of the Tabernacle? The purpose of the Tabernacle was to show and teach a sinful people how they could approach a holy God and be accepted by Him.

The Tabernacle is of such great importance that 50 chapters are given to explaining its pattern, construction, and service.

Every part of the Tabernacle points to Christ. The sacrifices and the service of the priests all point to Christ. He is the Way—the only Way to God.


The Materials of the Tabernacle

God told Moses to speak to the children of Israel that they might bring Him an offering of materials to be used in building the Tabernacle. No one was compelled to give anything. Moses was to receive offerings only from those who gave willingly out of their love for God. God said,

“Speak unto the children of Israel, that they bring Me an offering: of every man that gives it willingly with his heart you shall take My offering.” Exodus 25:2

God gave Moses a list of the materials that were to be used in the Tabernacle. These materials are all “symbolic.” A symbol is something that stands for or represents something else.

In the Bible God often speaks to us in the language of symbols, and it is wisdom on our part to apply ourselves to learn the meaning of the symbols. All the materials used in the Tabernacle speak of Christ.

Gold speaks of deity and that which is wholly of God. Christ is “God manifest in the flesh.”

Silver speaks of redemption—Christ’s death on the cross for our sins.

Brass or bronze speaks of God’s judgment against sin. On the cross, Christ bore God’s righteous judgment against sin.

Blue Linen speaks of Christ’s deity. Blue is the heavenly color, and Christ is the heavenly One—the One “who came down from heaven.”

Purple Linen speaks of Christ’s royalty, His kingliness. He is “the King of kings” and “the LORD of lords.”

Scarlet Linen speaks of Christ’s humanity and His death on the cross.

Fine Linen or white linen speaks of Christ’s perfect righteousness as a Man.

Goats’ Hair speaks of Christ’s holy separation from evil.

Rams’ Skins Dyed Red speak of Christ’s devotedness to God. He was “obedient unto death, even the death of the cross.”

Badgers’ Skins were the exterior cover of the Tabernacle. They speak of Christ’s ability as a Man to withstand temptation and evil.

Shittim Wood (acacia wood) speaks of Christ’s holy humanity. He was a Man in whom there was no sin.

Oil, used in the lamps, speaks of the Holy Spirit. The Tabernacle had no “windows.”In the things of God, the Holy Spirit is the only source of light.

Spices for Anointing Oil speak of the precious fragrance of Christ. Everything about Him was a precious fragrance to God.

Onyx Stones (precious stones) were woven into the breastplate which the high priest wore. They speak of the saints of God who are ever on the heart of Christ.

http://ubdavid.org/bible/light/light7-1.html